1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đề cương ôn tập đường lối cách mạng ngắn gọn

28 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 806,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong ph

Trang 1

Cuối thế  kỷ XIX​, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các Hiệp ước ácmăng (Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, song phong trào chống thực dân Pháp xâm lược vẫn diễn ra. Phong trào ​Cần Vương​ (1885­1896), một phong trào đấu tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã 

mở cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885). Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi chạy 

ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu ​Cần Vương​. Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: ​Ba​ ​Đình​ của Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1881­1887), ​Bãi Sậy​ của Nguyễn Thiện Thuật (1883­1892) và ​Hương Khê​ của Phan Đình Phùng (1885­1895). Cùng thời gian này còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân ​Yên Thế​ do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913.   

  Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm 

vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra. 

Đầu thế kỷ XX​, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Ông lập ra Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906­1908).Chủ trương dựa vào đế quốc Nhật  để chống đế quốc Pháp không thành, ông về Xiêm nằm chờ thời. Giữa lúc đó Cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911). Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang phục Hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng rồi cũng không thành công. 

Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam. ở Bắc Kỳ, có việc mở trường học, giảng dạy và học tập theo những nội dung và  phương pháp mới, tiêu biểu là trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. ở Trung Kỳ, có cuộc vận động Duy tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong tràođấu tranh chống thuế (1908). 

Do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp, nên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX không thể tìm  được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc, nên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt. 

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất​ mặc dù còn nhiều hạn chế về số lượng, về thế lực kinh tế và chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam đã bắt đầu vươn lên vũ đài đấu tranh với thực dân Pháp bằng một 

số cuộc đấu tranh cụ thể với những hình thức khác nhau. 

­ Năm 1919­1923, ​Phong trào quốc gia cải lương​ của bộ phận tư sản và địa chủ lớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội hoá bài trừ ngoại hoá; chống độc quyền thương cảng Sài Gòn; chống độc quyền khai thác lúa gạo ở Nam Kỳ; đòi thực dân Pháp phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam tham gia. 

Năm 1923 xuất hiện ​Đảng Lập hiến​ của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn, tập hợp tư sản và địa chủ lớp trên. Họ cũng đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để lôi kéo quần chúng. Nhưng khi bị thực dân Pháp đàn áp hoặc nhân nhượng cho một 

số quyền lợi thì họ lại đi vào con đường thỏa hiệp. 

­ Năm 1925­1926 đã diễn ra ​Phong trào yêu nước dân chủ công khai​ của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới. Họ lập 

ra nhiều tổ chức chính trị như: ​Việt Nam Nghĩa đoàn, Phục Việt (1925), Hưng Nam, Thanh niên cao vọng (1926)​; thành lập nhiều nhà xuất bản như ​Nam​ ​Đồng thư xã​ (Hà Nội), ​Cường học thư xã​ (Sài Gòn), ​Quan hải tùng thư​ (Huế); ra nhiều báo chí tiến bộ như ​Chuông rạn (La Cloche fêlée), Người nhà quê (Le Nhaque), An Nam trẻ (La jeune Annam)​  Có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang khá lớn như đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), lễ truy điệu và để tang Phan Châu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926). Cùng  với phong trào đấu tranh chính trị, tiểu 

tư sản Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hóa tiến bộ, tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tự do dân chủ. Tuy nhiên, càng về sau, cùng sự thay đổi của điều kiện lịch sử, phong trào trên đây ngày càng bị phân hoá mạnh. Có bộ phận đi sâu hơn nữa vào khuynh hướng chính trị tư sản (nhưNam  Đồng thư xã), có bộ phận chuyển dần sang quỹ đạo cách mạng vô sản (tiêu biểu là Phục Việt, Hưng Nam). 

  ­ Năm 1927­1930 ​Phong trào cách mạng quốc gia tư sản​ gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25­12­1927). Cội nguồn Đảng này là Nam Đồng thư xã, lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính. Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh hướng tư  sản ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư  sản, tiểu tư  sản, địa chủ và cả  hạ  sĩ quan Việt Nam  trong quân đội Pháp.  

Trang 2

cơ sở, nhưng cũng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất.    

Ngày 9­2­1929, một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ám sát tên trùm mộ phu Badanh (Bazin) tại Hà Nội. Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố phong trào yêu nước. Việt Nam Quốc dân Đảng bị tổn thất nặng nề nhất. Trong tình thế hết sức bị động, các lãnh tụ của Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào một trận chiến đấu cuối cùng với tư tưởng “không thành công cũng thành nhân”.  

Ngày 9­2­1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, trung tâm là thị xã Yên Bái với cuộc tiến công trại lính Pháp của quân khởi nghĩa. ở một số địa phương như Thái Bình, Hải Dương  cũng có những hoạt động phối hợp. 

Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ, vì thế nó nhanh chóng bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Các lãnh tụ của Việt Nam quốc dân Đảng cùng hàng ngàn chiến sĩ yêu nước bị bắt và bị kết án tử hình. Trước khi bước lên đoạn đầu đài họ hô vang khẩu hiệu "Việt Nam vạn tuế". Vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng trong phong trào dân tộc ở 

Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái.   

Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống 

đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế 

và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.   

Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại và nhu cầu mới của nhân dân Việt Nam 

Trang 3

2. Quá trình tìm đường cứu nước và những quan điểm của HCM 

Thực tế thất bại của lớp cha ông đã chỉ ra rằng: sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm       

vụ lịch sử đặt ra là lãnh đạo toàn dân chống Pháp, giành lại độc lập dân tộc Cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường       

lối, tức là thiếu hệ thống lý luận cách mạng tiên tiến của giai cấp công nhân có khả năng dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng       

dân tộc Việt Nam thành công Câu hỏi của "bài toán thế kỷ" đặt ra cho dân tộc ta:       ​Ai là người lãnh đạo thành công nhiệm      

vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam ?  ​đến lúc này vẫn chưa có lời giải.  Bối cảnh trên đây, sau này được Hồ Chí Minh nói rõ khi trả lời nhà văn Mỹ  Anna Luy Xtơrông: "      ​Nhân dân Việt Nam        

trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của      

Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho là​ ​Mỹ​"​[2] ​!?  Trước thất bại liên tiếp về con đường cứu nước của các bậc tiền bối, Người nhận xét:  "​Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương Điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng      

thương.  Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước      

beo cửa sau".  Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì còn trực tiếp đấu tranh chống Pháp Nhưng theo người ta kể thì Cụ còn mang      

nặng cốt cách phong kiến"  Từ những trải nghiệm cuộc sống và với quyết tâm lớn, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra mâu thuẫn giữa chế độ đàn áp       

bóc lột dã man của bọn thực dân ở Việt Nam với cái lý tưởng cao đẹp của nước  Pháp ­ quốc gia đã  đề xướng ra lý tưởng       

cao đẹp và hấp dẫn mọi con người " Tự do ­ Bình đẳng ­ Bác ái", muốn biết cái gì bí mật ẩn náu ở "nước Mẹ" xa xôi !       

Người cho rằng "Muốn đánh hổ thì phải vào hang hổ!" Và chính những nhận thức về bối cảnh đất nước và những tìm       

hiểu của Hồ Chí Minh về nước Pháp đã thôi thúc Người sang Pháp và các nước khác Đây không phải là hành động ngẫu       

nhiên, tự phát mà là sự lựa chọn, trăn trở; một quyết tâm lớn, nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam.  Quyết định sang phương Tây của Hồ Chí Minh là sự phủ nhận sự tồn tại nhà nước thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam.       

Đó là đòn tiến công đầu tiên của Hồ Chí Minh đối với nhà nước đương thời, mở cửa ra thế giới để đón nhận những nhân       

tố mới của thời đại, tiếp thu lý luận tiên tiến, tích hợp tinh hoa văn hoá nhân loại để hình thành con đường cứu nước Việt       

Nam thông qua Hành trình cứu nước của một con người ­ Nguyễn Ái Quốc ­ Hồ Chí Minh.  Ngày 3 tháng 6 năm 1911, Người xuống tàu buôn Pháp Amiran Latusơ Tơrêvin( Amiral Latouche Treville) thuộc Hãng       

Năm sao đang cập cảng Nhà Rồng gặp thuyền trưởng Maixen (Maisen) và được nhận vào làm phụ bếp trên tàu Ngày 5       

tháng 6 năm 1911 tàu Amiran Latusơ Tơrêvin rời bến cảng Nhà Rồng mang theo người thanh niên Việt Nam 21 tuổi với       

khát vọng cháy bỏng là tìm ra con đường cứu nước Việt Nam khỏi ách thống trị thực dân phong kiến.  Các quan điểm  1. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phả đi theo con đường của cách mạng vô sản.  ­ Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễnViệt Nam qua các chặng đường       

gian nan thử thách, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định một chân lý là:       ​Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có      

con đường nào khác là cách mạng vô sản​.  ­ Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi, một vòi       

bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc phải đồng thời cắt cả hai cái vòi của       

nó đi, tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; phải xem cách       

mạng ở thuộc địa như là “một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”, phát triển nhịp nhàng với cách mạng vô sản.  2. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.  ­ Hồ Chí Minh đã sớm khẳng định: muốn sự nghiệp giải phóng dân tộc thành công       ​“Trước hết phải có đảng cách      

mệnh  Đảng có vững cách mệnh mới thành công”​(10)  ­ “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa       

chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”​(2)​.  ­ Hồ Chí Minh đã khẳng định nguyên tắc xây dựng Đảng: Đảng của giai cấp công nhân phải được xây dựng theo       

các nguyên tắc Đảng kiểu mới của Lênin.  3. Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên cơ sở liên minh công – nông.  Hồ Chí Minh viết: cách mạng       ​“là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc việc của một hai người”       ​, vì vậy     

phải đoàn kết toàn dân,         ​“sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”       ​ Trong sự tập hợp rộng rãi đó, Người        khẳng định cái cốt của nó là công – nông, ​“công nông là người chủ cách mệnh  công nông là gốc cách mệnh”​(11)​. 

Trang 4

­ Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh chủ trương cần vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân       

dân Việt Nam đang mất nước, đang bị làm nô lệ trong một       ​Mặt trận dân tộc thống nhất        ​rộng rãi nhằm huy động sức mạnh       

của toàn dân tộc, đấu tranh giành độc lập, tự do.  ­ Đảng cần có các chủ trương, chính sách tranh thủ vận động các tầng lớp nhân dân vì mục tiêu chung. ​Trong sách lược  vắn tắt​, Người viết: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt  để kéo họ đi  vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với phú nông, ​trung, tiểu​ địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì  phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng tập trung ​(12) 

­ Trong khi chủ trương đoàn kết, tập hợp rộng rãi các lực lượng dân tộc chống đế quốc, Hồ Chí Minh vẫn nhắc       

nhở phải quán triệt quan điểm giai cấp: “công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư       

bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông;  3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”      ​(13)​ Và trong     

khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng  một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường       

thỏa hiệp”​(14)​.  4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi      

trước cách mạng vô sản ở chính quốc.  ­ Đầu thế kỷ XX, trong phong trào Cộng sản quốc tế đã từng tồn tại quan điểm xem thắng lợi của cách mạng       

thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc Quan điểm này vô hình trung đã làm giảm       

tính chủ động, sáng tạo của các phong trào cách mạng ở thuộc địa Phát biểu tại Đại hội V Quốc tế cộng sản (tháng       

6­1924), Hồ Chí Minh đã phân tích:       ​“Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản      

ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”       ​(15)​;​“nọc độc và sức        

sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa”       ​(16)​, nếu khinh thường cách mạng ở thuộc địa tức       

là ​“muốn đánh chết rắn đằn đuôi”​(6)​.  ­ Vận dụng công thức của Mác:       ​“Sự giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp      

công nhân”,    ​Hồ Chí Minh đã đi tới luận điểm:       ​“Công cuộc giải phóng anh em (tức nhân dân thuộc địa) chỉ có thể thực      

hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”(​6).  ­ Do nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống của chủ nghĩa đế quốc và do đánh giá đúng đắn sức       

mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, năm 1924, Hồ Chí Minh cho rằng:       ​Cách mạng thuộc địa không những      

không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước​.  ­ Khẳng định vị trí và vai trò của cách mạng giải phóng thuộc địa trong mối quan hệ với cách mạng chính quốc,       

Hồ Chí Minh cho rằng: “trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc,       

họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng  hoàn toàn”​(17)​.  Những luận điểm trên đây là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin  trong thời đại đế quốc chủ nghĩa của       

Hồ Chí Minh Nó có giá trị lý luận và thực tiễn rất to lớn và đã được thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt       

Nam cũng như trên thế giới chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.    5 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị      

của quần chúng với lực lượng vũ trang trong nhân dân.  Ngay từ đầu năm 1924, trong Báo cáo về       ​Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ       ​, Hồ Chí Minh đã đề cập khả năng một cuộc       

khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương Theo Người, cuộc khởi nghĩa vũ trang đó: phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần       

chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn Luận điểm trên đây của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự phân tích vai trò của       

quần chúng nhân dân, bản chất phản động của chính quyền thực dân Pháp và bài học kinh nghiệm của dân tộc Việt Nam,       

của cách mạng Nga, từ sự thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.  ­ Tháng 5 – 1941, Hội nghị Trung ương 8 do  Người chủ trì đã đưa ra nhận định: Cuộc cách mạng Đông Dương       

kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang, mở đầu có thể là bằng một cuộc  khởi nghĩa từng phần trong từng địa       

phương  mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn.  ­ Để chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang, Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng chỉ đạo xây dựng căn cứ địa,       

đào tạo, huấn luyện cán bộ, xây dựng các tổ chức chính trị của quần chúng, lập ra các đội du kích vũ trang, chủ động đón       

thời cơ, chớp thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám và chỉ trong vòng 10 ngày đã giành được chính quyền trong       

cả nước.  Tóm lại, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết của Lênin về cách mạng thuộc địa thành một       

hệ thống luận điểm mới mẻ, ság tạo, bao gồm cả đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp tiến hành cách mạng       

giải phóng dân tộc ở thuộc địa.  Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những thành       

tựu to lớn và rất quan trọng của sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh tính khoa học đúng đắn, tính cách mạng sáng        tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. 

Trang 5

1. Không có gì quý hơn độc lập, tự do. 

­ Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài lịch sử Từ những hình thức cộng đồng      ​thị tộc, bộ tộc, bộ      

lạc​ đầu tiên đã hình thành nên các cộng đồng dân tộc, các quốc gia dân tộc Khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự       

do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế quốc thi hành chính sách vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô       

dịch các dân tộc nhược tiểu, vấn đề dân tộc trở nên gay gắt, từ đó xuất hiện       ​vấn đề dân tộc thuộc địa; độc lập, tự do của      

các dân tộc​ trở thành vấn đề thời đại.  ­ Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là       ​độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả      

xâm phạm của tất cả các dân tộc​.  Thấm đượm tinh thần yêu nước truyền thống Việt Nam, trong tư tưởng Hồ Chí Minh cái quý nhất trên đời là độc       

lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân Hồ Chí Minh nói:       ​“Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ      

quốc tôi được độc lập         ​ ”​(1)​ Trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu       ​Tuyên ngôn độc lập        

1776 ​của nước Mỹ    ​, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791        ​của cách mạng Pháp, Người hiểu rõ chân lý bất di bất       

dịch về quyền cơ bản của các dân tộc:       ​Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có      

quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do​.  ­ Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng đã được các đồng minh thắng trận trong chiến       

tranh thế giới thứ nhất thừa nhận, thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước, Người gửi đến Hội nghị hòa bình       

Vécxây một bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam Bản yêu sách đã không được dư       

luận chú ý đến Người rút ra bài học:       ​“Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào      

lực lượng của bản thân mình”​(2)​.  ­ Trong Chánh cương vắn tắt cũng như trong Lời kêu gọi sau khi thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã xác định mục       

tiêu chính trị của Đảng là:  “a. Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến  b. Làm cho nước Nam được hoàn thành độc lập”​(3)  ­ Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, chủ trì Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, viết thư Kính cáo đồng bào, chỉ       

rõ: ​“Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”      (​4) Hồ Chí Minh đã đúc kết ý chí đấu tranh cho độc       

lập, tự do của nhân dân ta trong một câu nói bất hủ:       ​“Dù có phải đối cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho      

được độc lập!”​  

­ Cách mạng Tháng Tám thành công, người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, long trọng       

khẳng định trước quốc dân đồng bào và thế giới:       ​“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thật đã thành một      

nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững      

quyền tự do, độc lập ấy”(4) ­ Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc, Người ra lời kêu gọi       

toàn quốc kháng chiến:       ​“ thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô      

lệ”​(2)​.  ­ Khi đế quốc Mỹ điên cuồng tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam, mở rộng chiến tranh miền Bắc, Chủ tịch       

Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý bất hủ, có giá trị cho mọi thời đại: ​“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”​.  “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”​ không chỉ là tư tưởng mà còn là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh.  Vì thế, Người không chỉ được tôn vinh là ​“anh hùng giải phóng dân tộc”​ của Việt Nam mà còn được thừa nhận  là ​“Người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”​.  2 Kết hợp nhuần nhuyển dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước và      

chủ nghĩa quốc tế.  ­ Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc cần được tiến hành dưới ánh sáng của chủ       

nghĩa Mác – Lênin, giành độc lập dân tộc để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là một vấn đề lý luận quan trọng, có       

ý nghĩa thực tiễn to lớn trong thời đại cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin Theo Người, chỉ đứng trên lập       

trường của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản mới giải quyết được đúng đắn vấn đề dân tộc.  ­ Ra đi tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy con đường giải phóng cho       

dân tộc mình theo con đường của cách mạng vô sản Người viết rằng:       ​“Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự      

nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó, thì đó      

càng là thắng lợi cả cho người An Nam”​(5)​.  ­ Hồ Chí Minh đã đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái của một số đảng cộng sản châu Âu trong cách nhìn nhận,       

đánh giá về vai trò, vị trí cũng như tương lai của cách mạng thuộc địa Người đưa ra dư luận điểm: các dân tộc thuộc địa       

phải dựa vào sức của chính mình, đồng thời biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động       

Trang 6

thế giới để trước hết phải đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc, rồi từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc tiến       

lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp cách mạng vô sản thế giới.  ­ Mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở những luận điểm sau đây:  + Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn của đất nước.  Năm 1924, từ sự phân tích đặc điểm giai cấp, dân tộc ở các nước phương Đông, Hồ Chí Minh khẳng định:  Đối       

với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông:       ​“Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”       ​(6)​;​“Người ta sẽ không thể      

làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”       ​(7)​. 

Nguyễn Ái Quốc kiến nghị về       ​Cương lĩnh   ​ hành động của Quốc tế Cộng sản: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân       

danh Quốc tế Cộng sản Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa       

quốc tế”​(8)​.  + Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.  Ngay từ khi gặp được         ​Luận cương   ​ ​của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa       ​, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó       

thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Trong bài       ​Cuộc kháng    

chiến ​viết đầu những năm 20 của thế kỷ XX, nói về giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, Hồ Chí Minh đã khẳng       

định: “Cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”​(4)​.  Năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Hồ Chí Minh xác định cách mạng Việt Nam trải qua hai giai  đoạn: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng (tức cách mạng dân tộc – dân chủ) để đi tới xã hội cộng sản  (tức cách mạng xã hội chủ nghĩa).  Đến năm 1960, Người khẳng định lại rõ hơn: “ chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng       

được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”​(5)​.  Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn bó thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vừa phản ánh quy luật       

khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa       

mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp.  + Độc lập cho dân tộc mình đồg thời độc lập cho tất cả các dân tộc.  Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền tự do, độc lập là quyền bất khả xâm phạm của các dân tộc      ​, “dân tộc nào cũng      

có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”       ​ Là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh không chỉ đấu       

tranh cho độc lập của dân tộc mình mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức Ở Hồ Chí Minh, chủ       

nghĩa yêu nước chân chính luôn luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.  Ngay từ năm 1941, trên đất Anh, Người nói:       ​“Chúng ta phải tranh đấu cho tự do, độc lập của các dân tộc khác      

như là tranh đấu cho dân tộc ta vậy”       ​ Người đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc       

cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Lào và Campuchia, đề ra khẩu hiệu       ​“Giúp bạn là tự giúp mình”       ​, và chủ     

trương phải bằng thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà đóng góp vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới.  + Giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội vì hạnh phúc của con người.  Xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ thương nước, thương nòi, Hồ Chí Minh luôn luôn gắn liền mục tiêu giải       

phóng dân tộc với việc mang lại hạnh phúc cho nhân dân.  Người lựa chọn con đường giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản chính vì cách mạng vô sản không chỉ giải       

phóng giai cấp công nhân mà còn giải phóng mọi giai cấp và tầng lớp khác thoát khỏi sự áp bức, bóc lột giai cấp Người       

nói:  giành độc lập rồi phải xây dựng chủ nghĩa xã hội vì chủ nghĩa xã hội       ​“làm cho dân giàu, nước mạnh”       ​,  ​“làm cho    

mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”​.  Quan điểm giải phóng con người của Hồ Chí Minh được nâng lên, trở thành tâm điểm của hoạt động cách mạng       

của Người Khi chưa giành được độc lập, Người thể hiện ý chí độc lập bằng câu nói       ​“dù phải đốt cháy cả dãy Trường      

Sơn cũng quyết giành cho được tự do, độc lập”       ​ Nhưng sau đó Người nói:       ​“Nếu nước độc lập mà dân khôn được hưởng      

hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”       ​(9)​ Do đó theo tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc phải       

gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người Hồ Chí minh viết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột       

bậc,  đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”​(2)​.  Như vậy, tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người luôn luôn gắn chặt, hòa quyện        với nhau trong ttư tưởng Hồ Chí minh. 

 

 

 

 

 

 

 

Trang 8

 

Nội dung  1930 – 1935 

Cương lĩnh chính trị & Luận      

cương chính trị  1936 – 1939  Hội nghị TW (7/1936)  1939 – 1945  Hội nghị TW 6,7,8  Phương  hướng  chiến lược    Cách mạng tư sản dân quyền  Vẫn nhất quán làm tư sản      

dân quyền và thổ địa cách      

mạng để tiến lên chủ nghĩa      

xã hội  Cách mạng giải phóng        

dân tộc  Nhiệm vụ    Đánh đổ đế quốc được tiến      

hành song song với đánh đổ      

phong kiến.    Chống phát xít, chống chiến      

tranh Đế quốc, chống phản      

động thuộc địa, tay sai, đòi      

tự do, dân chủ, dân sinh,      

cơm áo và hòa bình.  Đặt nhiệm vụ giải phóng      

dân tộc lên hàng đầu  Kẻ   thù   trước mắt  Phong kiến và chủ nghĩa đế      

quốc.  Chủ nghĩa phát xít, phản      

động và tay sai   Bọn đế quốc và bọn tay      

sai phản bội dân tộC  Lực lượng    

cách  mạng  Công nhân và nông dân  Toàn dân tộc VN trừ bọn      

phản động, tay sai  Mọi người dân VN yêu      

nước  Phương  pháp cách    

mạng     Võ trang bạo động giành      

chính quyền    Đấu tranh công khai và nửa      

công khai, hợp pháp và nửa      

hợp pháp    Phát triển lực lượng        

chính trị và phong trào      

đấu tranh vũ trang của      

quần chúng    Đoàn kết    

quốc tế    Đoàn kết vs phong trào CM ở      

các nước thuộc địa và nửa      

thuộc địa.    Đoàn kết chặt chẽ với giai      

cấp Công nhân và Đảng CS      

Pháp.    Liên minh chặt chẽ với      

cách mạng vô sản trên      

thế giới, đặc biệt là cách      

mạng Pháp.  Vai   trò   của Đảng    Có đường lối chính trị đúng      

đắn, kỷ luật tập trung, mật      

thiết liên hệ với quần chúng,      

từng trải mà trưởng thành  Giải quyết đúng đắn mối      

quan hệ giữa 2 nhiệm vụ      

dân tộc và dân chủ    Đường lối CM đúng đắn,      

đoàn kết thống nhất,        

nắm thời cơ, chỉ đạo kiên      

quyết, khôn khéo  Tác động    

đến phong    

trào CM    

thời   kì   nàY  Một số cuộc đấu tranh của CN      

và nông dân nổ ra Đỉnh cao là      

Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh    Khắc phục được những hạn      

chế của luận cương chính      

trị tháng 10/1930         ​ đẩy   mạnh phong trào CM        

chuẩn bị cho cuộc tổng khởi      

nghĩa 8/1945  ­ Cao trào kháng Nhật      

cứu nước, đẩy mạnh         khởi nghĩa từng phần.  

­ Tổng khởi nghĩa 8­1945   

 

 

­ 1930 – 1935: 

Luận cương chính trị  có những đóng góp quan trọng về đường lối và sách lược cho cách mạng. Mặc dù có nhiều  điểm cụ thể và rõ ràng hơn Cương lĩnh , song so với cương lĩnh nó vẫn còn một số hạn chế: 

  + Xác định không đúng mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa vì vậy không đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên  hàng đầu. 

Trang 9

­ 1936 – 1939: 

Đảng bước đầu điều chỉnh nhận thức về giải quyết quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược dân tộc, dân chủ. ​Đây là  bước tiến quan trọng trong nhận thức tư duy của Đảng.  

­ 1939 – 1945: 

+ Qua 3 Hội nghị VI, VII, VIII của BCHTW phản ánh sự lãnh đạo sáng suốt, nhạy bén của Đảng, đáp ứng nguyện vọng của toàn thể nhân dân. 

+ Đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Đảng về nghệ thuật hoạch định đường lối chính trị. 

+ Đây là sự khẳng định, kế thừa, phát triển lên một bước mới tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc.  

+ Sự điều chỉnh chiến lược cách mạng đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyết định chiều hướng vận động của phong trào dân tộc, trực tiếp quyết định thắng lợi của cách mạng tháng Tám. 

=> Có thể khẳng định rằng Đường lối đấu tranh giành chính quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 

là sáng tạo, phù hợp và đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội Việt Nam. 

Trang 10

Câu 3: Nội dung và định hướng CNH­HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. 

a. Nội dung 

Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Chúng ta cần tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền 

kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa". 

Nội dung cơ bản của quá trình này là: 

­ Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại. 

­ Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, từng dự án kinh tế ­ xã hội. 

­ Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ. 

­ Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng xuất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là các ngành, lĩnh vực có sức cạnh tranh cao. 

b. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa  gắn với phát triển kinh tế tri thức 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông  thôn, nông dân​. 

Một là, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh 

tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; Đẩy nhanh tiến 

bộ khoa học ­ kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa, phù hợp đặc điểm từng vùng và từng địa phương; tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp. 

Hai là, về qui hoạch và phát triển nông thôn: Khẩn trương xây dựng các qui hoạch phát triển nông thôn, thực hiện chương trình nông thôn mới; hình thành các khu dân cư đô thị với kết cấu kinh tế ­ xã hội đồng bộ; phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao trình độ dân trí, bảo​​đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 

Ba là, về giải quyết lao động, việc làm ở nông thôn: Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân. Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ. Tạo điều kiện để lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, kể 

cả đi lao động nước ngoài; đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xóa đói, giảm nghèo.  

Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ 

Một là, đối với công nghiệp và xây dựng: Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế; nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp và khu chế xuất; Tích cực thu hút vốn trong và ngoài nước để thực hiện các dự án quan trọng. Hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô. Có chính sách thu hút chuyên gia giỏi ở nước ngoài; Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế ­ xã hội. Phát triển công nghiệp năng lượng gắn với công nghệ tiết kiệm năng lượng. Tăng nhanh năng lực và hiện đại hóa bưu chính ​​viễn thông. 

Hai là, đối với dịch vụ: Tạo bước phát triển vượt bậc của các ngành dịch vụ,nhất là những ngành có chất lượng cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh;mở rộng và nâng cao các ngành dịch vụ truyền thống như vận tải, thương 

Trang 11

sự lan tỏa đến các vùng khác, có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các vùng khó khăn. 

Phát triển kinh tế biển 

Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển (hệ thống cảng biển và vận tải biển, công nghiệp đóng tàu biển, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch, ). Sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh và hợp tác quốc tế. 

Chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu công nghệ 

Một là, phát triển nguồn nhân lực có cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao; giảm tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp, đến năm 2010 còn dưới 50% lực lượng lao động xã hội. 

Hai là, lựa chọn và đi ngay vào công nghệ hiện đại ở một số ngành và lĩnh vực then chốt. Chú trong phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm. 

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo. Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài. 

Bốn là, đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, đặc biệt là cơ chế tài chính. 

Bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên  

Một là, tăng cường quản lý tài nguyên quốc gia. Quan tâm đầu tư vào lĩnh vực môi trường, khắc phục tình trạng xưống cấp môi trường. Ngăn chặn các hành vi hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường; thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải xử lý ô nhiễm hoặc chi trả cho việc xử lý ô nhiễm. 

Hai là, từng bước hiện đại hóa công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng ­ thủy văn, chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn. 

Ba là, xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hóa với bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững. 

Bốn là, mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên, chú trọng lĩnh vực quản 

lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước. 

Trang 12

  ​Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn  với phát triển kinh tế tri thức 

­ Một là​, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân. 

+ Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. 

Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân là một vấn đề lớn của quá trình công nghiệp hóa đối với tất cả các nước tiến hành công nghiệp hóa trên thế giới, bởi vì công nghiệp hóa là quá trình thu hẹp khu vực nông nghiệp, nông thôn và gia tăng khu vực công nghiệp, xây dựng dịch vụ và đô thị. Nông nghiệp là nơi cung cấp lương thực, nguyên liệu và lao động cho công nghiệp và thành thị, là thị trường rộng lớn của công nghiệp và dịch vụ. Nông thôn chiếm đa số dân cư ở thời điểm khi bắt đầu công nghiệp hóa. Vì vậy, quan tâm đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa. Ở nước ta, trong những năm qua, vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn được đặt ở vị trí quan trọng. Trong những năm tới, định hướng phát triển cho quá trình này là: Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương. 

Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp. 

+ Về quy hoạch phát triển nông thôn: 

Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh. 

Hình thành các khu dân cư đô thị với kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ như thủy lợi, giao thông, điện nước, cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế, bưu điện, chợ… 

Đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số. 

Mục tiêu đề ra là phấn đấu đến năm 2010 giảm tỷ lệ lao động nông, lâm, ngư nghiệp xuống dưới 50% tổng số lao động xã hội và nâng cao tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên khoảng 85%. 

Tích cực thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện các dự án quan trọng để khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng. Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô. Thu hút chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài. 

Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế ­ xã hội nhất là các sân bay quốc tế, cảng biển, đường cao tốc, đường ven biển, đường đông tây, mạng lưới cung cấp điện, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở các đô thị lớn, hệ thống thủy lợi, cấp thoát nước. Phát triển công nghiệp năng lượng gắn với công nghệ tiết kiệm năng lượng. Tăng nhanh năng lực và hiện đại hóa bưu chính viễn thông. 

­ Đối với dịch vụ: 

Tạo bước phát triển vượt bậc của các ngành dịch vụ, nhất là những ngành có chất lượng cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh, đưa tốc độ phát triển của ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP. Tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế quốc để tạo bước phát triển ngành “công nghiệp không khói” này. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền 

Trang 13

Đổi mới căn bản cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng. Nhà nước kiểm soát chặt chẽ độc quyền 

và tạo hành làng pháp lý, môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường dịch vụ. 

Ba là,​ phát triển kinh tế vùng. 

Cơ cấu kinh tế vùng là một trong những cơ cấu cơ bản của nền kinh tế quốc dân. Xác định đúng đắn cơ cấu vùng có ý nghĩa quan trọng, nó cho phép khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh của từng vùng, tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Để phát triển mạnh mẽ kinh tế vùng trong những năm tới cần phải: 

Có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển nhanh hơn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý của mỗi vùng và liên vùng, đồng thời tạo ra sự liên kết giữa các vùng nhằm đem lại hiệu quả cao, khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính. 

Xây dựng ba vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam thành những trung tâm công nghiệp lớn có công nghệ cao để các vùng này đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển chung của cả nước. Trên cơ sở phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo ra động lực và sự lan tỏa đến các vùng khác và trợ giúp các vùng khó khăn, đặc biệt các vùng biên giới, hải đảo, Tây Nguyên, Tây Nam, Tây Bắc. Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các vùng khó khăn. Bổ sung chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh tại các vùng khó khăn. 

Bốn là, ​phát triển kinh tế biển. 

Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm. Sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh và hợp tác quốc tế. 

Hoàn chỉnh quy hoạch và phát triển có hiệu quả hệ thống cảng biển và vận tải biển, khai thác, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch biển, đảo. Đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp đóng tàu biển, đồng thời hình thành một số hành lang kinh tế ven biển. 

Năm là,​ dịch chuyển cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ. 

Để chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức cần phải: 

­ Phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo đến năm 2010 có nguồn nhân lực với cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao, tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp còn dưới 50% lực lượng lao động xã hội. 

­ Phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ. Lựa chọn và đi ngay vào công nghệ hiện đại ở một số ngành, lĩnh vực then chốt. Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học 

và công nghệ, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả, trong từng ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. 

­ Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức. Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. 

­ Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý khoa học và công nghệ đặc biệt là cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động khoa học và công nghệ. 

Sáu là,​ bảo vệ, sử dụng, hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên. 

Xuất phát từ yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, vấn đề bảo vệ, sử dụng tài nguyên và cải thiện môi trường tự nhiên được xác định. 

­ Tăng cường quản lý tài nguyên quốc gia, nhất là các tài nguyên đất, nước, khoáng sản và rừng. Ngăn chặn các hành vi hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng xuống cấp môi trường ở các lưu vực song, đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, nơi đông dân cư và có nhiều hoạt động kinh tế. Quan tâm đầu tư cho lĩnh vực môi trường, nhất là các hoạt động thu gom, tái chế và xử lý chất thải, phát triển và ứng dụng công nghệ sạch hoặc công nghệ ít gây ô nhiêm môi trường. Hoàn chỉnh luật pháp, tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên. Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải xử lý ô nhiễm hoặc chi trả cho việc xử lí ô nhiễm. 

­ Từng bước hiện đại hóa công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng – thủy văn, chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn. 

­ Xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hóa với bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững. 

­ Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên, chú trọng lĩnh vực quản lý, khai thác 

và sử dụng tài nguyên nước. 

Trang 14

 

Ngày đăng: 02/07/2015, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w