Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phá
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂY NINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN LỊCH SỬ 10 TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC BẰNG PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN
Trang 23.2.Thiết kế nghiên cứu 4
3.3 Quy trình nghiên cứu 5
3.4 Đo lường và thu thập dữ liệu 5
4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ 6
Trang 3GV: Giáo viên THPT: Trung học phổ thông
1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Nói về tầm quan trọng của việc nắm vững lịch sử, qua đó giáo dục niềm tự hào về lịch sử dân tộc, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục ở nước ta hiện nay, chất lượng dạy học của môn Lịch sử chưacao Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng này là chậm đổi mới phươngpháp dạy học Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.”
Dạy học lịch sử là quá trình giúp học sinh (HS) tìm hiểu những gì đã diễn ra ở quákhứ, và mục tiêu của bộ môn Lịch sử chính là việc giúp HS biết quá khứ, hiểu quá khứ đồngthời rút ra những bài học từ quá khứ để vận dụng vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai
Đặc thù học tập của môn Lịch sử là các em phải tiếp cận với nhiều sự kiện lịch sử,với những vị anh hùng… bản thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất là nhữngbài, những chương viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày, tháng, năm xảy
ra sự kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên các lĩnh vực Khi học lịch
sử thì yêu cầu các em nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học một cách chính xác và đầy đủ,
vì thế bộ môn Lịch sử khó gây được hứng thú cho các em, làm cho các em cảm thấy nặng
nề, gò ép và nhàm chán
Trong thực tế, lịch sử là môn học có kiến thức liên môn, song có lẽ có mối quan hệtác động qua lại mật thiết và bổ sung cho nhau nhiều nhất là mối quan hệ giữa lịch sử và vănhọc Tài liệu văn học nói chung và thơ văn nói riêng ở nước ta có khả năng biểu hiện nộidung lịch sử rất sâu sắc, nó không chỉ có giá trị như những tài liệu lịch sử, mà còn phản ánhđược bản chất của từng sự kiện lịch sử cụ thể Nếu như văn học thường mô tả những sự kiệnbằng hình tượng thì lịch sử tái tạo lại quá khứ bằng những con số, sự kiện cụ thể, điều đó đãtác động rất lớn đến nhận thức của HS
Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, nội dung truyền đạt
và phương pháp của giáo viên (GV) là yếu tố hết sức cần thiết Để cho bài giảng lịch sửkhông phải rơi vào tình trạng “khô, khó, khổ”, người GV lịch sử phải linh hoạt sử dụngnhiều phương pháp đổi mới trong dạy học, trong đó sử dụng các câu chuyện và các tài liệuvăn thơ là một trong những phương pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng bài giảng Thông
Trang 4qua những câu chuyện lịch sử, những tài liệu thơ văn sinh động có liên quan đến nhân vật,địa danh hay sự kiện sẽ có tác dụng giúp HS hứng thú hơn, có thể ghi nhớ sâu hơn những sựkiện lịch sử, những nhân vật, mốc thời gian, có sự hình dung đa dạng về quá khứ, tạo đượcbiểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử Từ đó, HS có thể hiểu rõbản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử, có thể dễ dàng lĩnh hội các kiến thức lịch sử, các thuậtngữ, hình thành các khái niệm lịch sử, nắm được những kết luận khoa học mang tính kháiquát Trên cơ sở đó, giáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng, tình cảm đúng đắn (tựhào, gìn giữ, phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, hình thành và phát triển lòngyêu nước, biết khâm phục, kính trọng những anh hùng dân tộc, người có công với tổ quốc )
và hình thành nhân cách cho HS
Trong đề tài này, tôi nghiên cứu việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp với
thơ văn trong giảng dạy bài 14 (Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam), bài 15 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)
và bài 16 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)- (Tiếp theo)) chương trình Lịch sử lớp 10 và coi đó là nguồn cung cấp thông tin
tạo hứng thú học tập, giúp HS nắm rõ bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là hai lớp 10C5, 10C6Trường THPT Nguyễn Trung Trực Lớp 10C5 là lớp thực nghiệm và lớp 10C6 là lớp đốichứng Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế Kết quả của thực nghiệm chothấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của HS: Lớp thực nghiệm có kếtquả cao hơn lớp đối chứng Điểm kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình
là 7.40; điểm kiểm tra đầu ra của lớp lớp đối chứng có giá trị trung bình là 5.86 Kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p = 0.0001< 0.05; nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm với lớp đối chứng Mức độ ảnh hưởng là 0.81 cho thấy có tác
động có ảnh hưởng lớn đối với nhóm thực nghiệm Điều đó chứng minh rằng sử dụngphương pháp kể chuyện kết hợp với thơ văn trong dạy học làm nâng cao kết quả học tậplịch sử cho HS lớp 10 Trường THPT Nguyễn Trung Trực
một khái niệm, thuật ngữ trong bài học “Những câu chuyện lịch sử mang lại giá trị vô cùng
to lớn bởi đó là những bài học làm người, hình thành nhân cách sống”.
Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử kết hợp với thơ văn không chỉ tạo hứng thúhọc tập cho HS, giúp HS nắm vững bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn góp phầngiáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng, tình cảm đúng đắn
Một số công trình nghiên cứu liên quan:
- “Sử dụng tài liệu văn học dân gian phục vụ giảng dạy và học tập lịch sử Việt Nam trong trường phổ thông ” của tác giả Đặng Hoàng Sang - Hội khoa học lịch sử Đồng Tháp
Trang 5- “Giải pháp hữu ích tăng cường hứng thú cho HS thông qua kể chuyện lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THCS”, tác giả Tạ Văn Tuấn, Trường trung học cơ sở Đinh
Trang Hòa
- “Sử dụng tài liệu thành văn nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học lịch
sử Việt Nam giai đoạn (1919 – 1945” của Nguyễn Hải Yến.
- “Sử dụng thơ văn để tạo hứng thú cho HS trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT” của Nguyễn Thị Thúy.
- “Phương pháp kể chuyện nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn
(1946 – 1954)” của Mai Thị Ngọc Lệ.
- “Sử dụng thơ văn trong dạy học lịch sử” của Ngô Thị Hòa
Tuy nhiên, mỗi công trình chỉ nghiên cứu một mảng của vấn đề, hoặc là sử dụngphương pháp kể chuyện hoặc là sử dụng tài liệu thơ văn trong dạy học lịch sử ở trườngTHPT, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợpthơ văn trong dạy học lịch sử lớp 10
2.1 Hiện trạng
Nội dung kiến thức chương trình và sách giáo khoa môn Lịch sử ở trường THPT cònquá nặng, bài giảng thiên về lý thuyết khô khan, HS khó nắm vững, dẫn đến chán nãn khôngthích thú học môn Lịch sử
Quan niệm của xã hội, gia đình và đặc biệt là của HS đối với bộ môn Lịch sử còn khálệch lạc: không đầu tư, không chú ý thậm chí xem thường hoặc học cho xong Việc dạy vàhọc lịch sử ở bậc phổ thông hiện nay dường như chỉ chú tâm vào học thuộc bài là chính, haycòn gọi là “học vẹt”
Ở mỗi lớp học, trình độ không đồng đều, HS cá biệt ngày càng nhiều ở trường, lớplàm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giảng dạy của GV
Thực tế trong chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 10, các câu chuyện và các bàithơ văn đã được lồng ghép vào nội dung một số bài học Nhưng do nội dung và thời lượngchương trình nên số lượng các câu chuyện và các bài thơ văn được đưa vào chương trìnhcòn hạn chế
Nhiều GV hiện nay đã sử dụng các câu chuyện kết hợp văn thơ trong dạy học lịch sử,nhưng trong quá trình giảng dạy và tích hợp câu chuyện với văn thơ chưa có hệ thống vàchưa hiệu quả
Qua việc thăm lớp, dự giờ khảo sát trước khi tác động, khi giảng dạy GV đã cố gắng
sử dụng các câu chuyện và tài liệu thơ văn vào bài giảng Tuy nhiên, hầu hết các GV đềubám vào các câu chuyện và thơ văn trong sách giáo khoa mà ít liên hệ, mở rộng đối với cáccâu chuyện và thơ văn bên ngoài, vì vậy chưa tạo được hứng thú học tập cho HS
2.2 Nguyên nhân
- GV ít đầu tư sưu tầm và sử dụng tư liệu
- Phương pháp dạy học sử dụng trong môn Lịch sử chưa phát huy được tính tích cựccủa HS, chưa tạo được sự hứng thú của HS Các sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch
sử, không được trình bày một cách cụ thể, sinh động
- Việc giảng dạy được xem là “lối dạy truyền thống” (thầy đọc, trò chép, nói lạinhững điều trong sách giáo khoa, học sinh chỉ ghi nhớ, học thuộc mà không hiểu nên chóng
Trang 6quên…) đã ăn sâu vào suy nghĩ, thói quen trong cách dạy và học của GV và HS, chi phốiviệc chỉ đạo dạy học, việc tổ chức kiểm tra, thi cử.
- Tư tưởng xem nhẹ bộ môn chính, phụ
- Việc tích cực chủ động tìm tòi tài liệu lịch sử ở HS còn hạn chế
2.3 Giải pháp thay thế
GV sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp với thơ văn trong giảng dạy lịch sửnhằm đổi mới phương pháp dạy học của bộ môn để nâng cao chất lượng giảng dạy cũngnhư phát triển các năng lực của HS
Qua phương pháp này giúp HS hứng thú hơn khi học lịch sử, có sự hình dung đadạng về quá khứ, tạo được biểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch
sử Từ đó, các em có thể dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành các khái niệm lịch sử,nắm được những kết luận khoa học mang tính khái quát Mặt khác, nó còn có tác dụng trongviệc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức và hình thành nhân cách cho HS
2.4 Vấn đề nghiên cứu
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làm nâng caokết quả học tập của HS lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực hay không?
2.5 Giả thuyết nghiên cứu:
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làm nângcao kết quả học tập của hs lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực
3 PHƯƠNG PHÁP
3.1 Khách thể nghiên cứu
+ GV: Nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục HS,giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Nguyễn Trung Trực trực tiếp thực hiện việc nghiêncứu
+ HS: Hai lớp chọn: Lớp 10C5 và lớp 10C6 có nhiều điểm tương đồng nhau về trình
độ HS, số lượng, giới tính và độ tuổi
Bảng 1 Tổng số và giới tính của HS lớp 10 trường THPT Nguyễn Trung Trực
3.2.Thiết kế nghiên cứu
Chọn hai lớp: Lớp 10C5 là lớp thực nghiệm, lớp 10C6 là lớp đối chứng
* Kiểm tra trước tác động: Tôi dùng kết quả bài kiểm tra học kì I để xác định các nhóm
tương đương
Bảng 2 Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Lớp đối chứng (10c6) Lớp thực nghiệm (10c5)
+ Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai lớp có sự khác nhau, do đó chúngtôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình củahai lớp trước khi tác động
Trang 7+ P = 0.799> 0.05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai lớp thực
nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai lớp được coi là tương đương
* Kiểm tra sau tác động: Tôi dùng bài kiểm tra giữa học kì II theo phân phối chương trình
để kiểm chứng sự chênh lệch điểm số trung bình giữa hai lớp sau khi tác động
Bảng 3 Thiết kế nghiên cứu
Lớp trước tác động Kiểm tra Tác động sau tác động Kiểm tra Thực nghiệm
(Lớp 10C5) O1 Dạy học có sử dụng phương phápkể chuyện kết hợp thơ văn O3
Ở thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T-tes độc lập
3.3 Quy trình nghiên cứu
a Cách thức tiến hành
- Lớp đối chứng (10C6): GV thiết kế giáo án và giảng dạy bình thường (không sử dụngphương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy)
- Lớp thực nghiệm (10C5): GV thiết kế giáo án và giảng dạy sử dụng phương pháp kể
chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy bài 14 (Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam), bài 15 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X) và bài 16 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)-(Tiếp theo)) chương trình Lịch sử lớp 10, cụ thể là lớp 10C5 -
Trường THPT Nguyễn Trung Trực
Trong quá trình giảng dạy, GV lựa chọn một số câu chuyện và các bài thơ văn phùhợp với nội dung bài học để giảng dạy GV dẫn các câu chuyện và các bài thơ văn vào bàigiảng theo dạng nhập đề (chuẩn bị cho HS tiếp thu bài mới), giới thiệu vấn đề (khắc sâukiến thức trọng tâm) và kết luận (tóm tắt những tư tưởng chính, rút ra kết luận, khái quáthóa) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS, giúp HS ghi nhớ tốt những sự kiện lịch sử, nhữngnhân vật, mốc thời gian, qua đó hiểu rõ bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử Trên cơ sở đógiáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng, tình cảm đúng đắn
b Thời gian thực hiện:
Thời gian của quá trình nghiên cứu khoảng đầu tháng 11 năm 2014 và đến cuối tháng
2 năm 2015 (theo kế hoạch dạy và học của nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảotính khách quan)
3.4 Đo lường và thu thập dữ liệu
Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra học kì I (môn Lịch sử) do giáo viên trong
Trang 84 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
Chênh lệch giá trị TB chuẩn
chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình lớp thực nghiệm cao hơn
điểm trung bình lớp đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.81.
Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc dạy học có sử dụng phương pháp kể
chuyện kết hợp thơ văn đến kết quả học tập của lớp thực nghiệm là lớn.
Giả thiết của đề tài việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học làm nâng cao kết quả học tập của hs lớp 10 Trường THPT Nguyễn Trung Trực đã được kiểm chứng
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước và sau tác động
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Lớp đối chứng (10C6) Lớp thực nghiệm (10C5)
Trang 94.3 Bàn luận
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm là điểm trung bình = 7.40, kết quả bài kiểm tra tương ứng của lớp đối chứng là điểm trung bình = 5.86 Độ chênh lệch điểm số giữa hai lớp là 1.54 Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai lớp đối chứng và lớp
thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đốichứng
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0.81 Điều này có
nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Phép kiểm chứng T- test điểm trung bình sau tác động của 2 lớp là P = 0.0001< 0,05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của 2 lớp không phải là ngẫu
nhiên mà là do tác động
* Hạn chế:
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học lịch
sử ở bậc THPT là một giải pháp rất tốt để nâng cao kết quả học tập của HS, nhưng để sửdụng phương pháp này có hiệu quả người GV cần phải đầu tư nhiều thời gian và công sức;biết khai thác các nguồn thông tin, tài liệu; biết chọn lọc tư liệu để đưa vào tiết dạy sao cho
có hiệu quả nhất Một vấn đề cần lưu ý khác là khi sử dụng phương pháp này yêu cầu GVphải có giọng nói diễn cảm nếu không kiến thức đưa vào nhiều khi sẽ phản tác dụng vìgiọng của GV khiến HS mất hứng thú
kể chuyện hay đọc thơ minh hoạ, cả lớp chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất thích thú Nhữngtiết học như thế đã để lại trong lòng các em những ấn tượng sâu sắc và lâu bền Chắc chắnnhững sự kiện trong bài học lịch sử sẽ lưu lại trong ký ức các em sâu hơn, lâu hơn Tuynhiên, trong chương trình lịch sử 10 không phải trong bài giảng nào GV cũng sử dụngphương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn, nó chỉ được sử dụng khi đảm bảo tính cần thiết vàhiệu quả cần đạt
5.2 Khuyến nghị
* Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm xây dựng và tiến tới sử dụng nhữngphương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học, cần chỉ đạo cho thư viện nhà trường tăngcường sưu tầm, tập hợp các loại sách, tài liệu tham khảo phục vụ nhu cầu dạy và học Lịch
Trang 10GV cần đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với HS trong quá trình dạy học như sưu tầmtại liệu trước ở nhà theo định hướng của GV.
Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ vàđặc biệt là GV giảng dạy bộ môn Lịch sử có thể ứng dụng đề tài này vào việc dạy học để tạohứng thú cho HS nhằm nâng cao kết quả bộ môn
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, Nxb Đại
học Sư phạm
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử cấp trung họcphổ thông, Hà Nội
3 Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (2003), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục.
4 Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), Nguyễn Ngọc Cơ (Chủ biên), Nguyễn Anh Dũng,
Trịnh Đình Tùng, Trần Thị Vinh (2006), Lịch sử 10, sách giáo viên, Nxb Giáo dục.
5 Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên),Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình Vỳ (2013),
Lịch sử 10, Nxb Giáo dục Việt Nam.
6 Nguyễn Thành (Chủ biên), Phùng Đức Thắng, Đặng Văn Thái (2000), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7 Nguyễn Khắc Thuần (2003), Việt sử giai thoại, tập 1, Nxb Giáo dục.
8 Trịnh Tùng (1999), Phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Giáo dục.
9 Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục.
10.Việt Nam sử ca – sách điện tử
11.Mạng internet: vi.wikipedia.org, www.sugia.vn, baigiang.violet.vn, hotrodayhoc.com, vinhphuc.edu.vn …
Trang 12PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1: PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN KẾT HỢP THƠ VĂN TRONG DẠY
HỌC BÀI 14, BÀI 15 VÀ BÀI 16 LỊCH SỬ 10
Sau đây là việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học lịch
sử ở bài 14, bài 15 và bài 16 trong chương trình Lịch sử lớp 10 ở trường THPT NguyễnTrung Trực mà bản thân tôi đã thực hiện:
Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam
Mục 1 Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc
GV liên hệ những câu chuyện truyền thuyết như: Con rồng cháu tiên, Thánh Gióng,Bánh chưng bánh dày, những câu chuyện này đã cơ bản phản ánh được “cái thần” của sựkiện, của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể
Ví dụ, khi cung cấp cho HS nội dung: công cụ sản xuất bằng đồng thau đã trở nênphổ biến và bước đầu sử dụng công cụ bằng sắt, GV tóm tắt ngắn gọn nội dung truyềnthuyết Thánh Gióng và sử dụng chi tiết Thánh Gióng yêu cầu: “Sứ giả hãy mau về tâu vớinhà vua đúc cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt, một áo giáp sắt và một cái nón sắt Ta
sẽ đánh tan quân giặc”
GV đặt câu hỏi: Tại sao Thánh Gióng không yêu cầu sứ giả đúc cho các loại vũ khíbằng công cụ khác mà phải bằng sắt?
Sau khi HS trả lời, GV nhận xét, bổ sung: thời Hùng Vương tương ứng với giai đoạnvăn hóa Đông Sơn nhân dân ta đã sử dụng công cụ bằng sắt tuy mới ở “bước đầu” Từ đó,giúp HS nhận thức được rằng nhờ sử dụng công cụ mới nên người Việt cổ có được một nềnkinh tế phát triển mạnh để từ đây tạo nên những chuyển biến to lớn về mặt xã hội Bên cạnh
đó, qua câu chuyện ta xác định được những yếu tố thời gian là thời Hùng Vương thứ 6(tương ứng với thời nhà Ân ở Trung Quốc), đồng thời nêu cao truyền thống đoàn kết chốnggiặc ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ của nhân dân ta (cả làng góp gạo thổi cơm cho Gióng ăn)
Khi giảng về nguồn gốc và quốc hiệu nước ta, GV có thể đọc câu thơ sau của Chủtịch Hồ Chí Minh trong bài “Lịch sử nước ta”:
“Hồng Bàng là tổ nước ta Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang”
Tiếp đó, GV có thể trích dẫn câu ca dao sau để HS khắc sâu kiến thức về cội nguồndân tộc:
“Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3”
Hoặc:
“Ai về Phú Thọ cùng ta Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.
Ai về đến ngả ba Chanh Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc lạ thường Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây”
Từ đó HS thêm tự hào về truyền thống dân tộc và có ý thức giữ gìn và xây dựng đấtnước
Trang 13Về sự thất bại của nước Văn Lang – Âu Lạc trước sự tấn công của phương Bắc, từ đó
nước ta bước vào thời kì Bắc thuộc, chúng ta có thể kể câu chuyện “Mị Châu, Trọng Thủy”
để HS dễ học dễ nhớ hơn Hoặc cũng có thể trích dẫn đoạn thơ sau trong tác phẩm “ViệtNam sử ca”:
“Loa thành nhà Thục thật, hư:
“Nỏ thần trăm phát”? Gian mưu Triệu Đà:
Se duyên, Thục - Triệu thông gia
Đà mang giảo kế lừa nhà Thục Vương.
Xót nàng duyên gãy mà thương Tội nàng tình thiệt vạ vương rụng rời.
Triệu Đà được nỏ, nuốt lời
An Dương Vương phải bỏ đời giữa khơi!”
Để tổng kết mục 1, GV có thể trích dẫn đoạn thơ sau trong “Việt Nam sử ca”:
“"Giấy rách còn giữ lấy lề"
Người Việt đâu cũng nhớ về chốn quê.
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ Mười lăm bộ họp dưới cờ Văn Lang.
Họ Hồng Bàng, giữ giang san Mười tám đời rạng ngai vàng Hùng Vương!”
Qua đoạn trích trên sẽ khắc sâu cho HS kiến thức khái quát về giai đoạn lịch sử thời
kì dựng nước của dân tộc Từ đó, bồi dưỡng cho HS ý thức về cội nguồn dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước và tình đoàn kết gắn bó dân tộc
Mục 2 Quốc gia cổ Chăm pa
GV có thể kể chuyện về quá trình mở rộng lãnh thổ của nước ta xuống phía Nam
Ví dụ: Năm 1069, Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, bắt được vuaChế Củ và 5 vạn dân Năm sau (1070), vua Chế Củ xin đem ba châu: Địa Lý, Ma Linh, BốChính (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị) để chuộc
Tiếp đó, GV có thể kể cho HS câu chuyện về Công chúa Huyền Trân, con gái vuaTrần Nhân Tông Năm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổilấy hai châu Ô, Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế)
Sau đó GV kết luận: Cuối thế kỉ XV, Chăm pa suy thoái và trở thành một bộ phậncủa lãnh thổ, cư dân và văn hóa Việt Nam
Trang 14Bài 15: “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (Từ thế kỉ
Nhà Đường nước chiếm, nhà thâu:
“An Nam đô hộ phủ”, sầu quốc vong!”
Khi dạy đến chính sách đồng hóa về văn hóa, với nội dung mở trường dạy chữ Hán,truyền bá Nho giáo vào Việt Nam, GV có thể kể chuyện về Khổng Tử, trích dẫn một số câunói của Khổng Tử trên quan điểm Nho học
Mục 2 Những chuyển biến về kinh tế - xã hội
GV có thể kể tóm tắt nội dung câu chuyện “Sự tích bánh chưng bánh dày” để khẳngđịnh các phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc vẫn được bảo tồn, nhân dân ta không
bị đồng hóa về văn hóa