Xuất phát từ yêu cầu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học, năng suất và chất lượng của một số dòng chè mới tại Phú Hộ phục vụ cho chế biến
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
NGUYỄN THỊ THUẬN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ DÒNG CHÈ MỚI TẠI PHÚ HỘ PHỤC VỤ CHO CHẾ BIẾN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuận
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS Nguyễn Đình Vinh
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam là người đã định hướng đề tài và trực tiếp chỉ bảo tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp, hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể thầy cô giáo Bộ môn câ công nghiệp - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Luận văn này sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể anh chị em Bộ môn chọn tạo giống - Trung tâm nghiên cứu và phát triển Chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên tôi, khích lệ để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành c ảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Thuận
Trang 42.3 Tình hình sản xuất chè trong nước và thế giới 11
2.4 Các Nghiên cứu về cây chè trong và ngoài nước 13
PHẦN III: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu: 29
Trang 53.1.2 Địa điểm 29
4.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các dòng chè nhập nội và lai tạo 34 4.1.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái thân cành của các dòng chè nhập nội
4.1.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, kích thước lá của các dòng chè nhập
4.1.3 Nghiên cứu đặc điểm, kích thước búp của các dòng chè nhập nội và lai
Trang 6DANH MỤC BẢNG
2.1 Sản lượng chè thế giới trong những năm gần đây 11 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng chè trong nước 12 4.1 Đặc điểm thân cành của các dòng chè nghiên cứu 34 4.2 Đặc điểm kích thước hình thái lá các dòng chè nghiên cứu 35 4.3 Đặc điểm hình thái lá của các dòng chè nghiên cứu 37 4.4 Đặc điểm kích thước búp của các dòng chè nghiên cứu 39 4.5 Đặc điểm hình thái búp của các dòng chè nghiên cứu 41 4.6 Đặc điểm cấu tạo hoa của các dòng chè nghiên cứu 42 4.7 Tình hình sinh trưởng của các dòng chè nghiên cứu 44 4.8 Đợt sinh trưởng và thời gian sinh trưởng của các dòng, giống chè
4.13 Một số loài sâu bệnh gây hại chính trên các dòng chè nghiên cứu 53 4.14 Tỷ lệ mù xòe của các dòng chè nghiên cứu (%) 56 4.15 Thành phần cơ giới búp chè tôm 3 lá của các dòng chè nghiên cứu 57 4.16 Kết quả phân tích sinh hoá của các dòng chè nghiên cứu 59 4.17 Kết quả thử nếm cảm quan chất lượng chè xanh của các dòng chè
4.18 Kết quả thử nếm cảm quan chất lượng chè Oolong của các dòng
Trang 7DANH MỤC HÌNH
4.1 Động thái tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè nghiên cứu 48 4.2 Năng suất thực thu của các dòng chè nghiên cứu 53
Trang 8MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L).O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có
lịch sử lâu đời Theo Trà Kinh của Lục Vũ thì uống chè có từ thời Thần Nông cách đây 4000 năm Trải qua rất nhiều thăng trầm, song lịch sử của cây chè từ trước đến nay là quá trình phát triển không ngừng Từ lúc con người dùng sản phẩm sơ khai là
lá tươi, nụ hoa, đến nay con người đã phát hiện chè có rất nhiều công dụng: Là đồ uống bổ dưỡng, có tác dụng chữa bệnh, kháng sinh tốt và làm thực phẩm tốt
Cây chè chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế, xã hội của người dân Việt Nam, không thể thiếu trong giao tiếp, lễ nghi, cưới xin, hội hè Ngoài ra, chè còn
là cây trồng cho sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế Hiện nay, cây chè được coi
là cây xóa đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái Quy hoạch các vùng chè tập trung, bao gồm sản xuất nông nghiệp - dịch vụ, đã hình thành các cụm dân cư, nhằm góp phần cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, nhất là tại các vùng sâu vùng xa của đồng bào các dân tộc ít người ở Trung du, miền núi Phía Bắc và Tây Nguyên
Mặc dù đứng thứ 5 thế giới về diện tích và sản lượng chè nhưng đời sống của người trồng và chế biến chè ở nước ta vẫn rất khó khăn do giá trị sản phẩm thấp, thiếu sự đa dạng các mặt hàng sản phẩm Xuất khẩu chè của Việt Nam chủ yếu là chè đen, tỷ lệ các mặt hàng cao cấp có giá trị cao như chè xanh chất lượng cao hay chè Olong còn rất thấp,… Một trong những nguyên nhân quan trọng đó là ở nước ta còn thiếu các giống chất lượng cao
Để nâng cao năng suất và chất lượng chè ở Việt Nam, đa dạng hóa sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ các biện pháp từ chọn tạo giống đến thâm canh, chăm sóc, chế biến, và thị trường Trong đó, công tác chọn tạo giống chè năng suất cao, chất lượng tốt luôn được quan tâm hàng đầu Trong những năm gần đây Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tiến hành đồng bộ các phương pháp chọn tạo và nhân giống, từ công tác nhập nội giống chất lượng cao, chọn lọc cá thể, lai tạo, đột biến, thu thập bảo quản nguồn gen
Trang 9Tuy nhiên để nhanh chóng cải thiện năng suất chất lượng chè ở nước ta, bên cạnh việc chọn tạo giống bằng phương pháp lai tạo chúng ta cần phải tiến hành nhập nội giống chất lượng cao và nhanh chóng đưa vào khảo nghiệm nhằm chọn ra giống tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng để từ đó đưa ra quy trình canh tác hợp lý
là việc làm cần thiết Xuất phát từ yêu cầu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
"Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học, năng suất và chất lượng của một số dòng chè mới tại Phú Hộ phục vụ cho chế biến chè xanh và chè Olong"
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1.Mục đích:
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của một số dòng chè nhập nội và lai tạo mới để tìm ra dòng chè có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp cho chế biến chè xanh và chè Olong tại Phú Thọ
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài giải quyết được yêu cầu thực tiễn hiện nay của ngành chè Việt Nam là tuyển chọn một số giống chè có năng suất cao, chất lượng tốt, thích nghi với điều kiện sinh thái của các vùng chè Từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng được
Trang 10nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, góp phần nâng cao thương hiệu cho ngành chè Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở sinh học
Chè là loại cây giao phấn, tỷ lệ tạp giao lên đến 95% nên nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ đồng đều của cây con rất thấp, cây con không giống cây mẹ về các đặc điểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng Đây là đặc điểm có ý nghĩa lớn về tính đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống, đồng thời là điều chúng ta cần lưu ý trong sản xuất đặc biệt là trong việc nhân giống Cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sản xuất cần có thời gian dài Do đó các nghiên cứu chè là sự kế thừa và phát triển nối tiếp nhau, từ lựa chọn các cá thể tốt đến đánh giá khảo nghiệm về năng suất chất lượng
và qui trình trồng trọt chế biến không thể tách rời mà phải liên hoàn và kế tiếp nhau
Để chọn lọc các giống chè mới, các nước áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến Trong đó phương pháp lai hữu tính và chọn lọc cá thể được chú ý và có nhiều thành công nhất theo PGS, TS Vũ Thị Thư, TS Đoàn Hùng tiến và cs (2001)
- Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) gồm 2 giai đoạn sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng Trong giai đoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hình thành búp, lá non và những đợt búp chè mới; Các mầm sinh thực phát triển hình thành nụ, hoa và quả Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện ngoại cảnh, trình độ quản lý chăm
Trang 12sóc Giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết mỗi vùng Trong giai đoạn tạm ngừng sinh trưởng các bộ phận trên mặt đất không xuất hiện các lá non mới, song bộ rễ của cây chè lại sinh trưởng để tạo nên các rễ non mới Trong điều kiện ở Phú Hộ, cây chè thường bắt đầu sinh trưởng từ tháng 2 đến tháng 11 và tạm ngừng sinh trưởng từ tháng 12 đến tháng 2 hàng năm
2.1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm là mục tiêu đầu tiên của tất cả các loại cây trồng nói chung và đối với cây chè nói riêng Đặc biệt, khi nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng tăng cao thì chất lượng chè là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng
để nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường Hiện nay, ngành chè nước ta đang gặp phải rất nhiều khó khăn: Năng suất thấp hơn chè thế giới, chất lượng còn hạn chế dẫn đến giá trị thấp, thiếu những sản phẩm chất lượng chủ đạo
Để tạo nên chất lượng chè thành phẩm, yếu tố giống quyết định đến 50%, còn yếu tố
độ cao, chăm sóc quyết định 30%, yếu tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20% (Nguyễn Hữu Khải, 2005)
Chè Olong là sản phẩm độc đáo, được sản xuất theo công nghệ và thiết bị Đài Loan, chủ yếu sản xuất với các giống và công nghệ thích hợp ở vùng cao và các vùng có lợi thế, có giá trị kinh tế cao, được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo và một số nước Đông Nam Á Trong những năm gần đây, chè Olong đang dần xâm nhập vào thị trường các nước Âu Mỹ,… và
là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
Trong thực tế sản xuất hiện nay, các giống chè trong nước chủ yếu phù hợp với chế biến sản phẩm chè đen, các giống phục vụ cho chế biến chè xanh đặc biệt là chè xanh chất lượng cao và chè Olong còn rất hạn chế Trong những năm
2000 - 2005, nhằm khắc phục tình trạng thiếu giống chè chất lượng cao, được sự chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Nông nghiệp và PTNT, công tác chọn tạo giống chè được đẩy mạnh, đồng thời vừa chọn tạo giống chè trong nước, vừa tăng cường việc nhập nội giống từ nước ngoài Cần nhanh chóng chọn tạo ra nhiều giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, phù hợp cho chế biến chè Olong để mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng suất, chất lượng thấp ở Việt Nam
Trang 132.2 Nguồn gốc, phân loại của cây chè
2.2.1 Nguồn gốc
Theo hai nhà thực vật học Condolk và Vavilov trên thế giới có 7 Trung tâm chính phát sinh và phát triển cây trồng, trong đó có 3 Trung tâm ở châu Á, 2 Trung tâm ở châu Mỹ và 1 Trung tâm ở châu Phi Cây chè có nguồn gốc từ châu Á (Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Thị Kim Oanh, 2011)
Có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của cây chè dựa trên những cơ
sở lịch sử, khảo cổ hay thực vật học
- Cây chè có nguồn gốc từ Vân Nam, Trung Quốc: Các nhà khoa học Trung Quốc như Su-Chen-Pen, Jao- Dinh cho rằng: Đầu tiên cây chè được mọc từ Vân Nam sau đó hạt được di chuyển theo các dòng sông đến các nước khác và từ đó lan ra cả vùng rộng lớn
- Dựa trên cơ sở khoa học: “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” thì cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc, nó được phân bố ở các khu vực phía Đông và phía Nam, Phía Đông - Nam theo cao nguyên Tây Tạng
- Robert Bruce cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Assam của Ấn Độ:
Năm 1823 Robert Bruce đã phát hiện được những cây chè hoang dại, lá to hoàn toàn khác với cây chè Trung Quốc và ở tất cả những nơi theo các tuyến đường giữa Trung Quốc và Ấn Độ Từ đó Ông cho rằng Ấn Độ là nơi nguyên sản của cây chè (Nguyễn Ngọc Kính, 1979)
- Djemukhadze, 1982 đưa ra quan điểm: Cây chè có nguồn gốc Việt Nam
Từ năm 1962 đến năm 1976 Ông đã tiến hành điều tra cây chè mọc tại Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lào Cai, Tam Đảo và tiến hành phân tích thành phần sinh hoá để
so sánh với loại chè thường được trồng trọt, từ đó tìm ra sự tiến hoá của cây chè làm
cơ sở xác định nguồn gốc Ông thấy rằng những cây chè hoang dại chủ yếu tổng hợp catechin đơn giản, cây chè tiến hoá tổng hợp catechin phức tạp Cây chè ở Việt Nam chủ yếu tổng hợp (-) epicathechin và (-) epigalocathechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin), trong khi đó chè ở Tứ Xuyên và Quý Châu, Trung Quốc chỉ chiếm 18 - 20% Từ đó Ông cho rằng nguồn gốc cây chè chính là Việt Nam
Thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây
Trang 14chè là cả một vùng từ Assam, Ấn Độ sang Miến Điện, Vân Nam - Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Thái Lan Từ đó chia ra làm hai nhánh, một đi xuống phía Nam, và một đi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam - Trung Quốc Điều kiện khí hậu ở đây rất
lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm (Chu Xuân Ái, 1998), (Nguyễn Ngọc Kính, 1979), (Nguyễn Hữu La, Đỗ Văn Ngọc, 1988), (Nguyễn Hữu La, 2011), (Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Toàn, 1994), (Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Niệm, 1998)
2.2.2 Phân loại
Các nhà khoa học đều cho rằng, việc phân loại giống chủ yếu dựa vào các đặc điểm dinh dưỡng quan trọng như: Tỷ lệ chiều dài và chiều rộng lá; Góc đính lá; chiều dài cuống lá; Kích thước lá; Chiều dài đốt cành; Thế lá, cấu trúc hình thái lá, màu sắc lá v.v Nhưng do các đặc điểm dinh dưỡng cây chè không ổn định vì thế nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu dinh dưỡng không thể chia ra được những nhóm riêng rẽ và chuẩn xác, do đó đặc điểm sinh thực đã được nhiều tác giả đề xuất trong phân loại Đối với cây chè, bộ phận sinh thực ổn định hơn, trong đó hoa chè được xem là đặc điểm phân loại chủ yếu, các chỉ tiêu được xem xét gồm: Cuống hoa, đài hoa, tràng hoa, nhị hoa, nhụy hoa và tua đầu nhụy v.v
Theo Cohen Stuart, C P (1916) phân loại cây chè thuộc ngành hạt kín
(Angiospermae), lớp hai lá mầm (Dicotyledonae), bộ chè (Theales), họ chè (Theaceae), chi chè (Camellia), loài chè (Camellia sinensis) và tên khoa học là
Camellia sinensis (L) O Kuntze
Theo tác giả Ngô Phúc Liên, người Trung Quốc (2006) đã dựa vào đặc điểm hoa chè, tập quán thân cành và lông của cành lá non để phân biệt các loài chè như sau:
+ Loài Camellia tachangensis (Đại xưởng trà) có hoa to hoặc rất to, số cánh
hoa trên 10, cánh hoa xếp xít nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy không lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 6, thân gỗ lớn hoặc nhỏ, cành chè non không lông, búp tôm không lông, kích thước lá chè to hoặc rất to, vỏ quả dày
3 - 5 mm Loài này không làm đồ uống, phân bố ở vùng phía Đông Vân Nam, Tây Bắc Quảng Tây và Tây Nam Quý Châu của Trung Quốc
Trang 15+ Loài Camellia taliensis (Đại lý trà) có hoa to hoặc rất to, số cánh hoa
10 - 13, cánh hoa xếp lên nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 4, thân gỗ lớn hoặc nhỏ, cành chè non không lông, búp tôm không lông hoặc ít, kích thước lá chè to hoặc rất to, vỏ quả dày 2 -3 mm Loài này uống không ngon, phân bố ở vùng phía Nam Vân Nam của Trung Quốc
+ Loài Camellia carassicoluma (Hậu trục trà) có hoa to hoặc rất to, số cánh
hoa trên 10, cánh hoa xếp xít nhau, cánh hoa dày, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 5 hoặc 4, thân gỗ nhỏ, cành chè non không lông, búp tôm có lông, kích thước lá chè to hoặc rất to, vỏ quả dày 5 - 12 mm và trục quả to Loài này uống không ngon, phân bố ở vùng phía Nam Vân Nam của Trung Quốc, phía Bắc Việt Nam, thượng lưu sông Hồng
+ Loài Camellia gymnogyma (Thốc phòng trà) có hoa to trung bình, số cánh
hoa 6 - 8, cánh hoa không xếp lên nhau, cánh hoa dày trung bình, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy không lông, đầu nhụy chia 3 hoặc 4, thân gỗ nhỏ hoặc thân bụi, cành chè non không lông, búp tôm ít lông, kích thước lá chè to hoặc trung bình, vỏ quả dày 2 - 4 mm Loài này uống đạt, phân bố ở vùng phía Tây Bắc Quý Châu, Đông Bắc Vân Nam, Nam Tứ Xuyên, Nam Vân Nam của Trung Quốc
+ Loài Camellia sinensis (trà) có hoa to trung bình hoặc nhỏ, số cánh hoa
6 - 7, cánh hoa không xếp lên nhau, cánh hoa mỏng, hoa màu trắng, đài hoa không lông, bầu nhụy có lông, đầu nhụy chia 3, thân gỗ nhỏ hoặc thân bụi, cành chè non không hoặc có lông, búp tôm có lông, kích thước lá chè to hoặc trung bình, vỏ quả dày 1 - 2 mm Loài này uống tốt, phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Miến Điện, Lào và Đài Loan
Cũng theo Cohen Stuart, (Nguyễn Ngọc Kính, 1979), loài chè (Camellia
sinensis ) được chia ra 4 thứ (Camellia sinensis var.) bao gồm:
- Thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var bohea)
- Thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla)
- Thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var assamica)
- Thứ chè Shan (Camellia sinensis var shan)
Trang 16* Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var bohea)
Chè Trung Quốc lá nhỏ có đặc điểm là thân bụi, phân cành nhiều, cành thấp,
lá nhỏ dày, gân lá không rõ, răng cưa nhỏ không đều, đầu lá tròn, búp nhỏ, năng suất không cao, chất lượng bình thường, nhiều hoa, quả, có khả năng chịu rét tốt Chè Trung Quốc lá nhỏ phân bố nhiều ở miền Đông, Đông Nam Trung Quốc, Nhật Bản
Ở Việt Nam, chè Trung Quốc lá nhỏ có thể tìm thấy ở Lạng Sơn, Phú Hộ (Phú Thọ)
* Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla)
Chè Trung Quốc lá to thuộc dạng thân gỗ nhỏ, phân cành dày, lá to, trung bình dài 12-15 cm, rộng 5 - 7 cm, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn, búp to trung bình có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp cho cả chế biến chè xanh và chè đen Chè Trung Quốc lá to có khá nhiều hoa, quả, có khả năng chịu đất xấu Nguyên sản của chè Trung Quốc lá to là ở Vân Nam, Tứ Xuyên - Trung Quốc Ở Việt Nam chè Trung Quốc lá to phân bố nhiều ở các tỉnh Trung du như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái… nên còn được gọi dưới tên khác là chè Trung Du (Lê Tất Khương, 1997)
* Chè Shan (Camellia sinensis var Shan)
Chè Shan có đặc điểm thân gỗ, phân cành thưa, trong điều kiện tự nhiên có thể cao từ 6 - 10m, lá to dài, có nhiều răng cưa sâu đều, đầu lá nhọn, búp to, có nhiều lông tơ trắng mịn, trông như tuyết cho nên chè Shan còn được gọi là chè Tuyết Chè Shan có thể cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho cả chế biến chè xanh và chè đen Chè Shan ít hoa, quả hơn chè Trung Quốc lá to, phân bố ở địa hình núi cao, ẩm, mát Nguyên sản của chè Shan là Vân Nam (Trung Quốc), Mianma,
và phân bố nhiều ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, ở cao nguyên Lâm Đồng
* Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var Assamica)
Là loại chè có dạng thân gỗ cao, to, lá to mặt lá gồ ghề, nhiều gợn sóng, dạng
lá bầu dục, búp to, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho chế biến chè đen và chè xanh Chè Ấn Độ ít hoa, quả, chịu rét kém, được trồng nhiều ở
Ấn Độ, Mianma,Vân Nam (Trung Quốc)
Ngoài bốn thứ chè trên, Việt Nam còn có rất nhiều dạng chè trung gian giữa chè Trung Quốc lá to và chè Trung Quốc lá nhỏ, Trung Quốc lá to với chè Shan …
Trang 17Các giống chè lai đã tỏ rõ ưu thế trong sản xuất vì chúng được tích hợp bởi nhiều gen quý của cả bố lẫn mẹ và ngược lại đã khắc phục được những nhược điểm vốn
có của giống bố, mẹ
2.2.3 Sự phân bố của cây chè
Vùng khí hậu Nhiệt đới và Á nhiệt đới với điều kiện khí hậu nóng ẩm thích hợp cho sự phát triển của cây chè Hiện nay, cây chè đã được phân bố rộng rãi từ 420
vĩ độ Bắc (Pochi - Liên Xô cũ) đến 270 vĩ độ Nam (Coriente - Achentina), theo các tác giả Đặng Hạnh Khôi (1983), Trang Văn Phương (1957), Đỗ Ngọc Quỹ (1997) Nhưng trong đó sản xuất chè chủ yếu vẫn tập trung ở các nước châu Á: Trung Quốc,
Ấn Độ, Nhật Bản, Sirilanca, Indonexia, Việt Nam … và các nước châu Phi: Kênia, Malawi, Tanzania…
Các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đều khẳng định rằng: Cây chè trồng ở những độ cao khác nhau có sự khác biệt giữa các giống và khác biệt về chất lượng chè Những giống chè sinh trưởng tốt ở nơi có độ cao lớn so với mực nước biển, đều có chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm tốt hơn những giống chè được trồng ở vùng thấp (Chu Xuân Ái, 1998), (Lê Tất Khương, 1997), (Min- Jer Lu a, b, Chinshuh Chen b*, 2007) Những vùng chè nổi tiếng trên thế giới như Hồng Sơn (An Huy - Trung Quốc),
Sư Tử Phong (Triết Giang - Trung Quốc), Daejilinh (Ấn Độ) đều nằm ở độ cao lớn so với mực nước biển (Đỗ Ngọc quỹ, Lê Tất Khương, 2000), (Nicholas I.D., 1988)
Ở Việt Nam, sự phân bố các giống chè ở những độ cao khác nhau có sự khác nhau rất rõ: Những vùng núi cao trên 500m so với mực nước biển, có điều kiện khí hậu phù hợp với yêu cầu sinh thái của giống chè Shan (như Shan Chất Tiền, Shan Tham
Vè, Shan Ba Vì, Shan Lũng Phìn…), một số giống chè có chất lượng tốt, đặc biệt là khi chế biến chè xanh
Những vùng chè nổi tiếng như: Hoàng Su Phì, Vị Xuyên (Hà Giang), Tà Xùa (Sơn La), Suối Giàng - (Yên Bái), Mộc Châu (Sơn La), Tủa Chùa (Lai Châu), Bằng Phúc (Bắc Kạn), Bảo Lộc (Lâm Đồng), Mẫu Sơn (Lạng Sơn) đều nằm ở độ cao lớn hơn so với mực nước biển trên 500m, được trồng chủ yếu là các giống chè Shan và các giống chè thuộc biến chủng Trung Quốc lá nhỏ có chất lượng cao như: Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Thiết Quan Âm, Olong lá to,…
Trang 18Các tỉnh Trung du như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang nơi có độ cao so với mực nước biển dưới 500m, là nơi tập trung của các giống thuộc thứ chè Trung Quốc lá to, chè Assamica (Ấn Độ) như: Giống Chè Trung Du, giống PH1, PH11, LDP1, LDP2, PH8, PH9 và các giống chè lai khác
2.3 Tình hình sản xuất chè trong nước và thế giới
2.3.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Chè là đồ uống phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, được sản xuất ở hơn 30 nước và có hơn 100 nước tiêu dùng chè với khối lượng lớn Trên thế giới hiện có khoảng 50 quốc gia sản xuất chè, trong đó Châu Á có 18 nước, Châu Phi có 19 nước, Châu Mỹ có 11 nước, Châu Đại Dương có 2 nước Theo FAO (2014), sản lượng chè thế giới trong 3 năm (2010 - 2012) được ghi ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Sản lượng chè thế giới trong những năm gần đây
Độ với sản lượng 1 triệu tấn (chiếm 20,75%), Kenya đạt 369.400 tấn (7,67%),
Trang 19Srilanca đạt 330.000 tấn (6,85%), Thổ Nhĩ Kỳ đạt 225.000 tấn (4,67%), Việt Nam đạt 216.900 tấn (4,5%),…
Xu hướng toàn cầu của ngành chè trong 3 năm (2010 - 2012) cho thấy sản lượng chè thế giới có sự tăng nhẹ từ 4.572,251 nghìn tấn đến 4.818,118 nghìn tấn, tăng 5,38% một số nước có sản lượng giảm như Kenya, Srilanca, Thổ Nhĩ Kỳ,…
Ấn Độ là một cường quốc sản xuất chè đen có sản lượng tăng giảm không ổn định Trong đó, Trung Quốc - nước sản xuất chè xanh lớn nhất thế giới lại có sản lượng tăng dần đều từ năm 2010 đến năm 2012 Điều này cho thấy xu hướng sử dụng chè xanh và chè chất lượng cao trên thế giới đang tăng dần hiện nay
2.3.2 Tình hình sản xuất chè trong nước
Việt Nam là nước có ngành sản xuất chè lâu đời, với 35 tỉnh trồng, cung cấp cho 700 cơ sở sản xuất chè khô Cây chè Việt Nam có nhiều lợi thế như đa dạng phong phú về nguồn giống, đất đai khí hậu phù hợp, nhiều mô hình năng suất cao (trên 30 tấn/ha); nhiều vùng chè chất lượng cao như Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng); Các giống chè Shan bản địa năng suất cao, chất lượng tốt có thể chế biến nhiều mặt hàng chè như chè xanh, chè đen, chè vàng, chè Phổ nhĩ và có thể sản xuất chè hữu cơ giá trị cao
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng chè trong nước
mẽ Cụ thể, trong 5 năm (từ năm 2008 đến 2012) sản xuất chè cả nước tăng dần cả
về diện tích, năng suất và sản lượng
Từ năm 2008 đến năm 2012, diện tích trồng chè trong cả nước liên tục được
Trang 20mở rộng Từ 108,8 nghìn ha năm 2008, đến năm 2012 mở rộng lên 115,96 nghìn ha, tăng 7,16 nghìn ha (6,59%) Năng suất và sản lượng chè khô cũng liên tục tăng lên đáng kể Đến năm 2012, cả nước đạt năng suất trung bình 1,87 tấn/ha (tăng 17,6%
so với năm 2008) và sản lượng đạt 216,9 nghìn tấn (tăng 25% so với năm 2008)
2.4 Các Nghiên cứu về cây chè trong và ngoài nước
2.4.1 Nghiên cứu trên thế giới
2.5.1.1 Nghiên cứu về giống
Thế giới coi công tác chọn tạo giống chè là nhiệm vụ quan trọng nhất để tạo
ra các sản phẩm mới, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Mục tiêu của chọn giống chè ngày nay không chỉ đơn thuần là tạo ra các giống có năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận của môi trường mà các giống chè chọn tạo mới phải có chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng cao, an toàn, làm nguyên liệu, để chế biến ra các loại sản phẩm chè có chất lượng cao thoả mãn yêu cầu người tiêu dùng
- Trung Quốc là quốc gia sản xuất chè hàng đầu thế giới Nghiên cứu sử dụng giống chè tốt trong sản xuất được các nhà khoa học Trung Quốc quan tâm từ rất sớm Ngay từ đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt ở Vũ Di Sơn Các giống chè Thuỷ Tiên (1821 - 1850), Đại Bạch Trà (1850), Thiết Quan Âm đã
có từ hơn 200 năm về trước đều là những giống chè chiết cành (Nguyễn Văn Toàn, 1994)
Sở Nghiên cứu chè Tứ Xuyên Trung Quốc trong năm 1960 bắt đầu nghiên cứu lai hoa thụ phấn nhân tạo, đã bồi dục thành hai giống chè Thuộc Vĩnh số 1 và
số 2 đã được công nhận là giống chè quốc gia Sở Nghiên cứu chè Hồ Nam, Trung Quốc từ năm 1975 trở lại đây, đã tiến hành 525 tổ hợp lai tạo thụ phấn nhân tạo và thu được một số giống chè mới có triển vọng (Trịnh Khởi Khôn, Trang Tuyết Phong, 1997), (Nguyễn Thị Minh Phương, Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Văn Toàn, 2006,
2007, 2008)
Hiện nay công tác giống chè ở Trung Quốc được đặc biệt quan tâm, chủ yếu chọn giống chè theo hướng chất lượng cao để tạo ra những sản phẩm chè đặc biệt, nổi tiếng trong nước và thế giới, (Chen Rong Bing, 1995)
Trang 21Ngoài những giống nổi tiếng từ lâu đời, Trung Quốc hiện có nhiều giống chè cho năng suất cao, chất lượng rất tốt cho cả chế biến chè xanh và chè đen như: Phúc Vân Tiên (1957 - 1971), Hoa Nhật Kim, Hùng Đỉnh Bạch (Phúc Kiến), Phú Thọ 10 (Vân Nam), Long Vân 2000 (Triết Giang), các giống chè có chất lượng nổi tiếng như Đại Bạch Trà, Thiết Quan Âm, Long Tỉnh…Ngày nay trong chọn tạo giống chè Trung Quốc đã sử dụng các phương pháp: nhập nội giống, chọn lọc cá thể, đặc biệt phương pháp lai hữu tính đã được áp dụng rộng rãi và thu được nhiều thành tựu
- Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Thị Kim Oanh (2011) từ những năm 50 của thế kỷ 20, Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt, trong
đó có 102 giống chè được nhân bằng phương pháp vô tính Đến năm 2003, Ấn Độ đã
có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt chủ yếu là giống chè Assamica được chọn lọc bằng phương pháp chọn lọc cá thể
Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000), L Rajanna and M Ramakrishnan1 (2010) và S.M.Kamunya (2009), Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanca, Trung Quốc, Gruria …
đã sử dụng công nghệ sinh học trong chọn giống chè tốt, dùng phôi non, phôi hom bồi dưỡng thành cây chè hoàn chỉnh Sử dụng phương pháp lai, sử dụng ưu thế lai để tạo ra giống chất lượng cao phục vụ cho sản xuất
Bằng phương pháp công nghệ sinh học năm 1990 Ấn Độ đã chọn ra dòng tam bội TV29 có tiềm năng cho năng suất cao
Bằng phương pháp chọn lọc cá thể tại Tocklai đã chọn ra các giống TV1, TV23 có sản lượng và chất lượng khá
Phương pháp lai hữu tính được Ấn Độ rất quan tâm đã chọn ra giống VTA
54 có năng suất và chất lượng khá Từ cặp lai TV1/19,31,14 tại Tocklai đã chọn ra giống TS449 có năng suất cao, chất lượng khá có khả năng chịu hạn tốt Cũng bằng phương pháp lai hữu tính đã chọn ra các giống TS450; TS462, TS463, TS464, TS491 và TS520 đều là các giống sinh trưởng khoẻ có khả năng chịu hạn rất tốt (Trịnh Khởi Khôi, Trang Tuyết Phong, 1997)
Công tác chọn dòng trên thứ chè Assamica cũng được Ấn Độ đẩy mạnh, trong đó đã chú trọng chọn ra những giống chè thích nghi cho những vùng có độ cao, độ ẩm khác nhau
Trang 22- Nhật Bản là nước đầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc Bắt đầu từ những năm 1952, Nhật Bản đã xây dựng chế độ đăng ký các giống chè tốt, các Sở Nông lâm các tỉnh đã đăng ký 33 giống tốt, trong đó chủ lực là giống Yabukita Năm 1968, giống mới chiếm 22,4% và ngày nay, giống mới đã chiếm trên 65,2% diện tích chè (Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương, 2000)
Công tác chọn dòng cũng được đặc biệt chú ý, nhiều giống chè mới đã được đưa vào sản xuất như: Merioku, Saemidori, Asanoka, Asatsuyu, Yutaka midori và đặc biệt đã chọn được giống Yabukita có chất lượng chè xanh rất tốt hiện nay giống này đã chiếm 70% diện tích chè ở Nhật Bản (Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung, 1999), L Rajanna và M Ramakrishanan1, 2011), (Wight W, 1959)
- Liên Xô (cũ) là một nước sản xuất và tiêu thụ chè lớn trên thế giới Giống chè chủ yếu là hạt chè nhập từ Kỳ Môn - Trung Quốc Ngoài ra họ còn nhập giống của Ấn Độ và SriLanca Năm 1927 - 1928 đã trồng được các giống chè chọn lọc lai tạo như giống Quốc gia số 1 và số 2 cho năng suất cao hơn đại trà 25 - 40 %, phẩm chất tốt Năm 1970 - 1971 họ bắt đầu trồng giống chè Kônkhitđa-1 dòng vô tính giâm cành, có phẩm chất tốt và có năng suất cao hơn đại trà 50 - 60%
- Năm 1824, SriLanca nhập hạt chè Trung Quốc gieo trồng tại vườn Bách thảo Hoàng Gia Peradeniya (Kandy) Năm 1839, lại nhập hạt chè Assamica từ Ấn
Độ cũng trồng tại vườn bách thảo trên Vào năm 1867, toàn bộ các đồn điền cà phê
bị nấm rỉ sắt phá hại, họ đã chuyển sang trồng chè (trồng được 24 vạn ha) Năm
1958 bắt đầu trồng 40 dòng chè mới Sêri chọn lọc 2020 (phổ biến các giống như: TRI 2023, TRI 2025, TRI 2026, TRI 2043…), có năng suất cao, chất lượng tốt (Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Toàn, 1994) Sau đó là Sêri 3013 đến 3020, ngoài ra còn
sử dụng chè hạt lai giữa 2023/2026 (Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Niệm, 1998) và các tác giả (Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Kim Phong, 1997), (Nguyễn Văn Toàn và cs, 1994), (Trại Thí nghiệm chè Phú Hộ, 1980), (Bautista & cs, 1994), (Pau S, Wachina FN,
et at.,1997) Từ những năm 1960 trở lại đây đã chọn ra các dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV (Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000)
Qua 100 năm, Ngành chè thế giới đã tổng kết: Công tác chọn tạo giống chè mới được đẩy mạnh, cây chè từ lúc tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra
Trang 23sản xuất cần thời gian dài Theo thống kê đến năm 1990 của 11 nước và khu vực trồng chè trên thế giới có số lượng giống chè mới tạo ra là 446 giống, trong đó có 387 giống vô tính chiếm 77%, giống lưỡng hệ, đa hệ vô tính 22 giống chiếm tỷ trọng 4,93%, giống hữu tính chọn lọc 37 giống chiếm tỷ trọng 8,3% Tỷ trọng phổ cập giống chè tốt trong sản xuất cao nhất ở Trung Quốc và Đài Loan trên 90%, tỷ lệ phổ cập giống mới ở Ấn Độ và Kênia cũng đạt tới 80% (Trịnh Khởi Khôn, Trang Tuyết Phong, 1997) Để chọn lọc các giống chè mới, các nước cũng áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến, công nghệ sinh học, Trong đó phương pháp lai hữu tính và chọn lọc cá thể được chú ý và có nhiều thành công
2.4.1.2 Nghiên cứu đặc tính sinh vật học của cây chè
Các đặc điểm hình thái của cây chè (thân, lá, búp), đặc tính sinh trưởng của cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt đầu, kết thúc sinh trưởng búp …), số đợt sinh trưởng búp/năm… có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất và chất lượng chè nguyên liệu Do vậy nghiên cứu đặc tính sinh vật học cây chè nhằm tuyển chọn giống chè tốt luôn được các nhà chọn giống trên thế giới quan tâm
Nghiên cứu về sinh trưởng phát triển của cây chè, tác giả A.Alidatde (1964) cho thấy sự hình thành các đợt sinh trưởng là: khi trên búp chè có 5 lá thì ở nách các
lá thứ nhất, thứ hai đã có những mầm nách, khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè
có mầm nách thứ 3, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách lá thứ tư Ông cũng cho rằng: khi mầm chè qua đông có 2 lá đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vảy ốc, tiếp theo là lá cá Những mầm nách của những lá vảy ốc, lá cá là các mầm ngủ, các mầm nách của lá thứ 4 thứ 5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ 2
Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, các tác giả Carr (1992), Squire (1979), Tan ton (1982) đã đưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày tuy nhiên số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30-42 ngày vào mùa hè và 70- 160 ngày vào mùa đông
Viện sĩ Bakhơtadze К.Е (1948) khi nghiên cứu kích thước lá chè đã đi đến kết luận: Kích thước lá chè biến động theo giống chè và tuổi của cây chè, trong đó
Trang 24những giống chè Ấn Độ thường có kích thước lá lớn nhất và kích thước lá của những giống chè Nhật Bản thường nhỏ nhất
Nghiên cứu về quan hệ giữa lá chè với năng suất chất lượng chè Bakhơtadze К.Е (1971) cho rằng: Góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là 450, lá chè màu vàng là đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá búp chè Nghiên cứu tương quan giữa số búp/tán và năng suất búp của nương chè tác giả đưa ra kết luận: Tương quan giữa
số lượng búp và năng suất chè là 0,956 ± 0,064
Mật độ búp và khối lượng búp là nhân tố quan trọng tạo nên sản lượng chè Tác giả Tanton Kumar Mondal, (2004), Tanton T.W (1981a), (1982), Tanton T.W, (1982) cũng chỉ ra nhân tố quan trọng nhất là mật độ búp đóng góp tới 89%, còn khối lượng búp tương tự chỉ đóng góp 11%
Từ các nghiên cứu trên cho thấy mỗi giống chè có những đặc điểm hình thái
lá, búp, thân, cành khác nhau, các tính trạng đặc trưng của chúng có liên quan mật thiết tới năng suất và chất lượng chè Đây là cơ sở quan trọng giúp cho các chà chọn giống có định hướng để chọn ra các giống chè có năng suất và chất lượng đáp ứng mục tiêu sản phẩm, vì thế có thể rút ngắn được thời gian chọn tạo các giống chè
2.4.1.4 Nghiên cứu đặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè)
Búp chè là nguyên liệu để chế biến chè, nó gồm 2 đặc tính: Đặc tính bên ngoài là thành phần cơ giới búp và đặc tính bên trong là nội chất được phản ánh bằng các chỉ tiêu hóa học chủ yếu như: Chất hòa tan, tanin, đường, axít amin và một
số chất khác
- Thành phần cơ giới búp phụ thuộc vào mùa vụ, giống, kỹ thuật hái:
Để đánh giá chất lượng nguyên liệu tươi nhiều nước sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lá già và lá bánh tẻ Nếu tỷ lệ lá già và lá bánh tẻ càng cao thì chất lượng nguyên liệu chè càng giảm
Ở Trung Quốc, Ấn Độ và Srilanka, dùng số lá nhiều hay ít đế xác định độ non già và cũng thông qua đó mà đánh giá chất lượng nguyên liệu chè (Trạm Nghiên cứu cây Á nhiệt đới, 2006)
- Để đánh giá chất lượng búp chè, người ta chủ yếu quan tâm đến hàm lượng các chất tanin, catechine, chất hòa tan, axit amin, đường Trong đó, các hợp chất tanin, axit amin và đường có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng chè xanh và chè
Trang 25oolong Theo các tác giả Cuôcxanov 1952, Bacutrava 1958, Djemukhadze 1976, hương và vị đặc trưng của chè được hình thành bởi tác dụng chủ yếu của tanin và các sản phẩm oxy hoá của chúng Hàm lượng tanin trong chè phụ thuộc nhiều yếu
tố khác nhau như giống chè, độ cao địa hình, chế độ canh tác, thời vụ thu hoạch, độ non già của búp chè
Mối quan hệ giữa axit amin và đường khử tới chất lượng chè xanh và chè Olong được các nhà khoa học nghiên cứu về chè thống nhất như sau (Đỗ Văn Ngọc, Trịnh Văn Loan, 2008): Búp chè, trong quá trình chế biến chè xanh, chè Olong (nhiệt độ cao), axit amin tác dụng với đường để tạo thành các chất thơm (tạo ra mùi thơm trong chè thành phẩm)
Tại Nhật Bản, theo Katsuyuki Yoshida (2008), các nhà chọn giống chè khi chọn giống chỉ duy nhất theo hướng chế biến chè xanh Chỉ tiêu quan trọng nhất khi chọn ra giống chè tốt là có hàm lượng axit amin càng cao càng tốt, các giống chè Nhật Bản phổ biến có hàm lượng axit amin từ 2,5 - 3%
Các giống chè khác nhau có hàm lượng đường hòa tan cũng khác nhau, theo Kharepbava G.L (1969) cho biết trong búp giống chè Grudia có hàm lượng đường hoà tan trung bình đạt từ 2,5 - 3% khối lượng chất khô Hàm lượng đường hòa tan còn phụ thuộc vào độ non già của búp, thời vụ thu hoạch khác nhau
2.4.1.5 Nghiên cứu các tính trạng có liên quan đến chất lượng
Tác giả GUO Jichun (TQ) khi nghiên cứu trên 50 giống chè Olong An Khê và
Vũ Di (TQ) đã cho thấy rằng hầu hết chúng là cây thân bụi, lá trung bình, bật búp trung bình và muộn Cây có lá màu xanh tía và búp non có màu đỏ tía Khi tiến hành quan sát trên 55 giống chè Olong từ Phúc Kiến, kết quả cho thấy 78% là cây thân bụi, 93% là giống có lá cỡ trung bình, 44% là giống bật búp trung bình và 31 % là giống bật búp muộn (25% là giống bật búp sớm, trong đó chủ yếu là các cây mới trồng) Các giống có cành non (lá và búp non) mầu xanh vàng, xanh tía, đỏ tía là 84%; cành non có lông tuyết rải rác là 95% Cành non có màu xanh vàng, xanh tía, đỏ tía và có lông tuyết là những đặc điểm nông học chính của giống chè Olong
Các tác giả đều cho rằng: Các mẫu chè có hương thơm mạnh có liên quan nhiều đến chất lượng búp non và màu sắc của lá tươi Những giống Olong có hương đậm luôn có đặc điểm là cành non màu đỏ tía hoặc xanh tía, vàng xanh, điều này có thể có
Trang 26liên quan đến hàm lượng một số chất trong chè Một số nhà chọn giống đã để xuất rằng
có thể coi màu sắc của cành non như một chỉ tiêu để tuyển chọn giống chè Olong
2.4.2 Các nghiên cứu trong nước
2.4.2.1 Nghiên cứu về giống
Cây chè đã được người Việt Nam đưa vào trồng trọt từ xa xưa Việt Nam cũng
là vùng nguyên sản của cây chè, ngay sau khi xâm chiếm được nước ta, người Pháp
đã quan tâm tới việc phát triển cây chè Sau các cuộc điều tra khảo sát cây chè miền núi phía Bắc (từ năm 1885- 1892), một số chủ đồn điền người Pháp đã triển khai trồng chè ở một số vùng tại miền Bắc Nhưng do kỹ thuật chế biến hạn chế nên chất lượng chè kém, mặt khác do không nắm được quy trình trồng chè dẫn đến cây chè đã không phát triển được Năm 1918 Pháp đã thành lập Trạm nghiên cứu Nông lâm nghiệp Phú Thọ với nhiệm vụ nghiên cứu các cây công nghiệp nhiệt đới, trong đó chè
là một cây quan trọng Sau đó người Pháp tiếp tục mở các Trung tâm nghiên cứu ở miền Trung, miền Nam và Lào Từ đấy các đồn điền chè đã phát triển mạnh mẽ
* Hiện trạng tập đoàn giống chè ở Việt Nam
Cho đến nay tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc,
đã lưu giữ tập đoàn gồm 193 giống chè có nguồn gốc từ trong nước và nhập nội từ nước ngoài Trong đó, phân theo nguồn gốc có: 76 giống địa phương và chọn tạo tại Việt Nam (chiếm 39,38%); 117 giống nhập nội (chiếm 60,62%) Phân theo hình thái
có: thứ Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea): 71 giống , thứ Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var Macrophylla): 42 giống, thứ chè Ấn Độ (Camellia
sinensis var Assamica ): 38 giống, chè Shan (Camellia sinensis var Shan): 42 giống
So với trước năm 2000, tập đoàn giống chè được thu thập bảo quản để khai thác tăng thêm 71 giống (tăng 58,2% so tổng số giống bảo quản) Các giống chè này đang là nguồn vật liệu quan trọng phục vụ cho công tác chọn tạo giống chè mới chất lượng cao ở Việt Nam (Nguyễn Hữu La, Đỗ Văn Ngọc, 2002)
* Các kết quả chọn tạo giống mới
Để tạo được giống mới có nhiều phương pháp khác nhau:
+ Nhập nội giống, nghiên cứu khả năng thích ứng của tập đoàn giống chè nhập nội
Trang 27+ Chọn lọc cá thể
+ Chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính
+ Chọn tạo giống bằng phương pháp đột biến
+ Chọn tạo giống bằng phương pháp công nghệ sinh học
Mỗi một phương pháp ở từng giai đoạn có các thành tựu nghiên cứu xác định
- Điều tra thu thập và nhập nội giống
Thời kỳ năm 1918- 1935, người Pháp tiến hành thu thập các giống chè của Ấn
Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Lào và một số vùng trong nước như Hà Giang, Lào Cai,
Ba Vì, Phú Thọ… Đến năm 1939 đưa vào hệ thống vườn tập đoàn gồm 23 giống, trong đó giống địa phương 13 giống và giống nhập nội là 10 giống
Giai đoạn năm 1959- 1990 là thời kỳ chủ yếu chỉnh lí và lai tạo giống, trao đổi giống với nước ngoài Tổng số thu thập gồm 37 giống, trong đó nguồn gốc địa ph-ương 4 giống, nguồn nhập nội gồm 16 giống và nguồn chọn tạo được 17 giống, các giống chè mới chọn lọc như PH1, 1A, TRI777, TH3, LDP1, LDP2
Giai đoạn năm 1994- 1997, xúc tiến mạnh công tác thu thập, kết quả đã bổ sung được 34 giống Trong đó giống địa phương 4 giống, chọn lọc 5 giống, nhập nội
25 giống Sử dụng các giống Kim Tuyên, Thuý Ngọc, OLong Thanh Tâm phục vụ cho công tác lai tạo chọn giống (Trịnh Văn Loan, Hoàng Cự, 1994), (Nguyễn Văn Niệm, Lê Sĩ Thức, 1994), (Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Thị Kim Oanh, 2011), (Trần Thanh và
cs, 1984)
Trong những năm 2000 - 2005, công tác chọn tạo giống chè được chú trọng theo nhiều hướng, song song với chọn tạo giống chè trong nước đã đẩy mạnh công tác nhập giống từ nước ngoài Bằng nhiều con đường khác nhau, từ năm 2000 đến
2005 đã nhập khoảng 30 giống chè từ các nước trồng chè trong khu vực Đến năm
2003, Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận tạm thời 7 giống nhập nội, đó là các giống Hùng Đỉnh Bạch, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Kim Tuyên, Thuý Ngọc, Bát Tiên và PT95 (Đỗ Văn Ngọc và cs, 2009) Theo Nguyễn văn Toàn, Trần Thị Lư, trong các giống nhập giai đoạn 2000 - 2005, 7 giống được công nhận tạm thời năm 2003 bước đầu tỏ ra phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam Các giống khác sinh trưởng yếu và sâu bệnh nhiều Một số giống sinh trưởng tương đối khoẻ,
Trang 28song chất lượng lại không cao, trong 7 giống được công nhận tạm thời năm 2003 đến nay có 3 giống đã được công nhận chính thức, đó là: Kim Tuyên, Thuý Ngọc và Phúc Vân Tiên, 4 giống còn lại sinh trưởng yếu và sâu bệnh phát triển nhiều
Có một số giống nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan theo lý lịch là giống có hàm lượng axit amin và chất lượng cao (Lâm Mộc Liên, 2006), (Đỗ Văn Ngọc, 2006), (Đỗ Văn Ngọc, Trịnh Văn Loan, 2008), kết quả đánh giá ở Việt Nam cũng cho chất lượng rất cao như: Thiết Bảo Trà, Long Vân 2000 (Trung Quốc); Olong Thanh Tâm, Tứ Quý Xuân (Đài Loan) và Kanaya Midory, Meryoku (Nhật Bản) Song sinh trưởng của các giống chè này ở miền Bắc rất yếu, tỷ lệ chết nhiều (Đỗ Văn Ngọc và cs, 2009)
Ba giống chè nhập nội: Kim Tuyên, Thuý Ngọc và Phúc Vân Tiên có ưu điểm là cho chất lượng chè xanh và chè Olong vào loại khá đến tốt trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta (Đỗ Văn Ngọc và cs, 2009) (Đỗ Văn Ngọc và cs, 2009) Tuy nhiên, so với các giống chè của Việt Nam thì các giống này sinh trưởng yếu hơn Mặt khác, trong điều kiện trồng ở vùng thấp chúng chỉ cho chất lượng tốt vào
vụ đông xuân, còn vụ hè thu chưa thể hiện ưu thế nhiều so với các giống chè Việt Nam
Trong quá trình khảo nghiệm tập đoàn các giống nhập nội có nguồn gốc Trung Quốc, có một số cá thể có đặc điểm hình thái khác lạ so với những giống đã được mô tả trong hồ sơ nhận giống và được đặt tên dòng chè số 1 Qua quá trình nghiên cứu đánh giá dòng chè số 1 thấy có một số đặc điểm quý về chất lượng Năm
2004 chúng tôi đã tiến hành trồng khảo nghiệm so sánh giống tại gò Cọc Rào Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè Năm 2009 Dòng chè số 1 được Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn công nhận giống sản xuất thử , được đặt tên là PH10 (Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) và được công nhận giống Quốc gia năm 2014
Năm 2007 nhập nội 6 giống trong đó có 3 giống có nguồn gốc Trung Quốc: VN1,VN2,VN3; 3 giống có nguồn gốc Ấn Độ: TB1,TB2,TB3.Qua quá trình khảo nghiệm dòng TB1 có nhiều đắc điểm vượt trội về năng suất và chất lượng đạt loại khá thích hợp cho chế biến chè đen Năm 2009, TB1 được Bộ Nông nghiệp và phát
Trang 29triển nông thôn công nhận giống sản xuất thử và được đặt tên là PH11 Hiện này giống PH11 đã và đang mở rộng diện tích, được trồng ở Phú Thọ với diện tích trên 124,5ha (Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) Năm 2013, PH11 đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận giống Quốc Gia
- Tạo giống bằng phương pháp chọn lọc cá thể
Bằng phương pháp chọn lọc cá thể các tác giả Nguyễn Văn Niệm - Trần Thanh (1959 - 1972) đã chọn được các dòng chè PH1, 1A từ quần thể Manipur lá đậm ở Phú Hộ PH1 được công nhận giống năm 1987 Hiện nay giống chè PH1, vẫn
là giống cho năng suất cao, thích hợp cho chế biến chè đen Trong những năm 1976
- 1990 các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm, Trần Thị Lư đã chọn ra từ tập đoàn giống chè ở Phú Hộ và tập đoàn giống nhập nội từ Srilanca các giống chè TH3, TRI777, hiện giống chè TRI777 được trồng nhiều ở Thái Nguyên Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Toàn, 1994), (Đỗ Văn Ngọc, 1991), (Nguyễn Văn Niệm và cs, 1988)
Ở Bảo Lộc năm 1962 đã chọn ra 2 giống chè TB11 và TB14 có năng suất cao, chất lượng tốt từ 17 cây chè Shan Trấn Ninh Năm 1997, Trung tâm nghiên cứu thí nghiệm chè Lâm Đồng đã chọn, phổ biến vào sản xuất giống chè LĐ97, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, ít kén đất và chịu thâm canh Năm 2010, Đỗ Văn Ngọc và cộng sự đã chọn lọc từ 13 cây chè Shan đầu dòng bằng phương pháp chọn lọc cá thể chọn ra được 2 giống PH12 và PH14 có năng suất cao, chất lượng tốt được trồng trong sản xuất với diện tích 5,5 ha ở Hà Giang đối với giống PH11 và 25,1 ha tại Yên Bái đối với giống PH12 (Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) Hai giống chè PH12 và PH14 đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn công nhận giống sản xuất thử năm 2010
- Chọn giống bằng phương pháp lai hữu tính
Năm 1980, Viện nghiên cứu chè đã tiến hành lai 7 tổ hợp lai mà bố mẹ đã được xác định Sau khi gieo hạt và tuyển chọn bước đầu đã xác định được 35 cá thể
có nhiều triển vọng Đến năm 1988 đã chọn được 4 cá thể nổi bật đó là LDP1, LDP2, CDP và CLT Sau 10 năm giám định, so sánh giống đã thu được kết quả tốt Hai dòng LDP1, LDP2 là 2 dòng lai sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt được Bộ NN & PTNT công nhận giống tạm thời năm 1994 cho phép mở rộng ra sản
Trang 30xuất và giống LDP1 được công nhận là giống quốc gia năm 2003, giống LDP2 được công nhận 2006 Hai dòng lai LDP1, LDP2 được chọn từ tổ hợp lai Trung Quốc và
Ấn Độ, Đại Bạch Trà (mẹ) x PH1 (bố) (Đỗ Văn Ngọc và cs, 1994) [30], (Đỗ Văn
Ngọc, 2006), (Đỗ Văn Ngọc và cs, 2009), (Nguyễn Văn Toàn, 1994), (Nguyễn Văn
Năm 1998, Viện nghiên cứu chè đã tiến hành lai giữa TRI777(bố) và Kim Tuyên (mẹ) đã chọn ra được 36 cá thể đưa vào giám định , năm 2002 chọn được 5
cá thể nổi trội hơn là Dòng số 26, số 8, số 9, số 32, số 36, sau 6 năm giám đinh dòng
số 8, số 9 là 2 dòng sinh trưởng khoẻ, năng suất cao chất lượng tốt cho chế biến chè xanh và chè Oolong, khả năng kháng sâu bệnh tốt, được Bộ NN & PTNT công nhận
là giống sản xuất thử năm 2008
Hiện nay Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè đã tiến hành lai tạo và chọn lọc ra các dòng chè số 10, 12, 13, 14, 15, 17, 19, 20, 25 có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao chất lượng tốt thích hợp với chế biến chè xanh đặc biệt là 2 dòng số
10 và dòng số 14 có khả năng chế biến chè xanh chất lượng cao và chè Oolong Bên cạnh việc khảo nghiệm so sánh giống, khảo nghiệm trên diện rộng, khảo nghiệm trong sản xuất tại các vùng sinh thái đối với các dòng chè có triển vọng để công nhận giống sản xuất thử và giống chè mới, Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc còn tiến hành trên 120 cặp lai với tổng số 15.281 hoa, thu được 3450 cá thể Qua tiến hành đánh giá, chọn lọc, hiện đã tuyển chọn được trên
40 cá thể ưu tú đang nhân giống, trồng khảo nghiệm so sánh giống
- Chọn giống bằng phương pháp gây đột biến
Ở Việt Nam chọn tạo giống cây trồng bằng phương pháp gây đột biến đã được hình thành từ những năm 1960 Tuy nhiên phải đến năm 1980 việc nghiên cứu chọn giống cây trồng bằng phương pháp đột biến thực nghiệm mới phát triển đồng
Trang 31bộ và có hệ thống Năm 1990 các tác giả Lê Mệnh và cộng sự đã tiến hành xử lý bức xạ gamma lên hạt chè giống PH1 và TRI777 Từ tập đoàn các cá thể được xử lý bức xạ gamma đã tuyển chọn được 5 cá thể bắt nguồn từ giống PH1 và 5 cá thể bắt nguồn từ giống TRI777 (Đỗ Văn Ngọc, 2005), (Nguyễn Văn Toàn và cs, 2011) Sau khi tiến hành khảo nghiệm, viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã chọn được dòng chè đột biến TRI777 5.0 có năng suất cao, chất lượng tốt hiện đang được đem đi trồng khảo nghiệm tại các vùng Thái Nguyên, Lào Cai, Tuyên Quang
Ngoài ra tại Trung tâm nghiên cứu phát triển chè - Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc còn sử dụng Consixin xử lý trên mầm chè giống PH1, trong thời gian 24 - 48 giờ với nồng độ 0,2%, cũng đã thu được kết quả bước đầu
- Chọn tạo giống chè bằng công nghệ sinh học:
Từ năm 2008, bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã chọn tạo được chín dòng chè lai cứu phôi triển vọng: CNS-1, CNS-2, CNS-3, CNS-4, CNS-5, CNS-6, CNS-7, CNS-8 và CNS-9 Các dòng chè này được tạo ra từ các cặp bố mẹ có khoảng cách di truyền xa nhau và được chọn lọc từ các cá thể ở giai đoạn nuôi cấy mô và giai đoạn vườn ươm khi cây chè con được một năm tuổi Qua theo dõi, đánh giá, các dòng chè này thường sinh trưởng khỏe, phân cành nhiều, tán rộng, có tiềm năng cho năng suất cao Từ chín dòng vật liệu nghiên cứu, bước đầu, các nhà khoa học đã tuyển chọn được bốn dòng chè lai cứu phôi có ưu thế lai vượt trội về khả năng thích nghi, sức sinh trưởng, phát triển gồm: CNS-1, CNS-3, CNS-6, CNS-8 Hiện nay, các dòng chè này đã được trồng khảo nghiệm tại Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (Phú Thọ), Yên
Bái và sắp tới trồng ở Thái Nguyên
2.4.2.2 Nghiên cứu đặc tính sinh vật học của cây chè
Nghiên cứu về đợt sinh trưởng của chè, tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) cho thấy: trong năm chè để sinh trưởng tự nhiên có 3 - 5 đợt sinh trưởng, khi đốn hái thì có 6 - 7 đợt sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể có từ 8 - 9 đợt sinh trưởng
Nghiên cứu thời gian sinh trưởng 1 đợt búp trên giống chè Trung du tại Phú
Hộ, tác giả Nguyễn Phong Thái kết luận: Thời gian sinh trưởng đợt búp dài hay
Trang 32ngắn phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, vụ xuân búp chè có thời gian sinh trưởng dài nhất và ngắn nhất là vụ hè
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh trưởng búp chè với sản lượng chè theo tác giả Nguyễn Văn Toàn và cs (1994): Sản lượng búp chè do 2 yếu tố số lượng búp trên cây và khối lượng búp quyết định, trong đó số lượng búp/cây có tương quan chặt hơn đối với sản lượng, đây là yếu tố rất nhạy cảm có thể thay đổi theo những điều kiện canh tác và các biện pháp kỹ thuật Còn khối lượng búp có tương quan thuận không chặt với sản lượng, đây là yếu tố ổn định và nó do đặc điểm của giống quyết định, vì thế số búp trên cây có ý nghĩa rất lớn đối với sản lượng của cây chè
- Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) phân loại lá chè như sau:
Dạng phiến lá căn cứ theo tỷ lệ dài lá/rộng lá(d/r)
- Các tác giả Nguyễn Văn Niệm, Trần Thanh cho rằng đặc điểm phân cành của cây chè là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới khả năng cho năng suất của giống Những giống chè có độ cao phân cành thấp, số cành cấp 1 nhiều, cành lớn sẽ có bộ khung tán to, khoẻ, có khả năng cho năng suất cao (Nguyễn Văn Niệm và cs,1988), (Nguyễn Văn Niệm, Lê Sĩ Thức, 1994), (Trần Thanh, Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm, 1984)
- Quan hệ giữa bộ rễ và tán cây chè theo tác giả Nguyễn Đình Vinh, 2002: vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 rễ bắt đầu sinh trưởng, chỉ sau khi hình thành nên một đợt sinh trưởng rễ nhất định, thì bộ phận trên mặt đất mới lần đầu sinh trưởng Vào mùa thu sau khi kết thúc đợt sinh trưởng của phần trên mặt đất, bộ rễ chè mới bắt đầu sinh trưởng Sự sinh trưởng của bộ rễ mạnh hay yếu có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng búp chè vụ xuân năm sau
Trang 33Như vậy trong sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm phân cành của từng giống mà
bố trí mật độ và khoảng cách trồng thích hợp tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt Căn cứ vào mối tương quan giữa khả năng phân cành với năng suất và chất lượng các giống chè sẽ giúp cho những nhà chọn tạo giống có những nhận xét bước đầu về khả năng cho năng suất của các con lai Các biện pháp kỹ thuật như đốn hàng năm làm tăng khả năng phân cành của cây chè sẽ thúc đẩy việc tăng năng suất nương chè một cách đáng kể Với những đặc điểm sinh trưởng thân cành cũng như sinh trưởng của bộ rễ chúng ta quyết định thời điểm bón phân để có hiệu quả
2.4.2.3 Nghiên cứu về đặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè
Sản phẩm chè xanh, chè Olong là những mặt hàng đòi hỏi nguyên liệu chế biến ra nó có những đặc tính riêng biệt Như chè xanh yêu cầu nguyên liệu búp non, trọng lượng búp nhỏ, tỷ lệ cuống thấp, có hàm lượng tanin vừa phải dưới 30% chất khô, khi chế biến sẽ cho sản phẩm chè xanh có chất lượng cao
Đối với chè Olong tính chất nguyên liệu lại càng đòi hỏi khắt khe hơn, búp chè có tính chất lý hóa khác nhau: lá phải dai, dày có độ chín trưởng thành, thành phần hóa học cũng giống như nguyên liệu để chế biến chè xanh, có nghĩa là hàm lượng tanin vừa phải, hàm lượng đường, axit amin cao, đặc biệt là có hương thơm và bền hương Nguyên liệu khi chế biến sẽ cho sản phẩm chè Olong có chất lượng cao, hương thơm đặc trưng, khi pha chè chẳng những thể hiện hương trong bã mà có hương thơm bền trong nước pha
Ở Việt Nam thu hái chè chủ yếu bằng tay, năng suất thấp, nhưng chất lượng nguyên liệu khá hơn so với hái chè bằng máy Khi hái chè bằng tay tỷ lệ búp chè loại A + B chiếm 50-60% trong tổng khối lượng nguyên liệu, hiện nay do điều kiện đáp ứng nhu cầu lao động, việc hái bằng máy đã ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các cơ sở sản xuất chè
Các công trình nghiên cứu thành phần hoá học của búp chè do ảnh hưởng của giống chè từ những năm 1974- 1992 (Hoàng Cự, Nguyễn Văn Tạo, 2004), (Ngô Xuân Cường, 2011), (Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) chỉ ra: các giống chè có hàm lượng tanin cao (như PH1) thích hợp cho việc chế biến chè đen Các giống chè có hàm lượng tanin thấp (như Đại Bạch trà) thích hợp chế biến chè xanh
Trang 34Tác giả Đoàn Hùng Tiến, 2011 cho rằng, hàm lượng axit amin trong lá chè phụ thuộc vào giống và điều kiện canh tác, chúng đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất cũng như tham gia tạo thành chất lượng của chè thành phẩm Kết quả phân tích của phòng thí nghiệm Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nhiệp miền núi phía Bắc (Nguyễn Thị Minh Phương, Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Văn Toàn,
2006 - 2007 - 2008) trên các giống nhập nội từ Trung Quốc, Đài Loan thấy đa phần các giống có chất lượng chè xanh và chè Olong tốt có hàm lượng axit amin > 2,5%, đường hoà tan >3 %
Tác giả Trịnh Văn Loan, 2008 cho rằng, đường có vai trò lớn đối với chất lượng chè xanh, ngược lại catechin lại có vai trò quan trọng đối với chất lượng chè đen Đường khử tham gia vào chất lượng chè với vai trò tạo hương và điều hoà vị chè, hàm lượng đường khử trong búp chè phụ thuộc vào giống chè, điều kiện canh tác và mùa vụ
2.5 Đánh giá tổng quan
Nghiên cứu về cây chè trong và ngoài nước đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt như: Nghiên cứu về sinh trưởng, phát triển, đặc tính sinh vật
học, giống, kỹ thuật canh tác, cũng như đánh giá chất lượng nguyên liệu
- Về nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây chè: Các nhà khoa học đã phân chia tổng chu kỳ phát dục của cây chè làm 5 giai đoạn sinh trưởng, phát triển, nêu những yêu cầu của từng giai đoạn với điều kiện ngoại cảnh và đề ra các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp thích hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây chè Trong nghiên cứu của mình các nhà khoa học còn đặc biệt quan tâm đến đặc điểm hình thái của các giống chè như: Thân, cành, lá và quan hệ của chúng với sản lượng và chất lượng chè, làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và chọn tạo giống
- Công tác nghiên cứu giống: Để chọn lọc các giống chè mới, thế giới đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến, công nghệ sinh học, trong đó phương pháp lai hữu tính và chọn lọc cá thể được chú ý và có nhiều thành công, đã chọn được nhiều giống chè có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng cao góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển ngành chè thế giới
Trang 35Xu hướng chọn tạo giống chung của nhiều nước trên thế giới hiện nay là hướng đến những giống chè chất lượng cao Các nước sản xuất chè xanh và chè Olong trong khu vực đều gắn rất chặt chẽ quan hệ giữa nghiên cứu sinh hoá chè với công tác chọn tạo giống và coi axit amin là chỉ tiêu hàng đầu trong chọn tạo giống tốt
Từ những phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng chè Việt Nam muốn có được bộ giống tốt cho chế biến chè xanh, chè đen và chè Oolong cần phải tập trung chọn tạo giống theo phương pháp lai hữu tính là hiệu quả nhất, bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác nhập nội giống chất lượng cao và nghiên cứu khả năng thích ứng của
cá giống chè này để nhanh chóng đưa ra sản xuất
Như vậy, sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy công tác chọn tạo giống mới luôn gắn liền với các loại sản phẩm chè theo hướng chất lượng cao để cung cấp nguyên liệu chế biến tạo ra những sản phẩm chè đặc biệt, nổi tiếng trong nước và trên thế giới
Trang 36CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Gồm 6 dòng chè nhập nội và lai tạo trong nước Trong đó có 4 dòng nhập nội là: Tứ Quý Xuân, VN2, VN3, Phúc Vân 10 và 2 dòng chè lai tạo là: Dòng số 10, dòng số 17
- Giống đối chứng là giống chè Kim Tuyên
1 Tứ Quý Xuân Nguồn gốc Đài Loan, được nhập nội năm 1996
2 VN 2 Nguồn gốc Phúc Kiến – Trung Quốc, được nhập nội
năm 2007
3 VN3 Nguồn gốc Phúc Kiến – Trung Quốc, nhập nội năm 2007
4 Phúc Vân 10 Nguồn gốc Trung Quốc, nhập nội năm 1996
5 Dòng số 10 Lai giữa giống Kim Tuyên và Trung Du
6 Dòng 17 Lai giữa Tứ Quý Xuân với Trung Du
7 Kim Tuyên (Đ/C) Có nguồn gốc Đài Loan, được công nhận giống
Quốc gia năm 2008
- Thí nghiệm được trồng năm 2011
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các đặc điểm nông sinh học, năng suất và chất lượng của 6 dòng chè nhập nội và lai tạo mới ở tuổi 3 trong điều kiện sinh trưởng tại Phú Hộ
Thí nghiệm được bố trí tại gò Trại Khế - Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè - Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
3.2.1 Nội dung nghiên cứu:
Đề tài tập chung nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu các đặc điểm hình thái thực vật học của một số dòng chè nhập nội
và lai tạo trong nước
- Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các dòng chè nhập nội và lai tạo trong nước
Trang 37- Đánh giá sơ bộ khả năng chống chịu sâu bệnh hại chính trên một số dòng chè nhập nội và lai tạo trong nước
- Nghiên cứu, đánh giá về chất lượng của các dòng chè nhập nội và lai tạo trong nước
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 7 công thức (7 dòng, giống chè) được bố trí treo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại gồm có 3 hàng chè, mỗi hàng 10 cây, khoảng cách cây – cây: 0.35m, hàng – hàng: 1.3m mật độ tương ứng: 2.2000 cây/ha Diện tích 1 ô thí nghiệm: 14 m2
- Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
3.2.2.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:
Theo QCVN 01-124:2013/BNNPTNT
* Đặc điểm hình thái, sinh trưởng của thân, cành chè
Ở các tính trạng đo đếm trên các ô thí nghiệm, mỗi ô thí nghiệm lấy mẫu 10 cây theo đường chéo Đo vào tháng 10 hàng năm
Trang 38- Chiều cao cây (cm): Đo từ bề mặt đất sát cổ rễ đến bề mặt một khung vuông đặt nằm ngang trên mặt tán và song song với bề mặt đất
- Đường kính gốc (cm): Đo bằng thước panme cách mặt đất 5cm
- Độ rộng tán (cm): Chọn cây chè có độ rộng tán trung bình, đo vị trí rộng nhất của tán cây ở phần giữa tán theo hàng chè, dùng hai thước dựng đứng song song hai bên mép tán đo độ rộng giữa hai thước
- Chiều cao phân cành (cm): Đo từ cổ rễ đến điểm phân cành đầu tiên
- Số cành cấp 1, cấp 2 (cành/cây): Đếm toàn bộ số cành cấp1, cấp 2 có trên cây
* Đặc điểm hình thái lá
Theo dõi trên 3 cây/1ô, mỗi cây 30 lá, các lá trưởng thành đại diện cho giống
(theo dõi lá thứ 5) vào thời gian cây sinh trưởng tốt nhất (tháng 5 - tháng 7)
- Chiều dài lá (cm): Chiều dài lá được đo từ đầu lá đến gốc lá sát với cuống theo chiều dọc của gân chính
- Chiều rộng lá (cm): Chiều rộng đo vị trí rộng nhất theo chiều ngang của lá
- Diện tích lá (cm2/lá ): Chiều dài x chiều rộng x kệ số K
( K là hệ số điều chỉnh, theo các kết quả nghiên cứu trước đây, các giống chè có dạng lá bầu, tròn hệ số K là 0.70 Các giống chè có dạng lá thuôn dài, hệ số K là 0.68)
- Góc lá: Đo góc giữa lá thứ 3 và cành của đọt 1 tôm 5 lá
- Số đôi gân lá (đôi/lá): Đếm những đôi gân nổi rõ và xuất phát từ gân chính
- Hình dạng lá trưởng thành:
- Màu sắc lá trưởng thành: quan sát bằng mắt
- Số đôi răng cưa
- Chóp lá
- Phiến lá
* Đặc điểm cấu tạo hoa
- Đặc điểm của hoa chè theo quy trình khảo nghiệm DUS 10TCN744
- Kích thước hoa chè
- Đài hoa: Kí hiệu là P
- Cánh hoa: Kí hiệu là K
- Nhị hoa: Kí hiệu là C
Trang 39- Nhuỵ hoa: Kí hiệu là G
- Mầu sắc, kích thước, số lượng, lông tuyết của cánh hoa, nhị và nhuỵ
* Đặc điểm sinh trưởng của búp chè, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Sinh trưởng của búp
+ Mỗi giống đo 30 búp cố định, đo từ khi lá cá mở đến khi đạt 1 tôm + 5 lá + Theo dõi thời gian sinh trưởng của các búp đo
- Tỷ lệ búp mù xòe (%): Hái tất cả các búp có trên mặt tán, lấy 100 gam búp ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại Tiến hành phân loại búp bình thường và búp mù Tính tỷ
lệ % búp mù và búp bình thường
- Khối lượng búp 1tôm 2 lá, 3 lá: trên ô thí nghiệm chọn 3 điểm đại diện, mỗi điểm hái ngẫu nhiên 100 búp 1tôm 3lá khi trên cành chè có 5 – 6 lá, tiến hành cân quy ra khối lượng 1 búp, theo dõi vào lứa hái chính, 1 tháng 1 lần
* Theo dõi mức độ nhiễm sâu bệnh hại:
+ Rầy xanh (con/khay): dùng khay kích thước 25x35cm, chiều cao khay 5
cm, láng dầu hoả và khay, hứng khay vào mép tán chè, đập 3 đập vào tán chè trên
Trang 40khay Sau đó xác định có trong khay
+ Nhện đỏ (con/lá): mỗi giống/cây đếm ngẫu nhiên số nhện trên 30 lá bánh tẻ + Bọ cánh tơ (con trên búp): mỗi giống/cây đếm ngẫu nhiên số nhện trên 30 búp + Bọ xít muỗi (% búp bị hại): Lấy ngẫu nhiên 100g búp chè, % búp bị hại xác định theo công thức:
X (%) = (B/A).100
Trong đó:
X : là số búp bị hại tính bằng %
A : là số búp có trong 100 g mẫu
B : là số búp bị hại trong trong mẫu
* Nghiên cứu, đánh giá các chỉ tiêu chất lượng :
- Phân tích thành phần sinh hoá cuả búp chè 1 tôm 2 lá:
+ Hàm lượng tanin theo phương pháp Lewelthal với K= 0,582
+ Hàm lượng chất hoà tan theo phương pháp Voronxop (1964)
+ Hàm lượng đường khử theo phương pháp Betrand
+ Hàm lượng axit amin theo phương pháp V.R.Papova (1966)
+ Hàm lượng chất thơm trong búp chè tươi
Mỗi năm lấy mẫu phân tích trong 3 vụ: vụ xuân (tháng 3-4); vụ hè (tháng 7-8);
vụ thu (tháng 9- 10);
- Đánh giá chất lượng cảm quan chè xanh và chè Olong:
Chế biến chè xanh và chè olong của các giống chè nghiên cứu ở 3 thời vụ: xuân, hè và thu, thử nếm bằng phương pháp cảm quan với 4 chỉ tiêu ( Ngoại hình- màu nước - hương - vị) theo TCVN 3218- 1993, 10 TCN 839 - 2006 do hội đồng thử nếm Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đánh giá
* Phương pháp xử lý số liệu
Các kết quả thí nghiệm được tổng hợp xử lý, vẽ đồ thị, biểu đồ trên phần mềm Excel Số liệu được xử lý theo chương trình xử lý thống kê sinh học trên phần mềm IRIRSTAT 5.0