Nếu cửa phải đẩy vào, người đẩy cửa có thể tiến lênphía trước để mở cửa hoặc người được tôn trọng ưu tiên có thể đẩy nhẹ, người ít được tôntrọng đỡ cửa và đẩy vào để mời người được tôn t
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Bất kì sự thành công trong nào tất cả các lĩnh vực đều xuất phát từ điểm bắt đầu:
“Chúng ta đã tiếp xúc với nhau như thế nào?”
Không chỉ đơn thuần là những cuộc hội thoại, gặp mặt hay trao đổi ý kiến về việc
chúng ta và đối tác có những mong muốn gì từ nhau Sâu hơn, đó là cả một quá trình thuyết phục, trình bày và diễn giải
Theo đó, như đã biết, giao tiếp là một hoạt động, một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người Tất cả các dự án kinh doanh đầy hấp dẫn hay các hợp đồng đầy triển vọng nào cũng phải trải qua những cuộc thương lượng giữa các bên để biến những điều đó thành hiện thực Vì vậy, bất kỳ ai muốn thực hiện điều này đều phải biến mình thành những nhà ngoại giao thực thụ Đây là một ứng dụng khoa học mới mẻ đối với chúng ta
Để có được hướng đi tốt trong kinh doanh, tất nhiên, chúng ta không thể chỉ dựa vào việc giao tiếp bằng lời nói, ánh mắt, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ cơ thể mà nó còn phụ thuộc vào việc chúng ta sẽ tiếp đãi và dành cho phía đối tác sự đãi ngộ như thế nào cho hợp lý Như đã nêu trên, giao tiếp đóng vai trò không nhỏ trong việc truyền đạt thông tin giữa mọi người với nhau Cho nên, để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của học sinh, sinh viên, các Tiến sĩ và Thạc sĩ đã cất công biên soạn và hướng dẫn cách phát triển và tìmhiểu về giao tiếp trong kinh doanh nhằm giúp nâng cao kỹ năng đàm phán nói riêng và giao tiếp nói chung để giúp chúng ta vươn đến một tầm cao mới Nơi mà ta có thể thực hiện được ước muốn của mình, thông qua những bài học
Trang 2CHƯƠNG 1: NGHI THỨC XỬ SỰ TRONG GIAO TIẾP 1.1 Ra vào cửa
Ra vào cửa được xem là một hoạt động không thể thiếu trong giao tiếp, bởi vậy màchúng ta không thể bỏ qua nghi thức này, càng không thể làm một cách qua loa, thiếu tếnhị Không quan tâm đến điều này dễ bị coi là người kém hiểu biết
Những người được tôn trọng, ưu tiên ( trưởng làng, già bản, người có địa vị cao sang,người cao tuổi, phụ nữ) luôn luôn được ra vào cửa trước (kể cả thang máy), mở cửa mời
họ là người ít được tôn trọng, ưu tiên
Ví dụ như một đôi nam nữ (nữ đi trước, nam theo sau), nhưng trước khi qua cửa, namgiới phải tiến lên phía trước để mở cửa mời bạn nữ qua rồi nam giới mới được qua
Nếu đi đông người, nam giới phải đứng giữ cửa để những người được tôn trọng và phụ
nữ ra hoặc vào trước Nam giới giữ cửa là người được đi qua cửa tiếp ngay sau khi nhữngngười tôn trọng, ưu tiên đã qua hết Lịch sự hơn nhiều nếu bạn nam giữ cửa cho cả đoànqua hết rồi mới qua sau cùng
Một phụ nữ trẻ phải mở cửa mời phụ nữ cao tuổi qua Nữ giới đi một mình thì phải tự
mở cửa lấy, nếu có nam giới khác mở cửa giùm thì đừng quên câu cảm ơn Nam giới đãthực hiện xong việc lịch thiệp với một nữ giới và cần rút ngay khi họ đã qua cửa Khôngnên đứng quá lâu như một nhân viên làm phận sự mở cửa để phục vụ mọi người
Nếu mở cửa ra, người mở cửa phải đứng về phía cửa đề kéo cửa về lại phía mình, mờingười được tôn trọng ưu tiên qua cửa Nếu cửa phải đẩy vào, người đẩy cửa có thể tiến lênphía trước để mở cửa hoặc người được tôn trọng ưu tiên có thể đẩy nhẹ, người ít được tôntrọng đỡ cửa và đẩy vào để mời người được tôn trọng ưu tiên kia qua.Trong trường hợpnày người mở cửa cần khéo léo nép về phía cánh cửa, không lúng túng, vụng về đến nổi
để người được ưu tiên phải lách khó nhọc lắm mới qua được cửa hoặc phải chui qua cánhtay người mở cửa
Trang 3Nếu là cửa quay, người ít được tôn trọng ưu tiên phải chú ý nhìn cửa, nhìn người đượctôn trọng ưu tiên để điều chỉnh cửa quay từ từ sao cho họ có thể qua được một cách thoảimái, dễ dàng Nếu cửa quay nặng, khó đẩy, người ít được tôn trọng có thể đi trước để giúp
đỡ người được tôn trọng ưu tiên, có điều phải xin lỗi trước khi làm việc đó Và phải luônnhớ rằng người đang đi phía sau là người được tôn trọng, ưu tiên hơn mình
1.2 Lên xuống cầu thang
Lên xuống cầu thang trong khi đón hoặc tiễn khách cũng là một nghi thức cần được lưutâm Ở đó cũng dễ để lại ấn tượng khó quên cho nhau trong mối quan hệ xã giao Nếukhông biết về điều này đôi khi cũng bị coi là người vụng về, kém xã giao
Kể cả khi lên và xuống, người được tôn trọng, ưu tiên luôn được đi trước một bậc vềphía có tay vịn của cầu thang Chủ nhà hoặc người ít được tôn trọng ưu tiên phải đi saumột bậc, so le về phía không có tay vịn để chuyện trò và hướng dẫn hoặc giúp đỡ họ khicần thiết
Nhưng khi đi xuống, nếu cầu thang dốc, không có đèn hoặc người được tôn trọng ưutiên già yếu có thể giúp đỡ họ đi trước một bước về phía so le lòng cầu thang để một tay
họ vịn vào lan can, một tay vịn vào vai mình giữ thăng bằng Và đừng quên xin lỗi họtrước khi làm việc đó
Không được đứng ở cầu thang để tán gẫu hoặc nói chuyện là cản trở người khác đi lạiqua cầu thang Không nên đón hoặc tiễn khách ngay khi họ đang lên hoặc xuống cầuthang
1.3 Sử dụng thang máy
Thang máy cũng như thang bậc, thang băng chuyền đều là nút giao thông cho hoạt động
đi lại của con người Do vậy, nơi đây cũng tập trung tương đối đông người Cung cách xử
sự trong việc sử dụng thang máy cũng là vấn đề để mọi người cần quan tâm
Việc ra vào thang máy cũng áp dụng như ra vào cửa Có nghĩa là người được tôn trọng
ưu tiên được quyền ra vào trước, người được tôn trọng ưu tiên ra vào sau
Trang 4Tuy nhiên cũng đừng quá máy móc nhường cho người được tôn trọng ưu tiên đến mứcgây phiền toái cho chính họ hoặc làm ùn tắc khi mọi người qua lại Nhưng nếu phải rahoặc vào trước phải xin lỗi những người xung quanh.
Mỗi loại thang máy thường tải được một số trọng lượng nhất định, do đó nếu thang máy
đã đông người (quá tải) hoặc không kịp vào (thang máy đã khép cửa) hãy điềm tĩnh, vui
vẻ chờ chuyến sau Không nên cứ chen vào (nếu đông) hoặc từ xa chạy lại đến (nếu thấykhông kịp nữa)
Rất không lịch sự chút nào, nếu cứ giữ thang máy để trò chuyện với nhau hoặc phục vụcho riêng mình để người khác phải chờ đợi lâu
Khi thang máy chuẩn bị khép cửa, phát hiện có người đang đến gần, hãy dừng thangmáy chờ họ cùng đi Trong trường hợp này, chắc chắn bạn nhận được lời cảm ơn, vì bạn
đã có công chờ họ
Trong thang máy, mọi người tự ấn nút cho tầng của mình Nếu đứng xa không thể ấnnút được, hãy nhờ người đứng cạnh bảng điều khiển giúp làm chuyện đó và đừng quêncảm ơn người đã giúp mình
Khi sắp đến tầng hầm mình muốn, hãy xin lỗi mọi người ra cửa đứng sẵn để tránh làmphiền mọi người trong thang máy
1.4 Ghế ngồi và cách ngồi
1.4.1 Ghế ngồi
Ghế ngồi cũng là một vấn đề nhạy cảm và được quy định theo ngồi thứ, vai vế rõ ràng,nhất là trong hoạt động ngoại giao Trong lĩnh vực này người ta quan tâm đến chủng loạighế, vị trí đặt ghế và hướng của ghế ngồi
Nhiều quốc gia, dân tộc còn mang nặng tính đẳng cấp Đặc biệt, nghi lễ trong các triềuđại vua chúa phong kiến người ta rất coi trọng đến chỗ ngồi (chủng loại ghế và vị tríngồi) Mỗi loại đẳng cấp khác nhau phải được ngồi một loại ghế khác nhau và ở vị trí khácnhau
Trang 5Nếu cùng một đẳng cấp phải có cùng một loại ghế như nhau và được xếp ở vị trí nganghàng nhau Sơ suất điều này khó tránh khỏi phiền toái.
Hiện nay, việc phân biệt về chủng loại ghế vẫn tồn tại ở những nơi còn mang nặng tưtưởng phân biệt đẳng cấp theo tôn giáo hoặc trong hoàng tộc Nhưng về khoảng cách, vịtrí thường chỉ phân biệt trong nghi thức ngoại giao Chủng loại ghế có thể được phân biệtkhi các đại diện (trưởng đoàn, nguyên thủ quốc gia) không ngồi cùng dãy với các thànhviên Nguyên thủ quốc gia ngồi trong các nghi lễ tiếp xúc xã giao chẳng hạn
Yêu cầu chung về các loại ghế là phải chắc chắn, đồng kiểu, đồng mẫu (theo từngchủng loại), khoảng cách giữa bàn và ghế phải hợp lí để người ngồi thoải mái (khoảngcách từ 60 đến 70 cm) Đặc biệt không xếp ghế đối diện với chân bàn
Những người được tôn trọng, ưu tiên bao giờ cũng được người phục vụ hay người kháckéo ghế (dỡ ghế) mời ngồi Khi đứng dậy ra khỏi phòng (không còn quay lại nữa) ngườiphục vụ hay người khác phải giúp họ đẩy ghế sát vào bàn
Nam giới phải làm việc đó giúp bạn gái của mình (nếu không có người phục vụ).Nhưng nếu cùng trang lứa (ngang hàng, thân mật) thì mọi người sẽ tự lo liệu lấy
Khi kéo ghế, không lôi cả bốn chân, mà cần kéo ghế hơi ngả về phía mình, chỉ để haichân sau tiếp xúc với sàn, rồi kéo ra, đẩy vào dễ dàng Nếu sàn nhà không bằng phẳnghoặc trải thảm hãy nâng nhẹ ghế lên một chút
Kéo ghế vừa tầm để khách ngồi thoải mái, không phải điều chỉnh lại hoặc thậm chí kéo
ra quá xa bàn đến nỗi khách bị hẫng, ngồi phịch xuống sàn Cần lưu ý là những bộ xalông, đi văng không phải kéo đẩy như trên mà chỉ đặt một tay lên giá tựa của ghế, một tayhướng từ khách vào ghế đã thay lời mời lịch sự rồi
1.4.2 Cung cách ngồi
Trong thực tế có nhiều cách ngồi ghế, mỗi cung cách thể hiện vị thế, thái độ, tính nết,bản chất của người ngồi Các nhà tạo mốt danh tiếng trên thế giới cho rằng, ngồi theo hìnhchữ S là kiểu ngồi đẹp nhất, lịch sự, chuẩn mực và dễ được mọi người chấp nhận nhất
Trang 6Kiểu hình chữ S có nghĩa là ngồi ngay ngắn người hơi ngả về phía trước, hai đầu gốikhép lại, bàn chân thu vào trong chân ghế, hai tay đặt lên đầu gối hoặc hai bàn tay đặt lênnhau trên đùi hay trên mặt bàn.
Trong tiếp xúc, hội đàm, dự tiệc người được tôn trọng, ưu tiên, khách mời bao giờ cũngđược ngồi xuống ghế trước và đứng lên trước
Ngồi cạnh người được tôn trọng, ưu tiên không được bắt chân chéo ngũ, không rungđùi Rất bất nhã khi đặt cả hai bàn chân lên ghế hoặc duỗi cả hai chân về phía trước.không nên chống tay lên cằm, khuỳnh tay ôm lấy bàn, ngửa mặt về phía sau hay gục mặtxuống bàn
Nếu ngồi trên giường, dưới sàn trong trường hợp không có ghế, nam giới nên xếp chânbằng bằng, nữ giới đưa cả hai chân về đằng sau cùng một phía (theo kiểu người Nhật) Rấtmất lịch sự nếu ngồi xổm khi tiếp xúc với người khác
Trên tàu xe, tròn rạp hát nếu không đủ ghế cho mọi người, người ít được tôn trọng ưutiên phải nhường ghế cho những người được tôn trọng ưu tiên (người cao sang, cao tuổi,phụ nữ, trẻ em, người tật nguyền,…)
1.4.3 Vị trí và khoảng cách ngồi theo nghi thức ngoại giao.
Vị trí ngồi
Trong các cuộc tiếp xúc, hội đàm, tiệc chiêu đãi,…thông thường bố trí chủ và kháchngồi đối diện nhau, nếu theo nghi lễ chính thức, ngoại giao Nhưng bố trí ngồi cạnh nhaucùng phía, nếu thân tình và không phải là nghi lễ chính thức
Vị trí ngồi tiếp xúc xã giao, chào xã giao đối với các nguyên thủ quốc gia theo nghithức ngoại giao thường bố trí ghế xa-lông, chủ và khách ngồi cùng phía Khách ngồi phíabên tay phải của chủ, các thành viên trong đoàn ngồi ở phía trưởng đoàn của mình, cànggần trưởng đoàn chức vụ càng lớn
Bàn ghế có thể xếp theo nhiều cách khác nhau.Việc đó phụ thuộc vào không gian, địahình, tính chất, số lượng người tham gia và ý đồ của phía chủ, Có thể sắp xếp bàn theohình tròn, vuông, chữ nhật, chữ T, chữ E, rẻ quạt, răng lượt,…
Trang 7Nếu ngồi bàn tròn, vuông, hình chữ nhật, đại diện chủ và khách ngồi đối diện nhau ởchính giữa, khách được bố trí ngồi ở vị trí thuận tiện, hướng về phía có khung ảnh đẹp.Càng xa hai đại diện chủ và khách địa vị càng thấp dần.
Nếu ngồi bàn theo hỉnh chữ T, chữ E,… Đại diện chủ ngồi bên trái, đại diện khách ngồiphía phải, các thành viên ngồi theo phía của trưởng đoàn hoặc ngồi xen kẽ
Khoảng cách ngồi
Khoảng cách ngồi tiếp xúc do chủ nhà hoặc người được tôn trọng hơn qui định Nếuchưa quen biết hoặc thể hiện tính nghiêm túc hai bên thường ngồi đối diện nhau vàkhoảng cách xa hơn Nhưng thể hiện tình cảm, gần gũi thân mật hoặc cuộc trao đổi khôngchính thức, hai người thường ngồi cùng phía và khoảng cách càng gần, càng thân thiết.Khi đã xác định được vị trí và khoảng cách ngồi, người ít được tôn trọng ưu tiên hoặckhách không nên thay đổi, nếu không có sự đề nghị của chủ nhà hoặc người được tôntrọng ưu tiên
1.5 Quà tặng
Trong các tổ chức về các mối quan hệ giữa các tổ chức, tập thể , gia đình, cá nhân, quàtặng thể hiện thái độ giữa những nhóm người và mỗi người với nhau Quà tặng là sợi dây
vô hình là chất dính kết mọi người lại với nhau
Quà tặng là thông điệp cuối cùng về thái độ tình cảm mà người được tặng quà đón nhận
nó từ phía người tặng Quà tặng có thể thay lời nói lên nhiều điều về nhau thông qua đó cóthể hiểu nhau hơn
Chẳng thế mà nhiều người quan niệm rằng: một hình ảnh có giả trị bằng ngàn lời nói,một món quà có ý nghĩa như một bài diễn văn
Và như vậy quà tặng không chỉ mang giá trị vật chất thuần túy mà nó còn mang giá trịtinh thần to lớn Thông qua quà tặng hai bên có cơ hội củng cố và phát triển mối quan hệ.Ngạn ngữ có câu: “Quà tặng duy trì tình bạn” điều đó đúng trong cả đời công và tư
Người tặng và người nhận có những thái độ đúng đắn về bản chất của quà tặng để cóhành vi ứng xử cho phù hợp làm tăng giá trị quà tặng và ý nghĩa hiện thực của nó Người
Trang 8nhận đừng quá bận tâm đến giá trị kinh tế cũng như giá trị hiện thực của nó mà nên coitrọng tình cảm và thái độ của người tặng đối với mình.
Tuy nhiên không phải món quà nào cũng có giá trị tích cực như vậy, mà điều đó cònphụ thuộc nhiều yếu tố quan trọng khác
Tặng quà phải đúng lúc đúng cách: Giá trị của món quà sẽ tăng lên nêu nó được tặngđúng lúc và đúng cách kèm theo thái độ và ngôn ngữ biểu đạt, tình cảm đúng với ý nghĩa.Ngạn ngữ có câu “của cho không bằng cách cho”, “cho chậm nghĩa là từ chối’’
Tặng quà có cách thứ trao nhận nhất định của nó, điều quan trọng của cách thức đó làphải lịch sự, thể hiện đúng cách thức của người nhận và người tặng, không có hành vi mờ
ám và nhất là không đúng thời điểm
Một món quà sinh nhật có ý nghĩa khi nó được tặng đúng ngày hay đúng lúc diễn rasinh nhật, không có lời thanh minh nào có thể bù lại món quà đến không đúng thời điểm.Quà tặng quà lưu niệm là hai loại quà khác nhau dành cho các đối tượng khác nhau thểhiện sự trọng thị, lòng biết ơn thái độ của riêng người nhận
Quà lưu niệm thường đại trà, rộng rãi mang nặng giá trị vật chất ít hơn là quà giá trị biết
ơn Tặng quà lưu niệm mang giá trị tinh thần nhằm gợi nhớ hoặc ghi nhận một kỉ niệm,một dấu ấn nào đó một chuyến đi gặp gỡ, một cuộc chia tay, xum họp Và nó luôn trởthành kỉ vật không gì so sánh được
Cách thức tặng quà: quà tặng có thể cho tập thể, cá nhân, người đi xa, người đau ốmhay người mới sinh con Quà tặng có thể tặng công khai hay tặng riêng ai đó tùy hoàncảnh và cách thức tặng quà khác nhau
Nếu quà tặng được mở công khai khi trao tặng làm tăng giá trị quà tặng từ đó tăng thânthế cho cả người cho lẫn người nhận, quà tặng loại này thường được đóng trong hộp đẹp
để mở ra và đóng lại khi đã trao nhận quà xong
Nếu cá nhân tặng quà riêng thì quà tặng vẫn được để trong hộp đẹp tuy không cần phải
mở khi nhận, tuy nhiên người nhận vẫn có thể mở quà để thể hiện sự tôn trọng và biết ơncủa mình cũng như sự tò mò khi nhận được món quà
Trang 9Đối với người đi xa quà tặng cần gọn nhẹ, dễ đóng gói vận chuyển và nhất thiết phảiđược gửi trước khi người nhận xuất phát một hoặc hai ngày Đây là việc cần lưu tâm,tránh người nhận lúng túng khi nhận quà trước thời điểm xuất phát.
Nhưng nếu quan hệ bình thường bạn bè đồng nghiệp và không coi trọng nguyên tắc ngoại giao, không nhất thiết phải sắp đặt theo thứ tự trên mà cần ngồi một cách hài hòa, tế nhị để tạo ra bầu không khí vui vẻ Ví dụ người ngồi trong xe ngang hàng nhau thì bố trí
vị trí nào cũng được nhưng nếu có người khác phái ở trong xe thì tốt nhất nên để người khác phái ngồi ở giữa hai người cùng phái ngồi hai bên, trong trường hợp naỳ nam giới
mở cửa cho nữ giới lên và xuốn xe
Cung cách lên xuống xe
Nếu là xe sàn cao, trần cao trước hết phải đặt chân trái lên sàn xe sau đó xoay nhẹ nhàng để ngồi vào đệm ghế rôi rút chân phải vào sàn xe Nếu là xe trần thấp sàn thấp thì vịn tay lên mui xe rôi ngồi thẳng vào ghế đệm sau đó xoay người ngồi vào ghế đệm rút haichân vào và điều chỉnh chỗ ngồi của mình
Muốn rời khỏi xe hãy xê dịch dần theo ghế ra ngoài, cho đến khi có thể đặt một chân xuống đất cúi đầu bước ra khỏi xe
Trang 10Người được tôn trọng luôn được người phục vụ hoặc người khác mở cửa và lên xuống trước, phụ nữ được nam giới mở cửa, cấp trên được cấp dưới hoặc người phục vụ mở cửa khách được chủ mở cửa, trong các hoạt động hằng ngày thì việc mở cửa thường do tài xế, người trực cổng hoặc bảo vệ làm.
Nếu nơi đến có tổ chức nghi lễ như khách sạn nhà hàng để thể hiện sự tôn trọng thì đại diện chủ nhà mở cửa cho người ưu tiên số một trước sau đó vòng ra sau mở của cho người
ưu tiên số hai hoặc người ưu tiên số hai phải tự mở cửa
Nếu xe đỗ dọc đường không được mở theo nghi thức ngoại giao như thế có nghĩa là không được mở cửa xe giữa lòng đường cũng như lên xuống xe, vì làm vậy là rất nguy hiểm và vi phạm luật giao thông
Trong trường hợp này người ưu tiên số hai lên trước chuyển giao vị trí của mình người
ưu tiên số một lên sau, người lên trước phải xin phép hay xin lỗi trước khi làm việc đó Khi xuống phục vụ hoặc người lái xe mở cửa cho người số một xuống trước người số hai
tự điều chỉnh rồi xuống sau cho cùng một bên lề
Trường hợp xe có một nam một nữ nam ngồi bên trái phía lề đường vươn tay đẩy cửa cho nữ xuống trước mình xuống sau đóng cửa xe và đưa nàng đi cùng
1.7 Tiếp xúc nơi công cộng
Giao tiếp nơi công cộng là một khái niệm chỉ chung cho các quan hệ ở những nơi đông người, với những người mà bạn chỉ thoáng gặp tình cờ trong đám đông Có thể đó là khi xếp hàng mua vé xem ca nhạc, đi chung trên xe buýt, hoặc dạo chơi trong công viên, cho đến như khi mua sắm trong siêu thị
Đặc điểm của những mối quan hệ giao tiếp này là bạn sẽ được người khác – những người
mà bạn giao tiếp – nhìn nhận một cách đơn giản như là trong quan hệ giữa con người với con người, thế thôi Bởi vì bạn chỉ xuất hiện trước mắt họ với những gì của chính bản thânbạn, như trang phục, cử chỉ, phong cách nói năng, đi đứng Ngoài ra, những thứ như cương vị xã hội, gia đình, quyền lực hay tri thức, thậm chí danh tiếng mà bạn có được đóng vai trò rất nhỏ hoặc không có gì trong những mối quan hệ thoáng qua này
Trang 11Giao tiếp nơi công cộng là sự giao tiếp làm bộc lộ rõ nét nhất sự lịch thiệp và khả năng giao tế của mỗi người Bởi vì bạn phải hoàn toàn dựa vào chính mình để tạo ra một ấn tượng – tốt hoặc xấu – trong mắt nhìn của những người mà bạn giao tiếp, hoặc thậm chí không hề giao tiếp mà chỉ là được nhìn thấy.
Tuy là những mối quan hệ thoáng qua, nhưng các quan hệ giao tiếp nơi công cộng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên nhân cách của một con người Suy cho cùng, nếu đã là người có một nếp sống đẹp, điều đó phải có nghĩa là sống đẹp với tất cả mọi người chứ không chỉ riêng gì với những người mà ta đã từng quen biết
Hơn thế nữa, rất nhiều mối quan hệ thoáng qua này, nếu tốt đẹp, sẽ là khởi đầu cho những mối quan hệ dài lâu khác – một người hợp tác làm ăn, một khách hàng, thậm chí một người bạn thân mà về sau sẽ cùng ta chia sẻ suốt đoạn đời còn lại Và nếu bạn là người
có một nghề nghiệp đòi hỏi giao tiếp rộng, đôi khi bạn khó lòng phân biệt được những mối quan hệ giao tiếp nơi công cộng này với các quan hệ khác Những người hoạt động xãhội lại càng xem trọng các quan hệ giao tiếp nơi công cộng, bởi vì chính thông qua đó mà
họ bộc lộ chính mình để chinh phục sự ủng hộ của người khác
Nguyên tắc đầu tiên trong giao tiếp nơi công cộng là phải tôn trọng người khác Sự tôn trọng này xuất phát đơn giản từ chính bản thân bạn, một người biết sống đẹp, mà không cần phân biệt người mình đang giao tiếp đó là ai – bởi vì bạn thật ra bạn cũng không thể biết được là đang giao tiếp cùng với ai cả
Khi bạn cần phải đi vội trong một đám đông chẳng hạn, cũng không thể dùng sức chen lấn
để vượt qua Sự tôn trọng người khác không cho phép chúng ta làm như vậy Và những trường hợp khác đại loại là như thế
Sự tôn trọng người khác được thể hiện cụ thể qua ngôn ngữ và cử chỉ của chúng ta Chỉ một lời nói hay cử chỉ đúng đắn có thể tạo nên thiện cảm hoặc ấn tượng tốt đẹp, và thậm chí có thể hoá giải được cả nhiều xung đột không cần thiết
Khi bạn đến những nơi công cộng, điều nhỏ nhặt nhưng rất quan trọng là hãy thể hiện sự
Trang 12tôn trọng người khác bằng cách sử dụng đúng lúc những cụm từ “cảm ơn” và “xin lỗi” Những cụm từ này, sử dụng một cách chân thành và đúng lúc, sẽ là những vũ khí giúp bảo
vệ cho nhân cách của bạn nơi công cộng, và cũng là những vũ khí rất hữu hiệu để chinh phục lòng người
Tôi dùng từ “chân thành”, bởi vì có rất nhiều người vẫn nói ra những lời “cảm ơn” hoặc
“xin lỗi”, nhưng họ không thật sự nói ra với lòng chân thành, vì họ cho rằng đây chỉ là những nghi thức xã giao, những ngôn từ “cửa miệng” nhằm để tạo ra vẻ lịch sự tối thiểu cho một con người, thế thôi! Và điều đó là một sai lầm
Khi nhờ ai đó làm điều gì giúp ta, hoặc thậm chí là một việc thuộc trách nhiệm của người
ấy nhưng có lợi cho chúng ta, ta đều nói lời “cảm ơn” Vấn đề là ở chỗ, đôi khi chúng ta không ý thức được đầy đủ tính đúng đắn của những lời cảm ơn như thế mà chỉ thực hiện điều đó như một thông lệ Có bao giờ bạn suy nghĩ về lý do phải nói lên những lời cảm ơnnhư thế, để có thể thấy được tính đúng đắn và hợp lý của nó đến mức nào hay chăng? Nếukhông, sẽ có lúc bạn cho rằng đó là điều không cần thiết, hoặc có thể có nói ra thì cũng chỉ
là những lời “đầu môi chót lưỡi” mà không có được sự chân thành cần thiết để tạo ra tính thuyết phục
Chúng ta sinh ra trong cuộc sống này vốn dĩ đã chịu ơn của tất cả mọi người chung quanh.Bản thân ta không thể tồn tại hoặc làm nên chuyện gì nếu không có những sự giúp đỡ trực tiếp hoặc gián tiếp từ bên ngoài Nói lời cảm ơn là thừa nhận thực tế đó, không phải chỉ đơn giản là vì ta “muốn làm người lịch sự” Thử tưởng tượng, có một công việc nào bạn
có thể thực hiện được mà hoàn toàn không chịu những ảnh hưởng nhất định từ người khác? Xã hội càng phát triển, con người càng phụ thuộc vào nhau Thừa nhận mối tương quan đó và chân thành biết ơn người khác là một cách suy nghĩ đúng đắn khởi đầu cho một nếp sống đẹp
Trong từng trường hợp cụ thể mà bạn nói lên lời cảm ơn cũng đều thể hiện ý nghĩa sâu xa
đó Mỗi người đều có quyền tự do sử dụng thời gian của mình và quyền tự do đó phải được người khác tôn trọng Khi ai đó chịu bớt thời gian để giúp ta chuyện gì, dù là nhỏ
Trang 13nhặt, người ấy xứng đáng nhận được lời cảm ơn một cách chân thành Giả sử như trên đường phố, khi ai đó chịu dừng lại để chỉ cho bạn đường đi đến bưu điện gần nhất, có hai
lý do để bạn phải chân thành nói lời cảm ơn người ấy Một là kết quả thiết thực mà bạn có được, có thể là không phải đi vòng vo thêm một giờ đồng hồ nữa chẳng hạn Hai là thiện chí và thời gian mà người ấy đã vui lòng bỏ ra để giúp bạn Với hai lý do đó, làm sao bạn lại có thể nói ra lời cảm ơn một cách hời hợt thiếu chân thành?
Ngay cả khi ai đó thực hiện điều gì cho chúng ta trong phạm vi trách nhiệm của họ, người
ấy vẫn xứng đáng nhận được lời cảm ơn, vì họ đã thực hiện sự việc với thiện chí hoặc đã mang lại ích lợi cho chúng ta Bạn có thể nhờ người phục vụ mang hành lý lên phòng mình trong khách sạn Bạn đã trả tiền để được phục vụ như thế Tuy nhiên, người phục vụ
đã mang hành lý giúp bạn với một thiện chí, đã không làm hư hỏng nó, và có thể là đã vui
vẻ khi làm điều đó Vì thế, anh ta xứng đáng nhận được một lời cảm ơn chân thành Hầu hết những trường hợp mà chúng ta nói lời cảm ơn, đều xuất phát từ những ý nghĩa tương tự như thế Nếu chúng ta chịu phân tích, suy nghĩ, chúng ta sẽ không bao giờ có thể nói ra những lời cảm ơn một cách hời hợt được
Chẳng những là những lời cảm ơn, mà trong những trường hợp chúng ta cần nói lời “xin lỗi”, chúng ta cũng nên nói ra với một sự chân thành như thế Điều đó thể hiện sự tôn trọng người khác và cũng là tôn trọng chính mình, vì qua đó chúng ta thể hiện một cung cách ứng xử biết quan tâm đến mọi người chung quanh
Lời xin lỗi được sử dụng đúng lúc có tác động xoa dịu một sự khó chịu hoặc bực mình do một hành vi nào đó của chúng ta, dù là nhỏ nhặt Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là tự
hạ thấp mình mà là ngược lại Ngay cả một người lớn tuổi hoặc những kẻ “bề trên” cũng cần phải biết nói lời xin lỗi khi làm điều gì đó vô tình gây tổn hại hoặc khó chịu cho những thuộc cấp của mình Bởi vì điều đó xuất phát từ sự tôn trọng lẫn nhau giữa những con người
Một ông chủ khôn ngoan không bao giờ hạn chế những lời cảm ơn và xin lỗi với nhân viên của mình khi cần thiết Điều đó cũng có nghĩa là mọi người sẽ càng gắng sức hơn
Trang 14nữa trong việc phục vụ hữu hiệu công việc được giao phó.
Việc nói ra những lời cảm ơn và xin lỗi một cách chân thành và đúng lúc là nguyên tắc đầu tiên và quan trọng trong giao tiếp nơi công cộng Không chỉ là những lời nói ra, mà chính sự hoàn thiện cách nhận thức vấn đề của bạn là điều kiện cơ bản để hình thành nên một nếp sống đẹp
Một vấn đề khác cũng cần được lưu ý là không nên nói về mình quá nhiều Điều đó
thường không tạo cho những người mới quen biết một ấn tượng tốt mà là ngược lại Suy cho cùng, khi tiếp xúc lần đầu tiên với ai đó thì trang phục, cử chỉ và phong cách nói năng của một người nói lên nhiều hơn là những gì mà người ấy tự nói ra Và nói càng nhiều về chính mình càng tỏ ra là thiếu sự quan tâm và tôn trọng đối với những người chung quanh.Nói tóm lại, trong giao tiếp nơi công cộng, biết tôn trọng người khác và ứng xử một cách khiêm tốn, lễ độ là những bí quyết đơn giản giúp bạn tạo được ấn tượng đẹp trong mắt nhìn của người khác Trong khi đó những nỗ lực nhằm lôi kéo sự chú ý hay phô trương bản thân chỉ tạo ra tác động ngược lại
Trang 15CHƯƠNG 2: CÁC HỌC THUYẾT 2.1 Học thuyết MC Gregor
2.1.1 Học thuyết X
Ra đời năm 1960 bởi Douglas Mc Gregor, học thuyết X là kết quả của việc tổng hợp các lý thuyết quản trị nhân lực được áp dụng trong các xí nghiệp phương Tây lúc bấy giờ Học thuyết đã đưa ra một số thiên hướng tiêu cực về con người như sau:
- Nhìn chung, con người không muốn làm việc, họ làm một cách thụ động, lười biếng, máy móc và vô tổ chức
- Con người chỉ thích vật chất, quan tâm đến cái mình kiếm được chứ chẳng quan tâm đến cái mình đang làm
- Họ thiếu chí tiến thủ, cam chịu sự điều hành, lãnh đạo của người khác
- Họ chỉ biết làm theo những lối mòn, ghét sự đổi mới, sáng tạo
Từ việc nhận định con người như vậy, Gregor đưa ra cách thức quản lý như sau:
- Quyền lực tập trung, thống nhất trong tay quản lý Người quản lý phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc cấp dưới làm việc
- Chuyên môn hóa sâu, mỗi người chỉ cần làm những thao tác nhỏ lẻ, đơn giản
- Các chuyên gia, kỹ sư, quản lý điều khiển doanh nghiệp, người lao động chỉ cần làm theo sự chỉ bảo
- Thiết lập hệ thống thủ tục chặt chẽ, kỷ luật nghiêm ngặt
Ba phương pháp lý luận truyền thống của học thuyết X: “Quản lý nghiêm khắc” dựa vào sự trừng phạt; “Quản lý ôn hòa” dựa vào sự khen thưởng; “Quản lý ngiêm khắc và công bằng” dựa vào cả sự trừng phạt và khen thưởng
Rõ ràng, chúng ta có thể thấy học thuyết này còn rất nhiều hạn chế khi không nhận ra được các nhu cầu khác của người lao động bên cạnh tiền bạc, nhận định quá thiên về sự tiêu cực đối với người lao động, triệt tiêu sức sáng tạo, khả năng đóng góp của người lao
Trang 16động trong công việc, coi người lao động như những “cỗ máy bướng bỉnh” cần phải điều khiển cẩn thận Tuy nhiên, chính việc phát hiện ra những hạn chế này đã tạo tiền đề cho các học thuyết quản trị nhân lực tiến bộ hơn ra đời Và ngày nay, học thuyết X vẫn được
áp dụng nhiều trong các ngành sản xuất và dịch vụ Việc thiết lập hệ thống thủ tục chặt chẽ, kỷ luật nghiêm ngặt, hay việc nhà quản lý phải thường xuyên kiểm tra, đốc thúc người lao động làm việc mà học thuyết đưa ra đã có tác dụng to lớn trong quản lý lao động, giúp tăng năng suất lao động Hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao
2.1.2 Học thuyết Y
Trên cơ sở nhận ra được cái hạn chế của học thuyết X, cũng trong năm 1960, Douglas
Mc Gregor đã đưa ra một học thuyết “sửa sai” là học thuyết Y với cái nhìn về con người
có nhiều sự thay đổi lớn:
- Con người muốn được nhìn nhận, được thể hiện, được khẳng định mình
- Con người có khả năng tiềm ẩn, biết sáng tạo và muốn làm việc tốt
- Khi được quan tâm và khích lệ, họ thường tích cực làm việc và tinh thần trách nhiệm cao
Từ những nhận định trên, Gregor đưa ra cách thức quản lý:
- Phân quyền cho cấp dưới một số quyền tự chủ nhất định hoặc lôi kéo họ vào quá trình
ra quyết định
- Tinh thần chủ động, tự quản, tự kiểm được nâng cao
- Trân trọng, tìm kiếm các ý tưởng sáng tạo
- Quan tâm đến hoạt động của tổ, nhóm
- Nhà quản lý quan tâm đến việc cải thiện mối quan hệ giữa các cấp Có sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa cấp trên và cấp dưới
Học thuyết Y là một sự tiến bộ rất lớn khi nhìn nhận đúng bản chất con người hơn, đưa
ra những cách quản lý phù hợp như gắn lợi ích của cá nhân vào lợi ích của tổ chức, tăng tính tự chủ, chủ động làm việc của người lao động, … Tuy nhiên, việc tuân theo học thuyết Y cũng có thể dẫn đến sự buông lỏng quá trong quản lý hoặc trình độ của tổ chức
Trang 17chưa phù hợp để áp dụng học thuyết này Bởi vậy, học thuyết Y sẽ phát huy tác dụng rất tốt với các tổ chức có trình độ phát triển cao về nhân lực, đòi hỏi sự sáng tạo như các tập đoàn kinh tế lớn như Microsoft, Unilever, P&G,…
2.2 Học thuyết phân tích giao dịch
2.2.1 Những vấn đề cơ bản của giao dịch kinh doanh
Khái niệm chung về giao dịch kinh doanh
Con người tổng hòa quan hệ xã hội Giao dịch là nhu cầu, phương cách sống Xã hội ngày càng hiện đại, phát triển, xác lập nguyên tắc giao dịch:
- Tính hiệu quả: kết quả - chi phí, trước mắt và lâu dài
- Lợi ích giữa các bên đảm bảo: win – win
- Coi trọng cá tính, tôn trọng lẫn nhau
- Liên kết và hợp tác
Hoạt động thương trường tất yếu nảy sinh giao dịch Phân công lao động xã hội, sản xuất hàng hóa, chủ thể kinh tế độc lập, chuyên môn hóa…tạo sự phụ thuộc phức tạp, mạnh mẽ…cần giải quyết mâu thuẫn
Giao dịch phức tạp hơn do:
- Phát triển phản công lao động xã hội, chuyên môn hóa, phụ thuộc, giao dịch tăng,phạm vi mở rộng
- Sựu phát triển về qui mô, tốc độ sản xuất Đây là xu hướng tất yếu nền KTQD Kéo theo tiêu dùng sp đầu vào, ra làm phức tạp quá trình Nhiều ngành, vùng, đầu mối giao dịch mới
- Tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ: áp dụng để chiến thắng trong cạnh tranh,lực lượng sản xuất phát triển Tạo bước nhảy vọt quan niệm tập quán, hình thức giao dịch
- Gia tăng hệ thống hàng hóa trung tâm dịch vụ: trung tâm thương mại, đầu tư, đầumối…môi trường giao tiếp tăng, tăng thông tin, rủi ro…
- Gia tăng khối lượng và danh mục sản xuất làm mua bán nhộn nhịp hơn
Trang 18Bản chất của giao dịch kinh doanh
Giao dịch là cảm xúc, quan hệ giữa các cá nhân để trao đổi thông tin hoặc thỏa mãn một nhu cầu nào đó Khái quát:
Chủ thể là các nhà kinh doanh Đang tiến hành, có vốn đầu tư hoặc định đầu tư kinh doanh Chịu ảnh hưởng yếu tố tâm lý, nhu cầu, văn hóa, có phẩm chất đặc biệt mạnh mẽ, quyết đoán, phong cách đa dạng, chủ đích rõ ràng
Quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, cảm xúc nguồn thông tin, bản thông điệp, kênh, người nhận, kết quả, nhiễu: vật lý, xã hội
Thông tin, thông điệp các nhà kinh doanh gửi tới nhau chủ yếu thuộc lĩnh vực kinh tế: người giao dịch chung ý tưởng, lĩnh vực Chủ đề chính là những thông tin cung cầu, giá cả…
2.2.2 Một số học thuyết trong giao dịch
- Học thuyết về giao dịch của Jurgen Ruesch
- Hệ thống cấp độ nhu cầu trong học thuyết của Maslow
- Học thuyết của McGregor
2.2.3 Một số phẩm chất của nhà kinh doanh
Kinh doanh là người có cao vọng
Nhu cầu thực hiện chương trình ngày càng nâng cao, không phải tham vọng dùng mọi thủ đoạn
Nhà kinh doanh là người dám chấp nhận rủi ro
Không thể thiếu, rủi ro không tránh khỏi, mọi việc phức tạp và khó tránh sai lầm Chấp nhận rủi ro nhưng sau khi cân nhắc, rủi ro cao, lợi nhuận lớn
Nhà kinh doanh là người có lòng tự tin
Thấy khó nhưng tin là qua Cách rèn luyện:
- Phát triển đức tính giúp thành công
- Làm từ việc thành công đến việc khó hơn
- Giao du người có lòng tự tin
Trang 19- Ăn mặc, cử chỉ, sức khỏe.
Nhà kinh doanh là người có đầu óc nhạy bén
Nhạy bén thị trường, tổ chức, biết chộp cơ hội, ngược lại sẽ thất bại
Nhà kinh doanh phải giỏi kỹ năng quản trị kinh doanh
Chủ trì, lãnh đạo, chức năng quản trị:
- Hoạch định chương trình: Mục tiêu, chiến lược, chính sách, phương án
- Tổ chức: Lập cơ cấu tổ chức hiệu quả tùy mục tiêu, 11 cách phân chia theo thời gian, chức năng…biết phân quyền chứ không ôm đồm
- Tuyển chọn nhân viên: tuyển người giữ người, nhu cầu nhân lực…
- Điều khiển hay điều hành: hướng dẫn, lãnh đạo thuộc cấp rõ ràng, làm họ tin tưởng
- Kiểm soát: đo lường uốn nắn phù hợp kế hoạch
2.2.4 Những nguyên lý của giao dịch kinh doanh
Xác lập mục tiêu của cuộc giao dịch kinh doanh
Cái đích hoặc kết quả cụ thể giao dịch phấn đấu đạt được
Trang 20Các hình thức giao dịch kinh doanh
Giao dịch trực tiếp:
Hiểu rõ nhu cầu nhau, nhanh chóng giải quyết, kịp thời điều chỉnh Các bước:
- Nghiên cứu môi trường, đối tác…
- Trực tiếp tiếp xúc, thỏa thuận
- Thuận hiện thỏa thuận kết thúc giao dịch Vấn đề tín nhiệm, trách nhiệm…
Giao dịch qua trung gian:
Người thứ 3: Đại lý, môi giới
- Đại lý:
Đại lý thường: Đại lý hoa hồng: ủy thác, nhận hoa hồng, Đại lý bao tiêu: Mua đứt bán đoạn, Đại lý gửi bán: bán hộ, Đại lý đặc quyền: Duy nhất, giao kèo quyền và nghĩa vụ, có phạm vi lãnh thổ
- Môi giới: Trung gian giao tiếp, nắm thông tin, 2 bên hay 1 bên…
Xét giao dịch kinh doanh theo địa điểm:
- Giao dịch ở văn phòng: khách hàng truyền thống, mua buôn; tiếp xúc trực tiếp, cần gây ấn tượng, chiều khách…
- Giao dịch ở cửa hàng: bán lẻ, buôn, quan tâm cửa hàng lớn, trưng bày, giới thiệu,tuyên truyền…
- Giao dịch tại hội trợ triển lãm: hoạt động định kì trưng bày sản phẩm, tổng hợp hoặc chuyên ngành, nhiều quy mô Khi nhận lời mời tham gia phải nghiên cứu mục đích, tính chất, điều kiện, thành phần, ký kết điều lệ Sau đó lập kế hoạch, danh mục, đề án, tuyên truyền, cán bộ, lịch Các công việc cho hoạt động mua bán và triển lãm: Tìm hiểu tính chất, nghiên cứu tình hình giá cả hàng, phân phát tài liệu, mẫu đơn, giấy mời, thao diễn, chuẩn bị nhân viên, vật lưu niệm…
- Giao dịch ở sở giao dịch: Địa điểm đấu thầu, lô lớn, hoạt động theo qui chế
2.2.5 Một số thuật cơ bản của giao dịch
Trang 21Thuật chiều theo sở thích
Sở thích nhất định, đa dạng, chiều theo sở thích là quá trình hướng dẫn, kích thích Yếu lĩnh: Phát hiện điểm sáng, kích thích điểm hưng phấn, tìm điểm hứng thú
2.2.6 Các yếu tố của năng lực giao dịch
Khả năng diễn thuyết
Tầm quan trọng của nói: Là nghệ thuật, mỗi người một vẻ, bẩm sinh nhưng rèn được
Kỹ thuật cơ bản: Gạt bỏ sợ sệt – nghĩ về nội dung,làm rõ yếu lĩnh: ai, với ai, hoàn cảnh nào, nói gì; vận dụng khéo tư liệu số liệu, theo dõi đèn xanh đỏ, khống chế ngữ điệu âm lượng, vận dụng mắt biểu lộ tình cảm, chú ý tư thế diễn thuyết
Phát biểu tùy hứng: chuẩn bị trước trong đầu, phát triển ý tứ tại chỗ, tùy cơ ứng biến
Khả năng thống ngự trong giao dịch
Khống chế chi phối điều khiển con người, quan hệ với sếp, bạn bè đồng nghiệp
Biện pháp tăng cường khả năng thống ngự: Làm rõ đối tượng thống ngự, khắc phục tính
mù quáng Xây dựng hiện tượng bản ngã để thu hút đối tác, giao lưu tình cảm, trở thành tri kỉ của người bị thống ngự
Điều tiết khả năng thống ngự bản thân: Giao tiếp người thống ngự thấp hơn cần kiểm tra phương vị tâm lý của mình, với người trung bình không nghe không tranh cần thương lượng, người cao nên thận trọng, không tự đề cao
Khả năng quyến rũ
Trang 22Khả năng gây ấn tượng và hấp dẫn của một con người trong hoạt động giao dịch
- Đức hạnh: bồi dưỡng, lạc quan, tháo vát, tiến thủ, không kiêu không ti
- Phẩm chất: Chân thành đối xử mọi người chân thành, ca ngợi người khác, giả thiết mình ở địa vị đó mà thông cảm và quân tâm tới người khác
- Học thức: học rộng biết nhiều, giỏi chuyên môn
- Hình thức: luôm mỉm cười, biểu đạt tình cảm bằng ánh mắt, ăn mặc đúng mực
- Tính cách: dám bộc lộ tình cảm thực sự Khôi hài trong cuộc sống thường nhật
Khả năng tự kiềm chế
Ba trạng thái tự ngã trong giao dịch: trạng thái bản ngã phụ mẫu, thanh niên, nhi đồng
Tự kiềm chế: khống chế bản ngã, biết khoan dung, kiềm chế cơn giận dữ
2.2.7 Kỹ năng giao tiếp đa phương và lễ nghi trong giao dịch
Các loại hình giao tiếp
Chính bản thân, song phương, nhóm, tổ chức Hạt nhân cơ bản của giao tiếp liên nhân cách là lòng tin
Kỹ năng giao tiếp trong nhóm
Điều phối giải quyết mâu thuẫn lợi ích có ý nghĩ rất quan trọng Một số qui tắc:
- Qui tắc hành động của nhóm: Ai tham gia, vị lợi hay vô vị lợi
- Qui tắc về thời gian và địa điểm tập hợp, sinh hoạt nhóm
- Nội qui của nhóm:
- Qui tắc hành xử cá nhân và phát ngôn: Năm hình thức giao tiếp cơ bản: Giao tiếp hình sao: Trưởng nhóm – thành viên, giao tiếp vòng tròn: 1-2, giao tiếp chuỗi: gần mình nhất, giao tiếp mạng lưới đang chéo: tất cả, giao tiếp phân nhóm: bè phái
Kỹ năng giao tiếp trong một tổ chức
Hệ thống qui định rõ ràng, có cấu trúc Tính chất: mục đích, phụ thuộc, chuyên môn hóa, cấp bậc Cấu trúc ảnh hưởng đến hành vi; tranh đua đạt vị trí cao hơn – tích cực hoặc tiêu cực nên cần biện pháp giao tiếp cởi mở tăng cường tinh thần hợp tác Hai hệ thống quá trình giao tiếp:
Trang 23- Đối ngoại: thái độ hành vi theo khuynh hướng nhất định, công việc hàng đầu, phụthuộc vào môi trường ngoài.
- Đối nội: mọi người tác động qua lại, nổi bật kiểu hành vi
Chủ yếu dựa vào hệ thống đối ngoại – quan liêu Truyền miệng kênh không chính thức phổ biến, thông tin giá trị Luồng giao tiếp theo ba nhóm: Trên xuống dưới, dưới lên trên, hàng ngang
Các biện pháp: tránh đơn phương thay đổi quyết định trong hai hệ thống, kêu gọi mọi cấp tham gia giải quyết vấn đề, đòi hỏi khả năng tiếp thu các ý kiến
Lễ nghi trong giao dịch
- Giao dịch bằng thư tín
- Giao dịch bằng thiếp mời
- Lễ nghi bắt tay
2.2.8 Những điều cần biết khi giao dịch
Những qui tắc trong giao dịch
Chào hỏi cả họ tên, chưa mới chưa ngồi, không vội đưa tư liệu, chủ động mở đầu, duy trì nhiệt, sớm kết khi giận dữ, xem xét tình cảm, tránh bất nhã, thật thà thẳng thắn và đức
độ, nói rõ ràng, kiểm tra âm sắc ngữ điệu, trang phục đầu tóc, thâm niên học vị, kết thúc
từ biệt ngắn gọn
Phương pháp trò chuyện trong giao dịch
Tự nhiên hòa nhã, chào hỏi trước, nói mỗi người vài câu, để người khác phát biểu, nhìn đối tác, nên có sự kiêng kị, không tham gia nhóm nữ, lễ phép, không bịn tịn, xấc xược
Trang 24CHƯƠNG 3: TRANG PHỤC TRONG GIAO TIẾP 3.1 Trang phục nam, nữ
3.1.1 Cơ sở đánh giá trang phục đẹp
Một bộ trang phục đẹp, được mọi người đánh giá và ghi nhận phải phù hợp với một số đặc điểm của chủ nhân sử dụng nó và thời điểm, địa điểm sử dụng, trên cơ sở một số yếu
tố cụ thể là nước da, dáng vóc, lứa tuổi, tính cách và môi trường tiếp xúc
Không phải mẫu mới mốt đẹp nào cũng phù hợp với tất cả mọi người.Trang phục là một phần cuộc dời bạn, muốn mình đẹp hơn trong mắt mọi người thì bạn phải hết sức thậntrọng, chọn lựa kỹ càng trước khi dùng nó Nếu không để ý điều này bạn có thể xấu đi trong mắt mọi người, thậm chí trở nên lạc lõng, lập dị Người đời có câu: “ Không có người phụ nữ xấu, chỉ có những người phụ nữ không biết làm đẹp cho mình mà thôi” Câunói này quả thực rất chính xác và thú vị
Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu các cơ sở đánh giá đó
Nước da
Người có nước da trắng rất dễ lựa chọn màu sắc trang phục phù hợp cho mình hơn, vì hầu như màu nào cũng hợp và có thể chấp nhận được Trong đó những màu đỏ, hồng, đen
sẽ phù hợp hơn cả, tôn lên nước da trắng rạng ngời của những người sở hữu nó
Nhưng nếu người có nước da không trắng lắm hay hơi nâu hãy thận trọng chọn màu vảicho trang phục mình Tốt nhất là màu sáng (nhạt, yếu), tránh màu mạnh như đỏ, xanh, đen,trắng, tím
Dáng vóc
Người có dáng vóc cao nên chọn trang phục bằng màu vải thô dày, không nên chọn màu vải mỏng, nhũn hoặc loại vải caro Nếu có sọc thì chỉ nên sọc ngang, không nên dùngloại sọc dọc