Ngày nay, nhất là trong các nền kinh tế thị trường phát triển, NHTM đã trở thành các trung tâm tiền tệ, là cầu nối giữa người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu sử dụng vốn, đồng thời l
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
CHI NHÁNH HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THANH THỦY
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
CHI NHÁNH HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM TIẾN BÌNH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chƣa đƣợc dùng để bảo vệ một học vị nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc./
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trang 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân
Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều
cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân
và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại
-Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM TIẾN BÌNH
Tôi xin cảm ơn sự
- Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trang 5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Bố cục của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Cơ sơ lý luận về Ngân hàng thương mại 5
1.1.1 Khái quát chung về Ngân hàng thương mại 5
1.1.2 Đặc trưng của Ngân hàng thương mại 7
1.1.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại 8
1.1.4 Chức năng của Ngân hàng thương mại 10
1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 12
1.2.1 Hoạt động huy động vốn 13
1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn 15
1.2.3 Hoạt động thanh toán 20
1.2.4 Hoạt động khác 22
1.2.5 Mối quan hệ giữa huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại 23
1.3 Hiệu quả sử dụng vốn tại các Ngân hàng thương mại 23
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn 24
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.2 Các nguồn vốn tại Ngân hàng thương mại 25
1.3.3 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại 27
1.3.4 Các chỉ tiêu phản ảnh và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 27
1.3.5 Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vốn an toàn và hiệu quả 29
1.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn 31
1.4 Kinh nghiệm thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng 33
1.4.1 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của một số Ngân hàng thương mại trên thế giới và Việt Nam 33
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam khi hội nhập quốc tế 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 41
2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 42
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 42
2.2.4 Phương pháp chuyên gia 43
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 43
Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN 46
3.1 Tổng quan về NHNo&PTNN Việt Nam Chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên và địa bàn nghiên cứu 46
3.1.1 Giới thiệu chung 46
47
50
3.2 Thực trạng về quản lý và sử dụng vốn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh Huyện Võ Nhai Thái Nguyên 51
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi
nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên từ 2011 - 2014 51
3.2.2 Phân tích tình hình sử dung vốn 54
3.2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng 71
3.2.4 Chính sách và vai trò của NHNN đối với công tác quản lý và sử dụng vốn 78
3.3 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên 79
3.3.1 Những kết quả đạt được 79
3.3.2 Tồn tại, và hạn chế 80
3.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI NH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH HUYỆN VÕ NHAI THÁI NGUYÊN 86
4.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên 86
4.1.1 Phương hướng phát triển 86
4 2014-2015 87
4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên 87
4.2.1 Cải thiện, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 87
4.2.2 Đa dạng hoá các hình thức, cách thức cho vay tín dụng 88
4.2.3 Đa dạng hoá về loại tiền cho vay và ngành nghề cho vay 92
4.2.4 Thắt chặt và thực hiện dúng qui trình tín dụng, quản lý khoản vay chặt chẽ 92
4.2.5 Nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ tín dụng 93
4.2.6 Nâng cao trách nhiệm và chất lượng phục vụ khách hàng 95
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4.2.7 Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động Maketing khách hàng tại Chi nhánh 96
4.2.8 Tích cực đổi mới và chuyển giao công nghệ 96
4.3 Kiến nghị 97
4.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 97
4.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam 97
4.3.3 Đối với Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên 100
4.3.4 Kiến nghị với chính quyền địa phương các cấp 101
4.3.5 Đối với các doanh nghiệp vay vốn 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG
huyện Võ Nhai Thái Nguyên từ 2011 - 2014 52
Bảng 3.2 Doanh số cho vay theo thời hạn của Ngân hàngqua 3 năm 2012 - 2014 55
Bảng 3.3 Doanh số cho vay theo đối tƣợng của Ngân hàngqua ba năm 2012 - 2014 58
Bảng 3.4 Kết cấu cho vay ngắn hạn 59
Bảng 3.5: Kết cấu cho vay trung và dài hạn 60
Bảng 3.6 Doanh số thu nợ theo thời hạn của Ngân hàngqua ba năm 2012 - 2014 61
Bảng 3.7: Doanh số thu nợ theo đối tƣợng của Ngân hàngqua ba năm 2012 -2014 63
Bảng 3.8: Hệ số thu nợ của Ngân hàng qua ba năm 2012 -2014 64
Bảng 3.9: Doanh số dƣ nợ theo thời hạn của Ngân hàngqua ba năm 2012 - 2014 65
Bảng 3.10: Doanh số dƣ nợ theo đối tƣợng của Ngân hàngqua ba năm 2012 - 2014 66
Bảng 3.11: Kết quả dƣ nợ ngắn hạn 67
Bảng 3.12: Kết quả dƣ nợ trung và dài hạn 68
Bảng 3.13: Nợ quá hạn theo thời hạn của Ngân hàngqua ba năm 2012 - 2014 69
Bảng 3.14: Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2010 - 2014 71
Bảng 3.15: Tổng hợp các chỉ tiêu tài chính 72
Bảng 3.16: Phân tích roe của Ngân hàng qua ba năm 74
Bảng 3.17: Nợ quá hạn trên tổng dƣ nợ của Ngân hàng 76
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tốc độ tăng trưởng quy mô vốn huy động 2010 - 2014 54 Biểu đồ 3.2 Doanh số cho vay của Ngân hàng qua ba năm 56 Biểu đồ 3.3 Nợ quá hạn của Ngân hàng qua 3 năm 70
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức của Ngân hàng NN&PTNT huyện Võ Nhai 48
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việc ra nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vừa tạo những thuận lợi đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam Để chủ động tham gia vào hội nhập kinh tế cần phải tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp Trong đó, vấn đề nổi lên hàng đầu là năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính - ngân hàng Nhìn tổng quát, năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn rất thấp, hầu hết các NHTM Việt Nam có vốn chủ sở hữu nhỏ, trình độ quản trị chưa cao…
do đó kết quả kinh doanh còn nhiều hạn chế
Xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hóa kinh tế là một tất yếu khách quan đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với các NHTM nói riêng Cùng với
sự lớn mạnh về vốn và kinh nghiệm hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, việc các ngân hàng nước ngoài được mở ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, sự gia tăng nhanh chóng của các tổ chức phi ngân hàng trong nước và các định chế tài chính khác, những thách thức mà hệ thống NHTM Việt Nam phải đối mặt ngày càng trở lên khốc liệt hơn Vì vậy có thể nói yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các NHTM Việt Nam là phải có các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Võ Nhai là một huyện vùng cao thuộc tỉnh Thái Nguyên, được coi là một những huyện nghèo của tỉnh, thời gian qua đã có những bước phát triển đáng kể Trong sự phát triển đó có sự đóng góp quan trọng của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên, bằng việc huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế của huyện và tỉnh
Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực hoạt động kinh doanh nhạy cảm và đầy rủi
ro Hiệu quả kinh doanh của NHTM - hiệu quả sử dụng vốn - chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, hạ tầng công nghệ, trình
độ cán bộ, bộ máy quản trị điều hành Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sống còn và phát triển của NHTM trong cuộc cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế Yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh Huyện Võ Nhai Thái Nguyên nói riêng là vấn đề các nhà quản trị Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên cần quan tâm vào thời điểm hiện tại Vì vậy, tác
giả đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân Hàng Nông Nghiệp
& Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên” cho
luận văn thạc sĩ nhằm đáp ứng đòi hỏi thiết thực của thực tiễn, vừa mang tính thời
sự trong hoạt động của ngành ngân hàng hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Thông qua việc đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên, đề tài sẽ đề xuất các giải pháp để tăng tính hiệu quả của hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại NHNo & PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hoạt động và hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về nội dung
Nội dung nghiên cứu của luận văn là đánh giá tình hình sử dụng vốn và hiệu quả của việc sử dụng vốn của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện
Võ Nhai Thái Nguyên
3.2.2 Phạm vi về không gian và thời gian
Hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện
Võ Nhai Thái Nguyên từ năm 2010 - 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp thống kê phân tích, phương pháp so sánh và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp Cụ thể:
Trên cơ sở các kiến thức về tài chính, ngân hàng, dựa vào các chính sách kinh tế vĩ mô và các chủ trương, quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước đề ra nhằm ổn định và phát triển kinh tế trong từng thời kỳ của đất nước, luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như thực tiễn của hoạt động sử dụng vốn của NHTM Từ thực tiễn hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên trong ba năm 2012, 2013, và 2014 bằng phương pháp thống kê cho ta các số liệu, xây dựng thành các biểu đồ Từ việc phân tích, so sánh, đánh giá một cách khoa học các số liệu đó, chúng ta rút
ra các kết luận và đề xuất các biện pháp tốt nhất cho hoạt động sử dụng vốn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên nói riêng và các NHTM nói chung
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của NHTM trong tiến trình hội nhập quốc tế
Kết quả nghiên cứu cụ thể của luận văn sẽ góp phần và việc mở rộng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Võ Nhai Thái Nguyên nói riêng và các NHTM trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung trong hội nhập kinh tế quốc tế
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp phần vào việc giúp các nhà quản lý tham khảo, hoạch định chiến lược sử dụng vốn, hoạch định chính sách
sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các NHTM
6 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo gồm có 4 chương như sau:
Chương 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn của NHTM;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý và sử dụng vốn tại Ngân hàng
NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên;
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng
NN&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Võ Nhai Thái Nguyên
Trang 16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sơ lý luận về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát chung về Ngân hàng thương mại
Về mặt lịch sử, NHTM đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Từ các hoạt động cho vay tư nhân và cầm đồ xuất hiện trong thời kỳ cổ đại, các ngân hàng đã phát triển về quy mô, mở rộng về chức năng qua thời kỳ trung cổ và đạt tới sự phát triển rực rỡ trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Đến thế kỷ thứ 18, với sự can thiệp của Nhà nước, ngân hàng phát hành được tách riêng ra để trở thành ngân hàng TW của các nước, các ngân hàng còn lại không được phép phát hành tiền, có chức năng chuyên kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Đây chính là tiền thân của các NHTM
Ngày nay, nhất là trong các nền kinh tế thị trường phát triển, NHTM đã trở thành các trung tâm tiền tệ, là cầu nối giữa người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu sử dụng vốn, đồng thời là tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng như chiết khấu thương phiếu, bảo quản tài sản, đồ vật quý, thanh toán cho khách hàng, tư vấn…Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, NHTM đã phát triển thành hệ thống nhiều chi nhánh, có vai trò rất quan trọng trên thị trường tài chính và ảnh hưởng lớn đến trạng thái kinh tế vĩ mô của quốc gia, quốc tế
NHTM xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời Từ khi hình thành và phát triển cho đến nay cũng có rất nhiều quan điểm đưa ra những khái niệm về NHTM và quan điểm phổ biến nhất đều cho rằng:
“NHTM là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, một tổ
Chính vì vậy, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế, các ngân hàng có thể định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò
mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên không ngừng thay đổi Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công
ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng Ngược lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và
Có nhiều khái niệm về NHTM, một số nước tư bản như Mỹ, Nhật NHTM được định nghĩa như một tổ chức mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là huy động vốn từ tiền gửi của cá nhân và đơn vị kinh doanh (các công ty) và để cho vay lại các đối tượng đó Các ngân hàng này không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các nhóm ngành nghề riêng biệt đây là các ngân hàng hoạt động theo mô hình chuyên doanh Trong khi đó, một số nước ở Châu Âu như Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ lại quan niệm rằng NHTM có thể kinh doanh đồng thời tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng, đó là mô hình ngân hàng đa năng
Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay, các ngân hàng thường hướng tới mô hình đa năng để có thể sử dụng được một cách hiệu quả nhất nguồn vốn mà ngân hàng huy động được Hơn nữa đây cũng là một hình thức phân tán rủi ro bằng cách đa dạng hóa các nghiệp vụ
Cách tiếp cận thận trọng nhất có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào khác trong nền kinh tế
Nhưng theo quan điểm của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam ngày 15 tháng 6 năm 2004 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì “NHTM là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, NHTM được coi là “trái tim lớn”, một doanh nghiệp thực sự - doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ” Cụ thể “NHTM là một loại hình TCTD được phép thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
toán cho toàn bộ nền kinh tế” Trên cơ sở dựa trên các hoạt động chủ yếu, NHTM
được hiểu là “loại hình doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của pháp luật,
thực hiện kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán; thực hiện các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”[5]
Có thể nói, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt bởi vì trước hết nó kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt đó là tiền tệ Thứ hai, các hoạt động của nó cũng mang tính đặc thù để phù hợp với lĩnh vực kinh doanh
NHTM có vai trò to lớn trong nền kinh tế hiện đại Hệ thống NHTM được ví như mạch máu, chất dầu bôi trơn của quá trình tái sản xuất xã hội, là trợ thủ đắc lực của Nhà nước và các chủ thể kinh tế
1.1.2 Đặc trưng của Ngân hàng thương mại
Chính vì kinh doanh trong một lĩnh vực mang tính chất đặc biệt nên hoạt động của NHTM có những đặc trưng khác biệt so với các loại hình kinh doanh khác
Thứ nhất: Nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh không phải nguồn
vốn tự có mà là nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế - tài chính khác và sử dụng nguồn vốn này để cho vay, đầu tư trên cơ sở đảm bảo lợi ích và quyền lợi cho khách hàng trong đó có lợi ích của ngân hàng
Thứ hai: Sản phẩm của ngân hàng mang tính vô hình Không giống như sản
phầm của doanh nghiệp được sản xuất từ nguyên vật liệu hữu hình, sản phẩm của ngân hàng mang tính phi vật chất và không có hàng tồn kho Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra cùng lúc, khi khách hàng có nhu cầu sử dụng Chính đặc điểm này của sản phẩm ngân hàng đòi hỏi người trực tiếp cung cấp sản phẩm dịch
vụ - nhân viên ngân hàng phải có kỹ năng, trình độ chuyên môn cao, hiểu rõ các sản phẩm ngân hàng để đảm bảo sản phẩm cung cấp ra có chất lượng tốt nhất nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Thứ ba: Do kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và sản phẩm ngân hàng mang
tính vô hình nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro và mang tính cạnh tranh cao Giá trị tiền tệ thường không ổn định và biến động theo những thay đổi của nền kinh tế, do đó rủi ro trong hoạt động ngân hàng là khó tránh
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khỏi khi có những biến động đột ngột Tính vô hình của sản phẩm ngân hàng khiến cho sản phẩm ngân hàng dễ bị sao chép Vì vậy, hầu hết các sản phẩm của các ngân hàng đều giống nhau về bản chất và tính hữu ích Khi một ngân hàng tạo ra được một sản phẩm ưa chuộng, lập tức có ngân hàng khác cung cấp sản phẩm đó để cạnh tranh
Thứ tư: Chính vì mức độ cạnh tranh khốc liệt và rủi ro cao nên NHTM bị
quản lý và giám sát chặt chẽ bởi luật pháp và các quy định của Nhà Nước Vì sự sụp
đổ của một ngân hàng có thể kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng từ
đó gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
Thứ năm: Hoạt động kinh doanh của NHTM là lĩnh vực chịu sự tác động và
đồng thời ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ Công nghệ ngân hàng là nguồn lực nội tại của ngân hàng về tư duy kinh doanh, tạo ra các sản phẩm thích ứng với thị trường [4]
1.1.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại
NHTM có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế thông qua các vai trò:
- NHTM là nơi tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cung cấp cho
các nhu cầu của nền kinh tế, qua đó chuyển tiền thành tư bản để đầu tư phát triển sản xuất, tăng cường hiệu quả hoạt động của tiền vốn Trong xã hội luôn luôn tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn một cách tạm thời Những cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi tạm thời thì muốn bảo quản số tiền một cách an toàn nhất và có hiệu quả nhất Trong khi đó những cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay được những khoản vốn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình Chính vì vậy NHTM là một trung gian tài chính tốt nhất để thực hiện chức năng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn Ngân hàng là một điạ chỉ tốt nhất mà những người dư thừa về vốn có thể gửi tiền một cách an toàn và hiệu quả nhất và ngược lại cũng là một nơi
- Hoạt động của các NHTM góp phần tăng cường hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế NHTM với vị thế là một trung gian tài chính thực hiện chức năng của mình là chiếc cầu nối giữa cung và cầu về vốn trên thị trường tiền tệ đã góp phần thúc đẩy nhanh hoạt động của nền kinh tế, đem lại thuận lợi cho hoạt động của các cá nhân và tổ
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chức Những cá nhân và tổ chức giảm bớt được các khoản chi phí trong việc tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, và ngoài ra có thể vân dụng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng để đẩy nhanh hoạt động của mình Việc vay vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải có phương án sản xuất tối ưu, có hiệu quả kinh tế thì mới có thể trả lãi
và trả vốn cho ngân hàng Việc lập phương án sản xuất tối ưu do doanh nghiệp lập
ra phải qua sự kiểm tra, thẩm định kỹ lưỡng của ngân hàng nhằm hạn chế tới mức
Ngược lại với những cá nhân và tổ chức dư thừa về vốn có thể yên tâm đem gửi tiền của mình vào ngân hàng, vì ngân hàng là một địa chỉ có thể bảo quản tiền vốn một cách an toàn và hiệu quả tốt nhất Khách hàng có thể yên tâm
về sự an toàn và khả năng sinh lời của đồng vốn và cũng có thể rút tiền của mình vào bất kỳ thời điểm mong muốn Có thể lãi suất mà ngân hàng trả cho khách thấp hơn so với việc đầu tư tiền vốn vào những lĩnh vực như: mua cổ phiếu, đầu
tư vào kinh doanh nhưng xét về hệ số an toàn việc gửi tiền vào ngân hàng là có
hệ cao nhất Thêm vào đó những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng như: chuyển tiền, thanh toán hộ, các dịch vụ tư vấn sẽ điều kiện thuận lợi cho
- NHTM thông qua những hoạt động của mình góp phần vào việc thực hiện
các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cao, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính, thị trường ngoại hối, ổn định và tăng trưởng kinh tế Với các công cụ mà Ngân hàng TW dùng
để thực thi chính sách tiền tệ như: Chính sách chiết khấu; tỷ lệ dự trù bắt buộc của Ngân hàng TW đối với NHTM: lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị trường
tự do Thì các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thi hành chính sách tiền
tệ quốc gia Các NHTM có thể thay đổi lượng tiền trong lưu thông bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trường mở, qua đó góp phần
- NHTM bằng hoạt động của mình đã thực hiện việc phân bổ vốn giữa các
vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng khác
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhau trong một quốc gia Ở các vùng kinh tế khác nhau thì có sự phát triển khác nhau Hiện tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn một cách tạm thời giữa các vùng diễn ra thường xuyên Do đó vấn đề đặt ra là làm sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn và chính hoạt động điều chuyển vốn trong nội bộ ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đề này [4]
- NHTM còn là cầu nối giữa nền kinh tế các nước và thế giới, tạo điều kiện
cho việc hoà nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới Với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế trong khu vực và trên toàn thế giới cùng với chính sách mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thì hoạt động của các NHTM được mở rộng và thúc đẩy cho việc mở rộng hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước Với hoạt động rộng khắp của mình, các ngân hàng có khả năng thu hút được nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ chức nước ngoài góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách rễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt động
Chính từ sự mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế mà nền kinh tế trong nước
có sự thâm nhập vào thị trường quốc tế đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh với các nước khác trên thế giới
1.1.4 Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.4.1 Chức năng làm trung gian tín dụng
Trong quá trình vận động của vốn tiền tệ trong nền kinh tế, tất yếu sẽ xảy ra tình trạng có những chủ thể (bao gồm cả doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội) có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến, đồng thời cũng trong quá trình đó lại có những chủ thể có nhu cầu vốn bổ sung tạm thời, song giữa chủ thể này không phải lúc nào cũng trực tiếp thoả mãn lẫn nhau về các nhu cầu về vốn Với vai trò làm trung gian tín dụng, NHTM đứng ra làm trung gian tập trung huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể có vốn chưa sử dụng đến để cho các chủ thể thiếu vốn vay Như vậy, NHTM vừa là người nhận tín dụng (người đi vay) và vừa là người cấp tín dụng (người cho vay)
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chức năng trung gian tín dụng của NHTM có tác dụng rất lớn đối với toàn
bộ nền kinh tế, nó làm cho nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi được sử dụng triệt để, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn của toàn xã hội, quá trình tái sản xuất nhờ vậy được tiến hành liên tục, khẩn trương và mở rộng
1.1.4.2 Chức năng làm trung gian thanh toán
Thực hiện chức năng này, NHTM thay mặt cho khách hàng tiến hành các nghiệp vụ có tính chất kỹ thuật liên quan đến sự vận động của vốn tiền tệ của khách hàng Nghiệp vụ này bao gồm: Bảo quản tiền tệ, tiến hành thanh toán theo uỷ nhiệm của khách hàng, nhập tiền vào tài khoản, theo dõi sổ sách… Nghĩa là ngân hàng đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng, giúp họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau Công việc này của ngân hàng ngày càng mở rộng về quy
mô và phạm vi Ngày nay, NHTM thực hiện đại bộ phận các khoản chi trả về hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp và cả một bộ phận chi trả của cá nhân
Chức năng này có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với chức năng trung gian tín dụng Việc mở tài khoản của khách hàng, nhận tiền gửi và thanh toán hộ khách hàng đã tạo ra cơ sở để ngân hàng có thêm nguồn vốn để mở rộng cho vay K Mark đã viết: "Công việc của người thủ quỹ chính là ở chỗ làm trung gian thanh toán Khi ngân hàng xuất hiện thì chức năng này được chuyển giao sang ngân hàng Tuy nhiên, khác với nghề kinh doanh tiền tệ dưới hình thức ban đầu giản đơn và thuần tuý của nó - nghĩa là tách khỏi chế độ tín dụng - trong ngân hàng, thì chức năng trung gian tín dụng gắn bó một cách chặt chẽ với trung gian thanh toán Ngân hàng dùng số tiền của nhà tư bản này để cho vay"
Chức năng này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quan hệ thanh toán với nhau, làm giảm đi đáng kể những chi phí có liên quan đến lưu thông
1.1.4.3 Chức năng "tạo tiền"
Hai chức năng làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán là tiền đề phát sinh chức năng "tạo tiền" của NHTM Quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM là quá trình mở rộng nhiều lần tiền gửi thông qua kỳ hạn Quá trình này được thực hiện
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thông qua hoạt động tín dụng và tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt trong hệ thống ngân hàng
Nếu chỉ xét thuần tuý khả năng tạo ra ngoại tệ thì với một khoản dự trữ mới được cung cấp thêm, toàn bộ hệ thống NHTM có thể tạo ra được một lượng tiền gửi qua ngân hàng gấp nhiều lần dự trữ ban đầu mà họ nhận được Lượng tiền này tỷ lệ nghịch với tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ thuận với lượng dự trữ mới được cung cấp ban đầu
Tuy nhiên, việc mở rộng tiền gửi như trên mới chỉ là khả năng mà thôi Mức
độ mở rộng tiền gửi của NHTM lên bao nhiêu lần còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: Tỷ lệ rút tiền mặt của khách hàng, mức độ sử dụng số vốn khả dụng của ngân hàng để cho vay,… chức năng này đã tạo thêm nguồn vốn cho các NHTM để
mở rộng khả năng cho vay
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, trong
đó chức năng tín dụng là chức năng cơ bản tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác Đồng thời thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và "tạo tiền"
1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
NHTM (NHTM) cũng như các trung gian tài chính khác đóng vai trò là kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, là trung gian giữa người cho vay và người đi vay NHTM
có hai hoạt động cơ bản là huy động vốn và sử dụng vốn, ngoài ra còn có một số hoạt động khác cũng là nguồn mang lại thu nhập cho ngân hàng NHTM hoạt động
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính tín dụng Phạm vi hoạt động của ngân hàng rất rộng, ngân hàng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế với vai trò là trung gian tài chính, đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh…Sau đây là một số hoạt động cơ bản của ngân hàng Hoạt động chủ yếu của NHTM bao gồm như sau:
- Hoạt động Huy động vốn
- Hoạt động Cho vay bao gồm hoạt động tín dụng và kinh doanh
- Hoạt động thanh toán
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Hoạt động khác như: bảo lãnh, uỷ thác, quản lý ngân quỹ, bảo quản tài sản
hộ, thuê mua như thuê hoạt động và thuê tài chính, môi giới đầu tư chúng khoán, dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các dịch vụ đại lý như: thanh toán hộ, phát hành chứng chỉ tiền gửi…
NHTM luôn tìm các biện pháp tăng vốn chủ sở hữu như huy động thêm vốn
từ các cổ đông, lợi nhuận bổ sung Xét về đặc điểm, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm
tỉ lệ nhỏ trong nguồn vốn, thông thưởng khoảng 10% tổng số vốn Tuy chiếm tỉ trọng nhỏ trong kết cấu tổng nguồn vốn, nhưng nó giữ vị trí quan trọng vì nó là vốn khởi đầu cho uy tín của ngân hàng đối với khách hàng Việc sử dụng nguồn vốn này
1.2.1.2 Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất của NHTM Nó được huy động thông qua các hình thức sau:
a Các khoản tiền gửi của khách hàng
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư:
Đây là một trong những khoản tiền gửi lớn của ngân hàng Thông thường người gửi tiết kiệm nhận được một cuốn sổ nhỏ trong đó nhân viên ngân hàng xác định toàn bộ số tiền rút ra,gửi thêm, số tiền lãi Khách hàng ở đây là tất cả các dân
cư có khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng, có thể gửi vào ngân hàng nhằm tìm kiếm một khoản tiền lãi
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tiền ký gửi:
Đây là những khoản tiền mà khách hàng đem ký gửi vào ngân hàng.Việc sử dụng những khoản tiền ký gửi được thực hiện thông qua những thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng Lịch sử phát triển của ngành ngân hàng cho thấy rằng hình thức ban đầu của hoạt động ngân hàng là việc bảo quản những đồng tiền vàng cho khách hàng Người chủ phải bảo đảm trả lại chính những đồng tiền mà họ được chuyển giao và bảo quản Trong những trường hợp này người chủ không thể tiến hành các nghiệp vụ cho vay đối với những đồng tiền nhận bảo quản đó và không thể thu lợi nhuận để trả lợi tức cho người gửi tiền Cùng với sự phát triển của xã hội đã tạo điều kiện cho người bảo quản có thể sử dụng những đồng tiền đó bởi vì người gửi tiền không yêu cầu phải trả lại chính những đồng tiền họ gửi mà chỉ yêu cầu trả lại giá trị tiền mà họ đã gửi Chỉ khi đó mới xuất hiện khả năng sử dụng số tiền vay
b Vốn vay của các tổ chức tài chính tín dụng
Các NHTM có thể thu hút vốn bằng cách vay ở các tổ chức tài chính tín dụng Đối với những ngân hàng ở các nước phát triển có quan hệ rộng khắp thì nguồn vốn này là một nguồn vốn vay thường xuyên và khá quan trọng Nguồn vốn vay mượn này đã trở thành một nguồn vốn quan trọng hơn đối với các ngân hàng trong những năm qua Trong hoạt động quan hệ quốc tế, việc vay mượn từ các tổ chức tín dụng quốc tế cũng đã cung cấp cho ngân hàng những nguồn vốn quan trọng Tuy nhiên đối với các quốc gia đang phát triển, các NHTM thường có quan
hệ quốc tế hạn hẹp, do đó việc thu hút những nguồn vốn này còn nhiều hạn chế và
1.2.1.3 Nguồn vốn vay từ ngân hàng TW
Ngân hàng TW cấp tín dụng cho các NHTM dưới nhiều hình thức như cho vay, mua bán, chiết khấu, tái chiết khấu đối với các giấy tờ có giá của NHTM Vốn hình
1.2.1.4 Nguồn vốn điều hoà trong hệ thống
Các NHTM có nhiều chi nhánh nằm trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiện tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn đối với các chi nhánh trong cùng
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
một hệ thống Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là vì trên mỗi địa bàn thì có những điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau do đó có tác động mạnh mẽ đến nguồn vốn và khả năng sử dụng vốn của từng chi nhánh Để giải quyết tình trạng này các NHTM hoặc các sở tài chính sẽ thực hiện việc điều hoà nguồn vốn trong hệ thống Chính vì vậy nguồn vốn điều hoà trong hệ thống cũng là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp cho ngân hàng có thể mở rộng được hoạt động trên thị trường và làm tăng lợi nhuận
1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Là hoạt động sử dụng các nguồn vốn đã huy động nhằm mục đích sinh lời Đây là hoạt động quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM Hoạt động này bao gồm:
* Thiết lập ngân quỹ tiền mặt và tiền gửi thanh toán tại NHTW và các định
chế tài chính khác
Ngân quỹ của NHTM thường được gọi là dự trữ sơ cấp Mục đích của ngân quỹ là đáp ứng nhu cầu rút tiền và yêu cầu vay vốn của khách hàng - mục đích đảm bảo thanh khoản cho NHTM Cơ cấu ngân quỹ (tiền mặt, tiền gửi ) cũng tạo nên tính sinh lời cho ngân quỹ Thông thường thì các ngân hàng đề cố gắng giữ quy mô của khoản mục này thấp nhất có thể bởi vì nó đem lại ít hoặc không đem lại thu nhập cho ngân hàng Như vậy hiệu quả sử dụng ngân quỹ được thể hiện thông qua chỉ tiêu đảm bảo an toan thanh khoản cho NHTM
* Hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư hay còn gọi là hoạt động chứng khoán giúp NHTM sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động được Đồng thời, nó cũng mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho NHTM NHTM có thể đầu tư vốn mua chứng khoán ngắn hạn của chính phủ Những chứng khoán này vừa mang lại thu nhập cho NHTM, vừa góp phần vào việc cân bẳng thu chi ngân sách thường xuyên ; đồng thời góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân
NHTM còn được phép đầu tư vốn để mua cổ phiếu và trái phiếu của các doanh nghiệp, thông qua đó những NHTM lớn tham gia vào việc thành lập quản lý
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
các doanh nghiệp Tuy nhiên, NHTM chỉ được đầu tư chứng khoán ở một giới hạn
* Chứng khoán thanh khoản
NHTM nắm giữ chứng thanh khoản (chứng khoán khả mại) đề đáp ứng những yêu cầu về hỗ trợ thanh khoản Bộ phận này thường được gọi là dự trữ thứ cấp Dự trữ thứ cấp chủ yếu bao gồm chứng khoán chính phủ ngắn hạn, giấy nợ ngắn hạn của NHTW và các NHTM khác, các giấy nợ sắp đến hạn thanh toán Chứng khoán thanh khoản dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt trong thời gian ngắn với rủi ro gần như bằng không Chứng khoán thanh khoản mang lại thu nhập cho NHTM(lãi và chênh lệch giá) song không cao như cho vay và các khoản đầu tư khác Vì vậy khi nghiên cứu hiệu quả sử dụng của chứng khoán thanh khoản, nhà
* Chứng khoán đầu tư
Ngoài chứng khoán thanh khoản, NHTM nắm giữ lượng lớn chứng khoán đầu tư (trái phiếu, cổ phiếu) vì mục tiêu lợi nhuận vì chúng có tỷ lệ sinh lời cao song rủi ro cũng cao Các chứng khoán đầu tư có thể được ghi chép trong sổ sách của ngân hàng theo chi phí gốc hoặc giá trị thị trường Hầu hết các ngân hàng ghi nhận việc mua chứng khoán theo chi phí gốc Tất nhiên, nếu lãi suất tăng sau khi ngân hàng mua chứng khoán thì giá trị thị trường của chúng sẽ nhỏ hơn chi phí gốc (giá trị ghi sổ), do đó, những ngân hàng phản ảnh giá trị của các chứng khoán trên Bảng cân đối kế toán theo chi phí gốc thường phải kèm theo mục ghi chú về giá trị thị trường hiện hành Ngân hàng cũng nắm giữ một lượng nhỏ các chứng khoán giao dịch Số lượng được phản ánh trong tài khoản giao dịch cho biết những chứng
Hiệu quả sử dụng chứng khoán đầu tư được đo bằng tỷ lệ sinh lời bình quân của chúng sau khi đã trừ hết dự phòng giảm giá
* Hoạt động cho vay
Trong các hoạt động về sử dụng vốn, hoạt động cho vay vốn giữ vị trí đặc biệt quan trọng bởi lẽ hoạt động này tạo ra cho NHTM các khoản thu nhập chủ yếu
và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hoạt động cho vay vốn thực hiện trên các nguyên tắc: cho vay có mục đích,
có hiệu quả kinh tế và tiền vay phải được hoàn trả cả vốn lẫn lãi khi đến hạn
Dựa trên các nguyên tắc đó, NHTM phải tìm mọi biện pháp để cho vay vốn hiệu quả Hoạt động này của tổ chức tín dụng có thể thực hiện thông qua các hình thức sau đây:
- Cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
Đặc điểm của loại cho vay này là vốn cho vay của ngân hàng sẽ tham gia hình thành nên một phần vốn ngắn hạn ở các doanh nghiệp,hay nói cách khác trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp sử dụng một phần vốn vay của ngân hàng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh dưới các hình thức:
+ Vay để trả tiền để nhập vật tư, hàng hóa, nguyên liệu
+ Vay để thanh toán các khoản chi phí như: trả tiền công lao động thuê ngoài, tiền vận chuyển bốc dỡ hàng hóa, nguyên vật liệu
+ Vay để thanh toán các khoản nợ công
Việc cho vay của các ngân hàng và nhận tiền vay của các doanh nghiệp là dựa vào lòng tin của nhau Vì vậy, tùy thuộc vào mối quan hệ sẵn có mà việc cho vay tín dụng doanh nghiệp có sự khác nhau về đối tượng, thủ tục và phương thức hoàn tiền vay
Trong các trường hợp khác NHTM có thể cho vay nóng mang tính chất tạm thời để doanh nghiệp giải quyết nhu cầu bị thiếu hụt vốn trong thời gian rất ngắn
Để được vay theo loại này, ngoài các biện pháp bảo đảm tiền vay doanh nghiệp phải chịu lãi suất cao hơn
Nghiệp vụ cho vay ngắn hạn của ngân hàng còn được thực hiện dưới hình thức cho thấu chi tạm thời vào khoản tiền gửi vãng lai của doanh nghiệp ở NHTM Cho vay dưới hình thức “thấu chi” tạm thời trên tài khoản vãng lai đã giúp cho các doanh nghiệp bổ sung kịp thời về vốn, không mất thời gian phải đến ngân hàng, đảm bảo kế hoạch kinh doanh Về phía ngân hàng phải ở trong khuôn khổ và phạm
vi cho phép, khi đến hạn ngân hàng sẽ thu ngay vốn và lãi (mức lãi thu cao hơn mức cho vay bình thường)
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Cho vay trung hạn và dài hạn đối với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế Ngoài cho vay ngắn hạn, ngân hàng còn thực hiện cho vay trung dài hạn đồi với các doanh nghiệp Đặc điểm của loại cho vay này là vốn vay sẽ tham gia cấu thành nên tài sản cố định của các doanh nghiệp được tồn tại dưới hình thức hiện vật
đó là: phương tiện vận tải, máy móc, nhà cửa tăng thêm nhờ vốn vay từ ngân hàng
Cho đến nay, khoản mục tài sản lớn nhất trong ngân hàng vẫn là những khoản cho vay Đây là khoản mục thường chiếm từ 70% đến 80% giá trị tổng tài sản của ngân hàng Có hai số liệu cho vay xuất hiện trên Bảng cân đối kế toán Tổng số cho vay, là tổng dư nợ cho vay và dư nợ ròng bằng tổng dư nợ trừ dự phòng Các ngân hàng lập Quỹ dự phòng tổn thất tín dụng từ thu nhập trên cơ sở kinh nghiệm về tổn thất tín dụng (dựa trên phân loại nợ) để bù đắp cho những khoản vay bị kết luận là không thể thu hồi
Tài khoản dự phòng tổn thất tín dụng được tích lũy dần dần theo thời gian thông qua hoạt động trích quỹ từ thu nhập hàng năm của ngân hàng Những khoản trích quỹ này xuất hiện trên Báo cáo thu nhập của ngân hàng như một khoản chi phí không bằng tiền được gọi là Phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng Những khoản bổ sung cho Dự phòng thường được thực hiện trên quy mô danh mục cho vay của một ngân hàng phát triển, khi bất cứ khoản vay nào bị xem là hoàn toàn hay một phần không thể thu hồi được, hay khi tổn thất tín dụng xảy ra với một khoản cho vay mà ngân hàng chưa lập dự phòng Tổng số dự trữ tổn thất tín dụng tại thời điểm lập Bảng cân đối kế toán của ngân hàng thường được khấu trừ khỏi tổng số cho vay để xác định khoản mục cho vay ròng - một thước đo giá trị của dư nợ cho vay
Một khoản mục khác được khấu trừ khỏi tổng số cho vay để tạo ra số cho vay ròng mà thu nhập lãi trả trước Khoản mục này bao gồm lãi từ những khoản cho vay mà khách hàng đã nhận nhưng chưa thực sự là thu nhập lãi theo phương pháp
kế toán hiện hành của ngân hàng Trong sổ sách kế toán ngân hàng còn có một khoản mục cho vay nữa là nợ quá hạn Đây là những khoản tín dụng không còn tích lũy thu nhập lãi cho ngân hàng hoặc đã phải cơ cấu lại cho phù hợp với điều kiện thay đổi của khách hàng Theo quy định hiện hành, một khoản cho vay được coi là
nợ quá hạn khi bất kỳ khoản trả nợ tiền vay theo kế hoạch nào quá hạn từ 90 ngày
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trở lên Khi một khoản cho vay được phân loại là nợ quá hạn thì tất cả các khoản tiền lãi tích lũy trong sổ sách kế toán của ngân hàng nhưng trên thực tế chưa được thanh toán sẽ được khấu trừ khỏi thu nhập từ cho vay Ngân hàng không được ghi chép thu nhập lãi từ khoản cho vay này cho đến khi một khoản thanh toán bằng tiền mặt thực sự được thực hiện
Hiệu quả hoạt động cho vay được đo bằng thu nhập ròng mà hoạt động này mang lại Thu nhập ròng từ hoạt động cho vay bằng doanh thu từ hoạt động cho vay trừ chi phí trả lãi cho nguồn vốn để cho vay trừ dự phòng tổn thất tín dụng và các khoản chi phí khác
* Thương phiếu chấp nhận thanh toán
Một hình thức cấp tín dụng khác mà những ngân hàng lớn thường sử dụng là tài trợ thương phiếu cấp nhân thanh toán Số vốn liên quan sẽ xuất hiện trên một khoản mục tài sản tên là thương phiếu chấp nhận thanh toán, thường để giúp khách hàng thanh toán những hàng hóa nhập từ nước ngoài Trong trường hợp này, ngân hàng đồng ý phát hành một thương phiếu chấp nhận thanh toán (tức là một thư tín dụng đã được ký nhận), cho phép một bên thứ ba (chẳng hạn như người xuất khẩu hàng hóa nước ngoài) phát lệnh yêu cầu trả tiền đối với ngân hàng theo một lượng tiền cụ thể tại một ngày xác định trong tương lai Khách hàng yêu cầu thương phiếu chấp nhận thanh toán phải thanh toán đầy đủ cho ngân hàng trước ngày quy định Đến ngày mãn hạn, ngân hàng sẽ thanh toán cho người đang nắm giữ thương phiếu
* Các khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán
Hợp đồng bảo lãnh tín dụng, trong đó ngân hàng cam kết đảm bảo việc hoàn trả khoản vay của khách hàng cho một bên thứ ba
Hợp đồng trao đổi lãi suất, trong đó ngân hàng cam kết trao đổi các khoản thanh toán lãi của các chứng khoán nợ với một bên khác
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hợp đồng tài chính tương lai và hợp đồng quyền chọn lãi suất, trong đó ngân hàng đồng ý giao hay nhận những chứng khoán từ một bên khác tại một mức giá được bảo đảm
Hợp đồng cam kết cho vay, trong đó ngân hàng cam kết cho vay tối đa tới một số vốn nhất định trước khi hợp đồng hết hiệu lực
Hợp đồng về tỷ giá hối đoái, trong đó ngân hàng đồng ý giao hay nhận một lượng ngoại tệ nhất định
Những giao dịch ngoài bảng cân đối kế toán mang lại thu nhập cao gắn với rủi ro cao Mặc dù NHTM không trực tiếp sử dụng vốn cho các hoạt động này song thu nhập và tổn thất của hoạt động này luôn được hạch toán vào bản cân đối của NHTM
1.2.3 Hoạt động thanh toán
* Thanh toán quốc tế
Về bản chất thanh toán quốc tế là quan hệ thanh toán giữa người chi trả ở nước này với người thụ hưởng ở nước khác thông qua trung gian thanh toán của ngân hàng ở các nước phục vụ người chi trả và người thụ hưởng
Thanh toán quốc tế bao gồm: thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch Thanh toán mậu dịch phát sinh trên cơ sở thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ xuất nhập khẩu Thanh toán phi mậu dịch phái sinh trên cơ sở các khoản chuyển giao vốn đầu
tư, chuyển giao thu nhập, chuyển giao lợi nhuận
Xét ở góc độ quan hệ thanh toán giữa các ngân hàng, các ngân hàng có thể thực hiện thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại các ngân hàng đại lý Các ngân hàng có nhiều quan hệ tiền gửi với nhiều ngân hàng đại lý thì khả năng phục vụ trong thanh toán quốc tế càng tăng lên Tuy nhiên khi mở tài khoản ở nhiều ngân hàng thì vốn bị phát tán, cũng như tăng rủi ro với đối tác Vì vậy khi tham gia vào nghiệp vụ thanh toán quốc tế, các ngân hàng thường mở tài khoản tiền gửi và thanh toán tại các đại lý lớn, có uy tín tại các thị trường có nhiều giao dịch, quan hệ kinh tế Các ngân hàng có nhiều chi nhánh cũng sẽ tập chung thanh toán qua một hoặc một số đầu mối tại TW hoặc tại các chi nhánh lớn để nâng cao
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Thanh toán trong nước
Thanh toán nội địa bằng Séc: Séc được hầu hết mọi người biết đến và là phương pháp thanh toán thuận tiện, mặc dù chúng không phải là tiền tệ chính thức
và các chủ nợ có thể từ chối chấp nhận chúng
Thanh toán bằng chuyển tiền nội địa: Thanh toán chuyển tiền, cho phép một người dù anh ta có hay không có tài khoản tại ngân hàng có thể trả tiền vào tài khoản của một người khác
Thanh toán nội địa bằng ủy nhiệm thu: Ủy nhiệm chi là phương pháp thuận tiện
để thanh toán các khoản cố định định kỳ Ủy nhiệm thu cũng được sử dụng để thanh toán định kỳ nhưng khác ủy nhiệm chi ở hai điểm Thứ nhất, chúng có thể sử dụng để thanh toán các giá trị cố định hay khác nhau và/hoặc khi thời gian thanh toán định kỳ khác nhau Thứ hai, người thụ hưởng là người chuẩn bị giao dịch qua máy tính bằng cách ghi nợ vào tài khoản của người phải thanh toán qua máy tính bằng cách ghi nợ vào tài khoản của người thanh toán và chuyển qua hệ thống BACS
Thanh toán nội địa bằng thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng do các ngân hàng, hội tiết kiệm nhà ở, các tập đoàn bán lẻ hay các tổ chức phát hành Thẻ này giúp cho việc mua hàng hóa và các dịch vụ trả tiền sau
Thanh toán nội địa bằng hối phiếu ngân hàng: hối phiếu ngân hàng là công
cụ thanh toán, tương tự như séc, được một ngân hàng chi nhánh ký phát theo yêu cầu của khách hàng để thực hiện một khoản thanh toán được đảm bảo, tức là nó được sử dụng trong trường hợp người thụ hưởng yêu cầu đảm bảo chắc chắn sẽ được thanh toán khi xuất trình Hối phiếu ngân hàng là một phương tiện thanh toán hữu hiệu sau tiền mặt vì nó giúp tránh phải mang một lượng tiền lớn đi thanh toán
Thanh toán nội địa bằng chuyển tiền qua điện thoại hoặc máy tính: chuyển tiền gấp được thực hiện trong phạm vi hệ thống ngân hàng thông qua điện thoại hay máy tính Cả hai trường hợp này cho phép chuyển tiền cùng ngày Chuyển tiền bằng điện thoại phải được kiểm tra bằng mật khẩu hay mã số và thông thường được chuyển qua hội sở chính của ngân hàng có liên quan Bất kể phương thức nào được áp dụng thì tiền phải được thanh toán bù trừ và người
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Ủy thác và nhận uỷ thác: NHTM được uỷ thác, nhận uỷ thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác, đại lý
- Bảo quản tài sản hộ: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản, khách hàng phải trả phí bảo quản
- Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính
- Môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nên bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán Ngoài ra, ngân hàng còn bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng chết hay bị tàn phế, rủi
ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật
1.2.5 Mối quan hệ giữa huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc cơ bản là đi vay để cho vay do đó giữa hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn có mối quan hệ biện chứng với nhau Để có vốn vay, ngân hàng phải thực hiện công tác huy động Nếu số lượng vốn huy động nhiều thì ngân hàng có thể tăng cường hoạt động sử dụng vốn, khi đó ngân hàng có thể mở rộng các khoản cho vay, các khoản đầu tư Trong trường hợp ngân hàng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp như thay đổi lãi suất, mở rộng các dịch
vụ nhưng cũng không thể tăng được khối lượng vốn huy động dẫn đến việc phải thực hiện chính sách tín dụng có lựa chọn, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của khách hàng
Tuy nhiên số lượng vốn huy động cơ cấu, loại hình, thời gian huy động lại phụ thuộc vào phương hướng kinh doanh tức là vào chiến lược tín dụng của ngân hàng Khi ngân hàng muốn mở rộng doanh số cho vay nhằm chiếm lĩnh những thị trường lớn hơn, lúc này ngân hàng cần phải tăng cường hoạt động huy động vốn nhằm huy động đủ số vốn cần thiết Trong trường hợp doanh số cho vay của ngân hàng không tăng nhưng để tăng lợi nhuận, giảm bớt loại vốn huy động có lãi suất cao, tăng cường vốn huy động có lãi suất thấp,giảm bớt chi phí của việc huy động Còn khi ngân hàng muốn thu hẹp hoạt động tín dụng thì bắt buộc phải có sự thay đổi tương ứng trong hoạt động huy động nhằm giảm bớt một cách tương ứng lượng tiền không cần thiết Nhờ đó tránh đựơc những chi phí mà ngân hàng phải gánh chịu
Tóm lại, giữa công tác huy động vốn và sử dụng vốn luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau Để thực hiện được tốt công tác này phải thực hiện tốt công tác kia và ngược lại Trong công tác quản lý hoạt động ngân hàng phải kết hợp đựơc một cách tối ưu hoạt động của công tác huy động vốn và công tác sử dụng nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất
1.3 Hiệu quả sử dụng vốn tại các Ngân hàng thương mại
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất về các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn các nhu càu và mong muốn của con người Trong Đại từ điển tiếng Việt thì “Hiệu quả là kết quả đích thực” Khái niệm này đã đồng nhất kết quả
và hiệu quả, sử dụng kết quả để đo hiệu quả Quan niệm thứ hai “Hiệu quả là không lãng phí” Quan niệm này được hiểu là với cùng một kết quả như nhau, hoạt động nào không hoặc ít chi phí hơn (ít lãng phí hơn) thì được coi là có hiệu quả Quan niệm này so sánh kết quả với chi phí bỏ ra và đặt mục tiêu tăng hiệu quả bằng tiết kiệm chi phí Quan niệm thứ ba “hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả nhẳm đạt được một mục đích nào đó tương ướng với một đơn vị nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện một hoạt động nhất định”, có nghĩa
là khi nói đến hiệu quả của một hoạt động nào đó, người ta gắn nó với mục đích nhất định Các hoạt động không có mục tiêu trước hết không thể đưa ra để tính hiệu
Các hoạt động của Chính phủ, doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể, hộ gia đình, cá nhân Mỗi loại hoạt động đều có thể xét trên các khía cạnh như xã hội, chính trị, kinh tế, vĩ mô hoặc vi mô Vì vậy hiệu quả cũng có thể được xem xét trên khía cạnh như hiệu quả môi trường, hiệu qảu tài chính, hiệu quả sử dụng các nguồn lực (vốn, tài nguyên, con người ), hiệu quả trước mắt (ngắn hạn) và hiệu quả lâu dài (trung và dài hạn)
HQSDV của NHTM cũng nằm trong quan niệm về hiệu quả nói chung Tuy nhiên, HQSDV của NHTM được xem xét trên khía cạnh hẹp hơn - hiệu quả tài chính - phản ảnh mối tương quan giữa kết quả tài chính với vốn và NHTM bỏ ra
Như vậy, ta có thể cho rằng “Hiệu quả sử dụng vốn của NHTM được phản ánh qua chỉ tiêu lợi nhuận mà ngân hàng thu được trên vốn bỏ ra, phản ảnh trình độ
sử dụng các nguồn lực, khả năng quản trị điều hành, kiểm soát, năng lực tài chính của NHTM trong quá trình hoạt động”
Sử dụng vốn có hiệu quả và đạt hiệu quả cao là yêu cầu và thách thức đối với NHTM để tồn tại và thắng lợi trong cạnh tranh Năng lực kinh doanh kém thể hiện
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ở hiệu quả thấp và ngược lại Để đánh giá hiệu quả cao, trung bình hay thấp các NHTM thường sử dụng nhiều phương pháp trong đó có phương pháp so sánh với mức trung bình tiên tiến
1.3.2 Các nguồn vốn tại Ngân hàng thương mại
Trong bản quyết toán, tài sản của một NHTM, bên tài sản có thể hiện kết quả của việc sử dụng vốn của Ngân hàng đó Việc sử dụng vốn trong NHTM gồm những mục sau
1.3.2.1 Tiền dự trữ
Đây là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh khoản của Ngân hàng để đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng NHTM phải duy trì một bộ phận vốn, để gửi vào một tài khoản nào đó như NHNN, tổ chức tín dụng các NHTM khác và một lượng được cất giữ tại Ngân hàng đó, gọi là tiền dự trữ Mức dự trữ cao hay thấp phụ thuộc vào qui mô hoạt động của Ngân hàng, mối quan
hệ thanh toán bằng tiền mặt và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi tiền mặt Tiền dự trữ hiện hành không có lãi nhưng các NHTM vẫn giữ chúng do một số lý
do nhất định Thứ nhất, theo luật pháp hiện hành, các NHTM phải nộp một tỷ lệ nhất định tiền gửi mà ngân hàng huy động được tại Ngân hàng Nhà nước (thường là 10%) để đảm bảo tiền gửi Đây cũng là công cụ quan trọng trong quản lý lưu thông tiền tệ Thứ hai, bản thân ngân hàng cũng thấy rõ sự cần thiết phải giữ một ít tiền mặt mà không nên cho vay hết Việc giữ tiền măt này để đảm bảo an toàn cho những hoạt động còn lại, do vậy dự trữ tiền mặt trong tài sản có còn gọi là “khoản đầu tư cho sự an toàn” Ngoài ra, các ngân hàng nhỏ gửi tiền vào các ngân hàng lớn
để đổi lấy các dịch vụ khác nhau như tập hợp séc,giao dịch ngoại tệ Các khoản này
có tính lỏng nhất trong các loại tài sản có của ngân hàng chiếm khoảng 7% tổng tài
1.3.2.2 Đầu tư vào chứng khoán
Có thể thấy NHTM thực hiện nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh nhằm phân tán rủi ro Trong việc đầu tư vào chứng khoán, NHTM chủ yếu mua các trái phiếu kho bạc, các trái phiếu có tính thanh khoản cao Đây là
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
những công cụ chính của thị trường tiền tệ tài chính Việc mua và dự trữ các loại trái phiếu này một mặt tạo ra thu nhập cho ngân hàng, mặt khác chúng là những công cụ tài chính dễ lưu động hoá, vì vậy khi cần tiền ngân hàng có thể bán hoặc
1.3.2.3 Tiền cho vay
Cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận Chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư.Kinh tế càng phát triển, hướng cho vay của các NHTM càng tăng
và loại hình cho cũng trở nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nước công nghiệp trong nhóm 10 và 15 nước hàng đầu thế giới, cho vay của các NHTM đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn Khu vực cho vay ngắn hạn nhường chỗ cho thị trường tiền tệ tài chính cung ứng.Ngược lại hầu hết các nước đang phát triển cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn Nhưng nói chung, lợi nhuận chủ yếu của Ngân hàng vẫn là hoạt động cho vay hay nói rộng ra là hoạt động tín dụng của NHTM chiếm 67% tổng tài sản của Ngân hàng ở dạng tiền cho vay tạo ra hơn 60% thu nhập của Ngân hàng khác bởi chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản vay mãn hạn và cũng có xác suất rủi ro vỡ nợ cao hơn
Theo thời gian, các khoản cho vay có thể chia thành các khoản cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Cho vay ngắn hạn thường đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động hay khó khăn tạm thời về vốn Cho vay trung và dài hạn thường đáp ứng nhu cầu cho những dự án lớn, hay đổi mới dây chuyền công nghệ Việc phân loại theo thời gian giúp Ngân hàng lập kế hoạch để huy động vốn và đầu tư
Phân loại theo đối tượng cho vay, có khoản cho vay công nghiệp, cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng.v.v Các Ngân hàng cho vay công nghiệp thường dựa vào tính chất, chu kỳ kinh doanh, để đáp ứng mục đích, và mang lại hiệu quả sử dụng vốn Cho vay nông nghiệp dựa vào thời vụ và rủi ro do tự nhiên.Cho vay tiêu dùng thường là cho vay đối với cán bộ làm công ăn lương, công việc ổn định, tiền lương ổn định, đảm bảo khả năng trả nợ cho Ngân hàng
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.2.4 Các khoản đầu tư khác
NHTM có thể tham gia đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn, chứng khoán chính phủ v.v Các NHTM mua chứng khoán vì mục đích thanh khoản và đa dạng hoá hoạt động, để nâng cao lợi tức và phục vụ như các vật kí quĩ cho các tài sản nợ
ký thác với chính quyền địa phương,chính phủ v.v Tỷ lệ lớn nhất của đầu tư chứng khoán là chứng khoán chính phủ bởi tuy có mức lãi hạn chế những linh hoạt, không
có rủi ro tín dụng và ít rủi ro về lãi suất so với trái phiếu dài hạn Thông thường lợi
1.3.3 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luôn đi liền với cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trường Cũng chính nhờ sự cạnh tranh mà hiệu quả sử dụng vốn không ngừng được nâng cao Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh cũng như hiệu quả sử dụng vốn diễn ra mọi lúc, mọi nơi trở thành một quy luật quan trọng thúc đẩy sự phát trển của nền kinh tế
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong NHTM thực chất là tìm mọi biện pháp
để gia tăng lợi nhuận trên vốn đã bỏ ra Nếu việc này thành công, NHTM có thể:
máy móc, thiết bị hiện đại, công nghệ mới nhằm nâng cao hơn nữa hiệu suất phục vụ
● Chia cổ tức nhiều hơn: lợi tức cổ phần gia tăng làm giá trị thị trường cổ phiếu của ngân hàng (giá trị ngân hàng) tăng
lợi của người lao động tăng là yếu tố quan trọng thúc đẩy chất lượng phục vụ, hạn chế rủi ro trong ngân hàng
được hưởng lợi thông qua việc ngân hàng gia tăng quy mô hoạt động
1.3.4 Các chỉ tiêu phản ảnh và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
* Chỉ tiêu đánh giá sử dụng vốn
Đối với các NHTM, cho vay có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, mở rộng phạm vi kinh doanh Tăng trưởng nguồn vốn và đạt được mục tiêu lợi nhuận của
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bản thân ngân hàng đó Nhận thấy được tầm quan trọng của hoạt động cho vay, việc đánh giá hiệu quả của hoạt động này được phân tích qua hai chỉ tiêu cơ bản
1.3.4.1 Quy mô cho vay
- Doanh số cho vay: Là chỉ tiêu cơ bản khi đánh giá một cách khái quát có hệ thống đối với những khoản vay tại một thời điểm Khi xác định doanh số cho vay, chưa có sự đánh giá cụ thể về chất lượng các khoản vay và phần rời của những khoản vay trong một thời kỳ nhất định nhưng đây là chỉ tiêu cho biết khả năng luân chuyển sử dụng vốn của một ngân hàng, quy mô đầu tư và cấp vốn tín dụng của ngân hàng đó đối với nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ
- Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế: Tổng dư nợ nội tệ và ngoại tệ thể hiện được mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng, đồng thời là chỉ tiêu phản ánh phần vốn đầu tư hiện đang còn lại tại một thời điểm của ngân hàng đó là lượng mà ngân hàng đã cho vay chưa thu về Đồng thời, chỉ tiêu này cũng phản ánh mối quan hệ với doanh số cho vay (Dư nợ đầu kỳ + Doanh số cho vay - Doanh thu
số nợ = Dư nợ cuối kỳ) với khả năng đáp ứng nguồn vốn của các NHTM đối với những nhu cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế
- Doanh số thu nợ: Là chỉ tiêu phẩn ánh khả năng thu hồi nợ của những khoản cho vay khi đến thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
- Vốn vay / Khả năng giải quyết, xử lý vốn tồn đọng: Là chỉ tiêu phản ánh độ nhạy bén, khả năng luân chuyển vốn tồn đọng theo chiều hướng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng
- Tỷ trọng doanh số cho vay / Tổng số vốn huy động: Chỉ tiêu thể hiện khả năng sử lý nguồn vốn huy động đảm bảo khả năng lợi nhuận đồng thời bảo đảm nhu cầu thanh toán
1.3.4.2 Chất lượng cho vay
- Tỷ lệ nợ quá hạn: Chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng một khoản cho vay và khả năng bảo đảm của khoản vay đó trong một thời hạn nhất định Thực chất, chỉ tiêu cho biết sự luân chuyển lượng tiền mặt trong một ngân hàng, phản ánh phần chất đối với doanh số thu nợ Đây cũng là yếu tố đánh giá tính chất, trình độ quản lý của những người làm ngân hàng và thể hiện mặt biến động chung của nền kinh tế
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tỷ trọng nợ quá hạn / Tổng thu nợ: Phản ánh khả năng thu hồi nợ của các khoản vay thể hiện ở các khoản vay đã đến hạn trả nhƣng không đủ luân chuyển nguồn vốn đã cho vay tại một thời điểm và sự biến động của độ an toàn về vốn tỷ lệ nghịch với sự tăng giảm của tỷ trọng trên Bên cạnh đó, còn có tỷ trọng nợ khó đòi / Tổng thu nợ: Phản ánh tính chân thực có khả năng hoàn trả của các khoản vay thể hiện ở chỉ tiêu này
1.3.4.3 Một số chỉ tiêu khác
Chỉ tiêu ROE và ROA là hai chỉ tiêu đƣợc sử dụng phổ biến để đo hiệu quả
sử dụng vốn của ngân hàng
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) =
Thu nhập ròng sau thuế (trong kỳ) Tổng tài sản bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho thấy cứ giá trị 1 đồng tài sản mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, phản ảnh hiệu quả quy mô hoạt động của ngân hàng
Tỷ kệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) =
Thu nhập ròng sau thuế (trong kỳ) Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này đƣợc coi là quan trọng nhất, phản ảnh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu Đây là những chỉ tiêu cơ bản luôn đƣợc các nhà quản trị ngân hàng quan tâm Chỉ tiêu này cho thấy cứ giá trị 1 đồng vốn chủ sở hữu mang lại bao nhiêu dồng lợi nhuận, phản ảnh hiệu quả kinh doanh đạt đƣợc trong mối quan hệ cấu tức vốn hoạt động ngân hàng
ROA và ROE liên hệ chặt chẽ với nhau
ROE = ROA *
Tổng tài sản Tổng vốn chủ sở hữu Hay nói cách khác
1.3.5 Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vốn an toàn và hiệu quả
* Quản lý nguồn vốn tại NHTM