BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LƯU TUẤN NGHĨA NGHIÊN CỨU CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ HUYẾT HỌC CỦA TRÂU NUÔI TẠI HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA LU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LƯU TUẤN NGHĨA
NGHIÊN CỨU CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ HUYẾT HỌC CỦA TRÂU NUÔI TẠI HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LƯU TUẤN NGHĨA
NGHIÊN CỨU CHỈ TIÊU SINH LÝ VÀ HUYẾT HỌC CỦA TRÂU NUÔI TẠI HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, số liệu tính, kết quả được thể hiện trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố cho việc bảo vệ một học vị nào trong và ngoài nước
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lưu Tuấn Nghĩa
Trang 4
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô giáo công tác tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam nói chung và các Thầy cô trong Khoa Thú Y nói riêng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Bá Tiếp – Trưởng bộ môn Giải phẫu – Tổ chức – Phôi thai, khoa Thú Y người Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, anh em, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Lưu Tuấn Nghĩa
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Sơ lược về sự thuần hoá và nguồn gốc của trâu nhà 4
1.1.1 Sự thuần hoá của trâu nhà 4
1.1.2 Nguồn gốc của trâu 4
1.2 Các loại hình trâu 5
1.2.1 Trâu đầm lầy (Swamp Buffalo) 5
1.2.2 Trâu sông (River Buffalo) 6
1.3 Sự phát triển và phân bố đàn trâu 9
1.3.1 Sự phát triển và phân bố đàn trâu trên thế giới 9
1.3.2 Sự phát triển và phân bố đàn trâu nước ta 10
1.4 Đặc điểm sinh trưởng của trâu 12
1.4.1 Một số khái niệm về sinh trưởng và phát dục 12
1.4.2 Khả năng sinh trưởng của trâu 13
1.4.3 Khả năng cho thịt của trâu 14
1.4.4 Phương pháp đánh giá tốc độ sinh trưởng của trâu 15
1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng 16
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
1.5 Đặc điểm sinh sản của trâu 18
1.5.1 Tuổi thành thục về tính 19
1.5.2 Tuổi đẻ lứa đầu của trâu 19
1.5.3 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 20
1.5.4 Tính mùa vụ trong sinh sản của trâu 21
1.6 Máu 22
1.6.1 Khái niệm về máu 22
1.6.2 Chức năng của máu 22
1.6.3 Sự tạo máu 22
1.6.4 Thành phần của máu 22
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng 30
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Điều tra về đàn trâu tại huyện với các chỉ tiêu 30
2.2.2 Xác định sự biến đổi của một số chỉ tiêu hình thể của trâu nuôi tại Cẩm Thủy theo tuổi 30
2.2.3 Xác định sự biển đổi một số chỉ tiêu sinh lý của trâu nuôi tại Cẩm Thủy theo tuổi 30
2.2.4 Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu theo tuổi của trâu 31
2.2.5 Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh hóa máu theo tuổi của trâu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp điều tra 31
2.3.2 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu hình thể 32
2.3.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh lý 34
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
2.3.4 Phương pháp xác định chỉ tiêu sinh hóa 35
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Tình hình phát triển chăn nuôi trâu của huyện Cẩm Thủy 36
3.1.1 Biến động và phân bố đàn trâu của huyện Cẩm Thủy 36
3.1.2 Cơ cấu đàn trâu của huyện Cẩm Thủy 38
3.1.3 Quy mô chăn nuôi trâu của huyện Cẩm Thủy 40
3.2 Chỉ số hình thể trâu nuôi tại Cẩm Thủy 42
3.3 Các chỉ tiêu sinh lý 44
3.3.1 Thân nhiệt 44
3.3.2.Tần số hô hấp 46
3.3.3 Tần số mạch 47
3.4 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của trâu nuôi tại Cẩm Thủy 48
3.4.1 Chỉ tiêu hồng cầu 48
3.4.2 Huyết sắc tố 50
3.4.3 Số lượng và công thức bạch cầu 51
3.4.4 Tiểu cầu 54
3.5 Chỉ tiêu sinh hóa máu 56
3.5.1 Protein và glucose 56
3.5.2 Hàm lượng các chất điện giải trong huyết thanh 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
Kết luận 60
Đề nghị: 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Sự phân bố và phát triển của đàn trâu trên thế giới (nghìn con) 10
Bảng 1.2 Sự phát triển và phân bố trâu ở nước ta (nghìn con) 11
Bảng 3.1 Diễn biến đàn trâu qua các năm của huyện Cẩm Thủy 36
Bảng 3.2 Cơ cấu đàn trâu của huyện Cẩm Thủy… 36
Bảng 3.3 Quy mô chăn nuôi trâu của huyện Cẩm Thủy 40
Bảng 3.4 Một số chỉ số kích thước cơ thể của trâu đực tại huyện Cẩm Thủy 40
Bảng 3.5 Một số chỉ số kích thước cơ thể của trâu cái tại huyện Cẩm Thủy 41
Bảng 3.6 Thân nhiệt của trâu nuôi tại huyện Cẩm Thủy 44
Bảng 3.7 Tần số hô hấp của trâu nuôi tại huyện Cẩm Thủy 46
Bảng 3.8 Tần số mạch đập của trâu nuôi tại huyện Cẩm Thủy 47
Bảng 3.9 Chỉ tiêu hồng cầu của trâu 48
Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu về huyết sắc tố trong máu trâu 50
Bảng 3.11 Chỉ tiêu hệ bạch cầu của trâu đực 51
Bảng 3.12 Chỉ tiêu hệ bạch cầu của trâu cái 52
Bảng 3.13 Chỉ tiêu tiểu cầu của trâu nuôi tại Cẩm Thủy 55
Bảng 3.14 Hàm lượng protein và glucose trong máu trâu 56
Bảng 3.15 Hàm lượng các chất điện giải trong huyết thanh 57
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Cấu tạo hemoglobin 24
Hình 2 Số lượng trâu của huyện Cẩm Thủy từ năm 2008 đến 2014 36
Hình 3 Quy mô chăn nuôi trâu của huyện Cẩm Thủy 41
Hình 4 Thân nhiệt của trâu nuôi tại Cẩm Thủy 45
Hình 5 Tần số hô hấp của trâu nuôi tại Cẩm Thủy 46
Hình 6 Tần số mạch đập của trâu nuôi tại Cẩm Thủy 48
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”, câu châm ngôn từ xa xưa đó đã nói lên đầy đủ và phong phú sự gắn bó khăng khít giữa con trâu với đời sống người nông dân Việt Nam trên đồng ruộng cùng với nền văn minh lúa nước ở nước
ta Người nông dân Việt Nam nuôi trâu chủ yếu để cày bừa làm đất nông nghiệp, cung cấp phân bón cho cây trồng và làm sức kéo cho các ngành vận tải khác Nguồn thức ăn chính của trâu lại là cỏ tươi và các phụ phẩm nông nghiệp như: rơm rạ, thân cây ngô đã thu bắp và dây lang, dây lạc Vì vậy mà người ta thường nói rằng con trâu “ăn giả, làm thật”
Trâu là gia súc kiêm dụng rất hữu ích cho người nông dân, là gia súc của người nghèo, không cạnh tranh lương thực với con người, trâu chỉ sử dụng thức ăn tự nhiên chủ yếu là cỏ và phụ phẩm từ trồng trọt mà con người
và gia súc khác không sử dụng được để phát triển cơ thể, tạo ra sức kéo và nhiều sản phẩm có giá trị cho con người Tuy nhiên với người nông dân Việt Nam, vai trò chính của con trâu chỉ là cày kéo như tác giả Việt Nông (2000),
đã viết: “Chẳng dễ gì mà một sớm một chiều bỏ nổi sức kéo con trâu” Với đặc thù chủ yếu là nghề trồng lúa nước quy mô nhỏ nên bao đời nay trâu là nguồn sức kéo chính không thể thay thế, là nguồn năng lượng rẻ tiền, dễ sử dụng, đầu tư ít và còn có khả năng tái sản xuất, nó có thể tạo ra sức kéo khoảng 600–800 N (Nguyễn Xuân Trạch, 2002) Trâu có thể cầy bừa ở bất
cứ loại đất nào, nhất là ở những vùng đất trồng lúa lầy thụt mà bò không thể đảm đương thậm chí máy móc cũng khó khăn Trâu cũng có thể dùng kéo xe trong các loại đường nhỏ hẹp, địa hình phức tạp, kéo gỗ trong rừng, kéo ép mía làm mật…
Ngoài vai trò cầy kéo trâu còn là con vật cung cấp lượng thịt đáng kể cho con người hiện nay và cả trong tương lai Sẽ là không đầy đủ nếu như chúng ta không đề cập đến việc nuôi trâu cung cấp một lượng phân hữu cơ lớn và có giá trị cho trồng trọt (mỗi năm trung bình một trâu trưởng thành cho
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
5 - 6 tấn phân nguyên chất) Mai Văn Sánh (2000), chính nguồn phân này làm tăng độ phì nhiêu của đất, góp phần đáng kể tăng năng suất cây trồng Đối với một số nước thì các sản phẩm như da, lông hay sừng trâu sau khi giết mổ sẽ
là nguồn nguyên liệu cho các nghành công nghiệp (để sản xuất đồ da, ví da, giày…) hay phục vụ để sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (làm trống, làm tù và,…) Con trâu ở một số vùng như: Đồ Sơn - Hải Phòng, Lập Thạch - Vĩnh Phúc còn được dùng để thi, chọi, cúng trong các lễ hội truyền thống ở một số vùng quê và là nét đẹp của văn hoá dân tộc
Thế nhưng những tiềm năng vốn có của trâu vẫn chưa được đầu tư nghiên cứu đúng mức, nhằm khai thác hợp lý những tiềm năng sinh học vốn
có của chúng Hơn nữa, với chủ trương của Đảng và nhà nước là công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nên máy móc đang dần thay thế sức kéo của trâu, làm cho số lượng trâu cũng đang giảm dần một cách rõ rệt Trong hoàn cảnh đó huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa cũng như các vùng, miền khác trong cả nước không nằm ngoài xu thế chung của thời đại và đất nước Để đánh giá sự phát triển của đàn trâu ở đây chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu chỉ tiêu sinh lý và huyết học của trâu nuôi tại huyện
Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa”
2 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu và đánh giá tình hình chăn nuôi tại huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thể, chỉ tiêu sinh lý và huyết học của trâu nuôi tại huyện Cẩm Thủy
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cung cấp dữ liệu về thực trạng nuôi trâu tại huyện Cẩm Thủy, làm cơ
sở cho việc xây dựng các chương trình quy hoạch phát triển đàn trâu, góp phần phát triển kinh tế địa phương
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
- Bổ sung dữ liệu về đặc điểm sinh học con trâu Việt Nam làm cơ sở cho việc chẩn đoán, điều trị bệnh trên trâu
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về sự thuần hoá và nguồn gốc của trâu nhà
1.1.1 Sự thuần hoá của trâu nhà
Chưa có tài liệu nào ghi chép lại chính xác trâu được thuần hoá ở đâu
và từ khi nào, nhưng có rất nhiều tác giả đã xác định là trâu đã được thuần hoá cách đây rất lâu Theo Kenle (1910), cho rằng trâu được thuần hoá từ cách đây 5000 – 5500 năm, được trích dẫn bởi Nguyễn Đức Thạc (1983) Còn Agabayli (1977), đã ghi nhận trâu được thuần hoá từ cách đây hơn 3000 năm Theo Nagarcenka (1975) cho rằng cách đây 2750 – 3250 năm trước công nguyên trâu đã được thuần hoá
Ở Việt Nam, trong “Hùng Vương dựng nước” tập III (trích dẫn của Trần Đình Miên (1996), tài liệu không xuất bản) đã chỉ rõ người Việt cổ đã sớm thuần hoá trâu, bắt đầu từ thời kỳ hậu đồ đá mới (cách đây khoảng 4 – 4,5 nghìn năm) để giúp con người trong nghề trồng lúa nước mà không con vật nào có thể thay thế tốt hơn chúng Vào giai đoạn sớm của văn hoá Phùng Nguyên - mốc tiêu biểu của thời kỳ văn hoá các vua Hùng, trong di chỉ Phú Lộc (Hậu Lộc, Thanh Hoá) đã xác định có xương trâu nhà và muộn hơn ở di chỉ Đồng Đậu (Yên Lạc, Phú Thọ) có niên đại vào khoảng 3330 ± 100 năm, ở đây cũng tìm thấy một số lượng tượng trâu bằng đất Vì vậy trâu bò được thuần dưỡng dưới thời kỳ Hùng Vương là điều không còn nghi ngờ gì nữa Nguyễn Đức Thạc (1983), cũng cho rằng ở Việt Nam trâu rừng đã được thuần hoá thành trâu nhà hiện nay bắt đầu chậm nhất là thời kỳ đồ đá mới (cách đây
4 – 5 nghìn năm)
1.1.2 Nguồn gốc của trâu
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
Trâu có hai loại hình, trâu sông (River buffalo) và trâu đầm lầy (Swamp buffalo), chúng đều là trâu nước (Water buffalo), tên la tinh là Bubalus Bubalis, chúng cùng được thuần hoá từ trâu hoang Châu Á (Bubalus Arnnee) thuộc nhóm trâu Châu Á (Bubalina), tộc bò (Bovini), họ sừng rỗng (Bovidae), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bộ móng chẵn (Artiodactyla) Năm 1941 Macgregor đã đặt tên cho trâu là trâu sông (River Buffalo) và trâu đầm lầy (Swamp Buffalo) theo sở thích tự nhiên của chúng, loại trâu vùng Đông Nam Á thích đầm lầy, bùn, còn trâu ở vùng
Ấn Độ và vùng Viễn Đông thì thích nước sông sạch sẽ hơn Cockrill (1974) Như vậy hai loại hình trâu nước đều có chung một nguồn gốc, cùng tộc, nhưng đến phụ tộc mới tách ra do khác nhau về số lượng nhiễm sắc thể
1.2 Các loại hình trâu
Dựa vào các đặc điểm sai khác về màu sắc, ngoại hình và hướng sản xuất của các quần thể trâu trên thế giới Macgregro (1941), đã phân chia trâu thành hai loại hình đó là loại hình trâu đầm lầy (Swamp Buffalo) và loại hình trâu sông (River Buffalo) theo sở thích của chúng
1.2.1 Trâu đầm lầy (Swamp Buffalo)
Đây là loại hình trâu được nuôi chủ yếu ở vùng Đông Nam Á, có nhiều nhất ở Thái Lan, Lào, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philippin, Trung Quốc Trâu đầm lầy ít được chọn lọc và cải tiến, gần với trâu rừng hơn: sừng thon cong hình bán nguyệt, trán phẳng, hẹp, mắt lồi, mắt ngắn, mồm rộng, thân ngắn, chân thấp, vai vạm vỡ, ngực rộng, bụng to, mông thấp, đuôi ngắn, móng xòe, vú bé thích hợp với việc cày kéo Trâu thường có màu xám đen hoặc xẫm hơn, đặc biệt chúng có 2 bợt lông màu nhạt: một ở dưới hàm, một ở trên ngực Trâu được sử dụng chủ yếu để cày kéo, do ít được chọn lọc và cải tạo đến nay không phân thành nhiều giống như trâu sữa Tuy nhiên do trâu được
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
nuôi ở những vùng khác nhau nên có những tên gọi khác nhau như: trâu ngố, trâu gié ở Việt Nam; trâu Karabo ở Philippin, trâu Krbau ở Malaysia
Trâu Việt Nam cũng thuộc loại hình trâu đầm lầy nó cũng mang những đặc điểm của nhóm trâu đầm lầy, thích hợp cho việc cầy kéo Về giống trâu ở Việt Nam chưa có tài liệu nào nói về sự phân loại các giống trâu, vẫn chỉ có duy nhất một giống, nhưng có những tài liệu phân chia thành hai loại hình là trâu ngố và trâu gié Sự khác nhau giữa hai loại hình trâu này chủ yếu về tầm vóc, còn về đặc điểm giống thì không có gì khác nhau Trâu ngố tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, có hình dạng to và thô hơn, da dày không bóng, xương to, bàn chân to, móng hở Trâu gié tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, có hình dáng nhỏ, thanh gọn hơn, da mỏng và bóng hơn, lông đen và mượt hơn, chân bé và móng khít hơn Có thể thấy trâu ở các tỉnh phía Nam nước ta (Tây Nguyên, Nam Bộ ) thuộc các loại hình lớn giống như trâu ngố
ở phía Bắc Có ý kiến cho rằng đó là sự pha tạp với giống trâu từ Campuchia (một giống trâu đầm lầy to)
1.2.2 Trâu sông (River Buffalo)
Trâu sông (River Buffalo) được nuôi chủ yếu ở Pakistan, Ấn Độ và các nước vùng Cận Đông, vùng nam Liên Xô cũ, các nước vùng Địa Trung Hải, ngày nay chúng đã được du nhập vào các nước Đông Nam Á, Úc, Nam Mỹ
Do quá trình chọn lọc của con người, trâu sông đã hình thành nhiều giống riêng biệt với loại hình khác nhau và có khả năng sản xuất sữa, thịt cao Chỉ riêng vùng Nam Á đã có tới 18 giống trâu sông khác nhau, được xếp vào
5 nhóm với các giống chính là:
- Nhóm trâu Murrah có các giống chính là Murrah, Nili – Ravi, Kundi
- Nhóm trâu Gujarak có các giống chính là Surti, Mehsana, Jafarabadi
- Nhóm trâu Uttar Pradesh có các giống chính là Bhadawari, Tarai
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
- Nhóm trâu vùng Trung Ấn có các giống chính là Nagpuri, Pandharpuri, Manda, Kalahandi, Sambalpur
- Nhóm trâu vùng Nam Ấn có các giống chính là Toda, South Kanara Trong các giống trâu sông thì trâu Murrah là một trong những giống trâu nổi tiếng nhất với khả năng cho sữa rất cao Sản lượng sữa trung bình đạt
2600 – 2800 kg trong một chu kỳ vắt sữa 270 – 300 ngày, tỷ lệ mỡ sữa đạt 7% cộng với khả năng thích nghi rộng nên trâu Murrah được nuôi ở nhiều vùng khác nhau của Ấn Độ và du nhập vào nhiều nước khác trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Bungari… Đặc trưng của giống trâu sông
là có thân hình vạm vỡ, khung xương sâu rộng, xương nặng, chân ngắn, sừng xoắn vặn và ngắn, bầu vú rất phát triển, tĩnh mạch vú nổi rõ, các núm vú được xắp xếp vuông vắn, cân đối, rất thích hợp cho việc khai thác sữa Trâu đực có dương vật và bìu dái đều được treo cao, dương vật treo ngay ở bụng dài khoảng 15 – 30 cm và gắn với bụng bằng lớp da hình tam giác, bìu dái có cổ
rõ, treo và dài khoảng 20 – 28 cm Còn con cái có cổ dài mảnh, lưng hơi chúc
về phía trước, chân sau hơi cong tạo một khoảng rộng cho bầu vú Đuôi trâu sông dài, mảnh khoảng 20 – 30 cm, ở đoạn chót đuôi không có xương và thường có chùm lông trắng
Mầu sắc đặc trưng của trâu sông là mầu đen, tuy nhiên ở một số quần thể
có mầu xám ở chân, Ross Cockrill (1968), cho biết trâu đôi khi có mầu nâu hoặc mầu nâu nhạt, còn mầu trắng ở trâu sông thường rất ít gặp Rife (1962), cho rằng mầu đen ở trâu sông là do gen B (trội) quy định, gen này nằm ở locus khác với cặp W, w Do vậy khi lai giữa trâu đầm lầy trắng với trâu sông mầu đen, con lai của chúng sẽ là mầu xám trắng, ông giả định rằng mầu nâu
là lặn so với mầu đen bởi mặc dù đã có sự chọn lọc để loại bỏ mầu nâu, nhưng tần số gen mầu nâu trong quần thể vẫn chiếm 30% Trâu sông được nuôi với mục đích chính là cung cấp sữa cho con người Ấn Độ và Pakistan là
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
nơi sản xuất và tiêu thụ sữa trâu lớn nhất thế giới khoảng 38,3 triệu tấn/năm (chiếm 89,3% lượng sữa trâu trên thế giới) Khả năng sản xuất sữa của trâu phụ thuộc vào di truyền và các yếu tố môi trường, trong đó đặc biệt là yếu tố dinh dưỡng có một vai trò to lớn
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
1.3 Sự phát triển và phân bố đàn trâu
1.3.1 Sự phát triển và phân bố đàn trâu trên thế giới
So với các loại động vật nhai lại khác, trâu phân bố chủ yếu ở Châu Á, nơi có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có nhiều đầm lầy, ao hồ, sông suối thích hợp với đặc điểm thải nhiệt của trâu Chính vì vậy sự phát triển và phân bố đàn trâu trên thế giới cũng không đồng đều Theo số liệu thống kê của FAO năm 2012, toàn thế giới có khoảng 198,8 triệu con, trâu phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á
Tuy nhiên, tại mỗi khu vực và mỗi nước trên thế giới đều có sự khác nhau rõ rệt về số lượng và tốc độ tăng trưởng về số lượng trâu qua các năm Đứng đầu về số lượng trâu vẫn là các nước thuộc khu vực Tây Á: Ấn Độ (106,6 triệu con, chiếm 58% số trâu toàn thế giới), Pakistan (29,9 triệu con), còn lại là các nước khác như Trung Quốc, Nepal, Ai Cập, Philippin Việt Nam
có số lượng 2,63 triệu con đứng thứ 7 trên thế giới ( số liệu của FAO năm 2012)
Qua số liệu của bảng 1.1 được trình bày ở trên, chúng tôi thấy đàn trâu thế giới từ năm 2008 – 2012 có mức tăng trung bình hàng năm đạt 1,53% (năm 2009 tăng hơn năm 2008 là 1,62%, năm 2010 tăng so với năm 2009 là 1,40%, năm 2011 tăng hơn năm 2010 là 1,33% và năm 2012 tăng so với năm
2011 là 1,76%) Tuy đàn trâu trên thế giới tăng nhưng tăng không đều chủ yếu tăng tập trung ở các nước Châu Á tổng đàn trâu năm 2012 tăng so với năm 2008 là 6,4%, còn lại ở các lục địa khác hầu như không tăng hoặc tăng không đáng kể
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
Bảng 1.1: Sự phân bố và phát triển của đàn trâu trên thế giới (nghìn con)
(Nguồn: theo số liệu của FAO, 2012)
Trong những năm gần đây, sản lượng sữa trâu trên toàn thế giới có xu hướng tăng lên Năm 2008 sản lượng sữa đạt 85,485,224 (tấn) và đến năm
2012 sản lượng sữa đạt 97,417,135 (tấn) (FAO, 2012) Sữa trâu được sản xuất chủ yếu tại Ấn Độ và Pakistan Năm 2012, Ấn Độ sản xuất được 66,000,000 (tấn), Pakistan sản xuất được 23,652,000 (tấn), chiếm hơn 92% tổng sản lượng sữa trâu trên toàn thế giới
Sản lượng thịt trâu cũng có xu hướng tăng lên, năm 2008 sản lượng thịt trâu toàn thế giới đạt 3,352,456 (tấn) đến năm 2012 đạt 3,597,340 (tấn) Tăng bình quân hàng năm 1,36%/năm Trong đó các nước có sản lượng thịt trâu lớn như Cambodia, Trung Quốc Việt Nam có sản lượng thịt trâu đứng thứ 10 trên thế giới
1.3.2 Sự phát triển và phân bố đàn trâu nước ta
Như chúng ta đã biết, người Việt cổ đã biết trồng lúa từ rất sớm và sử dụng con trâu để làm đất theo cách “hoả canh thuỷ nâu” – (quần ruộng bùn cho ngấm) Nó đã có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của nền văn minh lúa nước ở Việt Nam Cùng với sự thay đổi của nền công nghiệp và quá trình công nghiệp hóa trong sản xuất nông nghiệp đàn trâu nước ta cũng
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
có nhiều biến đổi, tuy nhiên Việt Nam vẫn được đánh giá là một nước có nhiều trâu của thế giới với tổng số đàn trâu đứng thứ 7 trên thế giới
Theo số liệu của tổng cục thống kê, năm 2007 nước ta có 2996,4 nghìn con, năm 2008 giảm xuống còn 2897,7 nghìn con, năm 2009 đàn trâu nước ta giảm xuống chỉ còn 2886,6 nghìn con, năm 2010 giảm xuống còn 2877,0 nghìn con Đến năm 2011 số lượng trâu giảm xuống chỉ còn 2712,0 nghìn con, theo thống kê sơ bộ đến năm 2012 tổng số đàn trâu nước ta đạt 2627,8 nghìn con, giảm 14% so với năm 2007 và trung bình mỗi năm giảm 2,3%
Do đặc điểm của địa hình nước ta trải dài từ 8o30΄ đến 23o22΄ vĩ độ bắc nên từng miền cũng có đặc điểm riêng Dựa trên những đặc điểm riêng về khí hậu, địa hình, kinh tế - xã hội nước ta được chia thành 8 vùng sinh thái Trên mỗi vùng sinh thái có phương thức chăn nuôi và số lượng trâu riêng biệt Điều này thể hiện rõ ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Sự phát triển và phân bố trâu ở nước ta (nghìn con)
Năm
Đồng bằng sông Hồng 176,9 171,6 170,6 168,3 155,3 145,7 Trung du và vùng núi phía
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
Trong tổng số 2627,8 nghìn con trâu trong cả nước năm 2012 thì khu vực Trung du và vùng núi phía Bắc có đến 1453,6 nghìn con, chiếm 55,32 % Tiếp sau đó đến vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 839,0 nghìn con, chiếm 31,93 % Như vậy chỉ tính riêng 2 vùng Trung du và vùng núi phía Bắc; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung chiếm 87,25 % số lượng trâu cả nước Số còn lại được chia cho các vùng Đồng bằng sông Hồng là 145,7 nghìn con chiếm 5,54 %; Tây Nguyên là 91,6 nghìn con chiếm 3,48 %; Đông Nam Bộ là 57,2 nghìn con chiếm 2,18 % Ít nhất là khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long chỉ có 40,7 nghìn con, chiếm 1,55%
Một trong những nguyên nhân khiến đàn trâu nước ta tập trung đông ở hai khu vực Trung du và vùng núi phía Bắc; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là khu vực đó có những điều kiện về địa hình, khí hậu, kinh tế -
xã hội thuận lợi cho đàn trâu phát triển
Bên cạnh việc cung cấp sức kéo và phân bón dùng trong sản xuất nông nghiệp, trâu còn cung cấp một lượng thịt đáng kể cho nhu cầu con người Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm 2007 cả nước đạt 67,5 nghìn tấn thịt trâu, năm 2011 đạt 87,8 nghìn tấn và đến năm 2012 đã đạt được 88,5 nghìn tấn thịt trâu hơi xuất chuồng, tốc độ tăng trung bình đạt 5,18 %/ năm Tuy nhiên sản lượng thịt trâu vẫn thấp hơn thịt bò và thịt lợn Mặc dù sản lượng thịt trâu trong cả nước có tăng nhưng không tăng đồng đều giữa các vùng trong cả nước, tăng mạnh nhất là ở các vùng: Tây Nguyên (11,92
%/năm) và Bắc Trung Bộ (12,25 %/năm) Ngược lại ở các vùng như vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long lại giảm, tốc độ giảm tương ứng
là 2,83 %/năm và 2,33 %/năm
1.4 Đặc điểm sinh trưởng của trâu
1.4.1 Một số khái niệm về sinh trưởng và phát dục
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
Sinh trưởng là cơ thể sinh vật tăng lên về khối lượng, thể tích về các chiều dài, chiều rộng và chiều cao Cơ thể sinh vật thực hiện những quá trình chuyển hoá trao đổi chất cơ bản để tạo ra vật chất của tế bào sống .(giáo trình chọn lọc và nhân giống gia súc, tr 35)
Sự sinh trưởng được đặc trưng bởi tốc độ sinh trưởng và độ dài sinh trưởng Chúng được phản ánh qua khối lượng, kích thước các chiều đo của cơ thể
Phát dục là quá trình hình thành những tổ chức, bộ phận mới của cơ thể ngay từ giai đoạn đầu tiên của bào thai và trong cả quá trình phát triển của cơ thể sinh vật
Như vậy quá trình sinh trưởng và phát dục là sự biến đổi chung của cơ thể sống Hai quá trình này không có danh giới Có phát dục đồng thời cũng
có sinh trưởng và ngược lại Ở bộ phận này có phát dục thì ở bộ phận khác có sinh trưởng hoặc sự sinh trưởng và phát dục đều thực hiện song song và tồn tại trong cùng một bộ phận của cơ thể
1.4.2 Khả năng sinh trưởng của trâu
Sự sinh trưởng của trâu cũng tuân theo những quy luật sinh trưởng phát dục chung của sinh vật nên ở những giai đoạn khác nhau thì khác nhau Lê Văn Đảng và cộng sự (1995), nghiên cứu sinh trưởng của trâu trên 1019 con ở các lứa tuổi đã nhận xét: từ sơ sinh đến 1 năm tuổi, với điều kiện nuôi đàn dựa vào sữa mẹ và chăn thả tự nhiên, bình quân nghé tăng trọng 427 – 439 (g/ngày) Nếu bổ sung thêm thức ăn tinh (cám gạo, sắn, khoai ), 1 ngày tăng trọng có thể lên đến 500 – 600 (g/ngày) Sau 1 năm tuổi nghé có thể đạt 200 kg hoặc hơn Từ 1 năm tuổi trở đi, khả năng tăng trọng tuyệt đối giảm rõ rệt xuống mức thấp nhất ở 5 – 6 tuổi
Trâu từ 1 – 2 năm tuổi mức tăng trọng trong giai đoạn này đạt 194 -
217 g/ngày Từ 2 - 3 tuổi đạt mức tăng trọng 220 (g/ngày) Nguyên nhân là do
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
lúc này khả năng lợi dụng đồng cỏ bãi chăn, tiêu hoá thức ăn thô của nghé đã tốt hơn Từ 3 – 4 tuổi mức tăng trọng trung bình đạt 193 (g/ngày), từ 4 – 5 tuổi là 79 (g/ngày) và từ 5 – 6 tuổi mức tăng trọng chỉ đạt 46 (g/ngày)
Khả năng này càng thấy rõ khi xét đến chỉ tiêu tăng trọng tương đối Lúc 1 – 2 tuổi là 2,7%, 2 – 3 tuổi là 2,2%, 3 – 4 tuổi là 1,81%, 4 – 5 tuổi là 0,59% và 5 – 6 tuổi chỉ còn 0,31%
Khả năng sinh trưởng của trâu còn lệ thuộc nhiều ở giống, giới, khối lượng sơ sinh, tuổi và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác
1.4.3 Khả năng cho thịt của trâu
Trâu được nuôi rộng rãi trên thế giới với ba mục đích chính là cầy kéo, lấy sữa và lấy thịt, tuỳ theo nhu cầu của con người và tuỳ thuộc vào từng giống trâu Từ lâu người ta vẫn cho rằng thịt trâu chỉ là sản phẩm phụ, sau khi trâu hết khả năng cầy kéo hay cho sữa thì mới đem giết thịt, cho nên họ rất ít chú ý đến khai thác và tăng năng xuất thịt trâu Vì hầu hết từ trước tới nay trâu đem giết thịt thường là trâu già loại thải nên tỷ lệ và phẩm chất thịt bị hạn chế Tuy nhiên trâu vẫn có khả năng cho thịt cao và chất lượng thịt ngon bằng hoặc hơn thịt bò nếu được nuôi với khẩu phần thích hợp Nhiều thí nghiệm đã được tiến hành để xác định khả năng sản xuất thịt đối với trâu Murrah trưởng thành như: Payne (1990), cho biết trâu Murrah nuôi ở Ấn Độ có tỷ lệ thịt xẻ là 50,9%, còn Ross Cockrill (1974), lại cho rằng tỷ lệ đó là 53 – 54% Charlea
và Johnhon (1972), (được trích dẫn bởi Nguyễn Đức Thạc, Mai Văn Sánh và cộng sự), cho biết tỷ lệ của trâu nuôi tại Úc thay đổi theo tuổi từ 51 – 59,7% Còn theo Mai Văn Sánh (1996), cho biết trâu Murrah nuôi ở Việt Nam tăng trọng 0 – 6 tháng tuổi là 556 g/ngày, còn 7 – 12 tháng tuổi là từ 407 – 575 g/ngày; Tỷ lệ thịt xẻ trâu đực trưởng thành đạt 54,3% và thịt tinh là 49,6%, còn ở trâu cái tỷ lệ này tương ứng là 48,4 và 43,8% Ở trâu tơ lai F1 24 tháng tuổi có tỷ lệ thịt xẻ là 50,7% và thịt tinh là 41,1%
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
Đối với trâu nội ngoại hình to Nguyễn Đức Thạc (1983), cho biết trâu cái trưởng thành có tỷ lệ thịt xẻ là 43,5%, tỷ lệ thịt tinh là 34,5% còn trâu đực
tơ tỷ lệ thịt xẻ là 48% tỷ lệ thịt tinh là 39,5% Ở trâu đực tơ ngoại hình nhỏ thì Đào Lan Nhi (1996), tỷ lệ thịt xẻ là 45,25%, tỷ lệ thịt tinh là 36,75%
1.4.4 Phương pháp đánh giá tốc độ sinh trưởng của trâu
Để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc nhất là trâu bò, người ta thường dùng phương pháp đánh giá thông qua các chiều đo của cơ thể và dùng khối lượng tức là cân gia súc để biết được sự sinh trưởng của chúng Cân gia súc là hình thức phổ biến và quan trọng nhất, bởi lẽ khối lượng cơ thể
là chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá khả năng sinh trưởng của con vật Nhưng nếu chỉ dùng phương pháp cân khối lượng là chưa đủ vì có trường hợp thiếu thức ăn khối lượng gia súc bị giảm nhưng một số chiều đo vẫn có thể tăng Vì vậy, kết hợp giữa cân và đo để đánh giá tốc độ sinh trưởng của gia súc sẽ chính xác hơn
Đối với trâu, thường tiến hành cân và đo ở các lứa tuổi sơ sinh, 3 tháng,
6 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng, 48 tháng, 60 tháng và 72 tháng Khi trâu đạt 72 tháng tuổi trở lên (6 năm tuổi) là thời điểm trâu đã thành thục về tầm vóc
Cân trâu vào buổi sáng sớm khi chưa cho trâu ăn Đối với những con đang mang thai, khi cân phải trừ phần trăm khối lượng của bào thai trước khi tính khối lượng cơ thể
Thông qua các số liệu cân, đo chúng ta có thể tính và xác định được tốc
độ sinh trưởng của gia súc
Đối với việc đánh giá sự phát triển của gia súc bằng kích thước các chiều đo cũng là một nội dung quan trọng, đặc biệt là đánh giá con giống theo hướng sản xuất, bởi vì ngoại hình và các chức năng của cơ thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau Cơ thể không đơn thuần là tổng thể các bộ phận gộp
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
lại mà là một hệ thống sinh học phức tạp, vì vậy ngoại hình cho ta biết thể chất, sức khoẻ và có thể ước đoán được sức sản xuất của gia súc
1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng
Quá trình sinh trưởng, phát dục ở mỗi cơ thể, mỗi giống và mỗi loài khác nhau là khác nhau Điều kiện sống cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc Sinh trưởng và phát dục của gia súc chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh
1.4.5.1 Yếu tố di truyền
Di truyền là đặc tính của sinh vật được truyền từ tổ tiên, bố mẹ đến đời con cháu những đặc tính mà cha mẹ hay tổ tiên nó đã có Thường thì bố, mẹ
có khối lượng lớn sẽ sinh ra con có khối lượng lớn
Nghiên cứu mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của khối lượng bố, mẹ
và khối lượng sơ sinh đến mức độ tăng trọng hằng ngày trong mỗi giai đoạn sinh trưởng của trâu, Bunyavejchewin và cộng sự (1986), đã nghiên cứu và so sánh 179 trâu đầm lầy (90 đực và 89 cái) từ năm 1981 – 1986 cho biết: khối lượng trâu lúc cai sữa có tương quan thuận với mức độ tăng trọng trong giai đoạn bú sữa (r = + 0,95) với p < 0,01; tương tự, khối lượng trâu lúc 2 năm tuổi có tương quan thuận với mức độ tăng trọng của trâu sau cai sữa (r = + 0,51) với p < 0,05 Nhưng tăng trọng trước cai sữa và tăng trọng sau cai sữa lại có mối tương quan nghịch (r = - 0,185) Tuy nhiên, khối lượng cai sữa, tăng trọng trước và sau cai sữa cùng khối lượng trâu kết thúc ở thời điểm theo dõi được dùng như là những mốc tiêu chuẩn để chọn lọc (trích dẫn từ Tiến Hồng Phúc, 2002)
Cũng nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của trâu đầm lầy Topanurak và cộng sự (1991), cho biết:
- Khối lượng trâu lúc cai sữa (240 ngày tuổi) chịu ảnh hưởng nhiều bởi con bố, giới tính, lứa đẻ, mùa vụ, mùa cai sữa và năm cai sữa
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
- Lúc 2 năm tuổi bị ảnh hưởng bởi con bố, lứa đẻ, mùa vụ và năm theo dõi sinh trưởng
- Tăng trọng trung bình trong ngày trước cai sữa bị ảnh hưởng bởi con
bố, lứa đẻ, mùa vụ và năm cai sữa
- Tăng trọng trong suốt thời kỳ theo dõi sinh trưởng bị ảnh hưởng bởi con bố, lứa đẻ, mùa vụ và năm theo dõi
Khi phân tích 1001 trường hợp nghé sinh ra tại trạm giống Surin (Thái Lan) từ năm 1980 – 1988, Intaramongkol và cộng sự (1991), сho biết khối lượng trâu đầm lầy lúc cai sữa (240 ngày tuổi) bị ảnh hưởng bởi tuổi của con
mẹ, con bố, giới tính, mùa và năm sinh
và quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc
Ánh sáng đặc biệt là tia hồng ngoại, tử ngoại có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trâu, nhất là bộ xương nghé Dưới tác động của các tia nắng mặt trời trên bề mặt da sẽ kích thích cơ thể hình thành các chất có hoạt tính sinh học đặc biệt là caroten, tiền vitamin D3 các chất này thúc đẩy quá trình oxy hoá, tăng hàm lượng Hemoglobin và bạch cầu trong máu làm tăng phản ứng phòng vệ của cơ thể Mặt khác, vitamin D3 có khả năng tăng quá trình hấp thu canxi của cơ thể tạo điều kiện cho xương phát triển
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
Nhiệt độ và độ ẩm cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sống của gia súc Ở nước ta vào mùa hè có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn làm cản trở quá trình thải nhiệt của gia súc nhất là đối với trâu, con vật có tuyến mồ hôi kém phát triển vì thế rất dễ gây streess nhiệt cho vật nuôi Vào mùa đông thời tiết giá rét, khô hanh cộng với thức ăn thô xanh khan hiếm thì trâu bò cũng phát triển rất kém
- Yếu tố nuôi dưỡng và quản lý – chăm sóc
Thức ăn có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của gia súc Vì vậy, cho gia súc ăn theo khẩu phần theo từng giai đoạn thích hợp, chế độ vận động thích hợp, chuồng trại sạch sẽ đều thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát dục của gia súc Ngược lại nếu quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng không hợp lý như môi trường sống để quá bẩn bị ô nhiễm, thức ăn thì không đủ, thiếu chất dinh dưỡng hoặc dinh dưỡng không cân đối lại kìm hãm sự phát triển của gia súc thậm chí gia súc bị còi cọc và chết Đặc biệt là quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc gia súc trong giai đoạn còn non có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc sau này
Tóm lại, yếu tố nuôi dưỡng có vai trò quan trọng và quyết định đến quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc Mức độ tăng trọng của gia súc nhanh hay chậm, khối lượng cơ thể lúc trưởng thành có đạt tầm vóc vốn có của giống hay không phần lớn do yếu tố nuôi dưỡng quyết định
1.5 Đặc điểm sinh sản của trâu
Sinh sản là vấn đề rất quan trọng trong chăn nuôi, nó quyết định đến sự tăng đàn và năng suất sản phẩm Sinh sản là một vấn đề phức tạp nhất đối với trâu, việc nâng cao khả năng sinh sản của trâu đang là một vấn đề quan tâm và thách thức đối với các nhà khoa học Con trâu có những quy luật sinh học sinh sản của động vật có vú, nhưng nó cũng có những đặc điểm riêng Để đánh giá khả năng sinh sản của trâu chúng ta dựa vào một số chỉ tiêu sau:
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
1.5.1 Tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục của trâu được tính theo ngày tuổi hoặc tháng tuổi, ở đó nghé thành thục về chức năng sinh dục và có biểu hiện muốn giao phối lần đầu, nó được xem là một chỉ tiêu để đánh giá tính mắn đẻ của một giống Khi gia súc thành thục về tính thường ở tuổi sớm hơn thành thục về thể vóc
Đối với trâu cái sự thành thục về tính lúc 18 – 24 tháng tuổi và sự thành thục về thể vóc là lúc 72 tháng tuổi Chính vì thế mặc dù có khả năng sinh sản khi thành thục về tính nhưng không cho phối giống ngay vào thời điểm này vì
tỷ lệ thụ thai thấp, nguy cơ sảy thai cao, sản lượng sữa thấp, tỷ lệ khó đẻ tăng cao, con non sinh ra yếu, sinh trưởng và phát triển chậm Ngoài ra còn ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của trâu mẹ, làm giảm khả năng làm việc và sinh sản xuống Tuy nhiên việc cho phối giống quá muộn sẽ làm ảnh hưởng đến năng xuất sinh sản vốn có của trâu cũng như khả năng tiết sữa của trâu bị giảm sút Có nhiều ý kiến cho rằng thời điểm phối giống tốt nhất cho trâu là khi chúng đã thành thục về tính và khối lượng cơ thể đạt 70 – 75 % khối lượng trưởng thành
Tuổi thành thục về tính của trâu phụ thuộc vào loại hình, giống trâu và đặc biệt là chế độ nuôi dưỡng chăm sóc nghé trước và sau khi tách mẹ Theo tác giả Mai Văn Sánh (1996), trâu Murrah nuôi tại sông Bé - Việt Nan có tuổi thành thục về sinh dục là 33,81 tháng tuổi Theo Nguyễn Đức Thạc (1983), cho biết trâu cái lai F1 (đực Murrah x Cái nội) có tuổi thành thục về tính sớm hơn trâu thuần, trung bình là 34 tháng tuổi
Như vậy trâu là loại gia súc có tuổi thành thục về tính muộn hơn so với các loài gia súc khác như: bò (cái: 18 – 21 tháng tuổi, đực: 18 – 32 tháng tuổi), ngựa ( cái: 12 – 18 tháng tuổi, đực: 12 – 20 tháng tuổi), lợn (cái: 6 – 8 tháng tuổi, đực: 5 – 8 tháng tuổi) (giáo trình sinh sản gia súc, tr 14)
1.5.2 Tuổi đẻ lứa đầu của trâu
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
Đây là chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của trâu cái Nó được tính bằng tuổi của trâu khi nó đẻ lứa thứ nhất Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như: giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật phối giống
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và có những công bố khác nhau về vấn đề này Ashfag và Moson (1954), thông báo tuổi đẻ lứa đầu của trâu Ấn
độ là 48 tháng tuổi, ở Palestan là 47 tháng (dao động từ 32 – 47 tháng) Theo Ishag và Shah (1975), thì trâu Nili – Kavi ở Palestan có tuổi đẻ lứa đầu là
1367 ngày ( khoảng 45 tháng ) Viện Rainal (1977), công bố tuổi đẻ lứa đầu của trâu Murrah là 41 tháng Còn Sethii và cs (1996), thu được số liệu của
615 trâu Murrah từ năm 1971 – 1994 thấy rằng tuổi đẻ lứa đầu trung bình là 52,9 tháng Nguyễn Đức Thạc và cộng sự (1985), đã theo dõi trên đàn trâu Murrah nuôi tại Ngọc Thạch cho biết, tuổi đẻ lứa đầu của trâu Murrah là 45,21 tháng Nguyễn Văn Thanh ( 1995), cho biết tuổi đẻ lứa đầu của trâu ở Miền Bắc Việt Nam tập trung vào giai đoạn 49 – 60 tháng tuổi
1.5.3 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ liên tiếp có ý nghĩa kinh tế lớn đối với thời gian sản xuất của trâu, đồng thời nó còn là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của trâu cái Khoảng cách của hai lứa đẻ phụ thuộc vào thời gian mang thai và thời gian phối có chửa khi đẻ Thời gian mang thai của gia súc thường biến động rất hẹp và có tính đặc trưng cho loài Thời gian mang thai ở trâu cái là 310 – 320 ngày Do vậy, thực tế khoảng cách giữa hai lứa đẻ liên tiếp phụ thuộc chủ yếu vào thời gian phối có chửa sau khi đẻ Thời gian động dục sau khi đẻ lại phụ thuộc vào thời gian hồi phục cơ quan sinh dục và sức khoẻ con mẹ sau khi đẻ Như vậy, có nghĩa rằng yếu tố ngoại cảnh đặc biệt là sự nuôi dưỡng và chăm sóc quyết định đến tính mắn đẻ của trâu, tuy nhiên yếu tố cá thể cũng đóng góp phần quan trọng Có nhiều công trình
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
nghiên cứu về khoảng cách giữa hai lứa đẻ ở các giống trâu khác nhau Aluin
và Ahmed (1954), cho biết khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của trâu là 550 ± 25,6 ngày Nguyễn Đức Thạc và Nguyễn Văn Vực (1985), thì trâu Murrah nuôi tại Ngọc Thanh có khoảng cách lứa đẻ là 632 ngày
Các tác giả này cũng cho rằng khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của trâu cũng chịu ảnh hưởng của tuổi, lứa đẻ và mùa vụ sinh sản Thường thì khoảng cách giữa 2 lứa đầu và lứa thứ 2 dài hơn các lứa đẻ tiếp theo Trâu non có khoảng cách lứa đẻ ngắn hơn trâu già và trâu đẻ vào mùa mưa có khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn hơn trâu đẻ vào mùa khô
1.5.4 Tính mùa vụ trong sinh sản của trâu
Nhiều tài liệu nghiên cứu đã khẳng định, trâu có thể phối giống quanh năm nhưng động dục của trâu lại mang tính mùa vụ rõ rệt Theo Rife (1959), thì vào những tháng nóng nực, trâu cái thường không động dục Villiegas (1958), chỉ ra rằng hoạt động sinh dục xảy ra mạnh nhất vào các tháng mùa mưa, mát mẻ và vì thế trâu ở Philipine có khuynh hướng sinh sản theo mùa rõ ràng Ross Cockvill (1971), đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của các tác giả từ
15 khảo nghiệm đã nhận xét: Ở các vùng khác nhau của Ấn Độ ảnh hưởng của mùa vụ đến động dục và sinh sản của trâu là khác nhau, mặc dù chu kỳ sinh sản kéo dài 8 tháng nhưng chúng không hoạt động sinh dục từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm Mai Văn Sánh (1996), cũng đã kết luận rằng trâu Murrah nuôi tại sông bé động dục quanh năm nhưng tập trung rõ nhất từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau và đẻ nhiều từ tháng 8 đến tháng 1 (chiếm 75,61%), tức là động dục nhiều vào mùa đông và mùa xuân, đẻ nhiều vào mùa thu và đông
Trâu Bungari hoạt động sinh dục tối đa vào các tháng mùa thu và mùa đông, còn ở Italia phần lớn trâu đẻ từ tháng 7 đến tháng 10 (Agabayli, 1977)
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
Nhiều tác giả còn cho rằng mùa vụ đẻ có ảnh hưởng lớn đến khoảng cách hai lứa đẻ, trâu cái đẻ vào mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 10 có khoảng cách hai lứa đẻ thường ngắn (461 ngày), còn nếu đẻ vào mùa hè thì kéo dài tới 529 ngày
1.6 Máu
1.6.1 Khái niệm về máu
Máu là một dịch lỏng có màu đỏ, hơi nhớt, được chứa và lưu thông trong hệ thống tim mạch của cơ thể động vật, thuộc loại mô liên kết đặc biệt
có chất cơ bản là huyết tương và tế bào máu gồm có hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu Máu có độ quánh gấp khoảng 5 lần nước cất, độ quánh này phụ thuộc vào lượng huyết cầu và protein huyết tương Tỷ trọng của máu toàn phần lớn hơn nước, nó phụ thuộc vào số lượng hồng cầu có trong máu và phụ thuộc vào loài động vật
Thể tích máu trong cơ thể thay đổi tùy theo loài động vật Ở trâu, bò máu chiếm 8% khối lượng cơ thể Trong đó 54% máu lưu thông trong hệ thống tuần hoàn còn lại được dự trữ ở gan 20%, ở lách 16% và 10% ở các mao mạch dưới da Hai dạng máu này thường xuyên chuyển hóa cho nhau
1.6.2 Chức năng của máu
Máu trong cơ thể động vật có vai trò rất quan trọng, nó thực hiện các chức năng hô hấp (vận chuyển O2 từ phổi đến các mô, các tế bào và vận chuyển CO2 từ các tế bào về phổi để thải ra ngoài); vận chuyển, chức năng bài tiết; chức năng bảo vệ và điều hòa thân nhiệt – duy trì trạng thái cân bằng
1.6.3 Sự tạo máu
Sự tạo máu là một quá trình phức tạp và bao gồm hai thời kỳ: (1) Tạo máu
ở thời kì phôi thai (gồm giai đoạn bào thai, giai đoạn tạo máu của gan và lách; giai đoạn tạo máu ở tủy xương) và (2) Sự tạo máu sau giai đoạn phôi thai
1.6.4 Thành phần của máu
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
Huyết tương: Có nước (chiếm khoảng 90%), là dung môi cơ bản để hòa tan các chất Các chất hòa tan gồm: các ion vô cơ và muối, protein huyết tương, chất dinh dưỡng hữu cơ, các sản phẩm có nitơ, các sản phẩm đặc biệt được chuyên chở và các khí hòa tan Trong đó protein huyết tương có vai trò quan trọng đối với cơ thể động vật: xúc tác của các enzyme; dinh dưỡng, vận chuyển của albumin; α,β-globilin và vai trò bảo vệ của γ-globulin… Protein huyết tương đảm bảo cho áp lực thẩm thấu của máu, cân bằng pH trong các tổ chức, tạo thành hệ thống đệm cho máu
Các tế bào máu:
Hồng cầu (triệu/mm3) có dạng hình đĩa, lõm hai mặt, không nhân Hồng cầu chiếm tỷ lệ cao nhất trong máu, số lượng hồng cầu thay đổi tùy theo loài gia súc Kích thước hồng cầu phụ thuộc loài gia súc nhưng không
tỷ lệ với kích thước cơ thể động vật Hồng cầu chứa 63,3% nước, 36,7% là vật chất khô, trong đó có 95% là Hemoglobin đảm nhận các chức năng sinh lý của hồng cầu, các protein khác chiếm 3-8%, leuxitin 0,5%, cholesterol 0,3%
và các muối kim loại, chủ yếu là ion K+ Trong hồng cầu còn có một số enzyme quan trọng như anhydraza cacbinic, catalaza …
Hồng cầu chỉ sống được 30 - 120 ngày sau khi trưởng thành từ tủy xương Hồng cầu già sẽ được các tế bào lưới nội mô của gan, lách, tủy xương thực bào Số lượng hồng cầu ở trâu là 6-8 triệu/mm3 máu và phản ánh phẩm chất giống, sức sản xuất và sức sống của con vật
Huyết sắc tố (hemoglobin – Hb)
Hb là một loại protein phức tạp – cromoprotein, dễ tan trong nước, có khối lượng phân tử khoảng 7000đvC, chiếm trên 90% hàm lượng vật chất khô của hồng cầu Hb gồm một phân tử globin ( chiếm 96%) kết hợp với 4 phân
tử Hem (chiếm 4%) Phân tử globin gồm 4 chuỗi polypeptide, 2 chuỗi α, mỗi chuỗi gồm 141 acid amin và 4 chuỗi β mỗi chuỗi có 146 acid amin, 4 chuỗi
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
này xếp đối xứng nhau và 4 phân tử Hem gắn trên lưng 4 chuỗi polypeptide Globin có tính chất đặc trưng cho từng loài động vật, cho nên phân tử hemoglobin mang tính chất đặc trưng cho tính di truyền của giống
Hình 1: cấu tạo hemoglobin
Hàm lượng Hb trong máu thường ổn định theo các loài Trong cùng loài hàm lượng Hb thay đổi theo lứa tuổi, tính biệt, dinh dưỡng và các điều kiện môi trường khác nhau Việc xác định hàm lượng Hb trong máu có ý nghĩa quan trọng trong công tác chẩn đoán Lượng huyết sắc tố cao khi cơ thể
ở trạng thái mất nước thường gặp ở gia súc bị xoắn ruột, trúng độc cấp, kí sinh trùng máu hoặc nhiễm trùng nặng Lượng huyết sắc tố giảm thường gặp
ở gia súc bị thiếu máu và suy dinh dưỡng
Hb kết hợp với O2 và CO2, thực hiện quá trình vận chuyển O2 và CO2trong quá trình hô hấp do Ion Fe++ trong phân tử Hb có khả năng kết hợp và phân
ly với phân tử O2 một cách dễ dàng
Hb + O2 (Phổi) ↔ HbO2 (Mô bào)
Hb còn có chức năng hệ đệm giúp ổn định pH máu
Bạch cầu
Bạch cầu là những tế bào máu có khả năng vận động, chúng giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây nhiễm khuẩn và nhiễm độc bằng quá trình thực bào hoặc quá trình miễn dịch Số lượng bạch cầu trong máu thường ổn định, chỉ thay đổi khi điều kiện sinh lý của cơ thể thay đổi Bạch cầu có thời gian sống rất ngắn và khác nhau tùy thuộc chức năng Bạch cầu ái toan sống được
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
vài giờ hoặc 6-10 ngày Bạch cầu trung tính sống được từ 12-14 ngày Lâm ba cầu sống được 100 ngày, có loại sống được đến 5 năm Bạch cầu đa nhân trung tính hoạt động mạnh nhất để bảo vệ cơ thể, sau đó đến bạch cầu đơn nhân lớn
Căn cứ vào hình thái và tính chất bắt màu khi nhuộm của bào tương mà người ta chia bạch cầu thành 5 loại: Bạch cầu đa nhân trung tính, bạc cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn và lâm ba cầu Mỗi loại bạch cầu có tỷ lệ nhất định tùy theo loài và giống vì vậy người ta lập công thức bạch cầu bằng cách tính tỷ lệ % các loại bạch cầu ở cùng một loài, công thức bạch cầu thường là ổn định ở trạng thái sinh lý bình thường, do vậy qua công thức bạch cầu có thể đánh giá được sức khỏe của gia súc
Theo Kolb (1987), số lượng bạch cầu là một chỉ tiêu đánh giá sự thích nghi của gia súc đối với môi trường sống Số lượng bạch cầu ít hơn rất nhiều lần so với hồng cầu, đơn vị tính là nghìn/mm3 máu Những con vật được chuyển từ vùng này đến vùng khác thường có số bạch cầu thấp hơn những con vật đã sống thích nghi ở vùng đó Số lượng bạch cầu tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp hoặc mãn, sau khi gia súc ăn phải chất độc, trong trường hợp gia súc mang thai Ngoài ra trong trạng thái con vật bị stress tác động thì
số lượng bạch cầu cũng tăng, đặc biệt là bạch cầu đơn nhân lớn (Nguyễn Văn Kiệm, 2000) Bạch cầu giảm trong trường hợp nhiễm độc, nhiễm xạ, suy tủy hay tuổi già
Bạch cầu trung tính: là loại bạch cầu có số lượng nhiều nhất so với
các loại khác trong máu, có đường kính từ 7-15µm, nhân bắt màu tím sẫm, bào tương màu hồng nhạt (nhuộm HE) Bạch cầu đa nhân trung tính hoạt động mạnh nhất, nó có thể biến dạng để làm nhiệm vụ thực bào Tùy theo sự thành thục của nhân mà người ta chia ra thành nhiều loại: nhân ấu, nhân gậy, nhân đốt
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
Tỷ lệ bạch cầu trung tính so với tổng số bạch cầu ở mỗi loài là khác nhau Trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp, bệnh truyền nhiễm, bạch cầu trung tính thường tăng cao Một số trường hợp nhiễm độc, nhiễm virus hay các bệnh do suy tủy bạch cầu trung tính giảm (Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997)
Bạch cầu ái toan: Có đường kính từ 8-20µm, trong bào tương có các
hạt bắt màu đỏ tươi khi nhuộm thuốc nhuộm Eosin Chúng có thể chui qua mạch quản để ra ngoài tổ chức tham gia vào quá trình thực bào, nhưng khả năng thực bào của chúng rất kém Bạch cầu ái toan tham gia vào quá trình bảo
vệ cơ thể chống cảm nhiễm, ngoài ra còn tham gia vào quá trình oxy hóa giải độc cho cơ thể Bạch cầu ái toan không có hệ thống enzyme, chỉ có men peroxydase nhưng hàm lượng rất nhỏ nên không có khả năng diệt khuẩn Nó
có vai trò trong quá trình hoạt hóa các chất như histamine và vận chuyển serotonin, tỷ lệ bạch cầu ái toan khác nhau ở các loại gia súc, bò 4%, lợn 4-8%, ngựa 4%
Số lượng bạch cầu ái toan tăng trong các bệnh do kí sinh trùng đặc biệt
là kí sinh trùng đường ruột, kí sinh trùng ngoài da, tăng ít trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp ở thời kì hồi phục, dùng quá nhiều kháng sinh
Bạch cầu ái kiềm: là loại bạch cầu có hình tròn, hình quả lê Có đường
kính từ 8-15µm Nguyên sinh chất có các hạt bắt màu xanh của Hematein khi nhuộm, các hạt này to nhỏ không đều nhau, nhân bắt màu tím có hình thù đa dạng Bạch cầu ái kiềm chiếm tỷ lệ rất ít trong máu Chức năng của bạch cầu
ái kiềm chưa rõ, người ta chỉ thấy rằng khi thiếu vitamin A thì loại bạch cầu này tăng lên, nó còn tăng khi mắc bệnh thiếu máu, tiêu huyết, ung thư, tiếp cận tia phóng xạ cacbon
Bạch cầu đơn nhân lớn: là loại bạch cầu to nhất có đường kính từ
15-25µm nhân bắt màu tím đen và có nhiều hình thái khác nhau (hình bầu dục, hình hạt đậu, hình móng ngựa), nguyên sinh chất bắt màu xám tro Bạch cầu
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
đơn nhân lớn cũng có chức năng giống bạch cầu đa nhân trung tính, ngoài ra chúng còn tham gia vào quá trình miễn dịch bằng cách truyền thông tin kháng nguyên thông qua các Lâm ba cầu Tỷ lệ bạch cầu đơn nhân lớn tăng trong các bệnh truyền nhiễm mạn tính, các quá trình huyết nhiễm trùng máu, giảm trong phần lớn các bệnh truyền nhiễm cấp tính thời kì đầu…
Lâm ba cầu: To nhỏ không đều, đường kính từ 5-19µm, nhân bắt màu
tím đen và choán hết bào tương hình hạt đỗ mập Bạch cầu lympho có vai trò chính trong quá trình đáp ứng miễn dịch của cơ thể, đó là miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào Căn cứ vào tính chất sinh vật học người ta chia lâm ba cầu thành 2 loại:
Lymphocyte – T: là tế bào dạng lympho, sinh ra ở tủy xương rồi di chuyển đến tuyến ức (thymus), được biệt hóa và trưởng thành tại đây Sau đó chúng đi vào máu và các hạch lâm ba Lymphocyte – T thành thục chưa có khả năng đáp ứng miễn dịch mà chỉ khi bị kích thích bởi các thông tin kháng nguyên (dị vật) xâm nhập vào cơ thể, chúng lại biệt hóa tiếp thành các tế bào lympho – T chín rồi đi đến các hạch lâm ba và lách Ở đây chúng lại được biệt hóa tiếp thành các tế bào có khả năng đáp ứng miễn dịch
Lymphocyte – B: Có rất nhiều tua gống như quả chôm chôm (lympho – T có bề mặt nhẵn và có rất ít tua) Số lượng lymphocyte – B ít hơn lymphocyte – T Nó di chuyển chậm chạp, khi gặp kháng nguyên nó sẽ kết hợp với kháng nguyên rồi biệt hóa thành tế bào sản sinh kháng thể dịch thể
Tóm lại: hệ thống các bạch cầu có quan hệ mật thiết với sự phản ứng của cơ thể trước những tác nhân ngoại cảnh tác động vào, đặc biệt là sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh như: vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, cho nên việc xác định công thức bạch cầu là cần thiết giúp ích nhiều trong công tác chẩn đoán bệnh cho gia súc
Tiểu cầu
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
Tiểu cầu là những tiểu thể nhỏ, hình dáng không ổn định không có nhân đường kính từ 2-4µm, số lượng từ 200.000 – 400.000/mm3 máu, số lượng tiểu cầu tăng khi bữa ăn có nhiều protein, lúc chảy máu và khi bị dị ứng Tiểu cầu giảm trong bệnh thiếu máu ác tính, choáng, khi bị nhiễm phóng xạ…
Chức năng của tiểu cầu: giải phóng tromboplastin để gây đông máu Tiểu cầu còn có đặc tính ngưng lại thành cục khi gặp vật thô ráp và vật lạ nhờ
đó góp phần làm đóng các vết thương Khi vỡ tiểu cầu giải phóng serotonin gây co mạch để cầm máu
Protein và glucose
Protein là thành phần quan trọng của máu Đa số các thành phần hòa tan của máu là protein huyết tương bao gồm albumin, globulin và fibrinogen Trong các loại protein, albumin chiếm tỷ lệ cao nhất và đóng vai trò điều phối
sự lưu thông, di chuyển của nước giữa các mô khác và máu Albumin không
có khả năng di chuyển một cách dễ dàng từ máu vào các mô nên đóng vai trò duy trì áp lực thẩm thấu của máu Với tỷ lệ thấp hơn, các loại globulin bao gồm các protein thực hiện chức năng miễn dịch (các kháng nguyên - antibody, bổ thể - complement) hay các phân tử có chức năng vận chuyển Finbrinogen chiếm tỷ lệ thấp nhất trong các loại protein của máu và thực hiện chức năng trong quá trình hình thành các cục máu đông
Ngoài các protein, máu còn chứa các thành phần hòa tan khác như các ion, các chất dinh dưỡng là sản phẩm của quá trình tiêu hóa, các chất thải, khí
và các hợp chất có chức năng điều hòa (Seeley và cộng sự, 2000) Nồng độ protein trong máu động vật có vú là từ 6-8 g% (Lê Khắc Thận và Nguyễn Thị Phước Nhuận, 1974; trích theo Nguyễn Văn Kiệm, 2000)
Theo (Nguyễn Văn Kiệm, 2000), albumin là tiểu phần protein rất quan trọng trong máu, nó có vai trò trong trao đổi chất ở động vật, vai trò tạo hình,
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
giữ áp lực thẩm thấu keo của máu, làm nhiệm vụ vận chuyển các axit béo, cholesterin, vitamin và một số các ion như Ca++, Mg Tiểu phần albumin chiếm 35-45% Protein tổng số Albumin được gan tổng hợp từ các axit amin
do máu mang lại do đó các bệnh làm giảm chức năng gan thì hàm lượng albumin trong máu giảm (Nguyễn Tấn Di Trọng,1981 - trích theo Nguyễn Văn Kiệm, 2000)
Nồng độ glucose trong máu được điều chỉnh để đảm bảo sự ổn định của quá trình trao đổi chất Xác định hàm lượng protein và glucose trong máu có
ý nghĩa quan trọng trong quá trình xét nghiệm chẩn đoán bệnh
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
Đàn trâu nội khỏe mạnh về mặt lâm sàng được nuôi tại các hộ nông dân
trên địa bàn huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu tại huyện Cẩm Thủy – Thanh Hóa
- Bộ môn Giải phẫu – Tổ chức – Phôi thai, khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Điều tra về đàn trâu tại huyện với các chỉ tiêu
- Sự phân bố của đàn trâu theo địa phương (xã)
- Cơ cấu của đàn trâu theo nhóm tuổi
- Cơ cấu của đàn trâu theo mục đích chăn nuôi
2.2.2 Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu hình thể của trâu nuôi tại Cẩm Thủy theo tuổi