Chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Tìm hiều và đánh giá tài nguyên thựcvật ở Vườn quốc gia Tam Đảo” để thể hiện rõ hiện trạng, cho thấy tính cấp thiết cần phải bảo tồn, ph
Trang 1Mục lục
MỞ ĐẦU 3
Lý do chọn đề tài 3
Phần 1 3
Lộ trình, điểm khảo sát và các nội dung thực tập 3
I Lộ trình chuyến đi 3
1.Ngày thứ nhất: 3
2.Ngày thứ hai: 4
3.Ngày thứ 3: 4
II Bản đồ hành trình 5
1.Tháp truyền hình 5
2.Đỉnh Rùng Rình 6
3 Núi Mỏ Quạ 7
4 Thác Bạc 7
Phần 2: Giới thiệu phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 8
Phần 3: Giới thiệu khái quát một số đặc điểm của VQG Tam Đảo 9
I Điều kiện địa lý tự nhiên 9
1 Vị trí địa lý 9
2 Đặc điểm địa hình 10
3 Thổ nhưỡng 10
4.Khí hậu 11
5 Thực vật 11
II Tiềm năng kinh tế từ ngành du lịch 12
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 13
I.Kết quả nghiên cứu thực tế 13
1 Cấu trúc các hệ sinh thái chính ở Tam Đảo 14
1.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 14
1.2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình 14
1.3 Rừng lùn trên đỉnh núi 15
1.4 Rừng tre nứa 15
1.5 Rừng phục hồi sau nương rẫy 15
1.6 Rừng trồng 16
1.7 Trảng cây bụi 16
1.8 Trảng cỏ 17
Trang 24.1 Giá trị kinh tế 19
4.2 Giá trị khoa học 21
5.Mối đe dọa đối với thực vật ở Tam Đảo 21
5.1.Tàn phá thảm thực vật 21
5.2.Công tác tuyên truyền chưa hiệu quả 22
5.3.Các nguyên nhân khác 22
II Biện pháp bảo tồn thực vật trong VQG Tam Đảo 23
III Kết luận, kiến nghị 23
Phần 5:Cảm Nhận 24
Phụ Lục : Nhật Kí Tam Đảo 25
Trang 3MỞ ĐẦULý do chọn đề tài
Việt Nam đã xây dựng rất nhiều các khu vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiênnhiên và lưu trữ được lượng đa dạng sinh học lớn Trong đó có Vườn quốc gia TamĐảo, nơi có nguồn tài nguyên động và thực vật vô cùng đa dạng, phong phú
Vườn quốc gia Tam Đảo được thành lập năm1996 với diện tích là 34.995ha, nằmtrên địa phận của 3 tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang và Vĩnh Phúc VQG Tam Đảo có
sự đa dạng sinh học cao với 1436 loài thực vật và 1141 loài động vật Thêm vào đóVQG Tam Đảo có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, nhiều dân tộc anh em sinh sống đãtạo cho nơi đây sự phong phú và đa dạng về văn hóa, hệ thống đền chùa dày đặc linhthiêng cổ kính là nơi tuyệt vời để phát triển du lịch tâm linh cũng như nghiên cứu khoahọc Chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Tìm hiều và đánh giá tài nguyên thựcvật ở Vườn quốc gia Tam Đảo” để thể hiện rõ hiện trạng, cho thấy tính cấp thiết cần
phải bảo tồn, phát triển các loài thực vật quý hiếm Tam Đảo, giữ gìn sự đa dạng nguồn
gen của đất nước
Trang 4Phần 1
Lộ trình, điểm khảo sát và các nội dung thực tập
I Lộ trình chuyến đi
1. Ngày thứ nhất:
xanh
Thăm quan,thu thập thông tin tư liệu
thông tin tư liệu
3. Ngày thứ 3:
niệm,chợ ngày đêm
II Bản đồ hành trình
Trang 5Chúng tôi đã có chuyến hành trình đầy phấn khích từ Thủ đô tiến về phía tỉnh VĩnhPhúc để khám phá xứ sở Tam Đảo mù sương Cái nóng mùa hè oi bức nhưng khi điqua con suối chảy róc rách, tán rừng thông cổ thụ làm cho không khí mát mẻ từ khiđến chân núi Tam Đảo, cảnh đẹp nên thơ làm cho đoàn thêm hứng khởi.
Địa điểm khảo sát:
1. Tháp truyền hình
Trang 6
Tháp truyền hình: cao 93 m trên đỉnh Thiên Nhị ở độ cao 1.375 m với leo bộ lên gần1.400 bậc đá Ðường đi lên tuy vất vả nhưng lãng mạn, nên thơ Dọc đường lên là hoaphong lan, hoa cúc quỳ và các loài hoa dại không tên khác nở đầy lối đi, tỏa hươngthơm lạ, mầu sắc rực rỡ… Ở nơi đây nhiều loại bướm đủ mầu rập rờn trên hoa lá, đậu,bay theo du khách như các sứ giả đón khách ghé thăm Lên tới đỉnh, phóng tầm mắt rabốn phía là mênh mông trời, đất, gió, mây…
2 Đỉnh Rùng Rình
Nếu thích mạo hiểm, bạn hãy đi xa chút nữa tới đỉnh Rùng Rình, ở đây cây cối, núinon đẹp như trong cổ tích, có nhiều cây to mấy người ôm phủ đầy hoa phong lan, tiếngchim hót ríu rít vang động, bươm bướm bay rợp trời Xa hơn nữa là Tam Ðảo 2, nơimà vào thời Pháp cũng là điểm du lịch nghỉ mát lý tưởng, mang vẻ đẹp hoang dã, côliêu nhưng nay do khó khăn về giao thông, nên còn chưa được khai thác
3 Núi Mỏ Quạ
Núi Mỏ Quạ thuộc dãy Tam Đảo, còn gọi là “rừng nghiêng” có hệ sinh vật đa dạngphong phú Con đường từ chân núi lên đến đỉnh, loại cây dễ gặp nhất là tre xanh Đisâu vào trong núi, ta bắt gặp nhiều loài sinh vật đặc biệt như quyết cổ thụ, địa y…
Trang 74.Thác Bạc
Từ trung tâm thị trấn Tam Đảo, rẽ phải theo lối mòn, hút xuống thung lũng sâu, thácBạc giấu mình trong núi, bí ẩn đổ xuống dòng nước trắng bạc, lóng lánh ánh mặt trờiphản chiếu sắc cầu vồng Một dòng suối nhỏ từ trên cao 50 m ào ào tuôn nước, thả vàogió tiếng suối, tiếng rừng, tiếng lá dội vào vách đá nghe thâm u như tiếng ngàn xưa
Trang 8Phần 2 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
1 Quan sát, chú ý lắng nghe thầy giáo cùng hướng dẫn viên giới thiệu thực địathiên nhiên
2 Ghi chép lại những ý chính nổi bật
3 Thu thập thêm một số thông tin qua các trang mạng
4 Lưu trữ bằng hình ảnh thực tế
Trang 9Phần 3 Giới thiệu khái quát một số đặc điểm của VQG Tam Đảo
I Điều kiện địa lý tự nhiên
1 Vị trí địa lý
Tam Đảo là một dãy núi đá ở vùng Đông Bắc Việt Nam nằm trên địa bàn ba tỉnh VĩnhPhúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang Gọi là Tam Đảo, vì ở đây có ba ngọn núi caonhô lên trên biển mây, đó là Thạch Bàn, Thiên Thị và Máng Chỉ
Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trọn trên dãy núi Tam Đảo, một dãy núi lớn dài trên 80
km, rộng 10–15 km chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Vườn trải rộng trên ba tỉnhVĩnh Phúc (huyện Tam Đảo), Thái Nguyên (huyện Đại Từ) và Tuyên Quang (huyệnSơn Dương).Tọa độ địa lý của Vườn quốc gia Tam Đảo: 21°21'-21°42' vĩ Bắc và105°23'-105°44' kinh Đông
2 Đặc điểm địa hình
- Vườn quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao có ngọn cao nhất có độ cao tuyệt đối là1.591 m Dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dài chừng 80 km, rộng từ 10đến 15 km Đây là dãy núi có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với mặt nước biển
- Địa hình ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiềudông phụ gần như vuông góc với dông chính.Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núirất dốc, bình quân 25-35 độ, nhiều nơi trên 35 độ nên rất hiểm trở và khó đi lại
Trang 10Dãy núi Tam Đảo tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác nhau
đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đaikhí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700–800 m trở xuống và đai khí hậu ánhiệt đới mưa mùa, cũng như một số khu vực có nhiệt độ, lượng mưa rất khác nhaucủa Tam Đảo Tất cả tạo nên một Vườn quốc gia Tam Đảo được che phủ bởi một lớpthảm thực vật dày đặc, nhiều tầng và đa dạng về loài, đa dạng về quần xã sinh học và
hệ sinh thái
5 Thực vật
- Tam đảo có 5 kiểu rừng khác nhau:
+ Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố ở độ cao dưới 800 m
+ Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới trên núi thấp phân bố từ độ cao 800 mtrở lên
Trang 11+ Rừng lùn trên đỉnh núi là kiểu phụ rừng đặc thù của kiểu rừng kín thường xanh+ Rừng tre, nứa là rừng phục hồi sau nương rẫy
+ Rừng phục hồi sau nương rẫy
- Vườn quốc gia Tam Đảo có 1.282 loài thực vật thuộc 660 chi thuộc 179 họ thực vậtbậc cao có mạch, trong đó có các loài điển hình cho vùng cận nhiệt đới Có 42 loài đặchữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ như hoàng thảo Tam Đảo(Dendrobium daoensis), trà hoa dài (Camellia longicaudata), trà hoa vàng Tam Đảo(Camellia petelotii), hoa tiên (Asarum petelotii), chùy hoa leo (Molas tamdaoensis),trọng lâu kim tiền (Paris delavayi)
- Hệ thực vật: Theo các báo cáo đã được thực hiện, Tam Đảo có đến 904 loài thuộc
478 chi, 213 họ thực vật bậc cao Trong đó ngành thông đất 2 loài, ngành cỏ tháp bút 1loài, ngành dương xỉ 57 loài, thực vật hạt trần 12 loài và thực vật hạt kín 832 loài 64loài thực vật ở Tam Đảo là những loài quý hiếm
II Tiềm năng kinh tế từ ngành du lịch
- Công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch có nhiều đổi mới Quản lý nhànước về du lịch từng bước được tăng cường Ngoài những dự án đầu tư trực tiếp thúcđẩy phát triển du lịch tại huyện như: Trung tâm văn hóa lễ hội Tây Thiên, cáp treo TâyThiên, sân golf, khu nghỉ mát Tam Đảo… thì hệ thống các cơ sở lưu trú cũng đã khôngngừng được đầu tư mới, nâng cấp, sửa chữa và nâng cao chất lượng các loại hình dịch
vụ Đến nay, trên địa bàn huyện có 85 cơ sở lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ) với tổng số1.415 phòng nghỉ Trong đó có 1 khách sạn 3 sao, 6 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao và
1 khu nghỉ dưỡng cao cấp
- Những tiềm năng du lịch gắn với điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng để khai thácphục vụ phát triển du lịch, bao gồm: Rừng nguyên sinh, hồ, đập, thác nước, suối, hang,động và núi cao, có nhiều nét đặc sắc, với những thắng cảnh nổi tiếng như: Khu danhthắng Tây Thiên, đỉnh Rùng Rình, rừng Ma, ao Dứa, thác Bạc, núi Trường Sinh, suốiBát Nhã, suối Giải Oan; Khu nghỉ mát Tam Đảo nằm ở độ cao hơn 900m so với mặtnước biển, nhiệt độ trung bình năm là 180C, là nơi nghỉ mát lý tưởng cho du khách,nhất là vào mùa hè…
- Nhờ phát triển du lịch - dịch vụ và thương mại mà giá trị sản xuất tăng mạnh.Nếunhư năm 2004 giá trị sản xuất huyện Tam Đảo chỉ đạt hơn 70 tỷ đồng thì năm 2013 đạthơn 400 tỷ đồng Tương tự thương mại- dịch vụ từ 34,02% năm 2004 tăng lên 48,51%năm 2013 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện tăng trung bình trên 14%/năm Hàngngàn lao động có việc làm và thu nhập ổn định từ các loại hình dịch vụ du lịch
Trang 12Thác bạc
Tây Thiên
Trang 13Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
I Kết quả nghiên cứu thực tế
VQG Tam Đảo là một vườn quốc gia lớn nhất ở miền Bắc, rộng trên 300ha, nằm ở độcao 900m so với mặt biển là một thung lũng đẹp tuyệt vời với hệ động thực vật phongphú
1 Cấu trúc các hệ sinh thái chính ở Tam Đảo
Vườn Quốc gia Tam Đảo có các kiểu rừng chính sau:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu rừng lùn trên đỉnh núi
- Một số kiểu rừng khác
1.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Kiểu rừng này thường phân bố ở độ cao dưới 800m, nhưng do ảnh hưởng của độ dốc,hướng phơi mà loại rừng này có thể phân bố ở độ cao 900 - 1000m Kiểu rừng này baophủ phần lớn dãy núi Tam Đảo với những loài cây có giá trị kinh tế như Chò chỉ(Shoera chinensis), Giổi (Michelia sp ), Re (Cinnamomum sp.)…
Do sự gia tăng dân số quá nhanh và nhu cầu về gỗ củi của nhân dân trong vùng cũngtăng theo, nên kiểu rừng này cũng bị khai thác, lợi dụng nhiều trong những năm từ
1970 - 1995
Diện tích kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nguyên sinh còn lại rất ít, đaphần đã bị tàn phá với hình thức chặt chọn làm kết cấu tổ thành loài và tầng thứ thayđổi nhiều Nhìn chung quần hệ thực vật kiểu rừng này gồm nhiều tầng có chiều cao tới25m, tán kín rậm với những loài cây lá rộng thường xanh hợp thành
- Tầng vượt tán hình thành bởi một số loại cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) như: Chònâu (Dipterocarpus petusus), Táu muối (Vatica fleuryana), Giổi (Michelia sp.), vàTrường mật (Pavviesia anamensis)…
- Tầng ưu thế gồm một số loài cây thuộc họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Sim(Myrtaceae), họ Cà phê (Rubiaceae),
- Tầng dưới tán gồm một số loài cây mọc rải rác dưới tán rừng thuộc các hộ Máu chó(Myristicaceae), họ Na (Annonaceae)
- Dưới nữa còn tầng cây bụi có các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), Đơn nem(Myrsinaceae), họ Trúc đào (Apocynaceae) cuối cùng là tầng cỏ Quyết, ở những nơi
Trang 14Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp ở Tam Đảo phân bố từ độ cao800m trở lên nhưng đôi khi phân bố trên 900m Quần hệ thực vật của kiểu rừng nàykhông còn các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) Thực vật bao gồm các loài họ
Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họSau sau (Hamamelidaceae) Đây là vành đai của những loài cây thuộc khu hệ á nhiệtđới, còn được gọi là vành đai mây Không khí luôn ở tình trạng bão hoà hơi nước, nêntạo điều kiện thuận lợi cho Rêu và Địa y phát triển Ngoài những cây thuộc các họ kểtrên, từ độ cao 1000, trở lên xuất hiện một số loài cây thuộc ngành Hạt Trần nhưThông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông tre(Podocarpus neriifolius) Ngoài ra, còn thấy các loài Thông yên tử (Podocarpuspilgeri), và Kim giao (Nageia fleuryi)
Ở một vài nơi trên sườn Đông núi Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ, mật độ cây Hạt trầndày hơn, chủ yếu là Pơ mu (Fokienia hodginsii) tạo nên một quần thể hỗn hợp giữa cácloài cây lá rộng và lá kim còn gọi là kiểu phụ hỗn hợp lá rộng, lá kim
Dưới tán rừng á nhiệt đới thường có Vầu đắng Lên cao hơn nữa là Sặt gai(Arundinaria giffithiana) mọc dày đặc dọc theo các dông núi Ven theo các sườn núithường có các loài cây bụi thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae),họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)…
1.3 Rừng lùn trên đỉnh núi
Rừng lùn trên đỉnh núi là một kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh mưa ẩm ánhiệt đới núi thấp được hình thành trên các đỉnh dông dốc hay các đỉnh núi cao đấtxương xẩu, nhiều nắng gió, mây mù thường xuyên bao phủ Cây cối ở đây thường thấp
bé, phát triển chậm, thân và cành được Địa y và Rêu bao phủ Đất dưới tầng rừng khámỏng nhưng có tầng thảm mục khá dày (ở một số nơi như đỉnh Rùng Rình, tầng thảmmục có thể dày hơn 1m)
Thực vật chủ yếu là các loài cây thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae), Giổi nhung (Micheliafaveolata), Hồi núi (Illicium griffithii) Từ các đỉnh cao của Tam Đảo xuống thấp hơn,các loài thuộc họ Đỗ quyên giảm dần, các loài thuộc họ Re (Lauraceae), họ Hồi(Illiciaceae), họ Thích (Aceraceae) tăng lên về số lượng cá thể
1.4 Rừng tre nứa
Khi rừng thuộc hai loại trên bị phá thì các loài Tre, nứa mọc xen vào hoặc chuyển hẳnthành rừng tre, nứa Ở đai cao hơn 800m, loài tre tiêu biểu là Vầu và Sặt gai Đai trungbình là Giang (ở độ cao từ 500 - 800m), còn thấp hơn (dưới 500m) là Nứa
Trang 15Rừng Tre Nứa
1.5 Rừng phục hồi sau nương rẫy
Vườn Quốc gia Tam Đảo có 23 xã vùng đệm nằm trên địa bàn 3 tỉnh Vĩnh Phúc, TháiNguyên và Tuyên Quang bao quanh Rừng ở đây trước những năm 80 bị tác độngmạnh bởi hoạt động khai thác gỗ của các Lâm trường đóng trên địa bàn giáp ranh vớiVườn và canh tác nương rẫy của nhân dân vùng đệm Sau khi thành lập Vườn Quốcgia Tam Đảo, việc đốt nương làm rẫy đã giảm xuống rõ rệt Do tác động mạnh của conngười, thành phần thực vật ở đây ít nhiều có biểu hiện cho thực vật rừng thứ sinh đượcphục hồi sau khi đất được sử dụng cho canh tác nương rẫy hoặc phục hồi sau khi rừngđược khai thác
Sau khi khai thác, làm nương rẫy rừng được khôi phục bởi các loài như Bục trắng(Mallotus apelta), Bục bạc (Mallotus paniculatus), Ba soi (Macaranga denticulata), Bồ
cu vẽ (Breynia fruticosa), Thẩu tấu (Aporosa dioica), Dền (Xylopia vielana), Dung(Symplocos sp.), Màng tang (Litsea cubeba), … Loại hình rừng này thường mọc thànhcác chòm rải rác thuộc các xã như Quân Chu, Phú Xuyên, La Bằng thuộc huyện Đại
Từ và các xã Hợp Hoà, Kháng Nhật thuộc huyện Sơn Dương
Trên các loài đất Feralit đỏ vàng, đỏ nâu, vàng, có rừng thứ sinh với thành phần loàicây phong phú hơn cụ thể là các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh trong đó đáng