1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất thành phố hà nội đến năm 2020

98 467 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố về điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thực trạng phát triển kinh tế xã hội và đánh giá biến động sử dụng đất đai trên địa bàn từ đó đư

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT

1.1.1 Khái niệm chung về đất đai và vấn đề sử dụng đất 4

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu biến động sử dụng đất và cơ cấu sử dụng đất 8 1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất 8 1.2.2 Ý nghĩa nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất 10 1.2.3 Mối quan hệ giữa biến động sử dụng đất và phát triển kinh tế - xã hội 12 1.3 Nghiên cứu cơ cấu sử dụng đất để phục Quy hoạch sử dụng đất 13

Chương 2 HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN THẠCH

THẤT – TP HÀ NỘI

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Thạch Thất 22

Trang 3

2.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 29

2.3.1 Tình hình biến động đất đai trên địa bàn huyện từ năm 2005 đến 2010 40 2.3.2 Biến động đất đai trên địa bàn huyện từ năm 2010 đến 2011 46

2.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đối với việc sử dụng đất 49

Chương 3 ĐỀ XUẤT CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN

3.4 Đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đến năm 2020 65

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Các khoanh đất phải thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất 6

Bảng 3.5 Hệ số LQ của đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 60

Bảng 3.7 Tổng hợp và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất 72

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai thông qua các quy hoạch và chiến lược phát triển, với mục tiêu hướng tới cao nhất là sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm, bền vững Trong tiến trình phát triển, nhu cầu sử dụng đất luôn có xu hướng tăng mà nguồn cung tự nhiên của đất là không thay đổi, điều này dẫn tới những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất, giữa các mục đích sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất là công tác có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc điều hòa các mâu thuẫn phát sinh Tuy nhiên trong thực tế việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất ở nhiều địa phương còn những hạn chế bất cập Việc tổ chức thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát dẫn đến tình trạng “quy hoạch treo” hay “điều chỉnh quy hoạch” Nguyên nhân là phương án quy hoạch chưa bố trí quỹ đất phù hợp với nhu cầu thực tế sử dụng đất của các thành phần kinh tế; chưa dự báo được hết những thay đổi

về tốc độ phát triển kinh tế xã hội

Do đó nghiên cứu biến động sử dụng đất để định hướng trong công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một việc làm có ý nghĩa quan trọng Nó giúp cho các cấp, các ngành sắp xếp, bố trí sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai Vừa đáp ứng được yêu cầu “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai” vừa tránh được việc

sử dụng chồng chéo, sai mục đích gây lãng phí, huỷ hoại môi trường đất, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội

Huyện Thạch Thất thuộc tỉnh Hà Tây cũ là một huyện bán sơn địa, có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên kinh tế và xã hội Năm 2008, do yêu cầu mở rộng địa giới hành chính của thủ đô Hà Nội, tỉnh Hà Tây sát nhập vào Hà Nội Do đó huyện Thạch Thất chịu nhiều tác động trong sự phát triển chuỗi đô thị phía Tây Nhiều dự án trọng điểm của Trung ương và Thủ đô Hà Nội đã và đang được triển khai xây dựng trên địa bàn như khu công nghệ cao Hòa Lạc, đại học Quốc gia, các cụm, điểm công nghiệp khác, thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư, tiếp tục mở rộng diện tích Nhu cầu

sử dụng đất của huyện Thạch Thất đã có nhiều biến động do địa giới hành chính thay đổi, chính vì vậy nội dung quy hoạch xây dựng không còn phù hợp, buộc phải có điều

Trang 7

chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 cho phù hợp với tình hình phát triển chung của Thủ đô

Trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố về điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thực trạng phát triển kinh tế xã hội và đánh giá biến động sử dụng đất đai trên địa bàn từ đó đưa ra giải pháp chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện Thạch Thất tới năm 2020 đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế xã

hội Xuất phát từ lý do thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá biến động và đề

xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội đến năm 2020”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiện trạng, biến động sử dụng đất nhằm đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng năm 2020

3 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Thạch Thất – Thành phố Hà Nội

- Lập phiếu điều tra khảo sát tình hình mỗi địa phương trên địa bàn nghiên cứu

- Điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin hiện trạng sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu

- Tính toán chỉ số LQ, Hệ số Gini, thiết lập đường cong Lorenz để đánh giá cơ cấu sử dụng đất

- Phân tích biến động sử dụng đất và cấu trúc sử dụng đất của huyện

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cuối giai đoạn quy hoạch

- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

a Các chỉ số nghiên cứu:

- Thương số vị trí: Dùng để định lượng sự tập trung một loại hình sử dụng đất cụ thể trong một địa phương so với toàn bộ khu vực nghiên cứu Qua đó cho thấy mức độ tập trung của loại hình sử dụng đất được nghiên cứu

- Đường cong Lorenz và hệ số Gini: Đánh giá sự phân bố không gian của các loại hình

sử dụng đất

Trang 8

b Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp K-mean: Phân nhóm theo các chỉ tiêu đã đặt ra để đánh giá mức độ tương đồng của các nhóm

- Phương pháp thống kê: Phân tích, đánh giá các dữ liệu thống kê

- Phương pháp nghiên cứu, điều tra tổng hợp: Điều tra khảo sát thực địa về điều kiện

tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

- Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập thông tin thông qua mẫu bảng hỏi để có những nhận định rõ hơn về khu vực nghiên cứu

- Phương pháp bản đồ: Được sử dụng để thể hiện bản đồ hiện trạng sử dụng đất và so sánh, đối chiếu với biến động sử dụng đất tại huyện Thạch Thất

5 Các kết quả đạt được:

- Làm rõ hiện trạng và sự thay đổi trong sử dụng đất tại huyện Thạch Thất

- Phân tích biến động và tính hợp lý trong cơ cấu sử dụng đất của huyện

- Đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện Thạch Thất tới năm 2020

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT

Chương 2: HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN THẠCH

THẤT

Chương 3: ĐỀ XUẤT CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN THẠCH THẤT TỚI NĂM 2020

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CƠ CẤU SỬ DỤNG ĐẤT

1.1 Khái niệm cơ bản về sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm chung về đất đai và vấn đề sử dụng đất

Khái niệm đất

Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ

Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người [1]

Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,

là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian [7]

Vấn đề sử dụng đất

Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “ những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng” [3]

Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hoá học ), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ ) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác

Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy có thể khái quát một số

Trang 10

điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất

Điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng , cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên

và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như: yếu

tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng

Điều kiện kinh tế - xã hội: bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Yếu tố không gian: đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người Đất đai hạn chế

về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội [2]

1.1.2 Khái niệm về bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Khái niệm

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất theo quy định về chỉ tiêu kiểm kê theo mục đích sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê đất đai

và được lập theo đơn vị hành chính các cấp, vùng địa lý tự nhiên - kinh tế và cả nước

Mục đích của việc thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Thống kê, kiểm kê toàn bộ quỹ đất đã giao và chưa giao sử dụng theo định kỳ hàng năm và 5 năm được thể hiện đúng vị trí, đúng diện tích, đúng loại đất ghi trong luật đất đai hiện hành trên các loại bản đồ thích hợp ở các cấp

Xây dựng tài liệu cơ bản nhằm mục đích phục vụ các yêu cầu cấp bách của công tác quản lý đất đai

Làm tài liệu cho mục đích quy hoạch sử dụng đất và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch - kế hoạch hàng năm đã được phê duyệt

Làm tài liệu cơ bản thống nhất để các ngành khác sử dụng xây dựng các quy hoạch -

kế hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển của ngành, đặc biệt với ngành sử dụng nhiều đất

Trang 11

Nội dung và nguyên tắc biểu thị nội dung các yếu tố hiện trạng sử dụng đất

- Nội dung các yếu tố hiện trạng sử dụng đất:

+ Toàn bộ các loại đất thuộc phạm vi quản lý của đơn vị hành chính đó trong đường địa giới hành chính và theo các quyết định điều chỉnh địa giới hành chính của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Biểu thị ranh giới các khu dân cư nông thôn, khu công nghệ cao, khu kinh tế, ranh giới các nông trường, lâm trường, ranh giới các đơn vị quốc phòng, an ninh, ranh giới các khu vực đã quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đã triển khai cắm mốc trên thực địa

+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất khu vực tiếp giáp biển phải thể hiện toàn bộ diện tích các loại đất của phần đất liền và các đảo, quần đảo trên biển tính đến đường bờ biển theo quy định hiện hành tại thời điểm thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

- Nguyên tắc biểu thị nội dung các yếu tố hiện trạng sử dụng đất:

+ Biểu thị nội dung hiện trạng sử dụng đất trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất phải tuân thủ các quy định trong tập “ Ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất” do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành

+ Phải biểu thị đầy đủ các khoanh đất Khoanh đất được xác định bằng một đường bao khép kín Mỗi khoanh đất biểu thị mục đích sử dụng đất chính theo hiện trạng sử dụng + Bản đồ hiện trạng sử dụng đất phải biểu thị tất cả các khoanh đất có diện tích trên bản đồ theo quy định tại bảng 1:

Bảng 1.1 Các khoanh đất phải thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Tỷ lệ bản đồ Diện tích khoanh đất trên bản đồ

+ Độ chính xác chuyển vẽ các yếu tố nội dung hiện trạng sử dụng đất từ các tài

liệu dùng để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất sang bản đồ nền phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Sai số tương hỗ chuyển vẽ các yếu tố nội dung hiện trạng sử dụng đất không vượt quá

Trang 12

đồ phải giải thích đầy đủ trong bảng chú dẫn

1.1.3 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất

Khái niệm

Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có

hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của qui hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa ra phương án

đã lựa chọn vào thực tiến để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải làm qui hoạch

là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thây đổi nên phải nâng cao kỹ năng sử dụng đất [11]

Mục đích của quy hoạch sử dụng đất

Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt là căn cứ để bố trí sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất đặc biệt là chuyển diện tích trồng lúa có hiệu quả cao sang các mục đích phi nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản hoặc trồng cây lâu năm Từ đó tạo ra những điều kiện về tổ chức lãnh thổ, thúc đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch nhà nước giao

Vai trò của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng, là cơ sở để nhà nước thống nhất quản lý đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Nó được xây dựng trên định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển đô thị, yêu cầu bảo vệ môi trường, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; hiện trạng quỹ đất và nhu cầu sử dụng ; định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học kỹ thuật; kết quả thực hiện qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước Những năm gần đây, quy hoạch đã góp phần không nhỏ tạo ra kết quả đáng khích lệ, giúp khai thác, sử dụng đúng mục đích, tiết

Trang 13

kiệm và có hiệu quả, phát huy tiềm năng, nguồn lực về đất, mở rộng diện tích đất canh tác, nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn lương thực

Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp với bảo vệ đất và môi trường

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm

tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và hậu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu biến động sử dụng đất và cơ cấu sử dụng đất

- Sự cần thiết phải nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất:

Phân tích đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai chính là việc đánh giá hiệu quả của việc

sử dụng đất, phát hiện ra những tồn tại, đề xuất các giải pháp khắc phục làm cơ sở cho việc quy hoạch sử dụng đất đai Mục đích của nó bao gồm:

+ Phát huy đầy đủ tiềm năng đất đai và nâng cao trình độ sử dụng đất đai

+ Nâng cao hiệu quả sử dụng và hiệu quả sản xuất của đất đai

+ Tạo những luận cứ để lập qui hoạch sử dụng đất đai

Trang 14

Biến động sử dụng đất

- Biến động đất đai:

Đất đai là thành phần tất yếu, không thể thiếu để hình thành nên quốc gia Bởi vậy đối với các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thì việc quản lý đất đai luôn được đặt lên hàng đầu Sự phát triển của ngành công nghệ khoa học – kỹ thuật diễn ra rất mạnh mẽ, có sức lan tỏa vào tất cả các ngành, các lĩnh vực và đi sâu vào mọi khía cạnh cuộc sống Với những ưu điểm của nó, trong những năm qua nhiều lĩnh vực công nghệ tiên tiến đã được áp dụng có hiệu qủa ở nước ta như GPS, GIS…

Với sự liên quan hầu hết tới các lĩnh vực KT – XH, nên tình hình sử dụng đất đai có rất nhiều biến động xảy ra Chịu tác động trực tiếp từ nền kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước tạo nên Chính vì vậy, quá trình sử dụng đất và tình hình biến động đất đai diễn ra hết sức phức tạp và khó kiểm soát được Điều này tạo ra trở ngại rất lớn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng Để quản lý đất đai có hiệu qủa đòi hỏi việc nắm bắt cập nhật thông tin đầy đủ và phản ánh đúng thực trạng thông qua đăng

ký, chỉnh lý, cập nhật biến động đất đai trên hồ sơ địa chính Việc cập nhật những thay đổi để làm cơ sở bảo hộ quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của các chủ thể có liên quan, tạo điều kiện để nhà nước hoạch định chính sách quản lý và phát triển

Biến động sử dụng đất đai được thể hiện rõ nét nhất qua quy mô biến động, mức độ biến động và xu thế biến động Đối với quỹ đất hiện có trên toàn quốc, việc biến động đất đai sẽ gây nhiều tác động tới kinh tế, xã hội và môi trường

- Quy mô biến động:

+ Biến động về diện tích sử dụng đất nói chung

+ Biến động về diện tích của từng loại hình sử dụng đất

+ Biến động về đặc điểm của những loại đất chính

- Mức độ biến động:

+ Mức độ biến động thể hiện qua số lượng diện tích tăng hoặc giảm của các loại hình

sử dụng đất giữa đầu thời kỳ và cuối thời kỳ nghiên cứu

+ Mức độ biến động được xác định thông qua việc xác định diện tích tăng, giảm và số phần trăm tăng, giảm của từng loại hình sử dụng đất đai giữa cuối và đầu thời kỳ đánh giá

Trang 15

- Xu hướng biến động: Xu hướng biến động thể hiện theo hướng tăng hoặc giảm của

các loại hình sử dụng đất; xu hướng biến động theo hướng tích cực hay tiêu cực

- Những nhân tố gây nên biến động sử dụng đất đai

+ Các yếu tố tự nhiên của địa phương là cơ sở quyết định cơ cấu sử dụng đất đai vào các mục đích kinh tế - xã hội, bao gồm các yếu tố sau: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật

+ Các yếu tố kinh tế - xã hội của địa phương có tác động lớn đến sự thay đổi diện tích của các loại hình sử dụng đất đai, bao gồm các yếu tố: sự phát triển của các ngành kinh

tế (dịch vụ, xây dựng, giao thông và các ngành kinh tế khác, ); sự gia tăng dân số; các

dự án phát triển kinh tế của địa phương; thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá,

1.2.2 Ý nghĩa nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất

- Vai trò của đánh giá hiện trạng sử dụng đất trong công tác quản lý nhà nước về đất

đai:

Đất đai là nguồn tài nguyên của quốc gia , là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá tŕnh phát triển Vì vậy, việc sử dụng thật hiệu quả nguồn tài nguyên này không chỉ sẽ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước, mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xă hội

Hiến pháp nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Điều 18, chương II) đã quy định: “ Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả ” Điều đó khẳng định tính pháp lý cao của Nhà nước ta trong việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất Kết quả đánh giá tài nguyên đất đai, hiện trạng sử dụng đất đai phải được sử dụng trong quy hoạch để xác định tiềm năng đất đai, đồng thời giúp cho việc đưa ra quy hoạch sử dụng đất một cách hợp lý, thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Quy hoạch sử dụng đất là biện pháp quản lý không thể thiếu được trong việc tổ chức sử dụng đất của các ngành kinh tế - xă hội và các địa phương Phương án quy hoạch sử dụng đất là kết quả hoạt động thực tiễn của hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước, kết hợp với những dự báo có cơ sở khoa học cho tương lai Quản lý đất đai thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất vừa đảm bảo tính tập trung thống nhất của Nhà nước về đất đai, vừa tạo điều kiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Trang 16

trong việc sử dụng đất để đạt mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xă hội dân chủ, văn minh”

Quy hoạch sử dụng đất đai nhằm mục đích cải tiến, sử dụng đất đai hợp lý và hiệu quả để đáp ứng tốt nhu cầu chung của xă hội trong giai đoạn nhất định Đơn vị quy hoạch sử dụng đất đai thường dùng đơn vị quản lý hành chính: cả nước, tỉnh, huyện, xă

Từ những nghiên cứu ở trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một trong những bước quan trọng và có mối quan hệ mật thiết đối với quy hoạch sử dụng đất Muốn lập được quy hoạch sử dụng đất đai được tốt thì trước hết phải thực hiện công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất thật khách quan, chính xác, sát với thực tế khi có số liệu đánh giá hiện trạng sử dụng đất, ta lấy đó làm cơ sở cho việc xây dựng các phương án quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất Quy trình đánh giá hiện trạng sử dụng đất được thực hiện trong nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện theo quy trình 9 bước mà Tổng cục Điạ chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã ban hành kèm theo công văn số 1814/CV- ĐC ngày 12/10/1998

- Ý nghĩa của việc đánh giá biến động đất đai:

Đánh giá biến động sử dụng đất đai có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng đất: Việc đánh giá biến động các loại hình sử dụng đất là cơ sở phục vụ cho việc khai thác tài nguyên đất đai đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái

Mặt khác, đánh giá biến động sử dụng đất đai cho ta biết được nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng Dựa vào vị trí địa lý, diện gtích tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của khu vực nghiên cứu, từ đó biết được sự phân bố giữa các nhành, các lĩnh vực kinh tế và biết được những điều kiện thuận lợi, khó khăn đối với nền kinh tế - xã hội và biết được đất đai biến động theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực nhằm đưa ra phương hướng phát triển đúng đắn cho nền kinh tế

và các biện pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái Đánh giá biến động đất đai còn là tiền đề, cơ sở đầu tư và thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài; để xây dựng được định hướng quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả, sử dụng

Trang 17

hợp lý nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia và ổn định trên tất cả các lĩnh vực kinh

tế - xã hội

1.2.3 Mối quan hệ giữa biến động sử dụng đất và phát triển kinh tế - xã hội

“ Đô thị hóa là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội – văn hóa – không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành đô thị, song song với việc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự” Theo quan điểm này thì quá trình đô thị hóa cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: Cơ cấu kinh tế, dân cư, lối sống, không gian đô thị, cơ cấu lao động, Trong khi đó, đất đai lại là nguồn tài nguyên hạn chế Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục đích phát triển kinh tế - xã hội một các khoa học, tích kiệm và có hiệu quả là vô cùng quan trọng

Chiến lược phát triển đô thị quốc gia là một bộ phận khăng khít, hữu cơ trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta Theo dự báo, trong vài thập kỷ tới khoảng năm 2020 trở đi, khi các vùng tăng trưởng kinh tế (TP Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu, Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Đà Nẵng – Huế - Nha Trang) đã mạnh và sẽ không có lợi nếu tiếp tục “tăng sức ép” phát triển tại các vùng tăng trưởng, thì việc phát triển các hệ thống vùng kinh tế trung bình, nhỏ trên toàn quốc trở nên cấp bách và rất quan trọng

Như vậy, trên góc độ toàn quốc, quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị như là một sức ép mang tính quy luật trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội quốc gia Trong quá trình đó, tài nguyên đất là một yếu tố quan trọng và quyết định hàng đầu Trong những năm qua, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, đất đai đã, đang và sẽ

là một thành phần to lớn trong kinh doanh, sản xuất, thương mại nói chung và thị trường bất động sản nói riêng Điều đó khẳng định, một bộ phận tài nguyên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp và lâm nghiệp được chuyển sang dùng cho xây dựng và phát triển đô thị Đây là vấn đề đang được quan tâm cho mọi quốc gia đặc biệt là các nước

mà nền sản xuất nông nghiệp đang đóng góp một tỷ trọng đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

Trang 18

1.3 Nghiên cứu cơ cấu sử dụng đất để phục vụ Quy hoạch sử dụng đất

1.3.1 Hiệu quả sử dụng đất và cấu trúc sử dụng đất

Hiện trạng sử dụng đất cho thấy sự bố trí trong không gian của các loại hình sử dụng đất cũng như số lượng diện tích của chúng từ đó có thể tính toán cơ cấu sử dụng đất nói chung Cơ cấu sử dụng đất như là tiền đề để đạt được mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội Biến động sử dụng đất là sự mở rộng hoặc thu hẹp về diện tích của các loại đất Tuy nhiên, biến động sử dụng đất cũng có thể là sự chuyển hóa đất đai như sự thay đổi cấu trúc hoặc chức năng của một loại hình sử dụng đất mà không hoàn toàn chuyển đổi chúng sang loại hình sử dụng đất khác hoặc bảo toàn đất trong điều kiện hiện hành chống lại những thay đổi Khi xảy ra biến động sử dụng đất, tất yếu sẽ dẫn đến những thay đổi về cấu trúc sử dụng đất Như một phản ứng dây chuyền, hiệu quả

sử dụng đất sẽ thay đổi theo trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Nói một cách tổng chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại Trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế

để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế

về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự

ổn định về kinh tế - xã hội đất nước

Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế [1]

Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

Trang 19

Hiệu quả kinh tế

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;

- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;

- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội"

Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất

Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn

Hiệu quả môi trường

Trang 20

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài

Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường

1.3.2 Cường độ sử dụng đất

Tính toán cho hiệu quả cây trồng, nghiên cứu ước tính chỉ số cường độ trồng trọt theo Dayal (1978) Các chỉ số đo cường độ của cây trồng mà đất phải chịu trong một mùa sinh trưởng và nó được định nghĩa là phần của năm mà đất bị chiếm đóng bởi một loại cây trồng kinh tế Cách tiếp cận này theo đề nghị của Dayal (1978) ngoài việc tính đến sự thay đổi trong sự lựa chọn của hệ thống canh tác, cũng sẽ đưa vào xem xét

sự đa dạng trong thời kỳ nảy mầm của những loại cây trồng và giống cây trồng, và sự lựa chọn của nhiều chỉ số trồng trọt Chỉ số tiết lộ những vùng mà cường độ có thể tăng lên bằng cách tăng mức độ trồng trọt lên nhiều bởi vì nó cho thấy số lượng trung bình của một tháng ha đất đang canh tác Theo Dayal (1978), một tình huống mà các tháng mùa vụ trung bình là hơn 9 tháng hầu như không cung cấp bất kỳ diện tích để tăng cường thông qua nhiều thời vụ khi xem xét nông nghiệp nhờ nước trời Do đó chỉ

số cường độ trồng trọt được đo như sau:

Trong đó:

CI: Cường độ trồng trọt (năm/ha)

: Diện tích đất theo cây trồng i

: Thời gian cây trồng i

S: Diện tích gieo trồng trong các đơn vị đất đai liên quan

Lỗ hổng kiến thức lớn hiện đang tồn tại làm hạn chế khả năng của chúng ta để hiểu và mô tả động lực và các kiểu mẫu cường độ sử dụng đất: đặc biệt, một khung khái niệm toàn diện và hệ thống đo lường đang thiếu hụt Tình hình này cản trở sự

Trang 21

phát triển của một sự hiểu biết các cơ chế, yếu tố quyết định và những hạn chế cơ bản thay đổi cường độ sử dụng đất Trên cơ sở xem xét phương pháp tiếp cận để nghiên cứu cường độ sử dụng đất, cần có một khung khái niệm để định lượng và phân tích cường độ sử dụng đất Khung này tích hợp ba phép đo: cường độ đầu vào, cường độ đầu ra và các cấp hệ thống liên kết tác động sản xuất trên đất (ví dụ như thay đổi trong lưu trữ carbon hoặc đa dạng sinh học) Phát triển hệ thống chỉ số trên các phép đo sẽ đem lại cơ hội để phân tích hệ thống về thương mại, sự phối hợp và chi phí cơ hội của các chiến lược tăng cường sử dụng đất

Đa số đều hiểu rằng cường độ sử dụng đất bị hạn chế bởi những nhân tố môi trường trong đó có mùa vụ, loại đất và độ ẩm đất Ví dụ đất nông nghiệp ở những vĩ độ cao hơn sẽ có chu kỳ sinh trưởng ngắn hơn do nhiệt độ thấp hơn và những hạn chế các hoạt động trồng trọt trong một thời kỳ đặc biệt của năm Trái lại, tại vĩ độ thấp hơn sẽ

có độ ẩm cao hơn nên chu kỳ sinh trưởng dài hơn, tạo nhiều khả năng trồng trọt trong năm hơn

Trong khi thừa nhận ảnh hưởng của khí hậu đối với thâm canh nông nghiệp, hầu hết các nghiên cứu đã bỏ qua ứng dụng của nó trong các phép đo cường độ Thông qua các biến khí hậu, nghiên cứu này phát triển một phép đo có tính trọng số theo thời gian, chỉ số tiềm năng trồng trọt (CPI), có thể được sử dụng để đánh giá tiềm năng sản xuất của một khu vực CPI được so sánh với phương pháp thông thường, cường độ trồng trọt (CI), để đánh giá tầm quan trọng của sự khác biệt giữa các vùng sinh thái khác nhau Các so sánh cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa hai phép đo Mức độ của sự khác biệt lớn hơn trong khu vực khi khí hậu là một yếu tố hạn chế, chẳng hạn như vùng núi CPI nhạy cảm với khí hậu được coi là công cụ đo lường hoàn chỉnh hơn và

có thể hữu ích cho kế hoạch hoạt động phát triển nông nghiệp Các lợi thế về khả năng của CPI là rõ ràng để thiết lập một giới hạn trên lý thuyết với tiềm năng sản xuất cây trồng trong một khu vực khí hậu cụ thể So với CI, CPI thực tế hơn trong việc định lượng cường độ nông nghiệp ở các khu vực nơi mà yếu tố khí hậu là yếu tố giới hạn về

lý thuyết cho sự tăng trưởng cây trồng và sự phát triển của chúng

Các công trình nghiên cứu về tăng cường độ sử dụng đất đã khẳng tăng trưởng nông nghiệp đạt được thông qua tăng cường sử dụng đầu vào hiện đại, được xác định

là điều kiện cơ bản cho sự phát triển bền vững thông qua việc tăng cường độ sử dụng

Trang 22

đất Trong trường hợp không có đầu vào hiện đại, tăng cường độ sử dụng đất có thể dẫn đến sự suy giảm liên tục độ màu mỡ của đất, giảm năng suất, mất cấu trúc đất, xói mòn đất và suy thoái Tuy nhiên, ước tính của FAO đã cho thấy sự suy giảm về cường

độ sử dụng các yếu tố đầu vào hiện đại (đáng chú ý phân bón và máy kéo) đặc biệt trong số những nông dân có trình độ làm nông nghiệp Tạo ra sự khác nhau giữa việc cần thiết phải tìm kiếm sự tăng trưởng lương thực thông qua tăng cường độ sử dụng đất và điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước Từ đó tạo cơ hội trong việc tăng sản xuất nông nghiệp thông qua việc tăng cường độ sử dụng đất

1.4 Các chỉ số nghiên cứu

1.4.1 Thương số vị trí

Thương số vị trí (LQ) về cơ bản là một cách định lượng sự tập trung một loại hình sử dụng đất cụ thể trong một địa phương nào đó so với toàn bộ khu vực nghiên cứu Thương số vị trí là một tỷ lệ so sánh một vùng với một khu vực tham chiếu lớn hơn theo một số tính chất đặc trưng hoặc đặc điểm nào đó

Thương số vị trí là tỉ số giữa phần trăm của yếu tố nào đó và phần trăm toàn bộ các yếu tố Trong nghiên cứu này, phần trăm của yếu tố nào đó chính là phần trăm loại đất

cụ thể, phần trăm toàn bộ các yếu tố là phần trăm diện tích của vùng Những phần trăm

đó được đưa ra theo biểu thức sau:

Trong đó:

L là thương số vị trí của loại đất thứ i (i = 1,2, 3,4,5…) trong xã n (n=1,2, 3,…) biểu thị diện tích loại hình sử dụng đất thứ i trong xã n

∑ biểu thị diện tích loại sử dụng đất thứ i trong toàn huyện

thể hiện diện tích của xã n

∑ là diện tích toàn huyện

Tử số biểu thị tỉ số diện tích loại đất thứ i trong xã n, và mẫu số là phần trăm diện tích của huyện

Trang 23

Giả sử X là số lượng của một số thuộc tính trong một khu vực (ví dụ, diện tích đất nông nghiệp), và Y là tổng diện tích khu vực Sau đó X/Y là khu vực “tập trung” thuộc tính

Chỉ số thương số vị trí (LQ) cho thấy mức độ hoạt động của một khu vực so với hoạt động của một đơn vị đo lường cao hơn Khi LQ < 1.00, nó được coi là khu vực không đáp ứng nhu cầu địa phương, nếu LQ = 1.00, nó cho thấy rằng lĩnh vực này đáp ứng nhu cầu địa phương, và khi LQ > 1.00, điều này có nghĩa là vượt quá nhu cầu

1.4.2 Đường cong Lorenz và hệ số Gini

Đường cong Lorenz áp dụng cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu Trong giới hạn đề tài này, chúng tôi sử dụng đường cong Lorenz để đo sự phân bố không gian của các loại hình sử dụng đất khác nhau Đường cong Lorenz về không gian sử dụng đất phải bao gồm tỷ lệ đất cụ thể và tỷ lệ diện tích khu vực Tỷ lệ đất cụ thể đề cập đến tỷ lệ diện tích sử dụng đất cụ thể tại mỗi xã so với toàn bộ diện tích sử dụng đất cụ thể của huyện

Nguyên lý căn bản liên quan tới đường cong Lorenz là sắp xếp từ nhỏ nhất đến lớn nhất; xem xét tung độ là tỉ số tích lũy diễn tích của các loại hình sử dụng đất

và trục hoành là tỉ số diện tích tích lũy của vùng và vẽ đường cong Lorenz Độ cong cho thấy mức độ tập trung phân bố không gian sử dụng đất Đường thẳng không có độ cong thể hiện sự phân bố bình đẳng sử dụng đất

Trang 24

sử dụng đất

Tỷ lệ diện tích tích lũy loại hình sử dụng đất khu vực

Trang 25

1.5 Các phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp K-means

Thuật toán phân cụm K-means trong lĩnh vực thống kê năm 1967, mục đích của thuật toán là sinh ra k cụm dữ liệu {C1, C2,…,Ck} từ một tập dữ liệu ban đầu gồm n đối tượng trong không gian d chiều Xi = (xi1, xi 2, ,xid), i = (1 ,n), sao cho hàm tiêu chuẩn  

²(xmi) đạt giá trị cực tiểu Trong đó milà trọng tâm của cum Ci D

là khoảng cách giữa hai đối tượng [13]

Trong phương pháp K-mean ta tính khoảng cách từ mỗi phần tử đến phần tử trọng tâm của nhóm Trong thuật toán các phần tử trọng tâm ban đầu của k nhóm được chọn ngẫu nhiên từ các điểm trong tập cần phân hoạch Trong mỗi lần lặp, mỗi phần tử được phân vào nhóm có trọng tâm gần nó nhất, sau đó trọng tâm của nhóm được tính lại

Việc tìm kiếm trong thuật toán K-mean bị hạn chế trong một phần nhỏ không gian phân hoạch nên có giải pháp gom cụm tốt bị bỏ qua Có thể khắc phục khuyết điểm này bằng cách thực hiện nhiều lần thuật toán với các điểm trọng tâm ban đầu được chọn khác nhau và chọn kết quả tốt nhất Tuy nhiên khi đó thời gian chạy tăng lên Mặc dù phương pháp dựa trên độ tương đồng rất hiệu quả nhưng việc xác định một đô tương đồng tốt vẫn phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực sẽ ứng dụng

1.5.2 Phương pháp thống kê

Sử dụng phương pháp thống kê để phân tích, đánh giá các dữ liệu thống kê trong niên giám thống kê hàng năm của huyện Thạch Thất và đưa ra kết luận về sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện qua các giai đoạn Đồng thời, sử dụng phương pháp này để xử lý các dữ liệu thống kê từ các phiếu điều tra nhằm đưa ra những nhận xét xác đáng về sự phân hoá lãnh thổ theo mức độ phát triển kinh tế – xã hội

1.5.3 Phương pháp nghiên cứu điều tra tổng hợp

Sử dụng phương pháp nghiên cứu điều tra tổng hợp để tiến hành điều tra khảo sát thực địa về các hợp phần tự nhiên cũng như đặc điểm kinh tế – xã hội Kết hợp nghiên cứu và phân tích trong phòng, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm đặc thù cũng như sự phân hoá lãnh thổ của vùng nghiên cứu qua các số liệu thống kê và các báo cáo kinh tế

xã hội hàng năm

Trang 26

1.5.4 Phương pháp điều tra xã hội học

Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học (đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân với mẫu bảng hỏi) với mục đích thu thập thông tin qua các biến để nắm được tình hình phát triển kinh tế – xã hội, qua đó có được những nhận định toàn diện, đầy đủ về khu vực nghiên cứu

1.5.5 Phương pháp bản đồ

Sử dụng bản đồ địa hình để nghiên cứu điều kiện tự nhiên của khu vực, bản đồ hiện trạng sử dụng đất để nghiên cứu và đánh giá hiện trạng sử dụng đất trong khu

vực

Trang 27

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN THẠCH THẤT 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Thạch Thất là huyện ngoại thành nằm phía Tây Bắc thành phố Hà Nội, là vùng bán sơn địa, có toạ độ địa lý từ: 20o 58’23” đến 21o 06’10” vĩ độ bắc và 10o 27’54” đến 105o

38’22” kinh độ đông

Huyện Thạch Thất có ranh giới tiếp giáp với các địa phương như sau:

Phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ

Phía Đông giáp huyện Phúc Thọ, Quốc Oai

Phía Nam giáp huyện Quốc Oai, huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình)

Phía Tây giáp huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây

Thị trấn Liên Quan, trung tâm kinh tế - hành chính của huyện cách quận Hà Đông 25m, cách trung tâm thủ đô 40m về phía Đông Nam, cách thị xã Sơn Tây khoảng 13 km

Toàn huyện có 23 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó các xã Tiến Xuân, Yên Trung, Yên Bình mới chuyển về từ huyện Lương Sơn (năm 2008) Các xã này có địa hình đồi, núi thấp, phong cảnh đẹp, quỹ đất còn dồi dào là tiềm năng lớn để phát triển các khu đô thị sinh thái, các khu du lịch

b Địa hình, địa mạo

Thạch Thất nằm trong vùng đồng bằng Bắc bộ, nhưng cũng là khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và trung du phía Bắc với vùng đồng bằng Nhìn chung địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và chia thành ba dạng địa hình chính:

+ Dạng địa hình đồi núi thấp: bao gồm 3 xã phía tây, giáp với tỉnh Hoà Bình (mới chuyển về từ huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình), chiếm 29% diện tích toàn huyện, độ dốc địa hình tuy không lớn nhưng so với các vùng khác trong huyện là lớn hơn nhiều Giữa những dãy đồi núi thấp là cánh đồng khá rộng, nơi sản xuất nông nghiệp của nhân dân Đồi và núi thấp xen với các cánh đồng tạo cảnh quan đẹp là tiềm năng lớn

để phát triển các khu du lịch, đô thị sinh thái

Trang 28

+ Dạng địa hình bán sơn địa, đồi gò: bao gồm 9 xã phía Tây huyện, bên bờ phải sông Tích, chiếm 48% diện tích toàn huyện Độ cao trung bình so với mặt biển của vùng này từ 10 m đến hơn 15 m Trong vùng có nhiều đồi độc lập, thấp, thoải, độ dốc trung bình 3-8o, đã hình thành nhiều hồ thuỷ lợi nhỏ và vừa, tiêu biểu là hồ Tân Xã Đất phát triển trên nền đá đã phong hoá nhiều nơi có lớp đá ong ở tầng sâu 20-50 cm + Dạng địa hình đồng bằng: gồm 11 xã, thị trấn phía đông của huyện, bên bờ trái sông Tích, chiếm 23% diện tích toàn huyện Địa hình khá bằng phẳng, độ cao địa hình trung bình dao động trong khoảng từ 3 đến 10 m so với mặt biển Nền địa chất khá đồng nhất, tầng đất hầu hết dày trên 1m, thỉnh thoảng có nơi xuất hiện đá ong ở tầng sâu Đây là vùng thâm canh lúa tập trung của huyện, có hệ thống kênh mương lấy nước tưới từ hồ Đồng Mô Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành các hồ đầm nhỏ

- Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.680 giờ, năm cao nhất 1.700 giờ, năm thấp nhất 1.460 giờ

- Lượng mưa và bốc hơi:

+ Lượng mưa bình quân năm là 1.628 mm, cao nhất trung bình là 2.163mm và thấp nhất trung bình là 1.519mm Lượng mưa phân bố trong năm không đều, mưa tập trung

từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất

có thể tới 336mm Mùa khô từ cuối tháng 10 đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 lượng mưa chỉ có 16 - 23mm + Lượng bốc hơi bình quân năm khoảng 860 mm, bằng 57% so với lượng mưa trung bình năm Lượng bốc hơi trong các tháng mưa ít cao, do đó mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu hơn, tuy nhiên do hệ thống thuỷ lợi tương đối tốt nên ảnh hưởng không lớn đến cây trồng vụ đông xuân

Trang 29

- Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 83%, giữa các tháng trong năm biến thiên

từ 80 - 89% Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 11, 12, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm không khí giữa các tháng trong năm không lớn

- Gió: hướng gió thịnh hành về mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Còn lại các tháng trong năm chủ yếu là gió Đông Nam Thỉnh thoảng có xuất hiện gió Tây Nam vào các tháng 6,7

- Sương muối hầu như không có; mưa đá rất ít khi xảy ra Thông thường cứ 10 năm mới quan sát thấy mưa đá 1 lần

Tóm lại, khí hậu ở Thạch Thất có đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè và lạnh, khô về mùa đông Nền khí hậu ấy thích hợp với nhiều loại cây trồng, góp phần tạo nên hệ thống cây trồng phong phú, đa dạng

d Thủy văn

Do đặc điểm địa hình thấp dần về phía đông nam nên các sông suối có hướng chảy về phía này Chế độ mưa theo mùa ảnh hưởng rõ nét đến chế độ thuỷ văn của các sông chính trong khu vực

Các xã thuộc tiểu vùng đồi núi phía tây có độ dốc lớn hơn với những con suối nhỏ, ngắn, ở đây đã xây dựng một số công trình thuỷ lợi nhỏ cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Sông Tích bắt nguồn từ vùng núi Ba Vì chảy qua Thạch Thất với chiều dài 16km là nguồn cung cấp nước chủ yếu và là dòng chính để tiêu thoát nước cho huyện Sông quanh co, uốn khúc, nhiều đoạn bị bồi lấp mạnh Ngoài ra còn có hệ thống kênh thuỷ lợi cung cấp nước chủ động cho các cánh đồng như: Kênh Đồng Mô - Ngải Sơn (dài 16km), kênh Phù Sa (18km), cùng với hệ thống các hồ nhỏ và vừa (tiêu biểu là hồ Tân Xã), các ao là nguồn dự trữ và tiêu thoát nước

2.1.2 Các nguồn tài nguyên

a Tài nguyên đất

Từ kết quả điều tra trước đây, kết hợp với chỉnh lý bổ sung ngoài thực địa đã xác định được đất huyện Thạch Thất gồm có 3 nhóm đất với 8 loại đất

Trang 30

- Đất phù sa không được bồi:

Diện tích 4452,56 ha chiếm 24,12% diện tích tự nhiên Là loại đất trước đây cũng được bồi đắp phù sa của hệ thống sông Do quá trình canh tác và chịu tác động của các yếu tố địa hình nên lâu nay không được bồi đắp thêm phù sa mới nữa Nơi có địa hình tương đối cao, đất thoáng khí, thoát nước tốt, nơi có địa hình thấp thường có gờ lây yếu Loại đất này có độ phì khá do vậy thích hợp với nhiều loại cây trồng

- Đất phù sa gơlây:

Diện tích 650,85 ha chiếm 3,53% diện tích tự nhiên

Đất được hình thành trên sản phẩm phù sa trong điều kiện yếm khí hình thành nên tầng gờlây từ mức độ trung bình đến mạnh Thành phần cơ giới của đất thường là thịt nặng Do đó thích hợp trồng 2 vụ lúa/năm, ở vùng đất thấp có thể chuyển đổi theo

Trang 31

mô hình lúa cá

- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng:

Diện tích 750,14 ha chiếm 4,06% diện tích tự nhiên

Đất được hình thành trên sản phẩm phù sa trong điều kiện địa hình cao, nên hình thái phẫu diện đã phân hoá khá rõ, thường xuất hiện tầng đỏ vàng loang lổ, đôi chỗ thường

có xuất hiện kết von Thành phần cơ giới tầng đất mặt thường là đất trung bình, ở các tầng dưới thành phần cơ giới nặng hơn, tỷ lệ cấp hạt sét tăng theo chiều sâu của phẫu diện đất Khả năng giữ nước giữ phân bón tốt

Do đó, ở những chân đất cao, thoát nước tốt, điều kiện tưới có khó khăn nên trồng các loại cây hoa màu và cây ăn quả Ở những nơi chân đất có địa hình trung bình có điều kiện tưới tiêu nên trồng 2 vụ lúa hoặc luân canh lúa màu

Diện tích 1 426,37 ha, chiếm 7,73% diện tích tự nhiên

Thành phần cơ giới của đất thường là thịt trung bình, khả năng giữ nước và giữ phân bón khá

Đây là loại đất có độ phì khá, lại ở dạng đồi cao, tầng đất không dày nên sử dụng cho lâm nghiệp

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ:

Diện tích 3 320,70 ha chiếm 17,99% diện tích tự nhiên

Đất được hình thành trên mẫu chất phù sa cổ, thường ở địa hình đồi lượn sóng có độ dốc dưới 15º Thành phần cơ giới của đất thường là thịt trung bình, khả năng giữ nước

và các chất dinh dưỡng trong đất khá Đây là loại đất có độ phì thấp, phân bố ở địa hình ít dốc nên sử dụng trồng cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày: mía, xả, ngô, sắn… hoặc cây ăn quả (nhãn, vải…)

- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước:

Diện tích 110,6 ha chiếm 0,6% diện tích tự nhiên

Trang 32

Đây là loại đất được hình thành trên nền đất feralit và trên các loại đá mẹ khác nhau hoặc mẫu chất phù sa cổ, được con người khai phá thành ruộng bậc thang để trồng lúa nước, đã làm thay đổi các tính chất hoặc hình thái phẫu diện so với đất hình thành tại chỗ

Thành phần cơ giới của lớp đất mặt thường là trung bình, xuống sâu các tầng dưới có thành phần cơ giới nặng hơn

Nhóm đất đỏ vàng có 3 loại đất, mỗi loại có tính chất và đặc điểm riêng Để sử dụng đất này có hiệu quả tuỳ theo điều kiện cụ thể của địa phương và mức độ đầu tư

để bố trí cây trồng cho phù hợp

+ Đối với đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước tuỳ điều kiện tưới nên trồng lúa hoặc luân canh lúa - màu

+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ nên trồng cây hoa màu hoặc cây lâu năm

+ Đất đỏ vàng trên đá phiến sét nên trồng cây lâm nghiệp

b Tài nguyên nước

Tài nguyên nước gồm 2 nguồn: Nước mặt và nước ngầm

- Nước mặt: nguồn nước mặt được cung cấp chủ yếu bởi sông Tích, kênh dẫn nước Đồng Mô-Ngải Sơn, Phù Sa Nước mưa được lưu giữ trong các ao hồ (trong đó có các

hồ thuỷ lợi nhỏ và vừa) để rồi cung cấp nước tưới cho đồng ruộng Nước sinh hoạt của nhân dân được lấy từ nước mưa, giếng khơi, giếng khoan, hệ thống cấp nước tập trung

Có các hồ khá lớn ở phía tây của huyện như hồ Tân Xã

Ở các xã miền núi phía tây có các suối nhỏ, ngắn cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Lưu lượng khá ổn định do có diện tích rừng được bảo vệ

- Nước ngầm: Vùng gò đồi phía phải sông Tích có mực nước ngầm khá nông, kết quả khoan thăm dò ở Hoà Lạc thấy nước ngầm ở độ sâu 70-80m, lượng nước tuy không

Trang 33

lớn nhưng có chất lượng tốt Vùng đồng bằng phía trái sông Tích có mực nước ngầm nông và khá dồi dào, hầu hết các giếng khơi sâu trên 8 m đều có nước, nhiều giếng có nước ở độ sâu 5 m

Để sử dụng tốt tài nguyên nước cho mục tiêu phát triển sản xuất và sinh hoạt cần quy hoạch theo hướng giữ lại nguồn nước hồ Tân Xã và các hồ nhỏ phân bố rải rác trong huyện; sử dụng có hiệu quả nguồn nước được cấp bởi hệ thống kênh Đồng Mô-Ngải Sơn, Phù Sa; xây dựng các trạm cấp nước tập trung phục vụ sinh hoạt, các cụm, điểm công nghiệp

c Tài nguyên rừng

Diện tích đất lâm nghiệp có rừng của huyện không nhiều, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích tự nhiên của huyện Toàn huyện có 2.468,54ha đất rừng, chiếm 13,37% tổng diện tích tự nhiên, toàn bộ là rừng trồng sản xuất Rừng tập trung ở các xã phía tây: Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân và Bình Yên (chiếm 88,5% tổng diện tích rừng toàn huyện) Cây trồng lâm nghiệp gồm: bạch đàn, keo lá chàm, keo tai tượng Ngoài

ý nghĩa kinh tế cây lâm nghiệp được trồng trên đất đồi núi dốc có tác dụng phòng hộ, bảo vệ đất, tạo cảnh quan môi trường, điều hoà khí hậu Trên đất đồi núi chưa sử dụng thực vật tự nhiên là cây lùm bụi, cỏ dại

Do đặc điểm địa hình có nhiều đồi bát úp hoặc những dãy đồi thấp nổi nên giữa cánh đồng, rừng ở đây tạo nên phong cảnh đẹp Trên diện tích đất có rừng hiện nay đã

có nhiều dự án dự kiến triển khai Khi triển khai thực hiện những dự án này khai thác được tiềm năng đất đai, phong cảnh nhưng cũng ảnh hưởng đến việc bảo vệ rừng

Cây trồng nông nghiệp cũng khá đa dạng, phong phú gồm: các loại cây ăn quả, chè, cây lương thực, cây rau

Động vật tự nhiên ít do chỉ có rừng trồng nằm phân tán ở các đồi núi độc lập, chủ yếu là các loài chim Động vật nuôi có: bò, trâu, dê, lợn, gia cầm

d Tài nguyên khoáng sản

Thạch Thất nghèo tài nguyên khoáng sản Các khoáng sản chính chỉ có: sét để sản xuất gạch ngói, đá ong Sét có nhiều ở Đại Đồng, đất để sản xuất vật liệu xây dựng phân bố ở nhiều nơi nhưng tập trung nhiều ở Cẩm Yên, Đồng Trúc, Đại Đồng Đá ong phân bố dọc tỉnh lộ 84, chủ yếu tập trung ở Bình Yên

Việc khai thác các nguồn tài nguyên trên cần có kế hoạch, quy hoạch cụ thể,

Trang 34

tránh hiện tuợng khai thác tự phát có thể làm giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp

và ảnh hưởng đến môi trường

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

2.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tăng trưởng nhanh của các ngành công nghiệp, dịch vụ kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Cơ cấu kinh tế có xu hướng dịch chuyển từ cơ cấu Công nghiệp – Nông nghiệp – Dịch vụ sang mô hình Công nghiệp – Dịch vụ - Nông nghiệp, tuy nhiên ngành dịch vụ còn chiếm tỷ trọng nhỏ và phát triển chưa ổn định

Xét về cơ cấu kinh tế trên địa bàn, tỷ trọng ngành dịch vụ có xu hướng tăng từ 13,7% năm 2005 lên 17,3% năm 2010 Ngành công nghiệp và xây dựng cũng có xu hướng tăng nhẹ, từ 70,1% năm 2005 lên 70,9 năm 2010 Ngành nông nghiệp có xu hướng giảm, từ 16,2% năm 2005 xuống còn 11,8% năm 2010

Như vậy có thể thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Thạch Thất những năm vừa qua mặc dù theo xu hướng tiến bộ nhưng tốc độ chuyển dịch còn khá chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu, cơ cấu kinh tế thể hiện rõ nét cơ cấu kinh tế của một huyện phát triển theo hướng công nghiệp

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Thạch Thất qua các năm

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thạch Thất 2012

Nhìn chung, nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh, trong khi tiềm năng phát triển còn lớn, đặc biệt huyện có rất nhiều lợi thế để phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thương mại và sản xuất nông sản hàng hoá chất lượng cao Huyện cũng có tiềm năng lớn trong phát triển tiểu thủ công nghiệp, sản xuất làng nghề Trong quy hoạch sử dụng đất đai cần mạnh dạn bố trí đất cho các ngành phi nông nghiệp, sử dụng

Trang 35

nhiều lao động địa phương

2.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

a Dân số

Tốc độ dân số toàn huyện bình quân 5 năm qua là 1,81%/năm Tuy nhiên giữa các năm có sự khác nhau khá lớn, năm tăng thấp nhất là 2004 với 1,25%, nhưng năm

2002 tốc độ tăng dân số lên tới 2,2%

Bảng 2.3 Biến động dân số qua các năm

Năm 2000 Năm 2005 Năm 2008 Năm 2010 Dân số (người): 139 547 152 619 182 368 191 000

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thạch Thất 2012

Tỷ lệ sinh và tốc độ tăng dân số tự nhiên vài năm gần đây đã giảm đi Tỷ suất sinh thô năm 2007 là 1,86%, năm 2008 là 1,76% và năm 2009 là 1,69% Tốc độ tăng dân số tự nhiên năm 2008 là 1,30% , năm 2009 là 1,28% và năm 2010 là 1,27%

Dân số toàn huyện đến cuối năm 2010 là 191 000 người, chia ra:

+ Nam: 97.635 người + Nữ: 99365 người

b Lao động và việc làm

Tổng lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động trong toàn huyện (năm 2010) là 107.700 người, trong đó:

+ Số người trong độ tuổi có khả năng lao động: 97%

+ Tỷ lệ lao động qua đào tạo 35%

+ Tỷ lệ lao động trong độ tuổi chưa có việc làm là 1,7%

+ Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động của lực lượng lao động trong độ tuổi ở nông thôn là 86,3%

Việc đào tạo nghề cho lao động trên địa bàn luôn được quan tâm đúng mức để bổ sung lực lượng lao động có tay nghề cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tại địa phương Năm 2009 đã đào tạo nghề cho 3607 lao động, đồng thời giải quyết việc làm cho 4294 lao động

c Thu nhập và đời sống

Số hộ nghèo năm 2008 là 2913 hộ (tỷ lệ 7,6%) và đã có 750 hộ thoát nghèo Năm

Trang 36

2009 đã thực hiện khảo sát hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới của thành phố, kết quả toàn huyện có 4.457 hộ nghèo (tỷ lệ 11,3%) với 20368 nhân khẩu, năm 2010 giảm xuống còn 3157 hộ nghèo, hộ cận nghèo là 1756 hộ với 7166 nhân khẩu Năm 2009 có 1300

hộ thoát nghèo

Đại bộ phận nhân dân có cuộc sống gắn liền với sản xuất nông nghiệp Thu nhập từ nông nghiệp chiếm từ 70-80% tổng thu nhập của hộ gia đình Bình quân lương thực quy thóc những năm gần đây đều đạt khoảng 300 kg/người trở lên An ninh lương thực

Nhìn chung hệ thống đường giao thông với các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ nối liền có nhiều thuận lợi cho lưu thông, phát triển kinh tế Hiện nay nhiều tuyến đang được nâng cấp, mở rộng và đã sắp hoàn thiện, sẽ tạo nhiều lợi thế để huyện phát triển

và giao lưu kinh tế, văn hoá Tuy nhiên các tuyến đường liên xã, liên thôn còn nhỏ hẹp, vào mùa mưa khó đi lại

b Thuỷ lợi

Toàn huyện có khoảng 90 trạm bơm tưới, trong đó có 11 trạm do công ty công trình thuỷ lợi Phù Sa-Đồng Mô quản lý với công suất 10.390 m3/h, 5 trạm do các xã quản lý với công suất 3.420m3/h, các trạm bơm nhỏ do các hợp tác xã quản lý và khai thác Đồng thời huyện cũng có 8 trạm bơm tiêu với công suất 29.000 m3/h Ngoài ra còn có 2 trạm bơm tưới tiêu kết hợp với công suất 3.500 m3/h Các trạm bơm lớn trên địa bàn huyện là: trạm bơm Đồng Trúc, Cần Kiệm, Phú Kim, trạm bơm thuỷ nông Cẩm Yên, Liên Quan, Lại Thượng, Phú Kim

Tổng diện tích được chủ động tưới là gần 5000 ha, trong đó có khoảng 1500 ha

Trang 37

tưới bằng hồ chứa; trên 2700 ha tưới bằng trạm bơm, ngoài ra còn tưới bằng các công trình thuỷ nông nhỏ nhờ lợi dụng địa hình

Diện tích được tiêu khi mưa úng khoảng trên 5000 ha/năm (chủ yếu bằng các trạm bơm tiêu) Một số xã vùng bán sơn địa việc tiêu thoát nước còn khó khăn do bị úng cục bộ, khó định vùng tiêu hoặc vùng tiêu chưa khép kín Các xã vùng đồi núi phía tây do có địa hình dốc và nhiều suối nhỏ nên việc tưới nước thuận lợi hơn

Khả năng tưới, tiêu chủ động của các công trình thuỷ lợi hiện đáp ứng được khoảng trên 50% diện tích đất canh tác toàn huyện Hầu hết diện tích đất trồng màu và cây lâu năm chưa được tưới, vẫn còn hiện tượng hạn hán cục bộ

Hệ thống trạm bơm, kênh mương do xây dựng đã quá lâu, ít được nâng cấp máy móc, đường điện, nạo vét kênh mương nên đã xuống cấp, đặc biệt là hệ thống kênh mương nội đồng Hệ thống kênh Đồng Mô và Phù Sa và một số tuyến mương nội đồng

đã được cứng hoá Việc kiên cố hoá kênh mương sẽ giúp tiết kiệm đất dùng cho thuỷ lợi

Tuyến đê Tả sông Tích dài 14,7 km là đê cấp III do Nhà nước quản lý Tuyến

đê này và các cống dưới đê được xây dựng từ lâu, hiện nhiều đoạn đã xuống cấp cần đầu tư tu bổ Ngoài ra còn có các tuyến đê nhỏ như đê hữu sông Tích và đê bối với chiều dài khoảng 15 km

c Giáo dục - đào tạo

Tính đến năm học 2009-2010, trên địa bàn huyện Thạch Thất có 83 trường học phổ thông từ bậc mầm non đến bậc Trung học, trong đó có 27 trường mầm non, 26 trường tiểut học, 24 trường trung học cơ sở và 6 trường trung học phổ thông Bên cạnh

hệ giáo dục phổ thông có 1 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, 1 trung tâm dạy nghề và 1 trường cao đẳng Việt Hung Những năm qua, huyện đã quan tâm, chỉ đạo thực hiện nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giữ vững chất lượng phổ cập tiểu học và trung học cơ sở Chất lượng, trình độ giáo viên được chú ý nâng cao, năm 2008 có 4 giáo viên dự thi giáo viên giỏi cấp tỉnh

đã đạt 2 giải nhì và 2 giải ba Đồng thời quan tâm bồi dưỡng học sinh giỏi, các em đi thi đã đạt thành tích cao Tại kỳ thi Olimpic Toán tuổi thơ toàn quốc năm 2008 bậc tiểu học, có 2 học sinh đạt huy chương bạc và 4 học sinh đạt huy chương đồng Năm

2008 toàn huyện có 128 học sinh giỏi cấp thành phố

Trang 38

Số lượng học sinh, trường ở các cấp học trong huyện như sau:

+ Cấp học mầm non tính đến năm 2010 có 10.661 học sinh, học ở 27 trường với 70

cơ sở phân bố tại các khu dân cư trong huyện, tổng diện tích đất sử dụng 66.059 m2, bình quân 6,4 m2/em

+ Cấp tiểu học có 15.811 học sinh, học ở 26 trường với 47 cơ sở, tổng diện tích đất 182.398 m2, bình quân 12,1 m2/học sinh

+ Cấp trung học cơ sở có 12.576 học sinh, học ở 24 trường với 29 cơ sở, tổng diện tích đất 192.576 m2, bình quân 15,3 m2/học sinh

+ Cấp trung học phổ thông có 8.624 học sinh, học ở 6 trường, tổng diện tích đất 47.289 m2, bình quân 5,6 m2/học sinh Ngoài ra còn có 1 trung tâm giáo dục thường xuyên với diện tích đất sử dụng là 1.054 m2

So với quy định trường chuẩn quốc gia (diện tích 10m2/học sinh) thì nhiều trường đã thừa diện tích, đặc biệt là cấp tiểu học và trung học cơ sở Trong khi đó nhiều trường còn thiếu diện tích, mà tiêu biểu là các trường mầm non quy mô đất còn nhỏ hẹp

Trên địa bàn huyện còn có 5 cơ sở giáo dục chuyên nghiệp gồm: trường trung cấp nghề công đoàn Việt Nam, trung tâm dạy nghề Thạch Thất, trung tâm dạy nghề và ngoại ngữ FORWARD, trung tâm KT tổng hợp hướng nghiệp, trường cao đẳng Việt Hung Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của địa phương, đặc biệt là khi công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của địa phương đang phát triển, các cơ sở đào tạo có

ý nghĩa quan trọng trong việc đào tạo nghề, trang bị kiến thức kỹ thuật cho lao động trẻ ở địa phương

em được chú ý và thực hiện tốt 100% số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm phòng mở rộng,

Trang 39

sức khoẻ sinh sản phụ nữ được quan tâm chăm sóc

+ Bệnh viện huyện Thạch Thất, đóng trên địa bàn xã Kim Quan, có diện tích 11.982

m2 với 200 giường bệnh, đang có nhu cầu mở rộng để xây dựng thêm nhà điều trị và khu cấp dưỡng với tổng diện tích cần mở rộng khoảng 0,45ha

+ Công ty cổ phần dược đóng trên địa bàn xã Kim Quan, có tổng diện tích đất sử dụng

là 2 500 m2, tuy nhiên hiện nay đang bị lấn chiếm 225 m2 Quá trình hoạt động công ty cung cấp thuốc, dược phẩm, góp phần quản lý thị trường thuốc trên địa bàn phục vụ nhân dân

+ Phòng khám đa khoa khu vực Bắc Lương Sơn đóng trên địa bàn xã Yên Bình làm nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân trong khu vực, diện tích đất sử dụng

đ Văn hoá, thể dục, thể thao

Các hoạt động văn hoá, nghệ thuật được quan tâm đúng mức, hoạt động thường xuyên Các loại hình nghệ thuật truyền thống như hát chèo, rối nước được khuyến khích khôi phục Đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân được nâng lên Huyện có 1 nhà văn hoá trung tâm hoạt động tốt, một số xã có nhà văn hoá và các câu lạc bộ hoạt động thường xuyên Trong những năm qua, hoạt động văn hoá thông tin đã tập trung tuyên truyền về các ngày kỷ niệm lớn, việc mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội, cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và các nhiệm vụ khác Trong các khu dân cư tiếp tục thực hiện và nâng cao chất lượng phong trào hoạt động “toàn dân doàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, làm tốt công tác bảo tồn văn hoá và quản lý di tích

Trên địa bàn huyện có nhiều di tích được xếp hạng như: chùa Tây Phương (là chùa cổ được xếp hạng đặc biệt quan trọng của quốc gia), đình chùa Hữu Bằng, đình Phú Đa, đình Thạch Xá, đình chùa Chàng Sơn, đình Đồng Trúc, chùa Yên Lạc Ngoài ra còn có tượng đài Núi Nứa, nhà lưu niệm Bác Hồ ở Cần Kiệm Hoạt động lễ

Trang 40

hội truyền thống được tổ chức hàng năm, mang đậm phong tục và văn hoá làng quê vùng đồng bằng Sông Hồng Hoạt động kiểm tra, kiểm soát các hoạt động dịch vụ văn hoá được thực hiện thường xuyên để đảm bảo các hoạt động văn hoá có nền nếp, phòng, chống tệ nạn xã hội

e Năng lượng

Trên địa bàn huyện Thạch Thất hiện có nhiều dự án đang triển khai thi công, đồng thời với đặc điểm là huyện có tốc độ đô thị hoá nhanh, có nhiều cụm, điểm công nghiệp đang hình thành và phát triển nên phụ tải tiêu thụ điện không ngừng tăng lên Năm 2009 đã cung ứng điện thương phẩm 119,87 triệu KWh

Nguồn điện cấp cho huyện được lấy từ trạm 110 KV Sơn Tây và trạm 110 KV Phúc Thọ qua các trạm trung gian: Thạch Thất 1 cấp điện cho thị trấn Liên Quan và các xã phía bắc huyện; trạm Thạch Thất 2 (đặt tại Bình Phú) cấp điện cho các xã phía nam huyện và trạm Thạch Thất 3 (đặt tại Thạch Hoà) cấp điện cho các xã trong khu vực Tổng công suất của 3 trạm trung gian là 16.800 KVA Do nhu cầu tiêu thụ điện tăng nhanh, hiện nay đã lắp đặt thêm trạm biến áp 110 KV di động tại Phùng Xá với công suất 25MVA để hỗ trợ cho trạm trung gian Thạch Thất 1 và 2, cấp điện cho huyện Quốc Oai, vận hành trạm 110 KV khu công nghệ cao Hoà Lạc Lưới điện với 2 cấp điện áp là 35 KV và 10 KV nhưng chủ yếu là cấp điện trên lưới 10 KV

f Bưu chính viễn thông

Ngoài bưu điện trung tâm huyện và 2 bưu cục (Bình Phú và Hoà Lạc), trên địa bàn huyện còn 22 điểm bưu điện ở các xã Ngành bưu điện đã lắp đặt 3 tổng đài kỹ thuật số, 2 trạm chuyển tiếp sóng điện thoại di động Số máy điện thoại trên mạng phát triển nhanh từ 1.914 máy (năm 2000) đến năm 2005 đã có 10.130 máy Riêng năm

2008 đã lắp đặt 2.700 máy điện thoại cố định và 1.500 thuê bao internet ADSL

Mạng thông tin bưu chính và phát hành báo chí đã được tổ chức tốt đến các xã nên việc phát hành báo chí, thư tín,… được kịp thời không gây phiền hà, ách tắc, phục

vụ tốt nhu cầu liên lạc trong sinh hoạt và sản xuất của nhân dân

Nhìn chung mạng lưới thông tin bưu điện đã phát triển khá trở thành một trong những huyện phát triển nhanh về mật độ điện thoại, song cũng tập trung chủ yếu ở những xã, thôn có điều kiện kinh tế phát triển, còn những xã, thôn kinh tế chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp thì còn mỏng

Ngày đăng: 03/07/2015, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban biên tập Bách khoa tri thức phổ thông (2000), “ Bách khoa tri thức phổ thông”, Nhà Xuất bản Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Bách khoa tri thức phổ thông”
Tác giả: Ban biên tập Bách khoa tri thức phổ thông
Nhà XB: Nhà Xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2000
3. Ban biên tập Từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học (2002), “Từ điển Tiếng Việt”, Nhà Xuất bản Đà Nẵng- Trung tâm Từ điển học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển Tiếng Việt”
Tác giả: Ban biên tập Từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nhà Xuất bản Đà Nẵng- Trung tâm Từ điển học
Năm: 2002
4. Báo cáo thuyết minh kiểm kê đất đai năm 2010 huyện Thạch Thất., (2010) 5. Luật đất đai 2003, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai 2003
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
7. Nguyễn Đình Bồng (2001), “Hiện trạng sử dụng đất Việt Nam năm 2000 và vấn đề quản lý, sử dụng tài nguyên đất quốc gia trong 10 năm 2001 - 2010”, Tạp chí của Tổng cục Địa Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiện trạng sử dụng đất Việt Nam năm 2000 và vấn đề quản lý, sử dụng tài nguyên đất quốc gia trong 10 năm 2001 - 2010”
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 2001
8. UBND huyện Thạch Thất (2012), “Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2020”
Tác giả: UBND huyện Thạch Thất
Năm: 2012
9. UBND huyện Thạch Thất (2012),“Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),“Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội”
Tác giả: UBND huyện Thạch Thất
Năm: 2012
10. UBND huyện Thạch Thất (2011) Báo cáo thống kế đất đai năm 2011, 2012 Huyện Thạch Thất – Thành phố Hà Nội, Hà Nội.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyện Thạch Thất – Thành phố Hà Nội", Hà Nội
11. FAO (1994), Land evaluation and farming system analysis for land use planning, Working decument Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land evaluation and farming system analysis for land use planning
Tác giả: FAO
Năm: 1994
13. MacQueen, J. B. (1967). "Some Methods for classification and Analysis of Multivariate Observations". Proceedings of 5th Berkeley Symposium on Mathematical Statistics and Probability. University of California Press.pp. 281–297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Some Methods for classification and Analysis of Multivariate Observations
Tác giả: MacQueen, J. B
Năm: 1967
1. Bách khoa toàn thƣ Việt Nam Http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn Khác
12. Jelili. Olaide SAKA (2011), The Structure and Determinants ofLand-use Intensity among Food Crop Farmers in Southwestern Nigeria, Journal of Agricultural Science Vol. 3, No. 1; March 2011, 194-205 Khác
14. Netra B. Chhetri (2011), Climate sensitive measure of agricultural intensity Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Đường cong Lorenz - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Hình 1.1. Đường cong Lorenz (Trang 24)
Bảng 2.1: Tổng hợp các loại đất huyện Thạch Thất - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 2.1 Tổng hợp các loại đất huyện Thạch Thất (Trang 30)
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Thạch Thất qua các năm  Đơn vị: % - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế huyện Thạch Thất qua các năm Đơn vị: % (Trang 34)
Bảng 2.4: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 2.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp (Trang 42)
Bảng 2.5: Hiện trạng đất chuyên dùng năm 2012 - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 2.5 Hiện trạng đất chuyên dùng năm 2012 (Trang 44)
Bảng 2.6: Biến động sử dụng đất thời kỳ 2005 - 2010 - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 2.6 Biến động sử dụng đất thời kỳ 2005 - 2010 (Trang 46)
Bảng 2.10. Phân tích tình hình tăng, giảm diện tích đất phi nông nghiệp từ năm 2005 - 2010 - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 2.10. Phân tích tình hình tăng, giảm diện tích đất phi nông nghiệp từ năm 2005 - 2010 (Trang 50)
Bảng 2.9: Tình hình biến động sử dụng đất thời kỳ 2010 – 2011 - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 2.9 Tình hình biến động sử dụng đất thời kỳ 2010 – 2011 (Trang 52)
Hình 3.1. Phân nhóm xã theo tình hình kinh tế xã hội cuối kỳ quy hoạch sử dụng đất - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Hình 3.1. Phân nhóm xã theo tình hình kinh tế xã hội cuối kỳ quy hoạch sử dụng đất (Trang 60)
Bảng 3.2. Hệ số LQ của đất nông nghiệp - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 3.2. Hệ số LQ của đất nông nghiệp (Trang 61)
Bảng 3.4. Hệ số LQ của đất ở - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Bảng 3.4. Hệ số LQ của đất ở (Trang 64)
Hình 3.2. Đường cong tích lũy các loại hình sử dụng đất năm 2005 - Đánh giá biến động và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất huyện thạch thất   thành phố hà nội đến năm 2020
Hình 3.2. Đường cong tích lũy các loại hình sử dụng đất năm 2005 (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w