Đề tài : NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌCSINH LỚP 5 THÔNG QUA TIẾT TRẢ BÀI VIẾT Tác giả: Trần Thị Minh Tâm Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học có nh
Trang 1MỤC LỤC Trang
PHẦN A MỞ ĐẦU 3
I Đặt vấn đề 3
1 Thực trạng của vấn đề 3
1.1 Đối với chương trình sách giáo khoa 3
1.2 Đối với học sinh 4
1.3 Đối với giáo viên 4
2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới 4
2.1 Ý nghĩa 4
2.2 Tác dụng của giải pháp mới 5
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
II Phương pháp tiến hành 5
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.2 Cơ sở thực tiễn 6
2 Các biện pháp và thời gian tiến hành 7
2.1 Các biện pháp tiến hành 7
2.2 Thời gian nghiên cứu đề tài 7
PHẦN B NỘI DUNG 8
I Mục tiêu 8
II Mô tả giải pháp của đề tài 8
1.Tính mới của đề tài 8
1.1 Nội dung khái quát của đề tài 8
1.2 Nội dung của đề tài được thể hiện cụ thể như sau 8
1.3 Cách tiến hành một bài dạy Tập làm văn trả bài viết 8
1.4 Phương pháp giúp cho học sinh lớp 5 học tốt môn Tập làm văn thông qua tiết trả bài viết 9
1.4.1 Hướng dẫn học sinh về cấu tạo của một bài văn 9
1.4.1.1 Cấu tạo của bài văn tả cảnh 9
1.4.1.2 Cấu tạo của bài văn tả người 9
1.4.1.3 Cấu tạo của bài văn kể chuyện 10
1.4.1.4 Cấu tạo của bài văn tả đồ vật 10
1.4.1.5 Cấu tạo của bài văn tả cây cối 10
1.4.1.6 Cấu tạo của bài văn tả con vật 11
1.4.2 Những biện pháp giúp giáo viên dạy tốt tiết Tập làm văn trả bài viết 11
1.4.2.1 Chấm bài 11
1.4.2.2 Giáo viên nhận xét bài làm của học sinh 12
1.4.2.3 Hướng dẫn học sinh chữa bài 12
1.4.3 Các biện pháp hướng dẫn học sinh chữa lỗi trong bài văn 13
1.4.3.1 Phát hiện lỗi và sửa lỗi 13
1.4.3.1.1 Sửa lỗi dùng từ 13
1.4.3.1.2 Sửa chữa lỗi diễn đạt 17
Trang 21.4.3.1.3 Sửa lỗi sử dụng dấu câu 18
1.4.3.2 Đọc đoạn văn hay cho học sinh tham khảo 20
1.4.3.3 Hướng dẫn học sinh viết lại đoạn văn cho hay hơn 21
1.4.3.4 Sử dụng phiếu bài tập trong tiết trả bài 22
2 Khả năng áp dụng 23
2.1 Dạy thực nghiệm trên lớp đối chứng 23
2.2 Khả năng thay thế giải pháp hiện có 24
2.3 Khả năng áp dụng 25
3 Lợi ích kinh tế xã hội 25
3.1 Lợi ích của việc áp dụng đề tài đến quá trình giáo dục, công tác 25
3.1.1 Lợi ích của việc áp dụng đề tài đến quá trình giáo dục 25
3.1.2 Lợi ích của việc áp dụng đề tài đến quá trình công tác 26
3.2 Tính năng kỹ thuật, chất lượng, hiệu quả sử dụng 26
3.2.1 Tính năng kỹ thuật 26
3.2.2 Chất lượng của đề tài 26
3.2.3 Hiệu quả sử dụng 26
3.3 Tác động tích cực của đề tài 27
3.3.1 Tác động xã hội tích cực của đề tài 27
3.3.2 Tác động tích cực của đề tài đến việc cải thiện môi trường, cải thiện điều kiện lao động 27
PHẦN C KẾT LUẬN 28
1 Những điều kiện, kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp 28
2 Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp 28
3 Đề xuất 29
Trang 3Đề tài : NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC
SINH LỚP 5 THÔNG QUA TIẾT TRẢ BÀI VIẾT
Tác giả: Trần Thị Minh Tâm
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học có nhiệm vụ cung cấpcho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ, rèn cho các em sử dụng TiếngViệt trong nghe, nói, đọc, viết Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng của mônTiếng Việt, thông qua phân môn Tập làm văn, học sinh được rèn về khả năng dùng từ,đặt câu một cách chính xác, độc đáo để từ đó giúp các em có thể viết được bài vănhay, giàu tính nghệ thuật Song song với các tiết Tập làm văn luyện nói, luyện viết thìtiết Tập làm văn trả bài viết có một vị trí quan trọng Giờ trả bài viết có mục đích rèncho học sinh kĩ năng kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết của mình Chính vì vậy,giáo viên cần giúp học sinh biết tự sửa lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu … để lần saucác em viết văn mạch lạc, giàu hình ảnh, có cảm xúc chân thật
Tuy quan trọng như vậy nhưng khi dạy tiết Tập làm văn trả bài viết cho học sinhcòn có những thực trạng khó khăn như sau :
1.1 Đối với chương trình sách giáo khoa
Đối với lớp 5, phân môn tập làm văn chiếm thời lượng 2 tiết/tuần nhưng thờilượng cho các tiết trả bài viết rất ít Học sinh được học 3 tiết trả bài văn tả cảnh, 3 tiếttrả bài văn tả người, 1 tiết trả bài văn kể chuyện, 1 tiết trả bài văn tả đồ vật, 1 tiết trảbài văn tả cây cối, 1 tiết trả bài văn tả con vật Như vậy trong cả năm học, học sinhđược chọn trả bài viết 10 tiết với từng bộ đề cụ thể dưới nhiều hình thức chữa lỗi như:lỗi về chính tả, lỗi dùng từ, lỗi về câu, lỗi dùng dấu câu, lỗi đoạn văn … Điều này làmcho học sinh gặp khó khăn trong việc rèn luyện kĩ năng viết văn, thậm chí có em làmvăn chưa theo bố cục 3 phần mà các em chỉ viết theo cảm tính của mình
Lí thuyết trong sách giáo khoa còn chung chung, chưa cụ thể nên việc rèn chohọc sinh các kĩ năng tự sửa lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu … ít hiệu quả
Trang 41.2 Đối với học sinh
- Đa số học sinh nắm được cấu tạo của bài văn nhưng vốn từ ngữ của các em cònrất hạn chế, chưa vận dụng tốt khi viết bài cho nên cách viết của các em còn lủngcủng
- Phần lớn học sinh sau khi đọc tham khảo các bài văn mẫu, các bài văn hay các
em không chỉ ra được cái hay, cái tinh tế của bài văn để học tập và vận dụng
- Có rất nhiều sách Tập làm văn cho học sinh tham khảo, điều này dẫn đến các
em lười suy nghĩ mà chỉ chép nguyên văn mẫu, làm hạn chế khả năng tư duy của cácem
- Học sinh dùng từ, viết câu, diễn đạt chưa phù hợp, chưa biết sắp xếp ý một cáchlogic và cũng không biết lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh hay để sử dụng mộtcách hợp lí và sinh động
1.3 Đối với giáo viên
Để nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn, người giáo viên phải luôn luônđổi mới phương pháp giảng dạy tốt nhất để học sinh dễ tiếp thu Thực tế tôi nhận thấythực trạng về giáo viên như sau:
- Một số giáo viên ít chịu khó tìm tòi, tham khảo các tài liệu để bồi dưỡng thêmcho kiến thức chuyên môn của mình mà chỉ phụ thuộc vào những kiến thức trong sáchgiáo khoa
- Giáo viên chấm bài thiếu tỉ mỉ, chưa chu đáo, ít chú ý đến việc hướng dẫn họcsinh chữa lỗi, học cách viết văn hay … mà chỉ dạy chung chung, áp đặt học sinh vàchưa thực sự quan tâm đặc biệt đến giờ Tập làm văn trả bài viết
- Thực tế qua khảo sát các giờ Tập làm văn trả bài viết, hầu như các giáo viên ítđầu tư thời gian ghi lại những từ hay, ý đẹp hoặc những lỗi sai của học sinh về mọiphương diện vào sổ tay văn học của mình Chính vì thế giáo viên không sửa được cáclỗi của học sinh
- Trong giờ Tập làm văn trả bài viết, hầu hết giáo viên chưa khai thác hết yêu cầucủa giờ học Có giờ nặng về nêu ưu điểm nên học sinh chưa thấy hết cái sai của mình
và lần sau lại mắc lỗi Có giờ nặng về nêu khuyết điểm nhưng lại rất chung chung, gâykhông khí thiếu tích cực trong giờ học và quả nhiên giáo viên làm việc nhiều còn họcsinh thụ động tiếp thu Điều đó làm cho kết quả đạt được của giờ trả bài viết rất hạnchế
2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
2.1 Ý nghĩa
Giải pháp mới của đề tài phát huy tối đa tính tích cực của học sinh Các em sẽ tựphát hiện những khiếm khuyết trong bài làm của mình, của bạn và biết tự sửa lỗi về
Trang 5chính tả, dùng từ, đặt câu, viết đoạn … để lần sau các em viết văn mạch lạc, giàu hìnhảnh, có cảm xúc chân thật.
Đề tài còn bồi dưỡng cho học sinh tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc, phát triển kĩnăng làm văn, góp phần hình thành cho các em ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng đốivới sản phẩm tinh thần do chính mình tạo ra
2.2 Tác dụng của giải pháp mới
Đề tài sẽ giúp cho học sinh nắm vững cách viết văn thông qua việc sửa lỗi vềchính tả, cách dùng từ, đặt câu, lỗi diễn đạt … Rèn luyện cho các em cách viết vănhay, giàu hình ảnh, mang tính nghệ thuật, tính sáng tạo Bên cạnh đó đề tài còn giúpcác em nhận ra một bài văn có điểm nào hay, điểm nào chưa hay và sửa như thế nàocho phù hợp để mang lại hiệu quả cao Điều này rất cần thiết cho các em ở mọi bậchọc
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu ở Trường Tiểu học Mỹ An, chủ yếu trong nội dungchương trình môn Tiếng Việt lớp 5 nhằm giúp cho học sinh lớp 5 có kĩ năng làm vănhay, biết cách dùng từ và đặt câu, vận dụng các biện pháp tu từ để diễn đạt ý tưởngmột cách chính xác có logic Đề tài giúp cho học sinh có thể thực hành tự phát hiện lỗi
và sửa lỗi trong bài làm của mình ở mức tốt nhất
II Phương pháp tiến hành
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lí luận
Tiếng Việt là một trong số các ngôn ngữ rất phong phú, đa dạng và có sức biểucảm Nếu biết cách sử dụng tốt từ ngữ trong viết văn sẽ giúp ta truyền đạt đến ngườiđọc những nội dung, thông tin một cách có hiệu quả nhất
Tập làm văn là phân môn sử dụng các kiến thức và kĩ năng mà các phân môn củamôn Tiếng Việt khác như: Kể chuyện, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu …để hìnhthành một cách tổng hợp và hoàn thiện Như vậy, phân môn Tập làm văn đã thực hệnmục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụngđược tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập
Cùng với sự phát triển vượt bậc của xã hội, giáo dục phát triển như một tất yếu.Các em sẽ từng bước được đón nhận kho tàng văn minh của nhân loại Như vậy quátrình giáo dục được thực hiện mọi lúc, mọi nơi, ở tất cả các môn học
Trong quá trình phát triển của trẻ, giao tiếp là một kĩ năng rất cần thiết đối vớitrẻ Chính vì vậy, việc giúp học sinh rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết văn chínhxác và độc đáo là một vấn đề hết sức quan trọng Nếu học sinh được rèn luyện các kĩnăng này thì các em sẽ dễ dàng nhận thấy cái hay, cái đẹp chứa đựng trong các yếu tố
Trang 6ngôn ngữ Từ đó học sinh sẽ biết cách dùng từ, đặt câu, chọn ý sao cho đúng và hay đểmiêu tả hình ảnh, sự vật một cách sinh động Chính vì vậy, việc giúp học sinh rèn kĩnăng làm văn, kĩ năng tự sửa lỗi là một vấn đề hết sức quan trọng, cần thiết.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong giảng dạy, việc nâng cao chất lượng giờ dạy Tập làm văn trả bài viết chohọc sinh lớp 5 không phải là một vấn đề đơn giản Các em chưa có ý thức học tập tốtphân môn này Học sinh chỉ làm bài theo yêu cầu của bài tập, viết một cách máy móc
mà chưa hiểu rõ bản chất của vấn đề, chưa nắm được cấu tạo của bài văn theo từng thểloại, các em mắc quá nhiều lỗi khi viết văn, thậm chí có em làm chưa đúng với yêucầu của đề bài Điều này thể hiện rõ qua các bài kiểm tra viết và kiểm tra định kì củahọc sinh Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy rằng một số ít giáo viên chưa chú tâmnhiều đến tiết Tập làm văn trả bài viết, giảng dạy chung chung Đã thế tiết trả bài viếttrong sách giáo khoa không được hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho từng đề Vì vậy, giáoviên cũng rất khó khăn trong bài dạy của mình
Từ những lí do khách quan và chủ quan trên, thông qua việc học tập và giảng dạytrong những năm qua, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn
cho học sinh lớp 5 thông qua tiết trả bài viết” để nghiên cứu sâu hơn nhằm tìm ra
được phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp nhất, vận dụng tốt nhất cho quá trìnhgiảng dạy
Khi dạy phân môn Tập làm văn, tôi đã ra đề “Hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn
bó với em trong nhiều năm qua.” để khảo sát học sinh lớp 5A năm học 2011-2012 Số
học sinh được khảo sát (32 em) đã phản ánh thực trạng này như sau:
* Về nội dung bài Tập làm văn
- Khoảng 20 % học sinh viết văn có bố cục rõ ràng, bài viết cô đọng xúc tích
- Khoảng 70 % học sinh thực hiện được yêu cầu của đề nhưng diễn đạt ý cònchưa rõ ràng, thiếu lôgic
- 10 % học sinh sao chép nguyên bản bài của bạn hoặc văn mẫu Thậm chí có embài viết còn khô khan, rời rạc, lủng củng, vay mượn
* Về kĩ năng:
- Các em dùng dấu câu chưa chính xác, thậm chí có bài không dùng dấu câu nào
- Bài viết mắc lỗi chính tả, đặc biệt là lỗi chính tả thông thường, bên cạnh nhữnglỗi chính tả vốn có của địa phương
Trang 7- Dùng từ, đặt câu, liên kết câu, đoạn chưa đạt Diễn đạt câu còn lủng củng chưa
có lôgic Bài văn ít sáng tạo
Kết quả khảo sát trên cho thấy chúng ta cần quan tâm nhiều hơn nhằm nâng caochất lượng Tiết tập làm văn trả bài viết cho học sinh nói riêng và chất lượng phân mônTập làm văn nói chung
2 Các biện pháp và thời gian tiến hành
2.1 Các biện pháp tiến hành
Khi nghiên cứu đề tài tôi đã tiến hành song song nhiều biện pháp từ nghiên
cứu thực trạng trên lớp mình dạy học đến việc tìm tòi suy nghĩ để tìm ra cách giảngdạy tốt nhất Tôi đã sử dụng nhiều phương pháp như sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận (đọc tài liệu)
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp phân tích, thực hành
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm
2.2 Thời gian nghiên cứu đề tài
- Đọc và nghiên cứu tài liệu, điều tra thực tế bắt đầu từ tháng 9 năm 2010.
- Dạy thực nghiệm trên lớp từ năm học 2011-2012
- Viết bản nháp cho đề tài từ tháng 6 năm 2012
- Hoàn thành đề tài vào cuối tháng 8 năm 2013
PHẦN B NỘI DUNG
I Mục tiêu
Trang 8Đề tài hướng dẫn cho học sinh biết được những ưu điểm, hạn chế trong bài làmcủa mình và tự biết cách sửa lỗi mà mình mắc phải Thông qua việc sửa lỗi, các em sẽ
có kinh nghiệm hơn trong khi viết văn, làm được những bài văn hay có tính sáng tạo
và tính nghệ thuật cao Bên cạnh đó, đề tài còn giúp các em nhận ra được những điểmhay trong bài làm của bạn để học tập và rút kinh nghiệm Điều này rất quan trọng đốivới học sinh
Đề tài bồi dưỡng cho học sinh năng lực viết văn Đó là năng lực sản sinh ngônbản dưới hình thức viết Nhờ năng lực này, các em biết sử dụng tiếng Việt làm công cụgiao tiếp, tư duy và học tập Điều này sẽ giúp học sinh rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếngViệt một cách khoa học và mang tính nghệ thuật cao
Đề tài còn bồi dưỡng cho học sinh khả năng sáng tạo vì mỗi bài văn tuy được viếttheo cấu trúc của từng thể loại nhưng nó vẫn mang tính rất riêng của từng học sinh
Đề tài được ứng dụng sẽ giúp cho học sinh dần nắm được cách viết văn theonhiều phong cách khác nhau sau quá trình luyện tập lâu dài của các em
Đề tài được áp dụng thành công còn góp phần bổ sung kiến thức, phát triển tưduy và hình thành nhân cách tốt đẹp cho học sinh
II Mô tả giải pháp của đề tài
1.Tính mới của đề tài
1.1 Nội dung khái quát của đề tài
Đề tài này gồm các nội dung như sau:
- Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn theo bố cục 3 phần của từng kiểu bài theotừng thể loại
- Rèn luyện kỹ năng phát hiện lỗi và sửa lỗi trong bài làm của mình
- Hướng dẫn học sinh phân tích, học tập những đoạn văn hay, bài văn hay
- Hướng dẫn học sinh viết lại một đoạn văn (đoạn mở bài, đoạn kết bài hoặc mộtđoạn của phần thân bài) chính xác hơn, hay hơn
1.2 Nội dung của đề tài được thể hiện cụ thể như sau
- Hướng dẫn học sinh nắm vững cấu tạo của một bài văn theo từng thể loại
- Hướng dẫn học sinh kĩ năng phát hiện lỗi và chữa lỗi trong bài viết của mình
- Hướng dẫn học sinh phân tích, nhận biết những đoạn văn hay, bài văn hay đểhọc tập
- Hướng dẫn học sinh viết lại một đoạn văn hay hơn
1.3 Cách tiến hành một bài dạy Tập làm văn trả bài viết
Khi dạy tiết Tập làm văn trả bài viết, để giúp các em nắm chắc kiến thức, có kĩnăng sửa lỗi và kinh nghiệm làm văn, tôi đã nghiên cứu và rút ra được các kinhnghiệm như sau:
Trang 91 Giáo viên chấm bài kĩ, bám sát yêu cầu mà chuẩn kiến thức và kĩ năng đề ra,thống kê được các lỗi mà học sinh mắc phải và đưa ra một biểu điểm đảm bảo tínhkhoa học.
2 Giáo viên nhận xét bài làm của học sinh
3 Hướng dẫn học sinh chữa bài
4 Học sinh vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt từng yêu cầu của đềbài
5.Giáo viên kiểm tra đánh giá
6 Giáo viên rút kinh nghiệm qua các tiết dạy để vận dụng cho các tiết học sau
1.4 Phương pháp giúp cho học sinh lớp 5 học tốt môn Tập làm văn thông qua tiết trả bài viết
Phương pháp tổ chức dạy cho học sinh lớp 5 tiết Tập làm văn trả bài viết bằngnhiều hình thức Kĩ năng được rèn luyện thông qua lí thuyết và các dạng bài tập thựchành nhằm giúp các em nắm được bố cục của các kiểu bài văn (tả cảnh, tả người, tả đồvật, tả cây cối, tả con vật …), biết cách viết được một bài văn thành thạo, bài văn bịmắc lỗi thì có đặc điểm gì và cách sửa lỗi trong bài văn như thế nào cho đúng Từ đócác em biết cách vận dụng những điều đã học vào bài văn của mình
1.4.1 Hướng dẫn học sinh về cấu tạo của một bài văn
1.4.1.1 Cấu tạo của bài văn tả cảnh
Bài văn tả cảnh thường có 3 phần :
Mở bài: Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả.
- Cảnh đó ở đâu, đó là cảnh gì?
- Cảnh đó được em thấy vào thời điểm nào?
Thân bài : Tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian.
- Tả bao quát toàn cảnh : những nét chung, những nét nổi bật, đặc sắc
- Tả cảnh theo trình tự hợp lí : Từ xa đến gần hoặc ngược lại ; từ trên caoxuống thấp hoặc ngược lại
- Tả người hoặc vật có liên quan đến cảnh
Kết bài : Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết về cảnh được tả.
Khi dạy, tôi thường hướng dẫn các em cách viết văn dựa theo cấu tạo như trên
1.4.1.2 Cấu tạo của bài văn tả người
Bài văn tả người thường có 3 phần:
Mở bài : Giới thiệu người định tả.
- Người đó là ai, quan hệ như thế nào với em ?
- Em gặp người ấy ở đâu, vào dịp nào ?
Thân bài : - Tả ngoại hình (đặc điểm nổi bật về tầm vóc, cách ăn mặc, khuôn
Trang 10mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng …).
- Tả tính tình, hoạt động (lời nói, cử chỉ, thói quen, cách cư xử vớingười khác, …)
Kết bài : Nêu cảm nghĩ về người được tả.
- Nhận xét, suy nghĩ của em về người mình tả
- Tình cảm của em đối với người được tả
1.4.1.3 Cấu tạo của bài văn kể chuyện
Bài văn kể chuyện thường có 3 phần :
Mở bài : Giới thiệu câu chuyện được kể.
- Thời gian xảy ra câu chuyện
- Địa điểm diễn biến câu chuyện
- Nhân vật chính và các nhân vật phụ
- Tình huống ban đầu của câu chuyện
Thân bài : Kể lại diễn biến câu chuyện.
- Diễn biến các sự việc nối tiếp nhau theo trình tự thời gian
- Nêu sự xung đột giữa các nhân vật
- Câu chuyện được giải quyết và kết thúc một cách tự nhiên hợp lí
Kết bài : Nêu kết cục của câu chuyện hoặc nêu ý nghĩa hay đưa ra lời bình
luận về câu chuyện
1.4.1.4 Cấu tạo của bài văn tả đồ vật
Bài văn tả đồ vật thường có 3 phần :
Mở bài : Giới thiệu đồ vật mà em định tả (em có đồ vật đó khi nào ? ai cho
- Nêu công dụng và lợi ích của đồ vật
Kết bài : Nêu cảm nghĩ của em về đồ vật được tả.
1.4.1.5 Cấu tạo của bài văn tả cây cối
Bài văn tả cây cối thường có 3 phần :
Mở bài : Giới thiệu cây, hoa hoặc quả em định tả (Cây em định tả là cây gì?
Trồng ở đâu ? Do ai trồng ? Được trồng vào dịp nào ?)
Thân bài : - Tả bao quát toàn bộ cây (hoặc hoa, quả).
- Tả từng bộ phận của cây (hoa, quả), hoặc sự thay đổi của cây
Trang 11(hoa, quả) theo thời gian.
- Tả cảnh vật thiên nhiên xung quanh, hoạt động của con người,chim chóc, bướm ong … liên quan đến cây (hoa, quả)
Kết bài : Nêu suy nghĩ hoặc tình cảm của em với cây (hoa, quả) được miêu tả.
1.4.1.6 Cấu tạo của bài văn tả con vật
Bài văn tả con vật thường có 3 phần :
Mở bài : Giới thiệu con vật mà em định tả (Con vật đó có từ khi nào ? Nó có
nguồn gốc từ đâu ?)
Thân bài : - Tả đặc điểm, hình dáng (từ khái quát đến chi tiết) của con vật.
+ Chiều cao, cân nặng
+ Màu sắc của bộ lông
+ Dáng vẻ, tiếng kêu
+ Các bộ phận : đầu, mình, chân, đuôi …
- Tả đặc điểm hoạt động của con vật
+ Đi lại, chạy nhảy
+ Ăn uống, bắt mồi
+ Thái độ đối với con vật khác
Kết bài : Con vật gần gũi với cuộc sống của em, được em yêu quý như thế nào?
1.4.2 Những biện pháp giúp giáo viên dạy tốt tiết Tập làm văn trả bài viết 1.4.2.1 Chấm bài
Chấm bài không nằm trong quá trình lên lớp 40 phút trả bài nhưng nó lại là yếu
tố quan trọng, làm cơ sở cho giờ trả bài Giờ trả bài có thành công hay không ? Họcsinh có thấy được đúng sai trong bài làm của mình hay không đều do việc chấm bàicủa giáo viên, đó là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng bài làm của họcsinh
Song song với việc chấm bài kĩ, giáo viên phải có sổ chấm bài Sổ chấm bài cótác dụng thống kê các loại lỗi để tìm ra lỗi phổ biến, ghi chép những sai đúng của từnghọc sinh để làm tư liệu phục vụ cho việc nhận xét và hướng dẫn chữa lỗi Nhưng trướchết muốn ghi chép đúng, giáo viên phải chấm bài kĩ, bám sát yêu cầu mà chuẩn kiếnthức và kĩ năng đã đề ra, đưa ra một biểu điểm đảm bảo tính khoa học, khách quan, vô
tư Từ đó thấy rõ ưu và nhược điểm của từng bài viết Đồng thời sổ này giúp giáo viên
so sánh đối chiếu những bài sau so với những bài trước, xem sự dứt điểm của từng loạilỗi đã sửa được chưa ? Sửa đến đâu ? Sự tiến bộ của các em đạt đến mức độ nào ? Sổđược trình bày theo bảng sau:
Các loại lỗi sai Tên học sinh Dẫn chứng Hướng sửa lỗi
Trang 125 Lỗi viết câu
Cuối bảng giáo viên ghi rõ cần dứt điểm loại lỗi nào trong bài viết kế tiếp, việcnày được nêu ở phần củng cố của giờ trả bài viết giúp cho học sinh phấn đấu để giờsau đạt kết quả tốt hơn
1.4.2.2 Giáo viên nhận xét bài làm của học sinh
Khi nhận xét bài làm của học sinh, giáo viên cần chú ý :
- Ghi đề bài kiểm tra lên bảng, việc này giúp các em nhớ lại đề bài mà các em đãlàm ở tiết trước, nó tác động đến các em về vấn đề cần giải quyết trong tiết học
- Giúp học sinh xác định lại yêu cầu của đề bài để các em tự đối chiếu với kết quảbài viết xem đã thực hiện được đến đâu Để từ đó giúp các em dễ dàng nắm được ưu
và nhược điểm của bản thân
- Nêu rõ ưu, khuyết điểm của học sinh trong việc thực hiện yêu cầu của đề bài(dẫn chứng cụ thể được giáo viên chấm và theo dõi qua sổ thống kê lỗi của giáo viên) ;kết hợp với nhận xét về chữ viết và cách trình bày bài văn ; công bố kết quả điểm số
và biểu dương những học sinh có bài làm tốt hoặc bài làm có tiến bộ Giáo viên nêncông bố tên học sinh có ưu điểm, không cần thiết nêu tên học sinh có khuyết điểm
1.4.2.3 Hướng dẫn học sinh chữa bài
Căn cứ vào kết quả bài làm của học sinh, giáo viên có thể tiến hành việc hướngdẫn học sinh chữa bài sao cho linh hoạt và đạt hiệu quả thiết thực theo các cách sau :
- Trả bài làm cho học sinh, yêu cầu học sinh đọc thầm lại toàn bộ bài làm, lờinhận xét chung và những chỗ lưu ý cụ thể của giáo viên trong bài viết
- Hướng dẫn học sinh chữa lỗi chung về nội dung (sai, thiếu ý hoặc chi tiết sựviệc …) và hình thức (về bố cục, về cách dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả …)
- Tổ chức cho học sinh tự chữa bài làm của cá nhân, sau đó đổi bài để kiểm tra,giúp đỡ nhau về việc chữa lỗi
- Đọc cho học sinh nghe những câu văn hay, đoạn văn hay, bài văn hay để giúpcác em vận dụng vào bài bài viết của mình Giúp các em viết văn giàu hình ảnh, côđọng, xúc tích Gợi ý học sinh trao đổi để học tập những ưu điểm trong bài văn củabạn (về bố cục, sắp xếp ý, diễn đạt, dùng từ đặt câu, sử dụng biện pháp nghệ thuật …)
Trang 13- Hướng dẫn học sinh chọn viết một đoạn văn trong bài làm cho tốt hơn (Đây làbước dành cho học sinh khá, giỏi) Tùy điều kiện thời gian cho phép, giáo viên có thểhướng dẫn học sinh thực hiện yêu cầu này tại lớp hoặc luyện tập thêm ở nhà để nângcao kĩ năng viết văn Đoạn văn học sinh chọn để viết lại có thể là đoạn văn còn mắclỗi (lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu …) hoặc đoạn văn viết chưa hay.
- Để nâng cao hiệu quả của bài dạy, giáo viên cần sử dụng phiếu bài tập nhằmphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, đồng thời tạo hứng thú chocác em trong học tập
1.4.3 Các biện pháp hướng dẫn học sinh chữa lỗi trong bài văn
1.4.3.1 Phát hiện lỗi và sửa lỗi
1.4.3.1.1 Sửa lỗi dùng từ
Trong quá trình dạy học phân môn Tập làm văn ở lớp 5, đặc biệt khi chấm bàicho học sinh ta thường thấy các em sử dụng từ chưa chính xác, dùng từ không đúng,dùng từ chưa hay Vì thế chất lượng bài viết của các em chưa cao
Một trong những nguyên nhân cơ bản là do vốn từ của các em còn nghèo nànnên dùng từ tùy tiện, làm hỏng, sai ý của câu văn hoặc làm cho câu văn khô khan, đơnđiệu, thiếu hình ảnh Các em cũng chưa biết cách khai thác và sử dụng từ ngữ mộtcách độc đáo, sáng tạo để diễn tả những điều đã quan sát được ; chưa biết thể hiện cảmxúc, suy nghĩ của mình trước một sự vật, hiện tượng
Do khả năng hiểu từ, lựa chọn từ, sử dụng từ của học sinh còn nhiều hạn chế, các
em sử dụng từ một cách tùy tiện, không biết vận dụng các biện pháp ẩn dụ, so sánh,nhân hóa … Vì thế câu văn thường thiếu sinh động và không có hình ảnh, sau đây lànhững ví dụ cụ thể :
- Dạng 1: Dùng từ sai về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ (còn gọi là lỗi chính tả)
Đó là việc sử dụng từ có âm thanh hoặc hình thức cấu tạo gần giống với âm thanhhoặc hình thức cấu tạo của từ cần miêu tả làm cho người đọc, người nghe khó hiểuđúng nội dung cần diễn đạt Nguyên nhân là do học sinh chưa phân biệt được ranh giớigiữa các từ nên thường dùng những âm na ná như nhau, lẫn lộn với nhau Đồng thời
do sự phát âm không chuẩn của từng địa phương
Ví dụ 1: Đề bài “Tả một cơn mưa”, SGK- TV5- tập 1,có học sinh viết như sau :
a Lúc nãy là mấy giọt lách tách, bây giờ bao nhiêu nước tuôn rì rào
b Sau cơn mưa, những luống rau sanh ngắt trông thật thích mắt
Trong các câu trên, do học sinh không nắm được nghĩa của các từ có âm thanhgần giống nhau nên các em đã sử dụng sai từ rì rào và viết sai chính tả từ sanh ngắtkhiến cho người đọc có thể hiểu sai nội dung cần diễn đạt Khi gặp những lỗi này, tôi
Trang 14hướng dẫn học sinh khắc phục bằng cách cho các em nêu nghĩa của từ rì rào và xanh
ngắt Từ đó giáo viên giải thích cho các em hiểu rì rào là miêu tả tiếng gió thổi còntiếng mưa tuôn phải dùng từ rào rào Còn ở câu (b), thay từ sanh ngắt thành từ xanh
ngắt.
Ví dụ 2 : “Tả một em be đang tuổi tập nói, tập đi”, SGK- TV5- tập 1, có học sinhviết :
a Bé Na có đôi mắt chòn xe và đen láy như hai hột nhãn.
b Bé Na rất thích đi, bé đi chưa vững nên hay bị ngả.
Giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi sai trong các câu trên và yêu cầu các
em sửa lại cho đúng chính tả Hai câu trên được sửa lại như sau:
a Bé Na có đôi mắt tròn xoe và đen láy như hai hột nhãn.
b Bé Na rất thích đi, bé đi chưa vững nên hay bị ngã.
- Dạng 2 : Dùng từ không đúng nghĩa
Đó là việc sử dụng từ ngữ một cách tùy tiện do học sinh không hiểu rõ nghĩa củacác từ cần miêu tả, gây cho người đọc người nghe khó hiểu trước nội dung muốn thểhiện của người viết Nguyên nhân của việc dùng từ không đúng nghĩa là do các emchưa hiểu được nghĩa của từ mình đang dùng, nhầm lẫn giữa các từ gần nghĩa, khôngnắm được sắc thái biểu cảm của từ
Ví dụ 1 : Đề bài “Tả một người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, em …) của em”, SGK- TV5- tập 1, có học sinh viết : Mỗi khi cười, mẹ để lộ hàm răng trắng xóa rất có duyên Trong trường hợp này, các em dùng từ trắng xóa là thiếu chính xác Từ trắng xóa dùng để chỉ độ trắng của tuyết hoặc của bọt nước Còn chỉ độ trắng của hàm răng
thì dùng từ trắng bóng hoặc trắng sáng là thích hợp Câu trên được sửa lại như sau:
Mỗi khi cười, mẹ để lộ hàm răng trắng sáng rất có duyên.
Ví dụ 2 : Đề bài “Tả một cảnh đẹp ở địa phương em” – SGK- TV5 - tập 1, có học
sinh đã viết như sau :
a Cánh đồng như rộng hơn bởi sự uốn lượn của những đợt sóng lúa Cảnh thiên nhiên tươi đẹp ấy làm tăng thêm vẻ yên tĩnh cho quê hương.
b Không khí trong trắng của quê hương đã khiến tâm hồn em trở nên sảng khoái hơn.
Ở đây do học sinh không nắm được nghĩa của các từ mà sử dụng tùy tiện khi viếtcâu gây khó hiểu cho người đọc, người nghe Ở câu (a) học sinh đã dùng sai từ yên tĩnh, ở câu b các em dùng sai từ trong trắng.
Khi gặp những lỗi này, tôi có thể đưa ra những câu dùng đúng từ yên tĩnh ; yêucầu học sinh xác định từ loại của nó ; từ đó giúp các em hiểu được cách dùng từ nhưvậy là sai ; đồng thời giải thích cho các em về ý nghĩa của câu văn và hướng dẫn các
Trang 15em có thể thay từ yên tĩnh bằng từ thanh bình Đối với câu b, tôi cho học sinh nêunghĩa của từ trong trắng và yêu cầu các em đặt câu với từ đó Sau đó yêu cầu học sinh
tự sửa lại câu trên bằng cách thay từ trong trắng bằng từ trong lành
Ví dụ 3 : Khi tả cái đòng hồ báo thức, có học sinh đã viết : “Bác đồng hồ đeo trên mình bộ quần áo màu xanh nước biển.”
Trong trường hợp này, tôi đặt câu hỏi gợi mở để giúp học sinh phát hiện lỗi sai
và sửa lỗi như sau :
+ Câu văn của bạn đã bị mắc lỗi gì ? (Dùng sai từ đeo)
+ Các em nên thay từ đeo bằng từ nào phù hợp hơn ? (thay từ đeo bằng từ
Tương tự như trên, giáo viên hướng dẫn học sinh tự phát hiện lỗi (dùng sai từ
trang nghiêm) và sửa lỗi (thay từ trang nghiêm bằng từ rạng ngời) Câu văn được sửa
lại như sau : Nhìn vẻ mặt rạng ngời của các cô bác nông dân, em tin rằng vụ lúa này
sẽ bội thu.
- Dạng 3 : Dùng từ sai do kết hợp
Khi viết, các em sử dụng sai từ ngữ khi kết hợp làm cho câu văn sai về nghĩahoặc vô nghĩa Nguyên nhân của việc dùng sai từ là do học sinh không nắm đượcnguyên tắc phối hợp từ, mối quan hệ giữa hai vế câu ghép, mối quan hệ giữa các từtrong câu
Ví dụ : Khi làm bài văn tả cảnh một số học sinh đã viết như sau:
a Con đường làng từ nhà đến trường rất đỗi thân thuộc với em nhưng em chẳng muốn rời xa.
b.Cánh đồng bước vào mùa thu hoạch, bà con nông dân đã nô nức gặt lúa.
Trong ví dụ (a), do học sinh không nắm được ý nghĩa của câu ghép có cặp quan
hệ từ chỉ nguyên nhân – kết quả nên các em đã kết hợp sai từ nhưng với từ vì (đã bịlược đi) Khi gặp lỗi trên, tôi yêu cầu học sinh nhắc lại ý nghĩa của các cặp quan hệ từ,
từ đó giải thích cho học sinh biết không có cặp quan hệ từ vì – nhưng và sửa lại bằngcách thay từ nhưng thành từ nên
Đối với câu (b), tôi tiếp tục cho học sinh nêu nghĩa của câu trên và yêu cầu họcsinh nêu cách dùng từ đã để học sinh nắm được đã dùng để nói về những sự việc đãqua nên không thể viết đã gặt lúa trong khi đang vào mùa gặt Tiếp theo tôi cho họcsinh tự sửa lại bằng cách bỏ từ đã hoặc thay từ đã bằng từ đang
Trang 16Hai câu văn trên được sửa lại như sau :
a Con đường làng từ nhà đến trường rất đỗi thân thuộc với em nên em chẳng muốn rời xa.
b.Cánh đồng bước vào mùa thu hoạch, bà con nông dân nô nức gặt lúa.
- Dạng 4 : Dùng từ sai do lặp từ
Do vốn từ của học sinh còn nghèo nàn nên các em chưa biết sử dụng các từ đồngnghĩa để thay thế cho nhau Vì vậy trong bài viết của mình các em thường lặp lại từngữ làm cho câu văn lủng củng, không mạch lạc Có hai dạng lặp từ đó là: lặp từ hoàntoàn và lặp từ đồng nghĩa
Ví dụ 1 : Đề bài “Tả một người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, em …) của em”, SGK- TV5- tập 1, có học sinh viết : “Khuôn mặt trái xoan của mẹ rất đẹp, làn da của
mẹ trắng hồng, mái tóc của mẹ đen bóng và suông thẳng.”
Trong ví dụ này, học sinh đã dùng lặp lại 3 lần cụm từ “của mẹ” gây nhàm chán
cho người đọc, người nghe Trong trường hợp này, tôi hướng dẫn học sinh nhắc lạicách liên kết câu bằng phương pháp thế ; sau đó cho các em dùng các từ khác có thểthay thế cho cụm từ “của mẹ” mà nội dung của câu đó không thay đổi Các em sẽ dễdàng tìm được các cụm từ thay thế đó là: “mẹ có làn da trắng hồng”, “mái tóc đen
bóng và suông thẳng ấy” Câu văn trên được sửa lại như sau: Khuôn mặt trái xoan của
mẹ rất đẹp, làn da trắng hồng, mái tóc đen bóng và suông thẳng tôn lên vẻ phúc hậu, rạng ngời cho mẹ.
Ngoài ra, tôi cũng có thể hướng dẫn các em sử dụng câu đơn có nồng cốt câu làmột chủ ngữ - nhiều vị ngữ hoặc nhiều chủ ngữ - một vị ngữ, các em sẽ nhận biết vàviết được câu không bị lặp lại từ Câu văn trên có thể sửa lại bằng nhiều cách như sau :
+ Mẹ em có khuôn mặt trái xoan, làn da trắng hồng, mái tóc đen bóng và suông
Ở trường hợp này, các em đã dùng lặp lại từ đồng nghĩa bao la, bát ngát Giáo
viên cho học sinh tìm các từ khác thay thế từ đồng nghĩa hoặc có thể bỏ bớt đi một từ
và giải thích để các em hiểu rằng không nên viết các từ đồng nghĩa trong cùng một câu
vì như thế sẽ làm giảm đi hình ảnh đẹp của câu văn Trong câu này, các em có thể tìm
từ thay thế như thẳng cánh cò bay hoặc có thể bỏ bớt đi một trong hai từ mà ý của câuvăn không hề thay đổi, câu văn trở nên ngắn gọn và xúc tích hơn Câu văn có thể sửalại như sau :
Trang 17+ Cánh đồng lúa quê em rộng bát ngát.
+ Cánh đồng lúa quê em rộng thẳng cánh cò bay.
Việc phát triển kỹ năng sử dụng từ ngữ trong viết văn cho học sinh lớp 5 là hếtsức quan trọng và có ý nghĩa Điều đó giúp các em không chỉ viết đúng mà còn hướngtới việc viết văn hay, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn ởlớp 5
1.4.3.1.2 Sửa chữa lỗi diễn đạt
Thông thường việc sửa lỗi diễn đạt dựa trên cơ sở bài viết của lớp để tìm ra cáccâu có vấn đề về ngữ pháp, về chính tả để cho học sinh nhận xét, sửa chữa Địnhhướng như vậy sẽ giúp cho việc chữa lỗi phù hợp với trình độ của lớp Tuy nhiên, để
có được bài văn tốt, giáo viên cũng tính đến việc sửa chữa lỗi diễn đạt cho học sinh.Sửa lỗi diễn đạt có thể tiến hành sửa lỗi chung trước lớp và nội dung bài làm của cánhân, học sinh tự sửa lỗi trên bài viết đã được thầy cô giáo nhận xét Để thực hiện việcnày, giáo viên cần thống nhất với học sinh lớp mình dạy một số kí hiệu trong quá trìnhchấm bài của thầy cô Để thực hiện vấn đề này có hiệu quả, trong thời gian qua bảnthân tôi đã làm như sau : Những lỗi thông thường hay gặp trong bài viết của học sinhtôi đã gạch dưới và ghi ra bên lề kí hiệu xác nhận hình thức lỗi cần sửa Học sinh nhậnlại bài khi cô giáo đã chấm và có trách nhiệm tìm đọc các lỗi đã được giáo viên pháthiện để chữa lại cho đúng Các lỗi chính tả (kí hiệu CT), lỗi dùng từ (TN) thì có thểsửa và viết lại ngay ở bên lề Những lỗi về câu như thiếu hay thừa chủ ngữ (CN), vịngữ (VN), bổ ngữ (BN), định ngữ (ĐN) thì cần viết lại cả câu ở dưới bài viết Nhữnglỗi về đoạn, lỗi về tính chính xác của dẫn chứng hay chi tiết cần được sửa lại ở bêndưới bài
Khi giao việc cho học sinh làm, giáo viên cần phải kiểm tra việc thực hiện Chính
vì vậy sau tiết trả bài tôi thường yêu cầu học sinh nộp bài cũ mà các em đã sửa chữatrước khi học bài mới, kết hợp với tuyên dương những em biết sửa chữa Công việcnày giúp các em thực hiện việc sửa lỗi bài viết một cách nghiêm túc và tăng hiệu quảluyện viết văn của bản thân
Việc chữa lỗi chung trên lớp cũng cần được thực hiện cho đủ các nội dung sau :
- Phát hiện lỗi sai trong câu
- Tìm hiểu nguyên nhân của lỗi sai
- Xác định hướng sửa chữa
- Tiến hành sửa lỗi cụ thể
Cần lưu ý là việc sửa chữa lỗi sai có thể thực hiện theo hai ba cách khác nhau.Một ý có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng vẫn nêu đúng ý cần miêu tả
Ví dụ 1: Đề bài “Tả một người thân trong gia đình em" , có học sinh viết :“Em rất