Để có thể hoàn thành chương trình sau đại học tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên với luận văn tốt nghiệp “Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chín
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ MINH VƯỢNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN DUNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Học viên
Nguyễn Thị Minh Vượng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Văn Dung đã tận tình
chỉ bảo, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Để có thể hoàn thành chương trình sau đại học tại trường Đại học Kinh tế
và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên với luận văn tốt nghiệp “Giải
pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ” ngoài những nỗ lực, phấn đấu của chính bản thân trong
suốt quá trình học tập, tôi xin gửi lời tri ân trước hết đến những người thân đã
luôn động viên, giúp đỡ
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô, những người
đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong hai năm học cao học vừa qua
Sau cùng, tôi xin chân thành cám ơn đến các bạn bè thân thiết của lớp cao học
Quản lý Kinh tế K10E và các cán bộ nhân viên đã giúp
đỡ tôi có số liệu hoàn thành tốt luận văn này
Học viên
Nguyễn Thị Minh Vượng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Đóng góp của luận văn 2
5 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về chính sách bảo hiểm thất nghiệp 4
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp 4
1.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp 11
1.2 Chính sách bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp 14
1.2.2 Vai trò, nguyên tắc của chính sách bảo hiểm thất nghiệp 16
1.2.3 Nội dung chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt nam hiện nay 19
1.3 Hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp 24
1.3.1 Quan điểm về hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp 24
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp 24
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp 25
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.4 Kinh nghiệm về ChínhSách bảo hiểm thất nghiệp của một số nước
trên thế giới và một số bài học cho Việt Nam 30
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 30
1.4.2 Một số bài học cho Việt Nam 33
1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm cho tỉnh Phú Thọ 35
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 36
2.2.2 Phương pháp phân tích 37
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 38
Chương 3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 40
3.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ và BHXH tỉnh Phú Thọ 40
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 41
3.1.3 Giới thiệu khái quát về Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ 44
3.2 Thực trạng hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 49
3.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 49
3.2.2 Đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệptrên địa bàn tỉnh Phú Thọ 62
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 68
4.1 Định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 68
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 69
4.2.1 Tiếp tục, rà soát những bất cập trong cơ chế chính sách bảo hiểm thất nghiệp để kiến nghị cho BHXH cấp Trung ương 69
4.2.2 Tăng cường công tác hỗ trợ việc làm và đào tạo lại cho người lao động 70
4.2.3 Tăng cường nhận thức về chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động và người sử dụng lao động 72
4.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 75
4.2.5 Tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, công nghệ thông tin 78
4.2.6 Tăng cường trình độ nguồn nhân lực 78
4.2.7 Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan 81
4.3 Một số kiến nghị 82
4.3.1 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước 82
4.3.2 Kiến nghị với Đảng ủy, chính quyền địa phương 84
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
NSDLĐ Người sử dụng lao động
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình số lượng đơn vị đóng bảo hiểm thất nghiệp trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn năm 2011 - 2013 55Bảng 3.2 Cơ cấu chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
giai đoạn năm 2011 - 2013 60
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng thu Bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ giai đoạn năm 2011 - 2013 50Biểu đồ 3.2 Nợ đọng Bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
giai đoạn năm 2011 - 2013 51Biểu đồ 3.3 Cơ cấu nguồn Bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnhPhú Thọ
năm 2013 theo địa bàn 54Biểu đồ 3.4 Tình hình chi trả bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ giai đoạn năm 2011 - 2013 57Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ chi trả bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ giai đoạn năm 2011 - 2013 58Biểu đồ 3.6 Số tiền chi trả bảo hiểm thất nghiệp bình quân đầu người
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn năm 2011 - 2013 59
Sơ đồ:
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bộ máy cơ quan BHXH tỉnh Phú Thọ 46
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm Đây là hiện tượng kinh tế phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới Tình trạng thất nghiệp có thể ảnh hưởng tiêu cực tới bản thân người lao động, gia đình, toàn nền kinh tế và xã hội Chính vì vậy, Nhà nước cần có các chính sách, giải pháp nhằm hạn chế tình trạng này Một trong những chính sách đối phó lại những ảnh hưởng tiêu cực từ nạn thất nghiệp là sử dụng bảo hiểm thất nghiệp Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2009, sau hơn bốn năm triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động đã đạt được những kết quả nhất định Số lượng người tham gia bảo hiểm thất nghiệp ngày càng tăng và số chi trả chế độ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cũng gia tăng tương ứng
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ
đô Hà Nội, cách thủ đô Hà Nội 80 km về Phía Bắc Hiện tỉnh Phú Thọ có 353.294,93 ha diện tích tự nhiên và 1.313.926 nhân khẩu Trong những năm qua tình hình kinh tế - xã hội đã có chuyển biến tích cực với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 9%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục và công tác xã hội đã có những tiến bộ đáng kể Mặc dù vậy, cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, trong những năm qua tỷ lệ thất nghiệp ở địa phương có xu hướng tăng do tác động của khủng hoảng kinh tế Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị của Tỉnh ở mức 3,4%, trong khi đó, tỷ lệ sử dụng lao động
ở nông thôn chỉ ở mức 80% Trong những năm qua, để giải quyết vấn đề thất nghiệp cho nguồn nhân lực, BHTN tỉnh Phú Thọ đã có nhiều cố gắng trong công tác đẩy mạnh thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ vẫn còn nhiều điểm hạn chế
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại
Tỉnh nói riêng và toàn quốc nói chung, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng
cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu chung: hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về bảo hiểm thất nghiệp, chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt nam và hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
+ Hệ thống hóa và phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về thất nghiệp
và chính sách BHTN
+ Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chính sách bảo hiểm thất nghiệp + Phân tích thực trạng hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn Tỉnh tới năm 2020
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách BHTN và hiệu quả thực hiện chính sách BHTN
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: địa bàn tỉnh Phú Thọ
Về thời gian: đề tài nghiên cứu thực trạng từ năm 2011 - 2013 và định hướng giải pháp tới năm 2020
4 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa lý luận về thất nghiệp, BHTN và chính sách BHTN, hiệu quả thực hiện chính sách BHTN
- Làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, xây dựng chính sách BHTN và nghiên cứu về BHTN
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đẩu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
bảng biểu, luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách bảo hiểm thất
nghiệp và hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm
thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
1.1 Những vấn đề cơ bản về chính sách bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm, nguyên nhân của thất nghiệp
a) Khái niệm thất nghiệp
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động luôn được coi là nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất và lớn nhất của con người P Ăng Ghen đã khẳng định “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người” Thật vậy, ai sinh ra cũng phải sống, muốn sống phải có ăn, mặc,… muốn có ăn mặc phải lao động và được lao động Nhu cầu đó tưởng chừng đơn giản, song trong điều kiện kinh tế thị trường không phải ai cũng được đáp ứng và được đáp ứng một cách đầy đủ Muốn được lao động, người lao động phải có việc làm để từ đó tạo ra của cải vật chất và dịch vụ - tạo ra thu nhập nuôi sống mình và gia đình mình Nhưng
để có được việc làm, nhất là những việc làm phù hợp với năng lực, trình độ và ngành nghề đào tạo của mình thì không phải người lao động nào cũng dễ tìm kiếm Bởi vì, nguồn lao động xã hội thường tăng nhanh hơn cơ hội việc làm,
do đó luôn có một bộ phận người lao động thiếu hoặc không có việc làm Những người không có việc làm thực chất là họ đã bị thất nghiệp
Đã có nhiều khái niệm về thất nghiệp, song định nghĩa thất nghiệp của ILO được nhiều nhà kinh tế và nhiều nước tán thành Theo định nghĩa của tổ chức này thì: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành” Còn khái niệm về người thất nghiệp cũng có những quan
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
điểm và nhận thức khác nhau; tùy theo mục đích và hoàn cảnh của mỗi nước, chẳng hạn:
- Luật BHTN của Cộng hòa Liên bang Đức định nghĩa: “Người thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn” [15]
- Ở Thái Lan người ta cho rằng: “Người thất nghiệp là người lao động không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”
- Nhật Bản lại quan niệm: “Người thất nghiệp là người không có việc làm trong tuần lễ điều tra, có khả năng làm việc, đang tích cực tìm việc làm hoặc chờ kết quả xin việc làm”
Tổ chức Lao động Quốc tế thì cho rằng: “Người thất nghiệp là người lao động không có việc làm, không làm gì kể cả 1 giờ trong tuần lễ điều tra đang đi tìm việc làm và có điều kiện là họ làm ngay”
Như vậy, dù quan niệm thế nào đi chăng nữa thì một người lao động được coi là thất nghiệp phải thể hiện đầy đủ các đặc trưng sau:
+ Là người lao động, có khả năng lao động
+ Đang không có việc làm
+ Đang đi tìm việc làm
Người thất nghiệp có thể là công nhân trong các doanh nghiệp, có thể là học sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp đã tốt nghiệp ra trường hoặc là
bộ đội xuất ngũ Những người ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không lao động, không có nhu cầu việc làm thì không được coi là người thất nghiệp Chẳng hạn, những người đang
có việc làm nhưng tạm thời không làm việc vì một lý do nào đó như: nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ tạm thời vì tai nạn lao động, hoặc học sinh sinh viên còn đang theo học tại các trường, những người nội trợ,… không phải là những người thất nghiệp
Luật BHTN (năm 2006) của Việt Nam cũng quy định người thất nghiệplà:
"Người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm"
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Từ sự phân tích ở trên, ta có thể hiểu: thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành
b) Nguyên nhân của thất nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều nguyên nhân gây ra thất nghiệp và kèm theo là những tác động xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội và
sự ổn định của đất nước Dưới đây là một số nguyên nhân chính:
- Chu kỳ kinh doanh: có thể mở rộng hay thu hẹp do sự điều tiết của
thị trường Hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng mang tính chu kỳ Tính chất này ảnh hưởng tới việc làm phát sinh tình trạng thất nghiệp bởi sự
mở rộng hay thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ làm cung cầu trên thị trường lao động thay đổi Nếu các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, mở rộng sản xuất kinh doanh thì cầu lao động tăng, các doanh nghiệp thu hút thêm lao động Khi các doanh nghiệp bước vào giai đoạn làm ăn kém hiệu quả, phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, cầu lao động giảm xuống,theo đó xuất hiện tình trạng một số lao động bị dư thừa Cung cầu trên thị trường lao động thay đổi không có sự phù hợp giữa cung và cầu lao động, làm phát sinh hiện tượng thất nghiệp
- Sự thay đổi cơ cấu ngành nghề
Ở từng thời kỳ, sự phát triển kinh tế có thể dẫn tới thay đổi cơ cấu kinh
tế Theo đó, cơ cấu của một số ngành nghề thay đổi Những ngành nghề làm
ăn có hiệu quả hoặc cần phải được mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc xuất hiện ngành nghề mới sẽ tạo cơ hội thu hút thêm nhiều lao động Nhưng lại có những ngành nghề phải thu hẹp sản xuất, phải sa thải người lao động và một bộ phận người lao động bị thất nghiệp Trong trường hợp này, người lao động bị thất nghiệp muốn tham gia vào thị trường lao động trong những ngành nghề mới đòi hỏi họ phải được đào tạo lại để nâng cao trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của công việc mới Trong thời gian đó, họ trở thành những người thất nghiệp do cơ cấu
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự tự động hóa quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng, nên trong một chừng mực nhất định máy móc đã thay thế con người Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các nhà sản xuất luôn tìm cách mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, đưa những dây truyền tự động hóa vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh Một cỗ máy, một dây truyền sản xuất tự động có thể thay thế hàng chục, thậm chí hàng trăm công nhân Số công nhân bị máy móc thay thế lại tiếp tục được bổ sung vào đội ngũ thất nghiệp
- Sự gia tăng dân số và nguồn lao động, với quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế cũng có những mặt tác động tiêu cực đến thị trường lao động, làm một bộ phận người lao động bị thất nghiệp Nguyên nhân này chủ yếu diễn ra ở các nước đang phát triển Ở những nước này, dân số và nguồn lao động thường tăng nhanh, để hội nhập với nền kinh tế thế giới một cách nhanh chóng họ phải tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp Những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải giải thể hoặc phá sản, số doanh nghiệp còn lại phải nhanh chóng đầu tư theo chiều sâu, đổi mới thiết bị, công nghệ và sử dụng ít lao động dẫn đến dư thừa lao động
- Do các yếu tố ngoài thị trường
Sự thay đổi thể chế chính trị hay việc điều chỉnh chính sách vĩ mô của các nước, các giải pháp điều hành kinh tế của Chính phủ cũng có thể làm cho nhu cầu sử dụng lao động có sự thay đổi, theo đó, làm cho tình trạng thất nghiệp thay đổi Việc quy định mức tiền lương tối thiểu của Nhà nước hoặc yêu cầu tăng lương của công đoàn, nghiệp đoàn cao hơn mức tiền lương cân bằng hiện hành của thị trường, dẫn đến làm gia tăng thất nghiệp không tự nguyện
- Do người lao động không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm làm việc, họ phải đi tìm công việc mới, địa điểm mới
Những nguyên nhân trên đây làm cho tình hình thất nghiệp luôn tồn tại Thất nghiệp ở các nước chỉ khác nhau về mức độ, không có quốc gia nào tỷ lệ
thất nghiệp bằng 0
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.1.2 Phân loại thất nghiệp
Có nhiều hình thái thất nghiệp khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu
và việc lựa chọn tiêu thức phân loại
a) Căn cứ vào tính chất thất nghiệp, người ta phân ra các loại sau:
- Thất nghiệp tự nhiên loại này xảy ra do quy luật cung cầu của thị
trường sức lao động tác động Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ lạm phát Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên ở mỗi nước mỗi khác và có xu hướng tăng lên
- Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi mất cân đối giữa cung và cầu về các loại
lao động Cầu của loại lao động này tăng lên, loại lao động khác lại giảm xuống, cung điều chỉnh không kịp cầu Trong quá trình vận động của nền kinh
tế thị trường, sẽ có những ngành kinh tế phát triển thu hút nhiều lao động, nhưng cũng có ngành bị thu hẹp lại làm dư thừa lao động, loại thất nghiệp này thường thấy rõ nhất giữa 2 ngành nông nghiệp và công nghiệp Do ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp làm dư thừa lao động nông nghiệp, trong khi đó nhu cầu lao động trong công nghiệp lại tăng lên do thu hút được vốn đầu tư nước ngoài nhưng chưa kịp đào tạo và đào tạo lại nghề cho những lao động dư thừa để kịp thời bổ sung
- Thất nghiệp tạm thời phát sinh do sự di chuyển lao động giữa các vùng,
các miền, thuyên chuyển công tác giữa các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất Loại này khá phổ biến và diễn ra thường xuyên Thất nghiệp tạm thời còn được gọi là thất nghiệp bề mặt
- Thất nghiệp chu kỳ loại này xảy ra do mức cầu về lao động giảm xuống
Sau một chu kỳ kinh tế phát triển hưng thịnh, đến giai đoạn suy thoái, nền kinh tế lâm vào tình trạngkhủng hoảng, thất nghiệp và lạm phát gia tăng rất gay gắt Loại thất nghiệp này diễn ra theo chu kỳ và vì thế đã mang tính quy luật
- Thất nghiệp thời vụ phát sinh theo các chu kỳ sản xuất kinh doanh, loại
này xảy ra rất phổ biển trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Thất nghiệp công nghệ do sự áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ vào sản xuất ngày càng được tăng cường làm cho người lao động trong các dây chuyển sản xuất bị dôi ra, từ đó làm phát sinh thất nghiệp công nghệ Thất nghiệp công nghệ thể hiện rõ nhất từ những năm đầu của thập kỷ 60 trở lại đây
b)Căn cứ vào ý chí người lao động, có thể phân thành 2 loại thất nghiệp:
- Thất nghiệp tự nguyện là hiện tượng người lao động từ chối một công
việc nào đó do mức lương được trả không thỏa đáng hoặc do không phù hợp với trình độ chuyên môn, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc
- Thất nghiệp không tự nguyện là hiện tượng người lao động có khả năng
lao động, trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương được trả, nhưng người sử dụng lao động không chấp nhận hoặc không có người sử dụng nên trở thành thất nghiệp
c)Căn cứ vào mức độ thất nghiệp,có thể chia ra:
- Thất nghiệp toàn phần có nghĩa là người lao động hoàn toàn không có
việc làm hoặc thời gian làm việc thực tế mỗi tuần dưới 8 giờ và họ vẫn có nhu cầu làm thêm
-Thất nghiệp bán phần có nghĩa là người lao động vẫn có việc làm,
nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bình chỉ đạt 3 đến 4 giờ trong một ngày làm việc mà họ vẫn có nhu cầu làm thêm Mỗi loại thất nghiệp có những tác động đến nền kinh tế một cách khác nhau và Nhà nước quan tâm giải quyết theo các phương thức khác nhau
1.1.1.3 Hậu quả của thất nghiệp
Thất nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và gia đình
họ, tác động mạnh mẽ đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia
a) Đối với bản thân người lao động và gia đình họ:
Thất nghiệp có thể gây ra những hậu quả rất trầm trọng Bởi vì khi bị mất việc làm thường đồng nghĩa với việc mất đi nguồn thu nhập chủ yếu và
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đương nhiên khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng Thất nghiệp gắn liền với sự mất mát thu nhập và dễ dẫn tới bi kịch Hậu quả là họ từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới mức sống tiêu chuẩn chung của xã hội, sau đó nếu không có sự trợ giúp nào khác thì phải vay nợ và nếu kéo dài
sẽ dẫn đến nợ nần chồng chất Sự tác động vào thu nhập cho gia đình phụ thuộc vào tiền thất nghiệp của bản thân họ nhận được cũng như thu nhập của những thành viên khác trong gia đình còn việc làm
Thậm chí hậu quả của nạn thất nghiệp còn không tự động xóa bỏ những rào cản đối với những người có việc làm trở lại, hòa nhập với đời sống xã hội chung Điều này diễn ra đối với những người lao động, đặc biệt đối với người sau khi thất nghiệp, phải xác lập một quan hệ lao động mới, thường đi liền với điều kiện làm việc và điều kiện về tài chính kém hơn việc làm trước đó Nạn thất nghiệp cũng không chỉ là hậu quả về tài chính mà còn là hậu quả về khả năng nghề nghiệp Khi thất nghiệp kéo dài, hậu quả là
họ bị mất đi khả năng nâng cao trình độ nghề nghiệp Điều đó sẽ đe dọa không chỉ về phía họ, họ sẵn sàng bị thất nghiệp, mà còn ngăn cản việc học nghề hay chuyển vào một nghề khác
b) Đối với nền kinh tế:
Thất nghiệp là một sự lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển, làm khả năng sản xuất thực tế kém hơn tiềm năng, nghĩa là tổng thu nhập quốc gia (GNI) thực tế thấp hơn tổng thu nhập quốc gia tiềm năng Nếu tình trạng thất nghiệp gia tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của lạm phát, từ đó làm cho nền kinh
tế bị suy thoái; khả năng phục hồi chậm Đối với người thất nghiệp, thu nhập
bị mất đi dẫn đến đời sống khó khăn,…
+ Đối với xã hội: thất nghiệp đã làm cho người lao động hoang mang, buồn chán và thất vọng, tinh thần luôn bị căng thẳng và dẫn tới khủng hoảng lòng tin Về khía cạnh xã hội, thất nghiệp là một trong những nguyên nhân
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
gây nên những hiện tượng tiêu cực, đẩy người thất nghiệp đến chỗ bất chấp
kỷ cương, luật pháp và đạo đức để tìm kế sinh nhai như: trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, tiêm chích ma túy,…
Thất nghiệp gia tăng còn làm cho tình hình chính trị và xã hội bất ổn, hiện tượng bãi công, biểu tình có thể xảy ra Người lao động giảm niềm tin và chế độ, vào khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền Tỷ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu đánh giá uy tín của nhà cầm quyền
1.1.2 Bảo hiểm thất nghiệp
1.1.2.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thất nghiệp
BHTN xuất hiện lần đầu tiên ở Châu Âu, trong một nghề khá phổ biến
và phát triển: nghề sản xuất các mặt hàng thủy tinh ở Thụy Sĩ Nghề này rất cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20 đến
30 công nhân Để giữ được những công nhân có tay nghề cao gắn bó với mình, năm 1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sĩ đã lập ra quỹ doanh nghiệp
để trợ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sản xuất Sau
đó, nhiều nghiệp đoàn ở châu Âu cũng đã lập ra quỹ công đoàn để trợ cấp cho đoàn viên trong những trường hợp phải nghỉ việc, mất việc Tiền trợ cấp được tính vào giá thành sản phẩm và người sử dụng hàng hóa phải gánh chịu Khi thấy rõ vai trò và tác dụng của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với công nhân, nhiều chính quyền địa phương đã tổ chức liên kết các doanh nghiệp, các nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, thực chất đó là quỹ BHTN Quỹ BHTN tự nguyện đầu tiên ra đời tại Bécnow (Thụy Sĩ) vào năm 1893 Tham gia đóng góp cho quỹ lúc này không chỉ có giới chủ mà có cả những người lao động có công việc làm không ổn định Để tăng mức trợ cấp thất nghiệp đòi hỏi quy mô của quỹ phải lớn, cho nên đã có sự tham gia đóng góp của cả chính quyền địa phương và trung ương
Hệ thống pháp luật đầu tiên về BHTN được hình thành ở Na Uy và Đan Mạch trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20 Hệ thống pháp luật này đã hình
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thành các quỹ BHTN dựa trên nguyên tắc tham gia tự nguyện và có sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước Những hệ thống pháp luật tương tự đã được áp dụng
ở các quốc gia châu Âu khác trong và sau Thế chiến thứ nhất
Anh là nước đầu tiên thực hiện BHTN dựa trên nguyên tắc bắt buộc (được Quốc hội Anh thông qua năm 1911) Italy là quốc gia thứ hai trên thế giới áp dụng hệ thống bắt buộc vào năm 1919 Trong những năm 1920, một loạt các quốc gia ở Châu Âu đã ban hành pháp luật quốc gia về BHTN bắt buộc Canada và Hoa Kỳ đã làm như vậy vào những năm 1930
Trợ cấp bằng tiền mặt dưới hình thức trợ giúp thất nghiệp được chi trả cho người thất nghiệp mà các nguồn thu nhập không vượt quá giới hạn quy định lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1921 ở Luxembourg Năm 1938, New Zeala áp dụng một chương trình BHTN toàn diện và trợ giúp thất nghiệp được thực hiện trên cơ sở thẩm tra thu nhập của cá nhân Australia đã xây dựng một hệ thống tương tự vào năm 1944
Từ đó đến nay, BHTN bắt buộc đã được triển khai rộng đến các quốc gia khác Trợ cấp BHTN được chi trả cho những cá nhân bị thất nghiệp không
do lỗi của họ và vì thế bị mất nguồn thu nhập mà họ và gia đình của họ phụ thuộc vào Khi bị thất nghiệp "không tự nguyện" (nghĩa là những cá nhân không tự gây ra lý do để bị sa thải), người lao động sẽ được nhận trợ cấp BHTN, thông thường chỉ được nhận trong một khoảng thời gian tương đối ngắn Tuy nhiên, hạn chế thời gian chi trả trợ cấp BHTN không phải là vấn
đề đơn giản Nếu không có một sự kiểm soát chặt chẽ đối với những người
đề nghị hưởng trợ cấp BHTN, các cơ quan quản lý BHTN sẽ phải chi trả trợ cấp thất nghiệp trong một thời gian không có giới hạn Điều này cũng có thể gắn với nguy cơ của việc giảm hoặc thậm chí triệt tiêu động cơ tìm kiếm việc làm mới
Hiện nay có ba loại hình BHTN chủ yếu trên thế giới:
- BHTN bắt buộc trong đó những nhóm người lao động nhất định bắt buộc phải tham gia;
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- BHTN tự nguyện có sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước, sự tham gia là
tự nguyện (chỉ trừ trường hợp các thành viên công đoàn được yêu cầu đóng góp cho các quỹ của công đoàn);
- Trợ giúp thất nghiệp các quỹ công được hình thành dành cho những người bị mất việc khi đáp ứng được các điều kiện về thẩm tra thu nhập hoặc tài sản
1.1.2.2 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị mất thu nhập do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động [16]
BHTN là bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thị trường lao động
Như vậy, mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để
có những cơ hội mới về việc làm Vì thế, một số nhà kinh tế học cho rằng BHTN là hạt nhân của thị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế xã hội của quốc gia Chính sách này trước hết vì lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động sau nữa là vì lợi ích xã hội
BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người, song nó có một số đặc điểm khác như: không có hợp đồng trước, người tham gia và hưởng thụ quyền lợi là một, không có việc chuyển rủi ro của những người bị thất nghiệp sang những người khác có khả năng thất nghiệp BHTN không có dự báo chính xác về số lượng và phạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lơn, đặc biệt là trong những thời kỳ nền kinh tế bị khủng hoảng
Ở đây có một số điểm cần nhấn mạnh
- Mức hỗ trợ thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của người lao động trước khi bị thất nghiệp
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Người lao động tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường lao động
Như vậy, bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định
Nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không
vì mục đích lợi nhuận Quỹ này được dùng để trợ cấp cho người lao động bị thất nghiệp, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình
1.2 Chính sách bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp ra đời mang tính tất yếu khách quan, gắn liền với nền kinh tế thị trường, khi sức lao động được coi là một loại hàng hóa đặc biệt Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHTN chỉ tồn tại và phát huy vai trò khi có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước Nhà nước với tư cách là chủ thể quản
lý phải sử dụng các công cụ quản lý nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược phát triển của đất nước, trong đó có chính sách BHTN
Chính sách BHTN là sự tác động của Nhà nước tới các đối tượng tham gia BHTN thông qua các biện pháp, công cụ chính sách nhằm mục tiêu an sinh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế [15]
Có thể nhận thấy, chính sách BHTN là một chính sách công Do vậy, chủ thể chính sách là Nhà nước
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đối tượng của chính sách là những người lao động tham gia đóng BHTN và chủ sử dụng lao động Chỉ những người lao động tham gia đóng BHTN bị thất nghiệp mới được hưởng lợi từ chính sách BHTN Chủ sử dụng lao động được coi là đối tượng của chính sách BHTN khi họ phải tuân thủ những quy định của Nhà nước về nghĩa vụ đóng góp tài chính hỗ trợ cho người lao động trong trường hợp bị thất nghiệp
Các biện pháp, công cụ chính sách được Nhà nước sử dụng bao gồm các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của những người tham gia BHTN, chủ sử dụng lao động, quy định về nguồn tài chính, chế độ BHTN,
1.2.1.2 Mục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp
a) An sinh xã hội:
Thất nghiệp là vấn đề nan giải đối với bất kỳ nước nào Thất nghiệp gia tăng làm cho các tệ nạn xã hội phát triển, người lao động lâm vào tình cảnh túng quẫn và trở nên nghèo đói Để giải quyết vần đề thất nghiệp và đảm bảo
an sinh xã hội thì cần phải có nhiều chính sách, trong đó có chính sách BHTN Chính sách BHTN không chỉ đảm bảo cho người lao động mất việc làm, có một khoản thu nhập, giúp họ và gia đình họ ổn định cuộc sống trong một thời gian nhất định mà mục tiêu chính của chính sách BHTN là giúp người lao động sớm quay trở lại thị trường lao động tìm việc làm và trong quá trình tìm việc làm người lao động còn được chăm sóc y tế miễn phí
b) Ổn định và phát triển kinh tế:
Thất nghiệp gia tăng làm cho tình hình chính trị - xã hội bất ổn, lãng phí nguồn lực xã hội và là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển Chính sách BHTN giúp người thất nghiệp sớm quay trở lại làm việc, theo đó, nguồn lực lao động của đất nước không bị láng phí Việc có nhiều người thất nghiệp tìm được việc làm không chỉ giúp họ tăng thu nhập, ổn định cuộc sống mà còn thúc đẩy kinh
tế phát triển
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.2 Vai trò, nguyên tắc của chính sách bảo hiểm thất nghiệp
1.2.2.1 Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp
a) Chính sách BHTN có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người lao động khi họ bị mất việc làm
Chính sách BHTN hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp, giúp họ và gia đình họ có thể tránh rơi vào tình trạng cùng cực, nghèo khổ, giúp người lao động có cuộc sống ổn định trong thời gian bị thất nghiệp
và để tìm việc làm mới
Chính sách BHTN hỗ trợ họ tìm kiếm việc làm và cơ hội có việc làm thông qua việc tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để giúp họ có điều kiện sớm quay trở lại thị trường lao động Ngoài ra, người lao động bị thất nghiệp còn được hưởng nhiều quyền lợi khác từ chính sách BHTN như được đóng bảo hiểm y tế trong thời gian bị thất nghiệp
b)Chính sách BHTN của Chính phủ hỗ trợ người sử dụng lao động trong việc giải quyết vấn đề thất nghiệp của người lao động
Chính sách BHTN của Chính phủ hỗ trợ tài chính cho người lao động
bị thất nghiệp, điều đó gián tiếp hỗ trợ cho người sử dụng lao động, giảm áp lực cho họ trong vấn đề hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp Mặt khác, chính sách cung cấp thông tin, tư vấn đào tạo cho người lao động bị thất nghiệp tìm việc làm, giúp cho người sử dụng lao động, những người có nhu cầu lao động
và những người thất nghiệp, đang có nhu cầu tìm việc làm, có nhiều cơ hội gặp nhau hơn Theo đó, người sử dụng lao động được đáp ứng nhu cầu lao động phù hợp hơn
c) Chính sách BHTN góp phần vào sự ổn định, phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng mất thu nhập đột ngột và đương nhiên khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo túng, người thất nghiệp sống dưới mức tiêu chuẩn chung của xã hội Điều đó có thể phát sinh
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
các tệ nạn xã hội, gây bất ổn cho xã hội Chính sách BHTN ra đời nhằm góp phần giảm thiểu tình trang thất nghiệp, giúp người thất nghiệp và gia đình họ
có cuộc sống ổn định trong thời gian bị thất nghiệp, góp phần ổn định cho xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển
Mục tiêu chính của BHTN là giúp người thất nghiệp sớm quay trở lại thị trưởng lao động thông qua việc hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, đạo tạo nghề, làm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp Thất nghiệp giảm, có nghĩa là nhiều người lao động tìm được việc làm Nguồn nhân lực không bị lãng phí
và được sử dụng vào các hoạt động tạo ra của cải cho xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển
1.2.2.2 Một số nguyên tắc cơ bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Chính sách BHTN của các nước được xây dựng và thực thi dựa trên những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chính sách BHTN dựa trên nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro
BHTN là "hạt nhân" của chính sách thị trường lao động, nằm trong hệ thống chính sách kinh tế-xã hội, góp phần đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ lao động Do vậy, BHTN dựa trên sự tương trợ giữa các cá nhân trong xã hội, theo đó số đông bù số ít Nếu nguyên tắc này không được đảm bảo thì các khoản trợ cấp thất nghiệp sẽ chỉ đơn thuần là một khoản "tiền tiết kiệm trả muộn" và ý nghĩa xã hội của BHTN sẽ mất đi
Chính vì vậy, việc tham gia vào BHTN phải là bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao động Những chủ thể này đều có trách nhiệm tham gia BHTN và đây được coi là một nội dung trong hợp đồng lao động Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý và hỗ trợ khi cần thiết
Thứ hai, chế độ BHTN được xây dựng trên cơ sở quan hệ hữu cơ giữa
đóng góp và thụ hưởng
Trong cơ chế thị trường, đối với các hoạt động kinh doanh, Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý nên khi xây dựng chính sách BHTN cần có tỷ
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lệ tương xứng giữa đóng góp với thụ hưởng của người lao động, hạn chế tới mức thấp nhất sự bù đắp của Nhà nước đối với quỹ BHTN
Một trong các vai trò quan trọng của BHTN là hỗ trợ cuộc sống cho người lao động khi bị mất thu nhập do thất nghiệp gây nên Do đó, tỷ lệ hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN hàng tháng được quy định trên nguyên tắc đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động và được cân đối với mức đóng góp BHTN trước đó của người lao động Khi xác định mức hưởng trợ cấp BHTN một mặt căn cứ vào khả năng chi trả của quỹ BHTN, mặt khác còn đảm bảo khuyến khích người lao động chủ động tìm kiếm việc làm nhằm thoát khỏi tình trạng thất nghiệp
Thứ ba,Quỹ BHTN được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và
hạch toán độc lập
Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia là: người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước nên hoạt động của quỹ phải dựa trên nguyên tắc quản lý thống nhất, dân chủ, công khai và hạch toán độc lập Quỹ BHTN do một cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương theo chế độ tài chính của Nhà nước Quỹ được sử dụng vào các mục đích như: Chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động; Chi cho các hoạt động tìm việc làm cho người thất nghiệp; Chi cho công tác đào tạo, đào tạo lại, học nghề cho người thất nghiệp; Chi phí cho hoạt động của bộ máy quản lý BHTN…
Do vậy, quỹ BHTN là một quỹ tài chính độc lập, tự thu, tự chi Sau khi thành lập, quỹ này độc lập với ngân sách Nhà nước để chủ động giải quyết vấn đề thất nghiệp Quỹ này không được sử dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác
Thứ tư, Nhà nước thống nhất quản lý chính sách BHTN Nhà nước
thống nhất quản lý BHTN thể hiện trước hết ở việc Nhà nước trực tiếp ban hành pháp luật về BHTN, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện chế độ này Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ mà Nhà
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nước xây dựng chương trình quốc gia về BHTN, các qui định pháp luật về như thu hẹp hay mở rộng đối tượng, điều kiện hưởng và mức hưởng…
Thứ năm, chính sáchBHTN đảm bảo nguyên tắc lành mạnh hóa thị
trường lao động
Để giải quyết thất nghiệp đòi hỏi phải có một chính sách tổng thể, được thiết kế để kích thích nền kinh tế Xu hướng chung của các nước hiện nay là, ngoài trợ cấp cho người lao động, khi thất nghiệp, có điều kiện sinh sống, người ta còn thực hiện thêm biện pháp đào tạo lại người lao động để họ có điều kiện dễ tìm việc làm mới Vì vậy, BHTN được liên kết chặt chẽ với các biện pháp thị trường lao động tích cực như tạo ra chỗ làm việc mới, bảo vệ chỗ làm việc, nâng cao năng lực cho người lao động, tìm việc làm cho người thất nghiệp Các biện pháp này luôn gắn liền với chính sách và chương trình việc làm quốc gia BHTN thường được thống nhất với chương trình việc làm quốc gia Đây như một biện pháp, chính sách hỗ trợ lao động nhằm đẩy lùi thất nghiệp, nhanh chóng đưa người thất nghiệp trở lại làm việc
1.2.3 Nội dung chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt nam hiện nay
1.2.3.1 Đối tượng tham gia, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp
Xác định đối tượng áp dụng BHTN (những người cần được bảo vệ) là một trong những vấn đề có tính nguyên tắc được đặt ra khi xây dựng nội dung của BHTN Để xác định ranh giới của sự bảo vệ xã hội chống thất nghiệp, người
ta xem xét các yếu tố: Nhu cầu bảo vệ, sự quan tâm về mặt tài chính và quản lý
Nhìn chung, đa số các nước quy định chỉ những người làm công ăn lương (làm công cho chủ) mới được tham gia BHTN Còn những người lao động độc lập thì không thuộc đối tượng tham gia BHTN Quy định này được thể hiện tại Điều 2, Công ước số 44 của ILO Tuy nhiên, tùy hoàn cảnh mỗi nước có thể đặt thêm các trường hợp ngoại lệ đối với một số đối tượng thuộc các dạng sau: Các gia nhân (những người giúp việc nhà); người lao động làm việc tại nhà; công chức nhà nước có việc làm ổn định; người lao động có thu
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhập cao có thể tự mình phòng chống rủi ro thất nghiệp; những người lao động làm việc theo mùa vụ;những người lao động trẻ, sát cận tuổi lao động theo quy định;những lao động đã vượt quá tuổi quy định, nghỉ hưu, đang được hưởng trợ cấp hưu trí; người lao động làm việc tùy dịp hoặc phụ trợ; thành viên trong gia đình của chủ nhân;
Ở Việt nam, đối tượng được nhận BHTN là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng - 36 tháng với người sử dụng LĐ có từ 10 LĐ trở lên Cụ thể như sau:
Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi có:
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng;
- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
- Hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng;
- Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, kể cả những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn
vị sự nghiệp nhà nước
Quỹ BHTN thường được hình thành từ 3 nguồn đóng góp là người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Đối với những người lao động độc lập (không có chủ sử dụng lao động) thì chỉ có hai nguồn: Người lao động
và Nhà nước
Ở các nước trên thế giới, đóng góp BHTN do Nhà nước và giới chủ gánh chịu, bởi vì ở một mức độ nào đó, trong sự ràng buộc về quan hệ hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm về các rủi ro (trong đó
có rủi ro thất nghiệp) xảy ra cho người lao động mà họ đang sử dụng
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sự tham gia của Nhà nước là điều kiện không thể thiếu, bởi vì thất nghiệp là một vấn đề xã hội Do vậy, với các quốc gia chưa thực hiện BHTN thì Nhà nước thực hiện chính sách trợ giúp xã hội về thất nghiệp (cứu trợ cho người thất nghiệp) Còn với những quốc gia thực hiện BHTN thì hoặc là Nhà nước đóng góp thường xuyên cho quỹ BHTN bằng cách trích một phần tiền thuế theo một tỷ lệ cố định tính trên khoản đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động; hoặc Nhà nước chỉ tham gia với tư cách bảo trợ cho quỹ khi phần đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động không
đủ đáp ứng các chi phí hoặc dự trữ của quỹ bị ảnh hưởng do các biến động về tiền tệ khi Nhà nước thay đổi các chính sách kinh tế - xã hội
Phần đóng góp của người lao động là để cho họ ý thức được ý nghĩa của việc dự phòng cá nhân Ngoài ra, chính người lao động là người hưởng trợ cấp nên họ phải tham gia đóng góp
Tại Việt nam, quỹ BHTN được hình thành từ 3% tiền lương, tiền công tháng của NLĐ Trong đó, NLĐ đóng 1%, người sử dụng LĐ đóng 1% và Nhà nước lấy từ ngân sách hỗ trợ 1% Ngoài ra có tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ và các nguồn thu hợp pháp khác
1.2.3.2 Chế độ bảo hiểm thất nghiệp
Chế độ bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội
sô 71/2006/QH11; Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính Phủ , Nghị định số 100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP, Thông tư số 32/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP; Thông tư 04/2013/TT-BLĐTBXH ngày 01/03/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
a) Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền hằng tháng được trả cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi bị thất nghiệp có đủ điều kiện hưởng
bảo hiểm thất nghiệp
Điều kiện để được hưởng BHTN là phải đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; có đăng ký với cơ quan lao động khi bị mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định
b) Mức trợ cấp:
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi NLĐ thất nghiệp
Theo Khuyến cáo số 44 của ILO, thời gian trả trợ cấp dài hay ngắn là tùy thuộc vào khả năng tài chính của quỹ BHTN Thời gian này càng dài càng tốt nếu quỹ còn đủ khả năng chi trả và người lao động còn có yêu cầu giúp đỡ (khi nào còn ở trong tình trạng thất nghiệp thì người lao động còn cần được nhận trợ cấp BHTN) Tại Việt nam, thời gian hưởng thất nghiệp sẽ
là 3 tháng nếu có từ đủ 12 tháng - trợ cấp dưới 36 thángđóng BHTN; 6 tháng nếu có từ đủ 36 tháng - dưới 72 tháng đóng BHTN; 9 tháng nếu có từ đủ 72 tháng - dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng nếu có từ đủ 144 tháng đóng BHTN trở lên
Ngoài ra, người lao động còn được hưởng các quyền lợi khác:
- Được hỗ trợ chi phí học nghề thời gian tối đa không quá 6 tháng.Việc
tổ chức thực hiện hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua các cơ sở dạy nghề.Mức hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí Việc tổ chức thực hiện hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí cho người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm Thời gian được hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm tính từ ngày người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng và không quá tổng thời gian mà người lao động đó được hưởng trợ cấp
- Được hưởng chế độ BHYT trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp
Tổ chức BHTN đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp
Trong khi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, người lao động
sẽ bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu: Không thông báo hằng tháng theo đúng quy định với Trung tâm giới thiệu việc làm về việc tìm kiếm việc làm; Bị tạm giam
Các trường hợp trên đây được tiếp tục hưởng lại trợ cấp thất nghiệp hằng tháng nếu vẫn còn trong khoảng thời gian hưởng và tiếp tục thực hiện thông báo hằng tháng theo quy định hoặc hết thời gian bị tạm giam Thời gian
bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp như trên sẽ không được truy lĩnh hưởng trợ cấp thất nghiệp
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thuộc một trong các trường hợp sau: Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp; Có việc làm; Thực hiện nghĩa vụ quân sự; Hưởng lương hưu; Sau hai lần từ chối nhận việc làm do trung tâm giới thiệu việc làm giới thiệu mà không có lý do chính đáng; Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, ba tháng liên tục không thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm với Trung tâm giới thiệu việc làm; Ra nước ngoài để định cư; Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo; Bị chết
Các trường hợp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do có việc làm hoặc do thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ được hưởng khoản trợ cấp một lần
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bằng giá trị của tổng mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của số thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp còn lại
1.3 Hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
1.3.1 Quan điểm về hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp là việc tổ chức thực hiện các chính sách bảo hiểm thất nghiệp đúng luật định, nhằm đảm bảo được mục tiêu an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
- Số thu bảo hiểm thất nghiệp
Số thu bảo hiểm thất nghiệp là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền bảo hiểm thất nghiệp của địa phương thu được trong một thời kỳ nhất định
Số thu bảo hiểm thất nghiệp là chỉ tiêu quan trọng phản ảnh hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp Số thu bảo hiểm thất nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Số lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Nếu số lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng, số thu bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn sẽ tăng và ngược lại Nếu chính sách bảo hiểm thất nghiệp có hiệu quả tốt thì số lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ gia tăng Điều này, tác động làm gia tăng số thu BHTN trên địa bàn
+ Tỷ lệ tăng trưởng thu BHTN trên địa bàn
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh tốc độ biến động số thu bảo hiểm thất nghiệp của địa phương qua các thời kỳ khác nhau Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ lệ tăng trưởng thu
Số thu bảo hiểm thất nghiệp kỳ này
Số thu bảo hiểm thất nghiệp kỳ trước
- Số lượng đơn vị, lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh phạm vi tham gia bảo hiểm thất nghiệp của địa phương trong một thời kỳ nhất định
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tỷ lệ lao động, doanh nghiệp, tổ chức tham gia BHTN:
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ lệ lao động hoặc doanh nghiệp trên địa bàn tham gia bảo hiểm thất nghiệp so với tổng số lao động hay tổng
số doanh nghiệp trên địa bàn
Trên thực tế, nếu chính sách bảo hiểm thất nghiệp có hiệu quả cao sẽ hạn chế được tình trạng trốn, nợ đọng phí bảo hiểm thất nghiệp của các doanh nghiệp trên địa bàn
- Số lượng lao động được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp
Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh số lượng lao động được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp của từng địa phương trong một thời kỳ nhất định
- Số chi trả trợ cấp BHTN
Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh số tiền mà BHTN chi trả cho các các chế độ trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp của từng địa phương trong một thời kỳ nhất định
- Cơ cấu chi trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng của các khoản trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tính trong một thời kỳ
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
- Chính sách tiền lương:
Giữa chính sách tiền lương và chính sách BHTN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chính sách tiền lương làm tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHTN Khi Nhà nước điều chỉnh lương tối thiểu chung, điều đó cũng đồng nghĩa với việc nâng mức đóng BHTN và đương nhiên số thu BHTN cũng tăng lên
- Chính sách lao động và việc làm của Nhà nước
Chính sách lao động, việc làm có ảnh hưởng lớn đến khu vực kinh tế ngoài nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp đến việc tham gia đóng BHTN của người lao động và người sử dụng lao động, vì:
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Khi Nhà nước chú trọng đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động trên các phương diện về chuyên môn, kỹ năng hành nghề, kỹ năng ứng xử, giao tiếp, tác phong làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động và pháp luật điều đó sẽ giúp cho thị trường lao động có nguồn lao động chất lượng cao, các doanh nghiệp sẽ đỡ được một phần chi phí trong công tác đào tạo Lực lượng lao động này sẽ có cơ hội tìm được việc làm ổn định và thu nhập cao(chất lượng lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với thu nhập) tác động trực tiếp làm tăng số lao động tham gia BHTN và do đó làm tăng mức đóng BHTN
+ Việc ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn trong toàn xã hội để giải quyết việc làm sẽ làm chuyển dịch cơ cấu lao động, số người làm công ăn lương sẽ tăng lên cũng là lý do làm tăng tỷ trọng lao động
xã hội tham gia BHTN
+ Việc phát triển thị trường lao động, hình thành hệ thống thông tin thị trường việc làm là yếu tố quan trọng giúp cho người lao động dễ dàng tìm việc phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của mình; đồng thời có quyền lựa chọn những đơn vị thực hiện đầy đủ quyền lợi của người lao động
và thu nhập cao; chủ sử dụng lao động cũng thuận tiện hơn trong việc tuyển dụng lao động, tiết kiệm thời gian và chi phí
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người
Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu
tư của Nhà nước, vì thế nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chắc chắn đời sống của người lao động dần được cải thiện; việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp được thuận lợi, vì thế các chủ doanh nghiệp cũng sẵn sàng tham gia BHTN cho người lao động, từ đó làm giảm tình trạng trốn tránh tham gia BHTN Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững phản ánh nhiều người lao động có thu nhập cao thông qua quá trình lao động, đây là điều kiện tiền đề để người lao động có cơ hội tham gia BHTN Thêm nữa, khi đời sống kinh tế cao
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thì nhận thức của người lao động cũng được nâng lên, ngoài việc ý thức đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình, họ mong muốn có khoản trợ giúp khi không may gặp các rủi ro thất nghiệp
- Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của người lao động và người sử dụng lao động; sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền
BHTN là một cơ chế phức tạp với nhiều mối quan hệ đa dạng, trong đó nổi bật là quan hệ lợi ích, tức là quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHTN Dù là người lao động hay là người sử dụng lao động thì tâm lý chung
là làm sao lợi ích càng nhiều càng tốt, lợi ích không giới hạn và trách nhiệm càng ít càng tốt, trách nhiệm có hạn Quyền và nghĩa vụ trong BHTN rõ nhất
là vấn đề đóng và hưởng BHTN Người lao động và người sử dụng lao động luôn mong muốn chỉ phải đóng góp BHTN ở mức thấp nhất (giảm chi phí cho gia đình và doanh nghiệp), nhưng lại muốn được hưởng BHTN tốt nhất Vì thế, người tham gia BHTN mới tìm cách trì hoãn việc đóng BHTN hoặc giảm mức đóng góp BHTN (khai lương thấp, giảm số lao động thuộc diện phải tham gia BHTN, chậm đóng, nợ BHTN) Vấn đề đặt ra là Nhà nước phải làm thế nào để giảm thiểu những sự lạm dụng và vi phạm pháp luật về BHTN
Nhiều khi, từ chỗ nhận thức giản đơn về việc tham gia BHTN, tức là không tham gia, hoặc chưa tham gia hay tham gia ở mức độ nhất định vẫn không ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp, nên người sử dụng lao động không có kế hoạch tài chính chủ động thực hiện việc đăng ký tham gia BHTN; ngay chính bản thân người lao động cũng chưa có thói quen sống
vì bảo hiểm Chủ doanh nghiệp chỉ thấy lợi trước mắt, lợi cục bộ cho doanh nghiệp, thiếu quan tâm đến đời sống và quyền lợi BHTN của người lao động nên tìm mọi cách trốn tránh đăng ký tham gia BHTN cho người lao động hoặc đăng ký tham gia theo kiểu đối phó khi có thanh tra, kiểm tra Tình trạng chủ doanh nghiệp ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng với người lao động và hợp đồng vụ việc, nhằm lách luật về BHTN Đây là nhận thức lạc hậu, thói quen thời bao cấp không còn phù hợp trong điều kiện mới
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Trình độ quản lý tài chính: Quản lý tài chính trong BHTN là đảm bảo nguyên tắc cân bằng thu - chi Các quy định mức hưởng và mức đóng cần có
sự công bằng để tránh gây mất cân đối cho quỹ BHTN Cơ cấu các khoản chi BHTN cũng cần hợp lý nhằm tránh gây lạm chi, mất cân đối quỹ Cơ chế quản lý thu cũng cần phải rõ ràng, có các chế tài pháp lý xử phạt các trường hợp trốn tránh hoặc trì hoãn đóng BHTN
- Chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan quản lý BHTN Yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định tới hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào Do đó, nếu chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan quản lý BHTN cao, được bố trí một cách khoa học, hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả thu BHTN, hạn chế tình trạng trốn, nợ BHTN Đồng thời tạo cơ sở giảm chi phí quản lý, tránh lạm chi, lãng phí quỹ BHTN Các cán bộ BHTN cần phải có những hiểu biết
về các chính sách BHTN để thu đúng thu đủ Cần cập nhập các chính sách bảo hiểm xã hội, và các chính sách liên quan để kịp thời điều chỉnh mức đóng cho người lao động
- Công tác thông tin tuyên truyền về chế độ, chính sách BHTN
Thông tin tuyền truyền là nội dung quan trọng trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào Với BHTN, là chính sách tác động đến một lượng người tham gia rộng khắp, công tác thông tin tuyên truyền chính là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý đối tượng tham gia Cụ thể, công tác thông tin tuyên truyền giúp cho đối tượng tham gia hiểu rõ về chế độ, chính sách BHTN theo quy định của luật pháp, làm thay đổi thái độ đối với công tác BHTN theo hướng tích cực, phù hợp với pháp luật Ngoài ra, tuyên truyền BHTN còn có tác dụng cổ vũ động viên người lao động cùng các đơn vị SDLĐ tự giác, tích cực thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHTN theo đúng quy định của pháp luật, đấu tranh loại bỏ những hành vi gian lận, trái pháp luật nhằm mục đích trục lợi Bảo hiểm Ý thức tham gia của các đối tượng kém xuất phát từ sự ít hiểu biết về lợi ích của chính sách
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
BHTN Bởi vậy, tuyên truyền giúp cho các đối tượng hiểu được lợi ích từ chính sách này sẽ khuyến khích các đối tượng tham gia nhiều hơn, chấp hành đúng các thủ tục hơn trong quy trình tham gia, giúp việc quản lý đối tượng tham gia được thực hiện tốt hơn
- Công tác tổ chức thực hiện BHTN
Tổ chức BHTN là sự tập hợp các cấu trúc của các bộ phận cấu thành và các hoạt động điều phối một cách có ý thức nhằm thực hiện mục tiêu của chính sách BHTN
Là một tổ chức, trước hết tổ chức BHTN phải đảm bảo những đặc tính chung của tổ chức, đồng thời phải thể hiện những đặc tính riêng về lĩnh vực hoạt động của mình và phải đảm bảo các yêu cầu: tính mục tiêu và hiệu quả, tính đồng nhất và đặc thù, tính phù hợp
Do quản lý đối tượng tham gia BHTN là phải quản lý một lượng lớn giấy tờ sổ sách, có sự tham gia của nhiều phòng ban nên cơ cấu tổ chức có sự phân công, phân cấp hợp lý, hoạt động nhịp nhàng thống nhất sẽ tác động trực tiếp đến quá trình quản lý đối tượng tham gia BHTN Thông thường, việc quản lý đối tượng tham gia ở cấp huyện thường do bộ phận Tiếp nhận quản lý
hồ sơ, bộ phận thu và bộ phận cấp sổ thẻ đảm nhiệm
Quá trình quản lý đối tượng tham gia, nhất là ở những khu vực đông dân cư, nhiều người tham gia, đòi hỏi các cán bộ phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn với nhiều loại hồ sơ, giấy tờ, sổ sách BHTN lại là ngành phải thường xuyên tiếp xúc cơ sở, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao để
có thể giải thích, hướng dẫn chính sách cho các đối tượng trong quá trình tham gia Do vậy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như lòng nhiệt huyết với nghề của các cán bộ là hết sức cần thiết, cần được trau dồinâng cao thường xuyên Thưởng phạt nghiêm minh cũng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy các cán bộ bảo hiểm thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý đối tượng tham gia của mình, nhất là với một lĩnh vực còn mang nặng tính hành chính như BHTN