Theo đó, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai thông qua các quy hoạch và chiến lược phát triển, với mục tiêu hướng tới cao nhất là sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bền vững các ng
Trang 14 Bảng 2.4 Biến động sử dụng đất khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội 70
5 Bảng 2.5 Biến động sử dụng đất khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội 74
6 Bảng 3.1 Dự báo dân số khu vực ngoại thành phía Tây Nam Hà
7
Bảng 3.2 Định hướng sử dụng đất theo các không gian phục vụ
phát triển bền vững khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất khu vực ngoại thành phía Tây
3
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất khu vực ngoại thành phía Tây
4
Bản đồ biến động sử dụng đất khu vực ngoại thành phía Tây
Nam thành phố Hà Nội giai đoạn 2005 – 2010 71
5
Hình 3.1 Sơ đồ các nhóm phân khu chức năng khu vực ngoại
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
6 CƠ SỞ TÀI LIỆU 4
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM HÀ NỘI 6
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1.1 Các công trình nghiên cứu định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững 6
1.1.2 Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu 11
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.2.1 Các vấn đề liên quan tới hiện trạng và biến động sử dụng đất 12
1.2.2 Phát triển bền vững và định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững 23 1.3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU 30
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 30
1.3.2 Hệ phương pháp nghiên cứu 31
1.3.3 Các bước nghiên cứu 32
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 33
2.1 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM HÀ NỘI 33
2.1.1 Các yếu tố điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường 33
2.1.1.1 Các yếu tố điều kiện tự nhiên 33
2.1.1.2 Các nguồn tài nguyên 37
2.1.1.3 Thực trạng môi trường 42
2.1.2 Các yếu tố kinh tế xã hội 43
2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 43
2.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 43
2.1.2.3 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 44
2.1.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 46
2.1.3 Tình hình quản lý đất đai 52
2.2 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC TÂY NAM HÀ NỘI NĂM 2005 VÀ 2010 55
2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 55
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 60
2.2.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 64
2.2.4 Những vấn đề tồn tại chủ yếu trong sử dụng đất 68
2.3 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 69
Trang 32.3.1 Phân tích biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 – 2010 70
2.3.2 Phân tích biến động sử dụng đất giai đoạn 2010 – 2013 74
2.3.3 Đánh giá tổng hợp biến động sử dụng đất khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội theo khía cạnh phát triển bền vững 75
Chương 3: ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2030 77
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2030 77
3.1.1 Phân tích các quy hoạch và định hướng sử dụng đất đến năm 2030 của khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội và thành phố Hà Nội 77
3.1.2 Quan điểm và định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững tại khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội đến năm 2030 78
3.2 PHÂN KHU CHỨC NĂNG KHU VỰC PHÍA TÂY NAM HÀ NỘI THEO MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN 80
3.2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn xác định các khu chức năng 80
3.2.2 Phân tích các vấn đề sử dụng đất, kinh tế, xã hội và môi trường nổi cộm trong các khu chức năng 83
3.3 CÁC DỰ BÁO VỀ KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2030 84
3.3.1 Dự báo về kinh tế, dân số 84
3.3.2 Dự báo về sử dụng đất 85
3.4 ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT THEO CÁC PHÂN KHU CHỨC NĂNG KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2030 85
3.4.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn 85
3.4.2 Định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững đến năm 2030 87
3.5 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẢ THI 94
3.5.1 Giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách 94
3.5.2 Giải pháp huy động vốn đầu tư 95
3.5.3 Giải pháp công nghệ 95
3.5.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 96
KẾT LUẬN 97
KIẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 4MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư tiệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước Tại Điều 18 Hiến pháp nước Cộng
hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” Theo đó, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai thông
qua các quy hoạch và chiến lược phát triển, với mục tiêu hướng tới cao nhất là sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bền vững các nguồn tài nguyên đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Để đưa ra được định hướng, phương án quy hoạch sử dụng đất bền vững thì việc phân tích hiện trạng, đánh giá biến động sử dụng đất nhằm làm rõ những mặt tích cực và hạn chế trong sử dụng đất là rất cần thiết
Khu vực các huyện ngoại thành phía Tây Nam của Hà Nội (gồm các huyện Quốc Oai, Chương Mỹ và Thanh Oai) là khu vực có tốc độ phát triển khá nhanh trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa được đẩy mạnh với sự hình thành và triển khai các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu, cụm công nghiệp và các khu đô thị mới Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mang lại những tác động tích cực như đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, góp phần nâng cao mức sống người dân, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ, đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, xã hội cho các huyện phía tây nam Hà Nội Nhưng gắn liền với quá trình này là sự biến động sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, nhất là chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp
Vấn đề quan trọng có tính cấp thiết đã và đang được đặt ra cho khu vực ngoại thành phía Tây Nam Hà Nội là làm thế nào để có thể gắn kết quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mang tính tất yếu của Thủ đô Hà Nội với sự phát triển kinh
tế - xã hội bền vững, trong đó sử dụng tài nguyên đất đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhưng đồng thời phải bảo vệ đất và môi trường sinh thái Để thực hiện được điều này, cần thiết dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn về phân tích hiện trạng và biến động sử dụng đất đai Xuất phát từ lý do thực tiễn đó,
học viên đã chọn đề tài luận văn thạc sĩ “Đánh giá hiện trạng, biến động sử dụng đất và định hướng sử dụng đất đai phục vụ phát triển bền vững khu vực ngoại thành phía Tây Nam Hà Nội”
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
a) Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ hiện trạng và biến động sử dụng đất tại khu vực ngoại thành phía Tây
Trang 5Nam Hà Nội trong giai đoạn 2005 - 2013 nhằm làm cơ sở đề xuất định hướng sử dụng đất bền vững đến năm 2030 đảm bảo chuyển mục đích sử dụng đất đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
b) Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện bao gồm:
- Tổng quan các tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn Thu thập tài liệu, số liệu về hiện trạng sử dụng đất các năm 2005,
2010, 2013 của các huyện thuộc khu vực ngoại thành phía Tây Nam, thành phố Hà Nội
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất tại các năm 2005, 2010 và năm 2013
- Đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2013
- Phân tích quan hệ giữa các hoạt động kinh tế - xã hội và biến động sử dụng đất
- Xây dựng sơ đồ phân khu chức năng và đề xuất định hướng sử dụng đất lồng ghép với phát triển bền vững khu vực ngoại thành Tây Nam thành phố Hà Nội đến năm 2030
Đề tài giới hạn nghiên cứu ở các vấn đề sau:
+ Phân tích hiện trạng và đánh giá biến động sử dụng đất khu vực 3 huyện Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai trong giai đoạn 2005 - 2013
+ Đề xuất định hướng sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững đến năm
2030
+ Định hướng sử dụng đất được đề xuất theo cơ sở lồng ghép phát triển bền vững, cụ thể là đảm bảo cả 3 khía cạnh: bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường (bền vững về môi trường), sử dụng tài nguyên đất hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao
Trang 6(bền vững về kinh tế) và đảm bảo công bằng xã hội, hòa giải được các mâu thuẫn xã hội trong sử dụng đất đai (bền vững về xã hội)
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong
phú hệ thống lý luận của khoa học quản lý đất đai về hướng phân tích hiện trạng và biến động sử dụng đất đối với một khu vực và hướng nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất lồng nghép phát triển bền vững
- Ý nghĩa thực tiễn: Các phương án đề xuất định hướng sử dụng đất bền
vững đến năm 2030 trong luận văn được xem là tư liệu khoa học tham khảo cung cấp cho các cơ quan quản lý phục vụ lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra thu thập các tài liệu, số liệu về
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, các số liệu thống kê, kiểm kê về diện tích các loại đất của 3 huyện Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai tại thời điểm hiện trạng để phục vụ cho việc nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu, số liệu, bản đồ về khu vực 3
huyện Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
- Phương pháp thống kê, so sánh: Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập
được, tiến hành thống kê, so sánh số liệu qua các các năm để thấy được sự biến động, thay đổi về cơ cấu sử dụng các loại đất
- Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp: Phân tích và đưa ra đánh giá về
tình hình sử dụng đất, biến động sử dụng đất của khu vực nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến trao đổi, đóng góp của các chuyên gia
trong lĩnh vực tài nguyên môi trường trong đề xuất định hướng sử dụng đất khu vực nghiên cứu đến 2030
- Phương pháp bản đồ và GIS: dùng để thành lập, trình bày và biên tập bản đồ
hiện trạng sử dụng đất, bản đồ biến động sử dụng đất, bản đồ định hướng sử dụng đất khu vực 3 huyện Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai Phương pháp bản đồ được
Trang 7thực hiện với sự trợ giúp của công nghệ GIS Phần mềm GIS là Microstation được
sử dụng để biên tập và thành lập các các bản đồ chuyên đề
6 CƠ SỞ TÀI LIỆU
a) Tài liệu khoa học tham khảo: bao gồm các sách, giáo trình, luận văn,
công trình nghiên cứu liên quan tới hướng nghiên cứu lý thuyết của đề tài:
- Hướng quản lý đất đai: cơ sở địa chính, hồ sơ địa chính, hệ thống chính sách pháp luật đất đai,
- Hướng phân tích sử dụng đất: đánh giá đất đai, phân tích và đánh giá biến động sử dụng đất
- Hướng phát triển bền vững: phát triển bền vững và quy hoạch bảo vệ môi trường, chương trình nghị sự 21 của Việt Nam (2005), chương trình nghị sự 21 cho một số địa phương (Bình Định, Ninh Bình,…),…
b) Các văn bản pháp lý liên quan tới quy hoạch sử dụng đất và phát triển bền vững của chính phủ và địa phương
- Luật Đất đai năm 2003; Luật Bảo vệ môi trường
- Các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của cỏc Bộ, ngành và các văn bản của địa phương về hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường
- Các tài liệu kiểm kê, thống kê đất đai, bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Quốc Oai, Thanh Oai, Chương mỹ giai đoạn 2005 - 2013
- Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới
- Các quyết định phê duyệt quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp, điểm dân cư, thị tứ, các dự án khác trong phạm vi huyện Thanh Oai, Quốc Oai, Chương
Mỹ
c) Tài liệu, số liệu thu thập, điều tra thực tế tại địa phương
- Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai 03 huyện Thanh Oai, Quốc Oai, Chương
Mỹ các năm 2005, 2010 và 2013
Trang 8- Bản đồ sử dụng đất các năm 2005 và 2010
- Các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường và quản lý đất đai tại địa phương
- Tư liệu ghi chép thực tế trong quá trình khảo sát thực địa
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền
vững khu vực ngoại thành phía tây nam Hà Nội
- Chương 2: Phân tích hiện trạng và biến động sử dụng đất khu vực ngoại
thành phía tây nam Hà Nội
- Chương 3: Đề xuất định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững
khu vực nghiên cứu đến năm 2030
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC
VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM HÀ NỘI
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các công trình nghiên cứu định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững
a) Trên thế giới
Khái niệm phát triển bền vững (sustainable development) xuất hiện từ những
năm 1970 với những nội dung đề cập tới môi trường và phát triển quốc tế Từ những năm 1980 khái niệm này được mở rộng trong tác phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” (1980), được phổ biến qua báo cáo Brundland (1987) về “Tương lai chung của chúng ta”, tác phẩm “Chăm lo cho Trái Đất” (1991) và Chương trình Nghị sự
21 (1992) tại Riode Janero Hiện nay, phát triển bền vững được sử dụng phổ biến trong chiến lược, định hướng phát triển ở các quy mô khác nhau, từ quy mô toàn cầu, khu vực cho đến quốc gia và địa phương
Khái niệm phát triển bền vững do Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển đưa ra năm 1987 đã được thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới, là “sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm mất đi khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Tư tưởng chủ đạo của phát triển bền vững chính
là sự bình đẳng trong một thế hệ và giữa các thế hệ Hay nói cách khác, phát triển bền vững là sự phát triển bảo đảm hài hòa được các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường
Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) đưa ra bốn khu vực hành động là: (i) Phát triển kinh tế - xã hội: Chủ yếu là xóa đói giảm nghèo, quản lý tăng trưởng dân
số, quản lý cách sống và các hình thức tiêu dùng với sản xuất; (ii) Bảo vệ môi trường và nơi sống, bảo tồn thiên nhiên, tài nguyên và các hệ sinh thái, quản lý chất thải; (iii) Khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia, đóng góp của các đối tượng thụ hưởng tinh thần, đối thọai và hợp tác, sự công bằng bình đẳng về giới, giữa các sắc tộc và các thế hệ, ; (iv) Soạn ra những chương trình và biện pháp, thiết lập những
Trang 10định chế và cơ chế, sử dụng những phương tiện cần thiết để kinh tế - xã hội chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững
Trong bối cảnh nguồn tài nguyên đất đai ngày càng trở nên hạn hẹp thì lựa chọn phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu cấp thiết cho công tác quy hoạch sử dụng đất ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Châu Âu là khu vực đi đầu trong xây dựng các nguyên lý về quy hoạch sử dụng đất bền vững và phát triển các nghiên cứu ứng dụng theo hướng này Lier và cộng sự (1994) công bố ấn phẩm về quy hoạch sử dụng đất bền vững, trong đó trình bày những lý luận chung và áp dụng cho một số khu vực cụ thể tại Hà Lan Herrmann và Osinski (1999) thực hiện nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất đai bền vững dựa trên công nghệ GIS và mô hình hóa, áp dụng điển hình cho khu vực nông thôn Baden-Wuerttemberg thuộc miền nam nước Đức Gần đây nhất, Pašakarnis và cộng sự (2010) dựa trên quan điểm phát triển bền vững đã tiến hành phân tích định hướng phát triển nông thôn và những thách thức đối với chiến lược sử dụng đất ở khu vực Đông Âu
Tại khu vực Bắc Mỹ, quy hoạch sử dụng đất gắn liền với phát triển bền vững cũng được quan tâm trong thời gian gần đây, trong đó chú trọng nhiều tới bảo vệ các hệ sinh thái Ryan và Throgmorton (2003) thực hiện nghiên cứu so sánh thực trạng phát triển đất đai cho quy hoạch bền vững mạng lưới giao thông giữa thành phố Freiburg của Đức với thành phố Chula Vista, California của Hoa Kỳ Fitzsimons và cộng sự (2012) tiến hành đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất phục vụ phát triển vành đai xanh tại Toronto - thành phố lớn nhất của Canada
Tại châu Mỹ La-tinh, quy hoạch sử dụng đất bền vững được áp dụng cho cả khu vực đô thị hóa cao và các khu vực cảnh quan tự nhiên Rojas và cộng sự (2012) thực hiện đánh giá môi trường chiến lược cho cả châu Mỹ La-tinh, sau đó áp dụng
cụ thể cho quy hoạch đô thị tại vùng đô thị Concepción của Chile Trong khoảng thời gian này, Barral và Oscar (2012) tiến hành một nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền vững dựa trên đánh giá các dịch vụ hệ sinh thái, áp dụng điển hình cho vùng đông nam Pampas của Argentina
Tại Australia, Pearson và cộng sự (2010) đề xuất một khung kịch bản quy
Trang 11hoạch sử dụng đất bền vững và áp dụng cho khu vực đô thị thuộc vùng đông nam Queensland, Australia
Là khu vực điển hình nhất về các vấn đề nổi cộm liên quan tới quy hoạch sử dụng đất do tăng trưởng kinh tế nhanh và mật độ dân số cao, quy hoạch sử dụng đất bền vững ở khu vực châu Á và châu Phi hiện đang rất được chú trọng Các định hướng quy hoạch chủ yếu được tiếp cận từ châu Âu Tại châu Á, Chen và cộng sự (2003) tiến hành đánh giá sử dụng đất và đề xuất các kịch bản sử dụng đất bền vững cho vùng cao nguyên Loess của Trung Quốc Kim và Pauleit (2007) tiến hành đánh giá đa dạng sinh học và các đặc tính cảnh quan làm căn cứ cho quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Kwangju, Hàn Quốc Tại châu Phi, các nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất được thực hiện với sự hỗ trợ kinh phí và tham gia của các chuyên gia sử dụng đất châu Âu Agrell và cộng sự (2004) tiến hành quy hoạch sử dụng đất cho phát triển nền nông nghiệp sinh thái đa mục đích và áp dụng thử nghiệm tại vùng Bungoma của Kenya
Tóm lại, phát triển bền vững với cách tiếp cận toàn diện được xem là một xu thế của thời đại Do đó, quy hoạch sử dụng đât bền vững được quan tâm rộng rãi trên toàn thế giới Mặc dù các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới rất khác nhau
về điều kiện lãnh thổ cũng như động lực phát triển, nhưng quy hoạch sử dụng đất bền vững đã thể hiện được ưu thế cho tất cả các khu vực này, tạo cơ hội cho phát triển kinh tế, đồng thời bảo vệ được môi trường và tránh xung đột xã hội trong sử dụng đất
b) Tại Việt Nam
Quan điểm chủ đạo về phát triển bền vững đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Quan điểm này đã được thể hiện trong Điều 4 của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 Cho đến nay, do quan điểm phát triển bền vững vẫn chưa được triển khai đầy đủ thành các cơ chế chính sách cụ thể về phát triển bền vững trong thực tế, nên các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan và chủ đầu tư đang rất lúng túng trong việc giải quyết những bức xúc, khiếu kiện của người dân Cơ chế, chính sách bồi thường quyền sử dụng đất hiện hành đang
có những bất cập lớn trong thực tiễn, chưa đặt đúng mức các lợi ích về xã hội và môi
Trang 12trường Sự thiếu hụt các cơ chế, chính sách phát triển bền vững còn là một nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng trong phân chia lợi ích cũng như chia sẻ ô nhiễm môi trường của phát triển Vì vậy, trước mắt cần có những nghiên cứu chính sách cụ thể hoá quan điểm chủ đạo về phát triển bền vững trong quản lý và sử dụng đất, trong đó
có những nguyên tắc và cơ chế bồi thường phù hợp cho người dân
Việc quản lý, sử dụng đất phải vừa đảm bảo quỹ đất phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường, an ninh lương thực Chiến lược và quy hoạch sử dụng đất phải có tầm nhìn dài hạn; tránh chạy theo mục tiêu phát triển trước mắt nhưng khai thác cạn kiệt tài nguyên đất, để lại hậu quả xấu về kinh tế, xã hội và môi trường cho các thể hệ mai sau phải gánh chịu Chính sách, pháp luật đất đai phải góp phần xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo dân chủ, bình đẳng và công bằng xã hội
* Phát triển kinh tế trong sử dụng đất:
+ Áp lực về nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường là một thách thức lớn đối với việc cân đối, phân bổ nguồn tài nguyên đất cho các mục đích khác nhau, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong hoạch định chính sách và xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Dưới áp lực lớn về nhu cầu sử dụng đất trong không gian đô thị, việc khai thác không gian trong lãng đất để xây dựng các công trình ngầm trên quy mô lớn đó trở thành hiện thực đòi hỏi việc quản lý đất đai theo không gian phân tầng Đây là vấn đề mới ở Việt Nam, đòi hỏi phải xây dựng từ bước đầu phương pháp luận, hành lang pháp lý, quy trình kỹ thuật, quy trình quản lý phù hợp
* Bảo vệ môi trường trong sử dụng đất:
+ Sự thoái hóa, suy giảm nguồn tài nguyên đất do các nguyên nhân tự nhiên hoặc do tác động của con người đang trở nên ngày càng nghiêm trọng đòi hỏi cần tăng cường nghiên cứu, xây dựng và thực hiện các giải pháp thích hợp để quản lý, bảo vệ, bồi bổ và duy trì quỹ đất đảm bảo nhu cầu sử dụng đất hiện tại cũng như trong tương lai
+ Xây dựng hoàn thiện các phương pháp, nội dung, quy trình quy hoạch, kế
Trang 13hoạch sử dụng đất các cấp, lồng ghép với các nhiệm vụ phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng phương pháp dự báo và xác định nhu cầu
sử dụng đất, làm cơ sở xây dựng các phương án quy hoạch sử dụng đất bền vững
+ Xây dựng và hoàn thiện phương pháp, tổ chức đánh giá thường xuyên tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên đất của cả nước, theo các vùng và từng địa phương; tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ nhằm xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho các giải pháp quản lý, sử dụng đất ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng và hoàn thiện các giải pháp thích ứng và ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất; tổ chức thực hiện các chương trình, dự án ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất
* Công bằng xã hội trong sử dụng đất:
+ Do đặc điểm về lịch sử và tập quán sử dụng đất của các vùng miền khác nhau nên việc hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật phù hợp với tất cả các vùng lãnh thổ là một vấn đề khó khăn
+ Hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo 100% đơn
vị hành chính các cấp thực hiện xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật; tăng cường công tác kiểm tra giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã đòi hỏi phải điều chỉnh lại cách tiếp cận đối với quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với trình độ phát triển cũng như cách tiếp cận trong quy hoạch sử dụng đất sao cho hài hòa với xu thế toàn cầu hóa và tạo
ra một hành lang để quản lý quá trình phát triển đất nước một cách hợp lý, bền vững Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, ngoài nguyên nhân từ các hoạt động của các khu công nghiệp, khu đô thị và các hoạt động kinh tế - xã hội hiện tại, vùng lãnh thổ cũng có thể bị tác động bởi các yếu tố quy hoạch mới như chuyển đổi mục đích sử dụng đất, các khu công nghiệp mới, các khu
đô thị mới, phát triển các khu du lịch, các khu dân cư nông thôn mới, bệnh viện, trạm y tế, khu khai thác chế biến tài nguyên, Mặc dù đã được quy định trong Luật Đất đai 2003, nhưng sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam còn yếu Hầu hết các quy hoạch sử dụng đất mới dừng lại ở
Trang 14mức độ thông báo các quy hoạch ở giai đoạn cuối cùng để lấy ý kiến công đồng và các bên Như vậy việc tham gia của cộng đồng vào quá trình quy hoạch rất hạn chế,
ý kiến của cộng đồng chưa được quan tâm một cách thích đáng và mang nặng tính hình thức dẫn đến việc nhiều quy hoạch thiếu tính thực tiễn và khó thành công, đôi khi thất bại vì gặp phải sự không đồng thuận của người sử dụng
1.1.2 Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về sử dụng đất tại thành phố Hà Nội
- Nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng, đánh giá đất phục vụ định hướng phát triển nông nghiệp bền vững: ĐG đất đai phục vụ định hướng QH nâng cao hiệu quả SDĐ nông nghiệp huyện Gia Lâm (Vũ Thị Bình, 1995), Nghiên cứu đặc điểm thổ nhưỡng và định hướng SD hợp lý TNĐ huyện Thạch Thất, thành phố
Hà Nội (Phạm Quang Tuấn, Phạm Hồng Phong, 2011), Xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp liên ngành đối với TNĐ nông nghiệp của Hà Nội (Nguyễn Xuân Hải,
Các công trình nghiên cứu về SDĐ khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội: đã có một số công trình nghiên cứu nhưng phần lớn chỉ nghiên cứu chung về tỉnh Hà Tây như: Xây dựng ngân hàng cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản về tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội các tỉnh Hà Tây, Hòa Bình, Sơn La (Đào Vọng Đức và nnk, 1993 – 1995), chưa có công trình nào nghiên cứu về giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững tài nguyên đất
Trong bối cảnh hiện nay, khi khu vực phía Tây Nam được đặt trong và chịu
sự tác động của quá trình phát triển của thủ đô Hà Nội với nhiều xung đột giữa
Trang 15các lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường thì vấn đề sử dụng bền vững tài nguyên đất trở nên rất cấp thiết
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Các vấn đề liên quan tới hiện trạng và biến động sử dụng đất
a) Hiện trạng sử dụng đất và các vấn đề liên quan
Việt Nam có diện tích tự nhiên 33.121.159 ha, đứng thứ 55/200 quốc gia Là nước có quy mô diện tích thuộc loại trung bình; dân số 88 triệu người, đứng thứ 12/200 quốc gia, vì vậy bình quân diện tích đất trên đầu người vào loại thấp 3.800
m2/người (0,3-0,4 ha/người), đứng thứ 120/200 quốc gia trên thế giới, bằng mức 1/6 bình quân thế giới Trước đây, khi dân số thế giới ít hơn ngày nay rất nhiều, đa số các cộng đồng xã hội đã sinh sống một cách hài hoà với môi trường tự nhiên, trong đó có tài nguyên đất đai là nguồn cung cấp dồi dào cho nhu cầu tồn tại của con người Một vài thế kỷ gần đây, dân số thế giới tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu về lương thực, thực phẩm Song trong đó, nhịp độ phát triển nhanh chóng của các cuộc cách mạng
về kinh tế và kỹ thuật, … là nguyên nhân dẫn đến việc tàn phá môi trường tự nhiên và khai thác triệt để các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai
Hơn nhiều thập kỷ qua, không ngoài quy luật đó, tình trạng sử dụng đất đai ở nước ta cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự gia tăng dân số - nhu cầu lương thực và các yêu cầu thiết yếu khác Nhiều khu vực tài nguyên đất đai bị suy thoái một cách nghiêm trọng bởi việc phá rừng và khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản hoặc tình trạng đô thị hoá nhanh chóng gia tăng
Đánh giá tình hình sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2010 chúng ta nhận thấy bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được thì việc sử dụng đất vẫn có những biểu hiện thiếu bền vững như sau:
* Đối với khu vực đất nông nghiệp: Mặc dù đó tập trung thực hiện việc dồn
điền, đổi thửa thành công ở nhiều nơi nhưng nhìn chung thửa đất nông nghiệp còn quá nhỏ, toàn quốc còn tới 70 triệu thửa đất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ có từ 3
- 15 thửa, do đó canh tác manh mún, chưa tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Chưa có sự đầu tư để sử dụng đạt hiệu quả cao đối với 1168529 ha đất nương
Trang 16rẫy, việc sử dụng đất chưa trở thành động lực để xoá đói, giảm nghèo và tiến tới phát triển bền vững kinh tế - xã hội miền núi, vùng sâu, vùng xa
Việc chuyển một bộ phận đất chuyên trồng lúa cho mục đích phát triển công nghiệp và dịch vụ chưa được cân nhắc một cách tổng thể đang là vấn đề cần chấn chỉnh Cần cân nhắc hiệu quả đầu tư cả về hiệu quả kinh tế lẫn xã hội và môi trường, khuyến khích đầu tư hạ tầng cơ sở để chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, hạn chế việc tận dụng hạ tầng hiện
có tại các vùng đất nông nghiệp có năng suất cao để đầu tư công nghiệp và dịch vụ
Mặc dù diện tích rừng tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá và suy giảm chất lượng ở nhiều nơi, mức độ phục hồi chậm; nơi có nhiều đất có thể trồng rừng thì mật độ dân cư thưa, hạ tầng quá thấp kém Trong thời gian 4 năm
2001 - 2004, diện tích rừng bị cháy, chặt phá là 34821 ha, trong đó rừng bị cháy là
23500 ha (tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long với 12884 ha; Tây Bắc và Đông Bắc với 5524 ha), rừng bị chặt phá là 11320 ha (tập trung ở Tây Nguyên với 4206
ha, Đông Nam bộ với 2348 ha) (Đặng Hùng Võ, 2007)
Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện các dự án đầu tư phi nông nghiệp chưa giải quyết được quyền lợi, việc làm, ổn định tại khu vực nông thôn Nhiều nơi trao cho người nông dân tiền bồi thường, hỗ trợ về đất khá cao nhưng không định hướng được phương thức sử dụng nên đã dẫn đến tình trạng tiêu cực trong sử dụng
* Đối với đất phi nông nghiệp: đất dành cho đầu tư hạ tầng kỹ thuật chưa
thực sự được chú ý trong quy hoạch dài hạn Đặc biệt, đầu tư hạ tầng cho khu vực nông thôn còn thiếu nên chưa bảo đảm điều kiện để giải quyết xoá đói, giảm nghèo thực sự cho người nông dân
Vấn đề đất ở, nhà ở đang là khâu yếu và có nhiều vướng mắc hiện nay, đặc biệt là nạn đầu cơ đất ở, đất dự án nhà ở kéo dài trong nhiều năm, mặc dù gần đây
đã được chấn chỉnh nhưng hậu quả để lại khá nặng nề, nhất là giá đất vẫn còn ở mức cao làm hạn chế những cố gắng về nhà ở, đất ở
Nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ còn có tình trạng đất ở, đất nghĩa địa, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chưa được quy
Trang 17hoạch, vẫn còn phân bố rải rác, xen kẽ giữa các cánh đồng và trong khu dân cư, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường, khó nâng cấp đời sống cho người nông dân trong khu dân cư nông thôn với hạ tầng đồng bộ
Quỹ đất dành cho xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao chưa được quy hoạch đầy đủ, chưa thực hiện đúng các chính sách
ưu đãi về đất cho các nhà đầu tư thuộc các lĩnh vực này
Đến nay, cả nước đã và đang xây dựng khoảng 249 khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung nhưng vẫn đang ở trạng thái bị động vì thiếu các nhà đầu tư có tiềm lực lớn; sử dụng đất còn lãng phí do chưa có quy hoạch đồng bộ; nhiều khu công nghiệp đã hình thành nhưng mức độ lấp đầy rất thấp; còn nhiều nhà đầu tư được bàn giao đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không đúng tiến độ, thiếu hiệu quả; giá thuê đất gắn với hạ tầng ở nhiều nơi còn quá cao, chưa thu hút nhà đầu
tư sản xuất vào khu công nghiệp; vấn đề bảo vệ môi trường chưa được chú trọng ngay từ đầu nên đang phát sinh nhiều hậu quả xấu về môi trường, khó khắc phục (Đặng Hùng Võ, 2007)
Về đối tượng sử dụng đất ngoài hộ gia đình, cá nhân, phần lớn là do các tổ chức trong nước sử dụng, diện tích đất do tổ chức, các nhân nước ngoài sử dụng chiếm tỷ trọng không đáng kể (toàn quốc có 43.364 ha đất do tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng, chiếm 0,13% tổng diện tích đất tự nhiên)
Chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không cao, thiếu tính hệ thống, chưa có lời giải tốt về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, chưa bảo đảm tính liên thông giữa cả nước với các tỉnh
Sự chuyển cơ cấu sử dụng đất nói chung đã đảm bảo tính phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng hiệu quả chưa cao Hiện tượng chuyển đổi mục đích sử dụng đất tự phát, chạy theo lợi ích riêng vẫn chưa được khắc phục Nhiều tỉnh để dự trữ quỹ đất phi nông nghiệp nhiều hơn khả năng đầu tư nên dẫn tới tình trạng hoặc là “quy hoạch treo” do không triển khai được hoặc là tình trạng “dự án treo” do giao đất cho chủ đầu tư thiếu năng lực Việc chuyển mục đích sử dụng đất
ào ạt từ đất lúa sang đất nuôi tôm tại một số tỉnh ven biển đã dẫn đến ô nhiễm môi trường, mặn hoá diện tích trồng lúa, người nông dân không còn đất để sản xuất
Trang 18nông nghiệp mà nuôi tôm lại bị bệnh dịch, thua lỗ
Như vậy, để ngăn chặn tình trạng sử dụng lãng phí tài nguyên đất do sự thiếu hiểu biết cũng như do chạy theo lợi ích trước mắt của người dân gây ra, Nhà nước cần có những quyết định hướng dẫn cụ thể về sử dụng đất và quản lý đất đai sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất cho nhu cầu của con người hiện tại và trong tương lai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả
* Vấn đề sử dụng đất nông thôn, đô thị:
- Sử dụng đất nông thôn: Hiện nay, trong quá trình công nghiệp, hiện địa hoá
đất nước, diện tích đất nông nghiệp đang giảm mạnh do thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, xây dựng đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng Các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những ruộng nhất đẳng điền, toàn những bờ xôi ruộng mật được thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, sân golf hoặc xây các khu nhà để kinh doanh
Hiện tượng quy hoạch treo, quy hoạch tràn lan là khá phổ biến Thời gian triển khai công tác thu hồi đất kéo dài nhiều năm gây bất lợi đến tâm lý cũng như việc ổn định đời sống và việc làm của các hộ dân nằm trong diện bị thu hồi đất Các yếu tố trượt giá hầu như chưa được tính đến trong định giá bồi thường cho người dân Công tác tuyển dụng lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi chưa có hiệu quả Lao động nông nghiệp nhìn chung không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp Chỉ mới có một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng vài %) chuyển được sang nghề mới và tìm được việc làm ổn định Việc làm và thu nhập của các hộ sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, là đối tượng bị tác động lớn nhất sau khi thu hồi đất và gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới Trong quá trình bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nhiều nơi lại thiên về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà chưa cân đối quyền lợi với người dân bị thu hồi đất
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới đang được các địa phương triển khai thực hiện Tuy nhiên, do trước đây ở khu vực nông thôn công tác quy hoạch chưa được coi trọng đúng mức nên có nhiều công trình, khu dân cư, hạ tầng đã được hình thành, xây dựng tuỳ tiện, gây khó khăn
Trang 19cho công tác lập quy hoạch mới
- Sử dụng đất ở và đất giao thông đô thị: Trong 30 năm qua, mặc dù thời
gian đầu gặp nhiều khó khăn nhưng hàng năm Nhà nước đó rất quan tâm đến việc đầu tư cho xây dựng nhà ở và các cơ sở hạ tầng tại các đô thị Trong những năm gần đây với cơ chế mới, đất ở đô thị cũng tăng lên nhanh chóng do Nhà nước cấp đất và
mở rộng thị trường bất động sản cho người dân tự do mua bán nhưng đồng thời thấy
rõ quỹ đất đô thị đã ngày càng bị thu hẹp
Giao thông đô thị là một yếu tố quan trọng quyết định hình thành cơ cấu đô thị và sự phát triển kinh tế - xã hội đô thị, là yếu tố tác động trực tiếp với đời sống thường nhật của người dân đô thị nhưng đất giao thông đô thị hiện nay còn ở mức thấp chỉ chiếm trên dưới 10% đất đô thị Theo dự báo, tỷ lệ đất giao thông đô thị ở nước ta trong tương lai phải đạt 15 - 20% diện tích đô thị, bình quân diện tích giao thông đầu người là khoảng 15 - 20 m2 Nhưng hiện nay ở Hà Nội và nhiều đô thị bình quân diện tích đất giao thông trên đầu người thấp, đó là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng tắc nghẽn giao thông thường xuyên tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,…
* Vấn đề xác định tính chất khu công nghiệp, khu dân cư nông thôn, khu phát triển đô thị
- Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp Diện tích đất công nghiệp là diện tích đất của khu
công nghiệp đã xây dựng kết cấu hạ tầng để cho nhà đầu tư thuê, thuê lại thực hiện
dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp
- Khu dân cư nông thôn được xác định là địa bàn dân cư tập trung ở vùng nông thôn như: thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, Phạm vi khu dân cư được xác định bởi đường khoanh bao khép kín dựa vào các yếu tố địa lý, địa vật (có thể là lũy tre làng, đường giao thông, kênh rạch, sông suối )
Định mức sử dụng đất khu dân cư nông thôn được áp dụng trong công tác lập, điều chỉnh, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp lãnh thổ: cả nước, vùng (vùng kinh tế - xã hội, vùng kinh tế trọng điểm), cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)
Trang 20Khu dân cư nông thôn được phân thành 4 loại:
Khu dân cư nông thôn kiểu đô thị vùng đồng bằng, ven biển
Khu dân cư nông thôn thuần tuý vùng đồng bằng, ven biển
Khu dân cư nông thôn kiểu đô thị vùng miền núi, trung du
Khu dân cư nông thôn thuần tuý vùng miền núi, trung du
Khu dân cư nông thôn kiểu đô thị: là khu dân cư có quy mô dân số lớn (trung
du và miền núi ≥ 1000 dân, đồng bằng ≥ 2000 dân), mật độ dân số cao, tỷ lệ hộ phi nông nghiệp và bán phi nông nghiệp đạt trên 50%, có không gian kiến trúc làng xã phát triển mang dáng dấp kiểu đô thị (như các thị tứ, trung tâm cụm xã) Khu dân cư nông thôn thuần tuý: là những khu dân cư nông thôn chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp, có tỷ lệ hộ phi nông nghiệp và bán phi nông nghiệp dưới 50% Đây là dạng khu dân cư phổ biến ở các thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc,
Các loại đất theo mục đích sử dụng trong khu dân cư nông thôn:
- Khu dân cư nông thôn kiểu đô thị bao gồm: Đất ở, đất làm đường giao
thông, đất cây xanh, đất tiểu thủ công nghiệp, đất xây dựng công trình công cộng
- Khu dân cư nông thôn thuần tuý bao gồm: Đất ở, đất làm đường giao
thông, đất cây xanh, đất tiểu thủ công nghiệp, đất xây dựng các công trình công cộng, đất vườn ao kinh tế liền kề đất ở (theo quy định giao đất ở của địa phương)
Xác định diện tích đất khu dân cư nông thôn cấp xã bao gồm diện tích đất khu dân cư nông thôn tập trung và diện tích đất ở của các hộ gia đình ở phân tán trên địa bàn xã (xác định diện tích đất ở của các hộ phân tán căn cứ theo số lượng
hộ ở phân tán và định mức đất ở theo quy định của địa phương) Việc xác định diện tích đất khu dân cư nông thôn (làm mới hoặc mở rộng) căn cứ vào dân số có nhu cầu sử dụng đất tính đến nămquy hoạch (bao gồm: dân số phát sinh, dân số tồn đọng và dân số tái định cư trên địa bàn) Các loại đất trong khu dân cư nông thôn: Đất ở của hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn (đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình sinh hoạt phục vụ đời sống); đất xây dựng các công trình công cộng (đất trụ sở hợp tác xã, thôn, ấp, , trạm thú y, trạm biến áp, trạm xử lý cung cấp nước, ); đất giao thông bao (hệ thống các tuyến đường giao thông trong khu dân cư nông thôn, không tính các hệ thống giao thông từ đường liên xã trở lên); đất cây
Trang 21xanh bao (đất làm công viên cây xanh trong khu dân cư nông thôn)
Định mức sử dụng đất xây dựng các công trình công cộng trong khu dân cư nông thôn Riêng đối với khu dân cư nông thôn thuần tuý, tuỳ vào quỹ đất của mỗi địa phương có thể giao thêm đất vườn ao làm kinh tế liền kề đất ở với diện tích như sau: khu vực đồng bằng ven biển 70 - 100 m2/người (280 - 400 m2/hộ), khu vực miền núi trung du 100 - 200 m2/người (400 - 800 m2/hộ)
Xác định tổng diện tích đất của các công trình công cộng và đất giao thông cấp xã trong các khu dân cư được áp dụng theo định mức sử dụng đất: đất cơ sở y
tế, đất cơ sở văn hóa - thông tin, đất cơ sở giáo dục - đào tạo, đất cơ sở thể dục - thể thao, đất thương nghiệp - dịch vụ, đất giao thông, đất công nghiệp và đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp (tính theo diện tích công trình)
Xác định mức đất theo cận trên hay cận dưới của định mức phải căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương và mục tiêu quy hoạch khu dân cư Đối với khu dân cư quy mô dân số lớn có khả năng phát triển thành đô thị lấy định mức đất trên đầu người theo cận dưới; khu dân cư khả năng phát triển thấp, quy mô dân số nhỏ thì lấy định mức đất trên đầu người theo cận trên
Xác định diện tích đất khu dân cư nông thôn cấp huyện, cấp tỉnh, vùng và cả nước Đối với cấp huyện, cấp tỉnh, vùng và cả nước (trong trường hợp các đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) được tổng hợp như sau:
- Diện tích đất khu dân cư nông thôn cấp huyện được tổng hợp từ diện tích đất khu dân cư nông thôn của các xã, thị trấn trên địa bàn huyện
- Diện tích đất khu dân cư nông thôn cấp tỉnh được tổng hợp từ diện tích đất khu dân cư nông thôn của các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh trên địa bàn tỉnh
- Diện tích đất khu dân cư nông thôn vùng được tổng hợp từ diện tích đất khu dân cư nông thôn của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên địa bàn vùng
- Diện tích đất khu dân cư nông thôn cả nước được tổng hợp từ diện tích đất khu dân cư nông thôn của các vùng kinh tế - xã hội
Đối với cấp huyện, cấp tỉnh, vùng và cả nước (khi lập quy hoạch, kế hoạch
Trang 22sử dụng đất độc lập) việc tính định mức diện tích đất khu dân cư nông thôn dựa vào dân số có nhu cầu sử dụng đất trên địa bàn tính đến năm quy hoạch (bao gồm: dân
số phát sinh, dân số tồn đọng và dân số tái định cư)
Xác định tổng diện tích đất của các công trình công cộng và đất giao thông cấp huyện, cấp tỉnh, vùng và cả nước được áp dụng theo định mức sử dụng đất: đất
cơ sở y tế, đất cơ sở văn hóa - thông tin, đất cơ sở giáo dục - đào tạo, đất cơ sở thể dục - thể thao, đất thương nghiệp - dịch vụ, đất giao thông, đất công nghiệp và đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp (tính theo diện tích công cộng)
* Khu phát triển đô thị:
Khu phát triển đô thị là khu được quy hoạch để xây dựng đô thị, đất được quy hoạch để xây dựng các trụ sở cơ quan, nhà ở, cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở
hạ tầng phục vụ cho lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và các mục đích khác
* Vấn đề xác định quy mô và tổ chức đất đai xây dựng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị
- Quy mô và tổ chức đất đai xây dựng khu kinh tế: Khu kinh tế là khu vực có
không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế
Khu kinh tế có quy mô diện tích từ 10000 ha trở lên và đáp ứng yêu cầu phát triển tổng hợp của khu kinh tế Khu kinh tế được quy hoạch ở nơi có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mạch của quốc gia và quốc tế; dễ kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật; có khả năng thu hút dự án, công trình đầu tư với quy mô lớn, quan trọng và có tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực; có khả năng phát huy tiềm năng tại chỗ và tạo ảnh hưởng phát triển lan tỏa đến các khu vực xung quanh; không tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn thiên nhiên; không gây ảnh hưởng xấu và làm tổn hại đến các
Trang 23di sản văn hóa vật thể, danh lam thắng cảnh, các quần thể kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học; phù hợp với bố trí quốc phòng và đảm bảo quốc phòng, an ninh; có điều kiện đảm bảo yêu cầu về môi trường, môi sinh và phát triển bền vững; phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển khu kinh tế đã được phê duyệt
- Quy mô và tổ chức đất đai xây dựng khu công nghiệp: Khu công nghiệp là
khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định Quy mô diện tích của khu công nghiệp tuỳ thuộc theo vị trí và khả năng có thể phát triển Thông thường các khu công nghiệp được tổ chức ở ngoài khu dân dụng và phải đảm bảo những yêu cầu chung như: tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất và lao động của người dân; tạo thuận lợi cho việc
đi lại và vận tải; tránh được ảnh hưởng độc hại của sản xuất đến điều kiện vệ sinh môi trường và an toàn của người dân Quy hoạch xây dựng khu công nghiệp phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp quốc gia
b) Biến động sử dụng đất và các vấn đề liên quan
- Biến động đất đai
Biến động là bản chất của mọi sự vật, hiện tượng Mọi sự vật, hiện tượng không bao giờ bất biến mà luôn luôn biến động không ngừng, động lực của mọi sự biến động đó là quan hệ tương tác giữa các thành phần tự nhiên và xã hội Như vậy
để khai thác tài nguyên đất đai của một khu vực có hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên quí giá này và không làm suy thoái môi trường tự nhiên thì nhất thiết phải nghiên cứu biến động của đất đai Sự biến động đất đai do con người sử dụng vào các mục đích kinh tế - xã hội có thể phù hợp hay không phù hợp với quy luật của tự nhiên, cần phải nghiên cứu để tránh việc sử dụng đất đai có tác động xấu tới môi trường sinh thái
Nghiên cứu biến động đất đai là xem xét quá trình thay đổi của diện tích đất đai thông qua thông tin thu thập được theo thời gian để tìm ra quy luật và những nguyên nhân thay đổi từ đó có biện pháp sử dụng đúng đắn với nguồn tài nguyên này Biến động sử dụng đất đai bao gồm các đặc trưng sau:
+ Quy mô biến động:
Biến động về diện tích sử dụng đất nói chung
Trang 24Biến động về diện tích của từng loại hình sử dụng đất
Biến động về đặc điểm của từng loại đất chính
+ Xu hướng biến động: Xu hướng biến động thể hiện theo hướng tăng hoặc giảm của các loại hình sử dụng đất; xu hướng biến động theo hướng tích cực hay tiêu cực
+ Những yếu tố gây nên biến động sử dụng đất đai:
Các yếu tố tự nhiên của địa phương là cơ sở quyết định cơ cấu sử dụng đất đai vào các mục đích kinh tế - xã hội, bao gồm các yếu tố sau: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật
Các yếu tố kinh tế - xã hội của địa phương có tác động lớn đến sự thay đổi diện tích của các loại hình sử dụng đất đai, bao gồm các yếu tố: sự phát triển của các ngành kinh tế (dịch vụ, xây dựng, giao thông và các ngành kinh tế khác, …); sự gia tăng dân số; các dự án phát triển kinh tế của địa phương; thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá, …
- Đô thị hoá và sử dụng đất
“Đô thị hoá là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội - văn hoá - không gian gắn liền với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hoá, sự chuyển lối sống và sự mở rộng không gian thành đô thị, song song với việc tổ chức
bộ máy hành chính và quân sự” (Đàm Trung Phường, 1995) Theo quan điểm này thì quá trình đô thị hoá cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: cơ cấu kinh
tế, dân cư lối sống, không gian đô thị, cơ cấu lao động, …
Chiến lược phát triển đô thị quốc gia là một bộ phận khăng khít, hữu cơ trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta Theo dự báo,
Trang 25trong vài thập kỷ tới khoảng từ năm 2020 trở đi, khi các vùng tăng trưởng kinh tế (thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu, Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Đà Nẵng - Huế - Nha Trang) đã mạnh và sẽ không có lợi nếu tiếp tục “tăng sức ép” phát triển tại các vùng tăng trưởng, thì việc phát triển các hệ thống trung bình, nhỏ (các thị xã, thị trấn) trong toàn quốc trở lên cấp bách và rất quan trọng
Như vậy, trên góc độ toàn quốc, quá trình đô thị hoá và phát triển đô thị như
là một sức ép mang tính quy luật trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội quốc gia Trong quá trình đó tài nguyên đất là một yếu tố quan trọng và quyết định hàng đầu
Trong những năm qua, dưới tác động của nền kinh tế thị trường đất đai đó, đang và sẽ là một thành phần to lớn trong kinh doanh, sản xuất, thương mại nói chung và thị trường bất động sản nói riêng Điều đó rõ ràng là một bộ phận quỹ tài nguyên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp và lâm nghiệp được chuyển sang dùng cho xây dựng và phát triển đô thị Đây là vấn đề đang được quan tâm cho mọi quốc gia đặc biệt là các nước mà nền sản xuất nông nghiệp đang đóng góp một tỷ trọng đáng
kể cho nền kinh tế quốc dân
- Ý nghĩa thực tiễn của việc đánh giá biến động đất đai
Đánh giá biến động sử dụng đất đai có ý nghĩa rất lớn đối với việc sử dụng đất đai: Việc đánh giá biến động của các loại hình sử dụng đất là cơ sở phục vụ cho việc khai thác tài nguyên đất đai đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
Mặt khác, khi đánh giá biến động sử dụng đất đai cho chúng ta biết được nhu cầu sử dụng đất đai giữa các ngành kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng Dựa vào
vị trí địa lý, diện tích tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của khu vực nghiên cứu, từ
đó biết được sự phân bố giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế và biết được những điều kiện thuận lợi, khó khăn đối với nền kinh tế - xã hội và biết được đất đai biến động theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực nhằm đưa ra phương hướng phát triển đúng đắn cho nền kinh tế và các biện pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái
Do đó đánh giá biến động sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng, là tiền
đề, cơ sở đầu tư và thu hút nguồn đầu tư từ bên ngoài, để phát triển đúng hướng, ổn
Trang 26định trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia
1.2.2 Phát triển bền vững và định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững
a) Nội dung và nguyên tắc của phát triển bền vững
- Nội dung phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là nhằm bảo đảm sự cân đối giữa phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng hợp lý tài nguyên sao cho sự phát triển của hệ thống kinh tế - xã hội không vượt quá khả năng chịu tải của hệ thống tự nhiên; đảm bảo môi trường sống tốt đẹp cho mọi người, bảo vệ môi trường sống cho các hệ sinh vật trong sự phát triển bền vững của hệ kinh tế, xã hội và môi trường
+ Phát triển bền vững về kinh tế: Giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hoà giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh
tế các bon thấp Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực
+ Phát triển bền vững về xã hội: Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh; nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình
ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trở thành động lực phát triển quan trọng Giữ vững
ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
+ Phát triển bền vững về môi trường: Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo Phòng ngừa, kiểm soát
và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ
và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng
- Nguyên tắc phát triển bền vững:
+ Con người là trung tâm của phát triển bền vững Phát triển bền vững nhằm
Trang 27đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
+ Phát triển kinh tế song hành với bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng
để phát triển bền vững Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và môi trường lâu bền
+ Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và
có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường Yêu cầu bảo vệ môi trường luôn được coi là một tiêu chí quan trọng trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội và trong phát triển bền vững
+ Quá trình phát triển phải đảm bảo một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và các thế hệ tương lai Tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau; sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo; giữ gìn và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường Sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên
+ Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất
+ Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường
+ Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế thế giới
để phát triển bền vững Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế gây ra
+ Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
Trang 28mục tiêu riêng biệt, từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai (Dent, 1988, 1993)
Quy hoạch sử dụng đất bền vững là mục tiêu cần đạt được của mỗi quốc gia
và mỗi địa phương UNCED (1992) và FAO (1995) cho rằng “Quy hoạch sử dụng đất là một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa đến những hành động cho việc phân chia đất đai cho sử dụng nhằm cung cấp những cái có lợi bền vững nhất”
Về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của quy hoạch sử dụng đất bao gồm:
- Hướng dẫn quyết định trong sử dụng đất đai để sao trong nguồn tài nguyên
đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai
- Cung cấp những thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng thực tại của nguồn tài nguyên cũng như những tác động đến môi trường có thể có của những sự lựa chọn
Các mục tiêu yêu cầu cần đạt được của một dự án quy hoạch bền vững:
- Tính hiệu quả: nghĩa là khai thác được tiềm năng đất đai, đạt hiệu quả kinh
tế cao phục vụ phát triển, được cộng đồng và chính quyền chấp nhận, đáp ứng được
ý nghĩa cho mục đích riêng biệt
- Tính bình đẳng và được chấp nhận: giải quyết được các vấn đề xã hội và cộng đồng, công bằng trong phân chia nguồn tài nguyên, thực hiện tốt kết quả quy hoạch
- Tính bền vững: tạo ra được mối liên kết giữa sản xuất và môi trường, duy trì lâu dài, không hủy hoại nguồn tài nguyên tại chỗ
Quy hoạch sử dụng đất là công cụ giúp quản lý việc sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý, tuy nhiên trong quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất, các tác động về xã hội cũng như môi trường có thể xảy ra khi thực hiện phân bổ diện tích đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất Do đó, việc sử dụng bền vững tài nguyên đất hiện nay chỉ có thể đạt được thông qua việc gắn kết các vấn đề về kinh tế, xã hội
và môi trường vào trong quy hoạch sử dụng đất
Do đó, vai trò của quy hoạch sử dụng đất phải được mở rộng hơn, bao trùm
cả các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu, xã hội và kinh tế cũng như tạo điều kiện
Trang 29để các bên chịu ảnh hưởng từ các thay đổi trong sử dụng đất có thể tham gia vào quá trình quy hoạch Việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi phải điều chỉnh lại cách tiếp cận đối với quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với trình độ phát triển cũng như cách tiếp cận trong quy hoạch sử dụng đất sao cho hài hòa với xu thế toàn cầu hóa
và tạo ra một hành lang để quản lý quá trình phát triển đất nước một cách hợp lý, bền vững Điều này khiến cho việc chuyển hướng lập quy hoạch sử dụng đất từ cách tiếp cận tĩnh và nặng về mô tả sang một cách tiếp cận mới mang nhiều tính chiến lược và thiên về phân tích trở nên cần thiết hơn
Vai trò chủ yếu của quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam là phân bổ diện tích đất cho các mục tiêu sử dụng phát triển khác nhau của các đối tượng sử dụng đất công cộng và tư nhân Quy hoạch sử dụng đất hiện tại ít có sự phối hợp giữa các ngành, các đối tượng sử dụng đất và do vậy ít có khả năng đáp ứng được các điều kiện của địa phương cũng như các yêu cầu phát triển Đặc biệt đối với các vùng dân
cư tập trung, các vùng đồng bằng châu thổ và vùng ven biển rất nhạy cảm với sự thay đổi trong sử dụng đất cũng như đối với sự biến đổi khí hậu Sự phát triển nhanh chóng tại các khu vực này kéo theo sự thoái hóa về tài nguyên, suy giảm đa dạng sinh học và làm tăng nguy cơ ảnh hưởng tới các cơ sở hạ tầng cũng như ảnh hưởng đến việc sử dụng đất hiện tại và ảnh hưởng tới việc sử dụng đất và sinh thái cảnh quan trong tương lai
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian gần đây diễn ra với tốc độ rất nhanh đã làm tăng áp lực đối với tài nguyên đất đai và tài nguyên nước, dẫn tới nhu cầu phải điều chỉnh lại cách tiếp cận đối với quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với tốc độ phát triển cùng với sự thay đổi nhanh chóng của các ngành kinh tế Biến đổi khí hậu cũng đang là một thách thức mới đối với quá trình phát triển của Việt Nam bao gồm tác động đến cuộc sống, sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là một trong hai quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng Để ứng phó với biến đổi khí hậu cần phải có những đầu tư thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội Một trong những mục tiêu cụ thể của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu là tích hợp được yếu tố biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và các địa phương
Trang 30* Việc lồng ghép các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường
Ở Việt Nam, quy hoạch sử dụng đất được hiểu là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức, quản lý nhằm mục đích sử dụng hiệu quả tối đa tài nguyên đất trong mối tương quan với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và bảo vệ môi trường để phát triển bền vững trên cơ sở phân bố quỹ đất vào các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng theo các đơn vị hành chính các cấp, các vùng và cả nước Mục đích, yêu cầu của quy hoạch sử dụng đất là mang tính chất
dự báo và thể hiện những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, các ngành, các lĩnh vực trên từng địa bàn cụ thể theo các mục đích sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả Sau khi được phê duyệt, quy hoạch sử dụng đất
sẽ trở thành công cụ quản lý Nhà nước về đất đai để các cấp, các ngành quản lý điều chỉnh việc khai thác sử dụng đất phự hợp với yêu cầu của từng giai đoạn; xử lý các vấn đề còn bất cập và các vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai
Việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam đã được pháp lý hoá trong Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật Nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất là phân bổ quỹ đất phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; đồng thời bảo đảm việc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả Khung pháp
lý về quản lý đất đai hiện nay yêu cầu phải cân nhắc các phương án quy hoạch khác nhau trong mối quan hệ với các vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường, cũng như phải thu hút sự tham gia và góp ý của mọi đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp ở cấp
cơ sở cho từng phương án quy hoạch này
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, ngoài nguyên nhân từ các hoạt động của các khu công nghiệp, khu đô thị và các hoạt động kinh tế - xã hội hiện tại, vùng lãnh thổ cũng có thể bị tác động bởi các yếu tố quy hoạch mới như chuyển đổi mục đích sử dụng đất, các khu công nghiệp mới, các khu đô thị mới, phát triển các khu du lịch, các khu dân cư nông thôn mới, bệnh viện, trạm y tế, khu khai thác chế biến tài nguyên…Như vậy những tác động môi trường tích lũy từ các hoạt động cũ và mới đều cần phải được xem xét và đề cập đến trong các quy hoạch để các quy hoạch sử dụng đất trở nên thực tế và hiệu quả hơn, tránh được các tác động môi trường có thể xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện
Trang 31* Tăng cường sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình quy hoạch sử dụng đất
Có thể nói sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam còn yếu mặc dù đã được quy định trong Luật Đất đai 2003 Hầu hết các quy hoạch sử dụng đất mới dừng lại ở mức độ thông báo các quy hoạch
ở giai đoạn cuối cùng để lấy ý kiến cộng đồng và các bên Như vậy việc tham gia của cộng đồng vào quá trình quy hoạch rất hạn chế, ý kiến của cộng đồng chưa được quan tâm một cách thích đáng và mang nặng tính hình thức dẫn đến việc nhiều quy hoạch thiếu tính thực tiễn và khó thành công, đôi khi thất bại vì gặp phải sự không đồng thuận của người sử dụng
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để có thể lồng ghép các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường và biến đổi khí hậu vào trong quá trình quy hoạch một cách hiệu quả Việc đầu tiên cần phải làm là thực hiện thử nghiệm một số quy hoạch lồng ghép để có thể xây dựng được các hướng dẫn cụ thể cho người làm quy hoạch Kinh nghiệm cho thấy mặc dù các văn bản pháp quy của Nhà nước đó thể hiện rõ ràng nhưng nếu không có hướng dẫn cụ thể thì người thực hiện vẫn không thực hiện được
Sau đó là việc đưa các nội dung lồng ghép vào các văn bản pháp luật về đất đai vì nếu không có quy định rõ ràng thì khi tiến hành quy hoạch sử dụng đất các nội dung lồng ghép mới, khó, chưa nhìn thấy (biến đổi khí hậu, tác động xã hội, tác động môi trường) dễ dàng bị bỏ qua
Để việc lồng ghép trong quy hoạch sử dụng đất thành công thì bên cạnh việc các nội dung lồng ghép phải được quy định rõ ràng bởi các văn bản pháp quy, hướng dẫn cụ thể cho người làm quy hoạch thì việc kiểm tra của các cơ quan đơn vị chức năng, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp cũng như của người dân là rất cần thiết
* Quy hoạch sử dụng đất nông thôn, đô thị và phát triển bền vững
Bản chất của quy hoạch nông thôn là việc phân chia và xác định quy hoạch sử dụng đất khu dân cư và hạ tầng công cộng theo chuẩn nông thôn mới, quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư
Trang 32nghiệp), đất cho sản xuất công nghiệp - dịch vụ và hạ tầng phục vụ sản xuất kèm theo
Ngoài việc quy hoạch sử dụng đất khu dân cư và hạ tầng công cộng theo chuẩn nông thôn mới, thì việc quy hoạch đất dành đất cho sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa), để đảm bảo an ninh lương thực bền vững và lâu dài là nội dung quan trọng của phát triển bền vững
Theo báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ
2001 - 2010 của Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường): Năm
2010 đất nông nghiệp của cả nước có 26226000 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 10126000 ha, tăng 556.000 ha so với năm 2000 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp không những không giảm mà còn cao hơn chỉ tiêu được giao Đây là
cố gắng lớn của các địa phương trong việc duy trì, bảo vệ và phát triển quỹ đất
Riêng đất trồng lúa nước thời kỳ 2001 - 2010, chỉ tiêu Quốc hội duyệt cho phép giảm 407.000 ha, kết quả thực hiện trong 10 năm chỉ giảm 270.000 ha Như vậy, nhìn chung diện tích lúa nước của cả nước vẫn đáp ứng yêu cầu an ninh lương thực Song tại một số địa phương tốc độ giảm diện tích đất trồng lúa tương đối nhanh, như các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long do chuyển sang xây dựng các khu công nghiệp và đô thị, hoặc chuyển sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả
Một số địa phương chưa thực hiện đúng chủ trương sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa nước, nên vẫn còn tình trạng quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp trên đất sản xuất nông nghiệp có năng suất cao, thậm chí trên đất chuyên thâm canh lúa nước, trong khi ở địa phương vẫn còn nhiều quỹ đất khác Việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị nhiều nơi còn dàn trải, có không ít địa phương tỷ lệ lấp đầy còn dưới 60% song vẫn đề nghị mở thêm nhiều khu, cụm công nghiệp khác
Công tác quản lý, thực hiện quy hoạch sử dụng đất sau khi phê duyệt tại nhiều địa phương chưa được coi trọng trong khâu thực hiện; việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt còn mang tính hình thức, các quyền của người sử dụng đất trong phạm vi quy hoạch ở nhiều nơi còn bị vi phạm, chẳng hạn
Trang 33như không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không được sửa chữa nhà cửa gây nhiều bức xúc cho người dân
Nhiều nơi để cho dân ngang nhiên lấn chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép không bị xử lý, gây khó khăn phức tạp và làm tăng chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thực sự nghiêm túc, đặt biệt là việc quản
lý, sử dụng đất theo các chỉ tiêu quy hoạch đã được phê duyệt
Hiện nay diện tích đất trồng lúa của cả nước có khoảng 4,1 triệu ha Trong vòng 20 năm tới, nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và tạo đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng, đất trồng lúa sẽ tiếp tục phải chuyển sang mục đích phi nông nghiệp ước khoảng 450 - 500 nghìn ha (nhất là các vùng đồng bằng) Bên cạnh đó, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trước mắt cũng như lâu dài, nước
ta cần phải duy trì ổn định quỹ đất trồng lúa khoảng 3,8 triệu ha
Bản chất của quy hoạch đô thị là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đất, bố trí hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hóa nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung Còn quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị là việc
sử dụng quyền lực Nhà nước tác động vào quá trình tổ chức, điều hành, điều chỉnh hành vi của các bên tham gia vào việc thay đổi trong sử dụng không gian, kết cấu hạ tầng và tài nguyên thiên nhiên theo quy định của chính sách và pháp luật
Để đô thị phát triển bền vững, việc quản lý phát triển đô thị phải luôn bám sát quy hoạch và quy hoạch phải đi trước một bước Trong đó, cần chú trọng giám sát chặt chẽ và kiểm soát tốt các chỉ tiêu quy hoạch cụ thể như phân khu, giao thông, cây xanh, hệ thống cấp thoát nước Như vậy, mới xác định được khu vực hợp lý để phát triển đô thị, đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
1.3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp: Nghiên cứu phải dựa trên nhiều công đoạn, từ phân
tích hiện trạng, đánh giá biến động sử dụng đất, các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, cho đến các định hướng phát triển và điều kiện môi trường cụ thể của địa phương
Trang 34Các kết quả nghiên cứu đưa ra vừa có tính khoa học, vừa phản ánh điều kiện khách quan, phù hợp với các điều kiện đặc thù của lãnh thổ nghiên cứu, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý trong việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của huyện Thuỷ Nguyên
- Quan điểm lịch sử: Mỗi một đơn vị lãnh thổ bất kỳ đều phải trải qua quá
trình hình thành và phát triển theo thời gian Như vậy, việc nghiên cứu lãnh thổ phải dựa trên quan điểm lịch sử giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ về mọi phương diện lãnh thổ trong quá khứ; đồng thời, đưa ra những định hướng phát triển lãnh thổ trong tương lai Từ đây, chúng ta có cái nhìn đầy đủ về mọi phương diện của quá trình biến đổi sử dụng đất trong giai đoạn hiện tại và diện mạo của khu vực thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong tương lai
- Quan điểm phát triển bền vững: Với mục tiêu định hướng sử dụng đất lâu
dài được đặt ra cho khu vực phía tây nam có thể quy hoạch cũng như hoạch định chính sách một cách chính xác phù hợp và hiệu quả nhất cho quá trình phát triển bền vững của vùng Với quan điểm nghiên cứu này, việc duy trì cơ cấu sử dụng đất hợp lý song vẫn đảm bảo đầy đủ chức năng của lãnh thổ sẽ đảm bảo khu vực nghiên cứu có một lộ trình phát triển phù hợp và đưa ra những chính sách quản lý phù hợp với đặc trưng của vùng theo hướng phát triển bền vững
1.3.2 Hệ phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra thu thập các tài liệu, số liệu về
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, các số liệu thống kê, kiểm kê về diện tích các loại đất tại thời điểm hiện trạng để phục vụ cho việc quy hoạch phát triển khu vực ngoại thành phía tây nam thành phố Hà Nội đến năm 2030
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu, số liệu, bản đồ đã có để làm cơ
sở cho việc nghiên cứu đề tài
- Phương pháp thống kê, so sánh: Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập
được, tiến hành thống kê, so sánh số liệu qua các các năm để thấy được sự biến động, thay đổi về cơ cấu sử dụng các loại đất
- Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp: Phân tích và đưa ra đánh giá về
Trang 35tình hình sử dụng đất, biến động sử dụng đất của khu vực ngoại thành phía tây nam thành phố Hà Nội
- Phương pháp chuyên gia: Tranh thủ sự đóng góp của các chuyên gia về
lĩnh vực nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng luận văn
- Phương pháp bản đồ và GIS: Sử dụng bản đồ trên thực địa và trong phòng,
là căn cứ không gian cho đề xuất các phương án định hướng sử dụng đất Phương pháp bản đồ được thực hiện với sự trợ giúp của công nghệ GIS Các phần mềm GIS
là MapInfo và Microstation được sử dụng để biên tập và thành lập các các bản đồ chuyên đề
1.3.3 Các bước nghiên cứu
Luận văn được thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: thu thập các tài liệu, số liệu, bao gồm các tài liệu về phát triển bền vững, quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ môi trường; số liệu hiện trạng sử dụng đất năm
2005, 2010, 2013; hiện trạng bảo vệ môi trường, kết quả phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch phát triển đô thị, điểm dân cư, khu, cụm công nghiệp; các định hướng phát triển chung của thành phố Hà Nội,…
- Bước 2: Điều tra khảo sát thực tế, tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu
- Bước 3: Xây dựng định hướng không gian sử dụng đất của khu vực ngoại thành phía tây nam thành phố Hà Nội đến năm 2030
Trang 36CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005 – 2013
2.1 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC NGOẠI THÀNH PHÍA TÂY NAM HÀ NỘI
2.1.1 Các yếu tố điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
2.1.1.1 Các yếu tố điều kiện tự nhiên
- Phía Đông giáp huyện Thanh Trì, huyện Thường Tín
- Phía Nam giáp huyện Ứng Hoà, huyện Mỹ Đức và huyện Phú Xuyên
- Phía Tây giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
- Phía Bắc giáp quận Hà Đông, huyện Hoài Đức, huyện Thạch Thất và huyện Phúc Thọ
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội
Huyện Chương Mỹ nằm trong Dự án quy hoạch chuỗi đô thị Miếu Môn -
Trang 37Xuân Mai - Hoà Lạc - Sơn Tây và nằm trong vùng quy hoạch phát triển hành lang của thủ đô Hà Nội về phía Tây Trên địa bàn huyện có tuyến đường Quốc lộ 6, Quốc lộ 21A (nay là đường Hồ Chí Minh) chạy qua nối liền huyện với tỉnh Hoà Bình, thủ đô Hà Nội và các quận, huyện thị khác trong thành phố và các tỉnh lân cận
Huyện Quốc Oai có vị trí thuận lợi do ở gần các trung tâm kinh tế và thị trường lớn như thủ đô Hà Nội, quận Hà Đông, thị xã Sơn Tây, khu công nghệ cao Hoà Lạc, đại học quốc gia đang hình thành và nằm trong chuỗi đô thị mới Xuân Mai - Miếu Môn - Hoà Lạc - Sơn Tây Quốc Oai hiện đang là địa bàn đầu tư trọng điểm và trong tương lai sẽ trở thành địa phương có nền kinh tế công nghiệp, du lịch phát triển, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nông sản chất lượng cao cho các thị trường lớn xung quanh Vị trí địa lý cũng tạo tiềm năng cho Quốc Oai phát triển công nghiệp du lịch, dịch vụ với các loại hình: du lịch tâm linh, du lịch sinh thái kết hợp nghỉ cuối tuần,… thu hút khách du lịch từ các khu đô thị lân cận
Với vị trí nằm liền kề với quận Hà Đông và trung tâm thành phố Hà Nội Thanh Oai có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu buôn bán đặc biệt thuận lợi trong việc tiêu thụ các sản phẩm nông sản và các sản phẩm sản xuất từ các làng nghề truyền thống
b) Địa hình địa mạo
Do đặc điểm cấu tạo tự nhiên, khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố
Hà Nội có địa hình vừa mang đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với địa hình tương đối bằng phẳng vừa mang đặc trưng của vùng bán sơn địa Nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và trung du phía Bắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhìn chung địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Địa hình được phân bố thành một số vùng rõ rệt: vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng, vùng bãi ven sông, cụ thể như sau:
- Vùng bán sơn địa
Vùng đồi núi gồm các xã Đông Xuân, Phú Cát, Phú Mãn, Hòa Thạch và Đông Yên của huyện Quốc Oai Đây là vùng đất đồi gò có độ cao phổ biến từ 20-25m, đất ruộng từ 7-10m Riêng Phú Mãn và Đông Xuân của huyện Quốc Oai có núi cao từ 50-350m, đỉnh cao nhất là núi Vua Bà (cao 504m)
Vùng bán sơn địa còn có các xã, thị trấn ven đường Quốc lộ 6 và đường Hồ Chí Minh, là thị trấn Xuân Mai, các xã Đông Phương Yên, Đông Sơn, Thanh Bình, Thuỷ Xuân Tiên, Tân Tiến, Nam Phương Tiến, Hoàng Văn Thụ, Hữu Văn, Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc thuộc huyện Chương Mỹ Địa hình khu vực khá phức tạp, có độ dốc từ Tây sang Đông với đặc điểm chính của vùng đất là địa hình bị
Trang 38chia cắt bởi đồi gò và ruộng trũng Đồi gò ở đây chủ yếu là đồi thấp với độ dốc trung bình từ 50 đến 200 Địa hình có xu hướng thấp dần từ dãy núi Lương Sơn thấp
về phía sông Bùi, sông Tích
- Vùng đồng bằng
Vùng này gồm các xã phân bố ở vị trí trung tâm của huyện Chương Mỹ Về địa hình vùng đồng bằng không bằng phẳng, có độ dốc từ bắc xuống nam, từ tây sang đông xen những ô trũng Địa hình bị chia cắt bởi các tuyến đê bao, các bờ kênh, đường giao thông, làng mạc tạo nên những khu vực trũng thấp, xen kẹp rất khó khăn cho việc tiêu thoát úng Đây là vùng chuyên canh cây lúa chủ yếu của huyện
Vùng nội đồng gồm 7 xã Ngọc Mỹ, Thạch Thán, Nghĩa Hương, Cấn Hữu, Ngọc Liệp, Tuyết Nghĩa, Liệp Tuyết thuộc huyện Quốc Oai có độ cao 5-7m, độ dốc giảm dần về phía Tây Nam
Huyện Thanh Oai có địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng với hai vùng
rõ rệt là vùng đồng bằng sông Nhuệ và vùng bãi sông Đáy, có độ dốc từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam Điểm cao nhất là xã Thanh Mai với độ cao 7,50 m so với mực nước biển và điểm thấp nhất là xã Liên Châu có độ cao 1,50 m so với mực nước biển
Với đặc điểm địa hình như vậy, huyện có đủ điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất đa dạng hoá cây trồng và vật nuôi, có khả năng thâm canh tăng vụ
- Vùng bãi ven sông
Vùng bãi ven sông Đáy gồm 6 xã là Phụng Châu, Chúc Sơn, Lam Điền,
Thuỵ Hương, Thượng Vực và Hoàng Diệu, thích hợp để trồng lúa và rau màu, các loại cấy ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày
Vùng bãi ven sông Nhuệ gồm 9 xã Sài Sơn, Phượng Cách, Yên Sơn, Đồng Quang, Cộng Hòa, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành và thị trấn Quốc Oai, có độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Các dạng địa hình trên cho phép các huyện có thể phát triển đa dạng các loại cây trồng như cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp với hiệu quả kinh tế cao, có khả năng thâm canh tăng vụ Tuy nhiên cũng đòi hỏi phải đầu tư lớn về thủy lợi để giải quyết yêu cầu tưới tiêu chủ động phục vụ sản xuất và đời sống
c) Khí hậu
Khu vực ngoại thành phía Tây Nam thành phố Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng Bắc Bộ, là vùng khí hậu chuyển tiếp
Trang 39giữa vùng núi Tây Bắc với vùng đồng bằng, một năm chia thành 4 mùa khá rõ nét với các đặc trưng khí hậu chính như sau:
- Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình từ tháng 11 đến tháng 4 khoảng 200C, trung bình cả năm là 23-240C, tháng 1 và đầu tháng 2 nhiều ngày có nhiệt độ thấp từ 8- 120C, từ tháng 5 đến tháng 10 có nhiệt độ trung bình là 27,400C, tháng 6 - 7 nhiệt độ cao nhất là 380C Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.600-1.700 giờ
- Lượng mưa
Lượng mưa trên địa bàn khu vực nghiên cứu bình quân 1500-1700mm/năm Lượng mưa phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm Bình quân đạt 129,0mm/tháng Lượng mưa tập trung cao độ vào mùa hè đạt trung bình 1300mm, chiếm 84% tổng lượng mưa cả năm Mùa đông lượng mưa đạt khoảng 400mm
Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 Mưa nhiều thường tập trung vào các tháng 6, 7 và 8
- Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 83%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 82 - 86% Lượng bốc hơi cả năm 700 - 900 mm, trong đó lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng 1 và lớn nhất vào tháng 5 và tháng 6 Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 11, 12, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn
- Chế độ gió
Mùa đông có nhiều đợt gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, còn lại trong các tháng mùa hè có gió Đông Nam (mát và ẩm) Song trên địa bàn khu vực mỗi mùa thường có 4-5 đợt gió Tây Nam (nóng và khô) vào các tháng 6,7 Đối với vùng đồi gò khi có gió Tây Nam thường làm cho mặt đất bị nóng và gây ra các ảnh hưởng đối với cây trồng hàng năm và các loại cây có bộ rễ chùm
Sương muối hầu như không có, bão và mưa đá rất ít khi xảy ra, nhưng thỉnh thoảng có xoáy lốc cục bộ gây hại đối với cây trồng và nhà cửa
Tóm lại, khí hậu tại khu vực nghiên cứu có đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều
về mùa hè và lạnh, khô về mùa đông Nhìn chung, thời tiết có những biến động thất thường gây ảnh hưởng xấu cho đời sống và sản xuất Vào mùa mưa, xuất hiện những đợt mưa lớn, kéo dài gây ngập, úng Mùa đông, có những đợt gió mùa đông bắc về làm nhiệt độ giảm đột ngột gây ảnh hưởng tới sức khỏe và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nền khí hậu ấy thích hợp với nhiều loại cây trồng, góp phần tạo nên chủng loại cây trồng phong phú, đa dạng
Trang 40d) Thủy văn
Chế độ mưa theo mùa ảnh hưởng rõ nét đến chế độ thuỷ văn của các sông chính trong khu vực Trên địa bàn nghiên cứu có 3 con sông chảy qua là: sông Bùi, sông Tích và sông Đáy
- Sông Bùi: Bắt đầu từ Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình có lưu vực là 195km2đoạn chảy qua huyện Chương Mỹ là 23 km từ Xuân Mai nhập vào sông Đáy tại Ba Thá xã Hoà Chính
- Sông Tích là sông nội địa, bắt nguồn từ Đầm Long- Ba Vì, đoạn chảy qua huyện Quốc Oai dài 18km, qua huyện chương Mỹ dài 5km
- Sông Đáy là phân lưu chính của sông Hồng, chảy qua địa phận huyện Chương Mỹ có chiều dài là 28 km từ địa phận xã Phụng Châu đến Ba Thá (Hoà Chính), đoạn chảy qua Quốc Oai dài 15km, đoạn chảy qua Thanh Oai có chiều dài 20,5km Nhìn chung sông Đáy về mùa mưa nước không lớn vì thực chất là con sông cụt giới hạn bởi đập Đáy, hoàn toàn bị chặn, chỉ khi phân lũ mới được mở cửa tiêu nước cho sông Hồng Hiện tại sông Đáy là nguồn tưới tiêu quan trọng cho sản xuất nông nghiệp của khu vực
Sông Tích và sông Bùi có diện tích lưu vực và độ dốc khá lớn (khoảng 20m/1km), có thể gây lũ lụt, ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp
Sông Nhuệ ở phía Đông của huyện Thanh Oai có chiều dài 14,50 km lấy nước từ sông Hồng để cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống của nhân dân các xã ven sông như Liên Châu, Tân Ước, Đỗ Động và còn là nơi cung cấp nguồn nước cho công trình thuỷ lợi La Khê
Các sông ở đây có 2 mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa cạn: Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau
2.1.1.2 Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên đất
Theo liệu thống kê đất đai năm 2010 tổng diện tích tự nhiên của khu vực phía Tây nam Hà Nội (gồm 3 huyện Thanh Oai, Quốc Oai, Chương Mỹ) là 50327,10 ha Trong đó:
- Đất phù sa không được bồi (trong đê) có diện tích: 12624,51 ha phần lớn loại đất này nằm trên địa hình bằng phẳng, được phân bố rộng khắp khu vực, được khai thác cải tạo lâu đời phù hợp cho thâm canh tăng vụ, với nhiều loại mô hình canh tác cho hiệu quả kinh tế cao như mô hình lúa – màu, lúa – cá và trồng các loại cây lâu năm như cam, vải, bưởi
- Đất phù sa được bồi (ngoài đê) có diện tích: 4175,51 ha tập trung ở vùng