Bên cạnh đó giáo viên đặc biệt chú ý đến tâm sinh lí của học sinh cũng như khả năng tiếp thu kiến thức của các em.. Do vậy giáo viên phải làm sao ngay từ những ngày đầu cắp sách đến trườ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU.
Ở bậc Tiểu học môn Tiếng Việt có vị trí đặc biệt quan trọng Để học tốt môn Tiếng Việt nói chung và phân môn học vần nói riêng, học sinh có cơ sở để tiếp thu và diễn đạt tốt các môn học khác Nắm vững được kiến thức Tiếng Việt và rèn luyện thành thạo các kỹ năng đọc, nghe, nói, viết các em sẽ suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình
Cũng như các môn học khác, muốn học tốt phân môn học vần lớp
1 Trước hết mọi học sinh phải có lòng say mê, hứng thú học tập Bên cạnh đó giáo viên đặc biệt chú ý đến tâm sinh lí của học sinh cũng như khả năng tiếp thu kiến thức của các em Do vậy giáo viên phải làm sao ngay từ những ngày đầu cắp sách đến trường các em phải nhận biết sơ giản nhất những kiến thức cơ bản chữ cái ghi âm; tiếp theo đọc, viết được các chữ cái ghi âm đó, tiến đến các em ghép và đọc được vần, tiếng, từ ngữ và câu ứng dụng
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy, mỗi học sinh có trình độ nhận thức không giống nhau dẫn đến việc tiếp thu kiến thức không đồng đều Đối với bất kì một lớp học nào thì việc có nhiều đối tượng học sinh như: giỏi, khá, trung bình, yếu vẫn là chuyện bình thường
Vì thế để chất lượng giảng dạy các môn học nói chung phân môn học vần nói riêng được tốt, đòi hỏi giáo viên đứng lớp phải quan tâm và phải có biện pháp cụ thể đối với từng đối tượng học sinh Trong thực tế giảng dạy lớp 1, tôi đã nghiên cứu thực hiện và đã đúc kết
Trang 1
Trang 2thành đề tài: “Một số giải pháp góp phần phụ đạo học sinh yếu phân môn học vần lớp 1”.
Đề tài này tôi đã bắt đầu nghiên cứu và thực hiện từ năm học
2003 – 2004 đến năm học 2004 –2005, tôi tiếp tục nghiên cứu thực hiện và bổ sung thêm giải pháp
Đề tài tôi nghiên cứu đã nêu nhiều ở sách báo và có nhiều giáo viên viết thành sáng kiến kinh nghiệm, nhưng kinh nghiệm này rút ra từ thực tế giảng dạy Tuy nhiên ở đề tài này, tôi không nghiên cứu hết các phân môn của môn Tiếng Việt mà chỉ đi sâu nghiên cứu ở phân môn học vần lớp 1
Trang 3PHẦN 1: THỰC TRẠNG
Qua hai năm tích cực thực hiện công tác phụ đạo học sinh yếu,
bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường Tôi theo dõi thấy các em học sinh
yếu phân môn học vần ở các năm như sau:
Năm
học
Sĩ
số
Chưa đạt yêu cầu cơ bản Đạt yêu
cầu cơ bản
Học sinh lơ là trong giờ học
Đọc được viết yếu
Phát âm viết chưa chính xác
Không đọc được viết được
Trang 4Năm học: 2004 – 2005.
Năm
học
cầu cơ bản trở lên
Học sinh lơ là trong giờ học
Đọc được viết yếu
Phát âm viết chưa chính xác
Không đọc được viết được
Từ 2 bảng số liệu trên ta thấy:
Năm học: 2003 – 2004 chỉ có 66,7% học sinh đạt yêu cầu cơ bản trở lên còn lại 33,3% chưa đạt yêu cầu cơ bản
Sau khi áp dụng đề tài này, tôi thấy các em có tiến bộ rõ rệt tăng 23,7%
Đến năm học: 2004 – 2005 có 37,5% học sinh chưa đạt yêu cầu cơ bản còn lại 62,4% đạt yêu cầu cơ bản
Qua hai năm, trước khi áp dụng đề tài này, các em chưa đạt yêu cầu cơ bản rất cao nhưng sau khi áp dụng đề tài số học sinh chưa đạt yêu cầu cơ bản có giảm rõ rệt
Qua tìm hiểu thực tế ở lớp, ở gia đình các em cho thấy nguyên nhân dẫn đến hạn chế nêu trên là:
Đây là những năm đầu thực hiện chương trình thay sách giáo khoa mới nên giáo viên còn không ít lúng túng, chưa có nhiều kinh nghiệm; một phần do giáo viên chưa nắm thật vững những yêu cầu
Trang 5về kiến thức, kỹ năng của bài dạy, giảng dạy còn mang tính dàn trải, chưa theo dõi sát sao, xử lý chưa kịp thời những biểu hiện sa sút của học sinh Khi phát hiện học sinh hỏng kiến thức giáo viên không dám mạnh dạn dừng bài dạy để giúp các em nắm lại kiến thức Vì vậy các
em không hiểu bài, dễ mặc cảm, chán nản, không có hứng thú trong học tập
Đa số giáo viên khi đứng lớp có vận dụng đổi mới phương pháp nhưng chưa đạt hiệu quả cao vì giáo viên còn ảnh hưởng phần nào thói quen nói nhiều hay lặp lại câu trả lời của học sinh; nhận xét thay cho học sinh Chính vì lẽ đó mà còn hạn chế khả năng phát triển của học sinh
Tổ chức phụ đạo còn chung chung không có biện pháp cụ thể cho từng đối tượng học sinh nên chưa hạn chế tối đa số lượng học sinh yếu phân môn học vần
Một số phụ huynh học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn; nhà
xa hoặc thấy con mình học yếu còn tư tưởng: “ Năm nay học không nổi năm sau ở lại học lớp 1 cho cứng” Vì vậy họ không chịu khó dành thời gian đưa con đi học cũng như dạy con học ở nhà từ đó dần dần các em học yếu
Đa số cha mẹ các em học sinh đều làm nghề nông ít có thời gian quan tâm đến việc học hành của con em mình Bên cạnh đó một số phụ huynh chưa nắm được nội dung chương trình sách giáo khoa mới đặc biệt là phương pháp hướng dẫn các em học ở nhà
Trang 5
Trang 6Đa số nhà các em ở quá xa trường, đường đi lại khó khăn Ngay từ đầu năm học hai bên đường đi đã bị xáng múc chuẩn bị làm lộ nên các em không thể tự đến trường được mà cha mẹ phải đưa đón các em hàng ngày Một số gia đình thuộc diện nhà nghèo cha mẹ lo
đi làm mướn đôi khi không đưa đón các em được dẫn đến các em phải nghỉ học
Lứa tuổi các em còn ham chơi hơn ham học, chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học Điều quan trọng hơn nữa một số em chưa qua lớp mẫu giáo nên muốn hòa nhập với các bạn của mình các
em cũng phải cố gắng thật nhiều… Chỉ việc cầm phấn, bút chì, bảng con cũng mất không ít thời gian Các em đang ở lứa tuổi hiếu động khả năng chú ý tập trung không lâu
Bên cạnh đó còn một số em hay quên, mới dạy thì đọc được, viết được nhưng khi về nhà hay qua một hôm sau thì không nhớ hoặc nhớ lẫn lộn dẫn đến trình trạng đọc sai, viết sai
Các em hay đọc vẹt, bắt chước rất tốt và nhanh Các em có thể đọc lau làu hoặc nhìn tranh đọc nhưng chưa chắc các em nhớ được mặt chữ Nếu giáo viên không phát hiện thì sau một thời gian các em sẽ hỏng kiến thức
Còn một số học sinh học khá do bệnh nghỉ học vài ngày cũng mất kiến thức căn bản
Một số em hay lơ là thiếu tập trung thường nhận dạng, phát âm lẫn lộn các âm, vần,… Có đặc điểm gần giống nhau về cách đọc, cách viết
Trang 8PHẦN 2: GIẢI PHÁP:
2.1 Giúp các em khắc phục, vượt qua những khó khăn trở ngại về mặt tâm lí khi mới vào lớp 1.
Sự chuyển tiếp từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi Mầm non sang hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học, làm cho các em gặp những khó khăn về mặt tâm lí Khi đến tuổi đi học trẻ thường háo hức, chờ đợi, thích được làm “học sinh”, thích đến trường, đến lớp Tuy nhiên tâm lí này chưa được bền vững khi gặp phải các khó khăn trong học tập, các em dễ chuyển sang chán học,…vv,…Vì vậy giúp các em khắc phục vượt qua các khó khăn trở ngại về tâm lí ở đầu lớp 1 sẽ tạo điều kiện cho các em vươn lên đạt kết quả trong học tập
Để làm tốt điều đó, tôi luôn gần gũi, chăm sóc uốn nắn các em, tạo cho các em cảm giác mỗi ngày đến trường là một ngày vui Vì lứa tuổi các em là hiếu động, khả năng tập trung chú ý chưa cao Thật là một cực hình nếu các em phải ngồi im không nói, chẳng cựa quậy, cấm động đậy Vì cái miệng lúc nào cũng huyên thuyên, cái tay khó mà để yên một chỗ, cái óc chẳng thể thiếu điều để suy nghĩ Vì vậy, tôi cần hướng tính năng động của các em vào hoạt động có mục đích để giờ học đạt hiệu quả
Trong giảng dạy trước đây, chủ yếu tôi đặt câu hỏi cho từng học sinh trả lời, không cho trả lời tập thể, hạn chế đồng thanh Vì vậy một số em không được gọi thì không có việc để làm Những em này không tập trung suy nghĩ, không khí lớp học không sôi nổi cho nên tôi
Trang 9nghĩ phải làm sao cho các em vui mà học, chơi mà học, vừa học vừa chơi Chơi là hình thức, vui là tính chất, học là mục đích cuối cùng Muốn được như vậy thì hình thức cung cấp kiến thức, kĩ năng cho học sinh phải phong phú không chỉ khô khan: cô giảng trò nghe, cô hỏi trò trả lời mà cần phải tổ chức cho từng học sinh được tham gia hoạt động.
Cụ thể ở bài 55: Ôn tập các vần vừa học có kết thúc bằng âm
n Thay vì tôi đặt câu hỏi cho học sinh nêu những vần đã học có âm cuối là n thì tôi hình thành bảng ôn rồi cho học sinh luyện đọc Tôi đã uyển chuyển biến cái mệnh lệnh khô khan ấy bằng trò chơi truyền điện: đầu tiên tôi nêu một vần có âm cuối n rồi gọi một học sinh khác
em này có nhiệm vụ nêu tiếp một vần khác có âm cuối là n nhưng không được trùng với vần trước và không được chậm quá 5 giây Nếu xong em có quyền gọi bạn khác nêu Cứ như thế cho đến lúc tôi thấy đủ số vần thì dừng lại Hình thức vui chơi này, tuy chỉ từng em nói nhưng vẫn gây được hào hứng và sôi nổi vì tất cả các em trong tư thế chuẩn bị đón nhận luồng điện truyền đến Các em còn hứng thú vì đây không phải là lệnh của cô giáo mà là của bạn bè và bản thân các
em được bạn gọi và sau đó em được gọi bạn
Để khuyến khích các em mạnh dạn phát biểu ý kiến ngoài việc khen ngợi tuyên dương những ý đúng, ý sáng tạo, tôi cũng không bát bỏ những ý kiến chưa hợp lí của các em một cách thô bạo mà tôi luôn nhẹ nhàng, hóm hỉnh dẫn dắt các em phát biểu vào trọng tâm vấn đề Còn đối với những học sinh yếu hay nhút nhát tôi vẫn chấp
Trang 9
Trang 10nhận những ý kiến mà các em lặp lại của bạn hay của cô Tôi thiết nghĩ từ từ động viên các em phát biểu một cách độc lập Đối với học sinh lớp 1 giáo viên nên khen ngợi kịp thời khi các em hoàn thành nhiệm vụ đồng thời động viên các em chưa hoàn thành nhiệm vụ Tránh việc đơn thuần chỉ dùng điểm để thưởng hay phạt các em mà cần động viên khuyến khích là chính
Tôi luôn suy nghĩ tìm ra nhiều cách tuyên dương, khen ngợi kịp thời khi các em có dấu hiệu tiến bộ; như tặng hoa mỗi khi các em ngoan hay học tiến bộ sau đó cuối tuần tổng kết lại, em nào có nhiều bông hoa tôi tuyên dương khen ngợi trước lớp nhiều lần như thế Học sinh lớp tôi có tiến bộ rất nhiều trong học tập đặc biệt là những học sinh yếu
Việc tạo cho các em một không khí học tập nhẹ nhàng, vui tươi thoải mái, cho các em cảm giác mỗi ngày đến trường là 1 ngày vui với nhiều trò chơi học tập Điều đó đã góp phần quan trọng giúp các
em khắc phục vượt qua những khó khăn trở ngại về mặt tâm lí khi mới bước vào lớp 1
2.2 Đổi mới phương pháp dạy học nhằm hình thành khả năng tự học ở học sinh.
Theo cách dạy truyền thống các em đến trường chỉ nhận được lượng kiến thức duy nhất từ thầy cô Những kết luận bài học đều do thầy cô cung cấp Cách dạy học như thế tạo cho học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động Chính vì thế chưa hình thành khả năng tự học ở học sinh
Trang 11Do đó, muốn hình thành cho học sinh kĩ năng tự học thì tôi phải lựa chọn, phối hợp nhiều hình thức giảng dạy như: cá nhân, nhóm, cả lớp Tôi luôn nghiên cứu bài dạy đề ra mục tiêu cho sát, rõ về kiến thức, kĩ năng, thái độ không chung chung quá nặng so với trình độ học sinh.
Xây dựng cho mình kế hoạch bài dạy sát với trình độ của học sinh, làm sao cho tất cả học sinh đều làm việc như vậy các em sẽ tập trung chú ý vào bài giảng của thầy cô
Tôi phải chăm chút từng đối tượng học sinh nhất là học sinh yếu kém theo hướng cá thể hóa dạy học Tôi thường xuyên đi đến từng nhóm, từng học sinh để giúp đỡ các em, mối thân thiện sẽ hình thành từ đây và các em sẽ bộc lộ những suy nghĩ, hiểu biết của mình với giáo viên Tôi luôn yêu cầu cao đối với bản thân và xác định các yếu tố quyết định sự thành công của giờ học là phương pháp dạy của người thầy và học của trò Vì vậy, tôi luôn rèn luyện cho mình khi dạy không nói thừa cũng như không làm thừa thao tác, câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng học sinh Muốn làm được điều này, trước tiên tôi xây dựng kế hoạch bài dạy, trong việc xây dựng kế hoạch bài dạy tôi quan tâm nhất là xác định thật kĩ mục tiêu của bài(phạm vi kiến thức cần được cung cấp) tránh giảng thừa cũng như giảng thiếu kiến thức cho học sinh Sau khi xác định được phạm vi kiến thức, để kiến thức bài giảng thành kiến thức của học sinh thì điều quan trọng thứ hai là phải lựa chọn phương pháp làm sao cho phù hợp để cho tất
Trang 11
Trang 12cả học sinh trong lớp hiểu được (đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh yếu).
Ngoài ra, tôi cần phải tạo không khí lớp học sinh động từ khâu giới thiệu bài, hình thành bài mới như thế nào để lôi cuốn các em tham gia hoạt động một cách tích cực
Tôi cũng rèn cho các em biết cách sắp xếp và sử dụng đồ dùng
học tập như thế nào cho nhanh, chính xác Cụ thể ở Tiết 1 môn
học vần tôi hướng dẫn cho các em cách sắp xếp đồ dùng học tập thế nào cho nhanh, chính xác: sách giáo khoa, bảng con, bảng cài để thành chồng
Vì đầu tiết học tôi kiểm tra kiến thức cũõ ở sách giáo khoa, rồi viết ở bảng con, khi sang bài mới giáo viên cho học sinh hình thành vần mới ở bảng cài Sau đó viết bảng con và cuối cùng đến đọc sách giáo khoa Sau mỗi lần sử dụng cho học sinh đặt xuống phía dưới cùng như thế tạo cho các em thói quen ngăn nắp sử dụng không mất thời gian
2.3 Chia đối tượng học sinh yếu ra thành từng nhóm nhỏ có đặc điểm gần giống nhau.
Ngay từ những ngày đầu năm học, tôi thường xuyên theo dõi kết quả học tập của các em với nhiều hình thức kiểm tra để nắm được số lượng học sinh yếu phân môn học vần Từ đó có phương pháp phụ đạo cho thích hợp đối với từng đối tượng Nếu giáo viên không phát hiện kịp thời thì các em dần dần hỏng kiến thức rồi các em sẽ chán học
Trang 13Sau khi nắm được đối tượng học sinh yếu phân môn học vần, tôi không áp dụng phụ đạo một cách chung chung cho tất cả các đối tượng mà tôi tiến hành phân chia đối tượng học sinh yếu ra thành nhiều nhóm nhỏ có đặc điểm gần giống nhau và có phương pháp phụ đạo cho từng nhóm
- Nhóm 1: Học sinh lơ là thiếu tập trung trong giờ học.
Các em này có khả năng tiếp thu được kiến thức Nhưng các em còn ham chơi và hiếu động nên không tập trung trong giờ học dẫn đến các
em chưa nắm được kiến thức Cụ thể đối tượng này lớp tôi có em: Võ Văn Đại
- Nhóm 2: Đọc được nhưng viết yếu.
Các em có khả năng đọc được nhưng do chưa nắm được qui trình, cách viết Có khi các em nhìn chữ thì đọc được nhưng khi giáo viên đọc thì các em không nhớ cấu tạo, qui trình viết hoặc nhớ lẫn lộn nên không viết được hay viết sai đối tượng này có:
1 Trần Văn Hoài
2 Nguyễn Dương
- Nhóm 3: Phát âm, viết chưa chính xác các âm, tiếng, từ địa phương.
Đây là do ảnh hưởng chung lối phát âm của địa phương dẫn đến các
em viết sai cụ thể là: r – g; tr – ch có em: Nguyễn Thị Kim Như
- Nhóm 4: Không đọc được, không viết được.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do tư duy các em phát triển chậm chưa qua học lớp mẫu giáo, chưa được gia đình quan tâm cụ thể lớp tôi có:
Trang 13
Trang 141 Lê Minh Luôn
2 Nguyễn Thị Ngọt
2.4 Tiến hành phụ đạo từng nhóm nhỏ.
2.4.1 Đối với nhóm 1: Các em lơ là thiếu tập trung.
Để các em có ý thức tốt tập trung nghe giảng Ở giờ học trên lớp giáo viên cần thường xuyên nhắc nhở quan tâm đến các em, gọi các em phát biểu, đọc bài với câu hỏi vừa sức với các em Cần động viên khen ngợi khi thấy các em có tiến bộ Bên cạnh đó giáo viên cần tạo cho không khí lớp học thoải mái bằng các hình thức trò chơi, câu đố có liên quan đến bài học
Khi dạy bài: O – C giáo viên có thể nêu câu đố nhỏ
Nét tròn em đọc chữ O
Khuyết đi một nữa sẽ cho chữ gì? (C )
Không dấu trời rét nằm cong (CO)
Thêm huyền bay lả trên đồng cỏ xanh (CÒ)
Có hỏi xanh tươi mượt mà
Trâu bò vui gặm nhẩn nha từng đàn (CỎ)
Học sinh suy nghĩ rồi ghi kết quả vào bảng con, giáo viên nhận xét khen ngợi những học sinh giải đúng
Hoặc trò chơi mà các em thích
Ví dụ: Trò chơi hái hoa
Ở mỗi bông hoa giáo viên có ghi âm vần, tiếng, từ mới học hay đã học Sau đó cho một số em lên bảng hái và đọc to cho cả lớp nghe