Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii 1.2 Vai trò của các nguyên tố dinh đến dưỡng đến sinh trưởng phát 1.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân bó
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ KIM THƯ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN HỮU CƠ SINH HỌC VÀ LIỀU LƯỢNG BÓN PHÂN HỮU CƠ SINH HỌC QUẾ LÂM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT,
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim Thư
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn trực tiếp là:
TS Nguyễn Thị Ngọc Bình và TS.Vũ Đình Chính đã hết sức chỉ bảo, hướng dẫn để tác giả có thể hoàn thành được bản luận văn này
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các hộ nông dân thuộc xã Ba Trại- huyện
Ba Vì- thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ về địa điểm triển khai các thí nghiệm cho tác giả
Công trình được hoàn thành có sự động viên của gia đình, bạn bè động nghiệp Tác giả xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim Thư
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
1.2 Vai trò của các nguyên tố dinh đến dưỡng đến sinh trưởng phát
1.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây chè trên thế giới
1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây chè trên thế giới 10 1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây chè ở Việt Nam 19
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 30
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
2.4.5 Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu của cây chè 33
3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng một số loại phân bón hữu
cơ sinh học đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè 36 3.1.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến chiều
3.1.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến động
3.1.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến các
3.1.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến phẩm
3.1.5 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến thành
3.1.6 Ảnh hưởng các một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến khả
3.1.7 Ảnh hưởng của phân bón HCSH đến tính chất đất 49 3.1.8 Ảnh hưởng của một số loại phân bón HCSH đến chất lượng chè 51 3.1.9 Kết quả đánh giá cảm quan của các công thức bón phân đến chất
3.1.10 Hiệu quả kinh tế sau khi sử dụng các loại phân bón hữu cơ sinh
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân
hữu cơ sinh học Quế Lâm đến sinh trưởng, năng suất và chất
3.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân HCSH Quế Lâm đến chiều
3.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân HCSH Quế Lâm đến động
3.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân HCSH Quế Lâm bón phân
đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 59 3.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân HCSH Quế Lâm đến phẩm
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC BẢNG
3.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học 37
3.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến động
3.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến các
3.4 Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ sinh học đến phẩm cấp búp 443.5 Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ sinh học đến thành phần
3.13 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân HCSH Quế Lâm đến động
3.14 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến các yếu tố cấu thành
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
3.15 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân HCSH Quế Lâm đến phẩm
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học 39
3.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến năng suất 423.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón HCSH Quế Lâm đến động
3.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón HCSH Quế Lâm đến năng
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Phân HC Phân Hữu cơ Phân VC Phân vô cơ
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
Cây chè (Camellia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có nhiệm
kỳ kinh tế dài, mau cho sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định Đây là cây trồng có hiệu quả để khai thác các vùng đất đai rộng lớn của Miền núi và Trung
Hiện nay nhu cầu sử dụng phân bón hữu cơ sinh học thay thế phân hóa học ngày càng tăng, về lâu dài sẽ dần trả lại độ phì nhiêu cho đất như làm tăng lượng phospho và Kali dễ tan trong đất canh tác; cải tạo, giữ độ bền của đất đối với cây trồng nhờ khả năng cung cấp hàng loạt các chuyển hoá chất khác nhau liên tục do nhiều quần thể vi sinh vật khác nhau tạo ra Việc sử dụng phân bón hữu cơ sinh học
có ý nghĩa rất lớn là tăng cường bảo vệ môi trường sống, giảm tính độc hại do hoá chất trong các loại nông sản thực phẩm do lạm dụng phân bón hoá học
Cũng như các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc cây chè đã trở thành cây cho thu nhập cao, ổn định cho hàng triệu hộ lao động nông thôn nói chung và huyện
Ba vì nói riêng Với điều kiện thuận lợi về đất đai, khí hậu cây chè đã trở thành một trong những cây trồng thế mạnh của huyện Tuy nhiên sản phẩm chè Ba vì hầu như không có thương hiệu trên thị trường mặc dù chất lượng sản phẩm chè tại đây
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
cũng không thua gì so với chất lượng của các vùng khác như Thái nguyên… Nguyên nhân chính là do qui trình chăm sóc không đúng, trong đó có việc sử dụng phân bón cho chè một cách không hợp lý
Xuất phát từ những thực tiễn đòi hỏi trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng một số loại phân bón hữu cơ sinh học và liều lượng bón phân hữu cơ sinh học Quế Lâm đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng chè PH1’’
Mục đích và yêu cầu của đề tài
Mục đích
Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân hữu cơ sinh học đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng chè nhằm xác định loại phân bón hữu cơ sinh học phù hợp để nâng cao năng suất và chất lượng chè PH1
Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân hữu cơ sinh học Quế lâm đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng chè nhằm xác định liều lượng phân bón hữu
cơ sinh học Quế Lâm phù hợp để nâng cao năng suất và chất lượng chè PH1
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học nghiên cứu
về việc sử dụng các loại phân bón HCSH và liều lượng sử dụng phân bón HCSH Quế Lâm cho chè PH1 tuổi 10 tại Ba Vì, Hà Nội
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và chuyển giao cho sản xuất
Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được loại phân bón HCSH và liều lượng bón phân HCSH Quế lâm hợp lý có tác dụng làm tăng năng suất, chất lượng chè và độ phì đất trồng chè
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
- Kết quả của đề tài sẽ được khuyến cáo cho bà con nông dân trồng chè tại khu vực và các vùng lân cận thực hiện, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè tại địa phương
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của bón phân cho cây chè
1.1.1 Cơ sở khoa học của bón phân cho cây chè
- Cây trồng nói chung hút dinh dưỡng từ đất để sinh trưởng và phát triển Ngoài các bộ phận thu hoạch ra, trong các sản phẩm phụ cũng chứa đựng các chất dinh dưỡng mà cây lấy từ đất Sau mỗi vụ thu hoạch, cây trồng lại để lại cho đất một lượng lớn các phụ phẩm hữu cơ Thông qua các quá trình chuyển hoá vật chất trong đất mà các sản phẩm này trở thành nguồn dinh dưỡng đáng kể cho cây trồng
vụ sau
Xây dựng một quy trình bón phân hợp lý cho chè cần phải căn cứ vào điều kiện đất đai cũng như điều kiện ngoại cảnh và đặc điểm sinh lý của cây
Cơ sở khoa học của việc bón phân cho chè gồm những điểm chính như sau:
- Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Mặc dù trong điều kiện khí hậu nên mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm
- Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch từ 5 – 10 tấn/ha, vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp
- Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là hai quá trình mâu thuẫn nhưng thống nhất Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh thực cho chè hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch giống
- Khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng của cây chè rất rộng rãi Nó
có thể sống ở nơi đất rừng màu mỡ mới khai phá song cũng có thể sống ở những nơi đất nghèo dinh dưỡng và vẫn cho năng suất nhất định Do đặc điểm đó, muốn nâng cao năng suất chè cần phải bón phân đầy đủ
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
- Chè là cây công nghiệp lâu năm, sản phẩm thu hoạch là búp và lá non, đồng thời đó cũng là cơ quan đồng hóa tích lũy dinh dưỡng cho cây Hàng năm, cây chè cho thu hái búp từ 5 – 6 đợt trong điều kiện bình thường Nếu thâm canh cao thì có thể thu hái 7-8 đợt Thời gian hoàn thành đợt sinh trưởng búp phụ thuộc vào giống, chế độ dinh dưỡng và điều kiện khí hậu
Ở giai đoạn ẩn búp chè sinh trưởng chậm hơn ở giai đoạn hiện, ở giai đoạn tiềm sinh cành ngừng sinh trưởng tích lũy dinh dưỡng cho mầm phát động Do đó, nếu có biện pháp cung cấp dinh dưỡng kịp thời thì sẽ rút ngắn được thời gian ở giai đoạn tiềm sinh đồng thời cung cấp chất dinh dưỡng cho giai đoạn sau
Theo quy trình chăm sóc và thu hái chè việc cung cấp chất dinh dưỡng thông qua bón phân cho cây chè chỉ tiến hành từ 3-4 lần/năm, thu hái búp chè 7-10 ngày/lứa Tuy nhiên tại Ba Trại, thời gian thu hái búp chè diễn ra khoảng 35-40 ngày/lứa (hái triệt để) Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P2O5
và 1,2 - 2,5% K2O Như vậy, lượng dinh dưỡng lấy đi của 1 lứa hái là rất lớn Chính
vì thế việc cung cấp liều lượng phân bón thích hợp để đảm bảo sinh trưởng của cây
và tạo 1 lứa hái mới là rất cần thiết
Theo nguồn từ nhiều tác giả Ấn Độ thì trong 100 kg chè thương phẩm có chứa lượng dinh dưỡng là 4 kg N; 1.15 kg P2O5; 2,4 kg K2O; 0,42 kg MgO; 0,8 kg CaO; 100g Al; 6g Cl; 8g Na Ngoài lượng dinh dưỡng này cây còn lấy một số lớn dinh dưỡng cho việc hình thành bộ lá trên bụi chè, cho số lá rụng, cho việc hình thành thân cành và rễ Chính vì vậy, để hình thành nên 100 kg chè thương phẩm cây lấy đi tổng
số dinh dưỡng cho tất cả các bộ phân trên là: 16,9 kg N; 5,68 kg P2O5; 8,8 kg K2O; 2,92 kg MgO; 6,7 kg CaO; 871g Al và 74g Na Ngoài ra cây còn lấy đi một lượng các nguyên tố vi lượng như 38g Zn; 26g B; 38g Cu; 241g Fe và 479g Mn
- Cây chè là cây công nghiệp dài ngày, sản phẩm là búp chè chỉ chiếm 8-13% sinh khối của cây, lại phải thu hái nhiều lần trong 1 năm, mặt khác năng suất chè của ta chưa cao, cho nên so với những cây công nghiệp dài ngày khác như cà phê, cao su nhu cầu dinh dưỡng của cây chè không lớn Với năng suất 2 tấn búp khô trên 1ha/năm, chè lấy đi từ đất trung bình là 80kg N, 23 kg P2O5, 48kg K2O và 16
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
kg CaO Tuy nhiên ngoài hàm lượng búp chè được hái hàng năm, chè còn được đốn cành, chặt cây và mang đi khỏi vườn, cho nên tổng lượng các chất dinh dưỡng chè lấy đi khỏi đất là 144 kg N, 71 kgP2O5, 62kg K2O , 24kg MgO và 40 kg CaO Lượng phân đạm bón cho chè ở những năm trồng đầu tiên thường cao hơn, thay đổi trong khoảng 120-240kg N/ha Tỷ lệ N: K2O vào lúc này là 1:0,5 Vào thời kỳ thu hoạch , tỷ lệ này là 1:1, với lượng bón là 240-300kg N và 240-300kg K2O
Liều lượng lân thường không cao như đạm và kali Mức bón vào khoảng 60-80 kg P2O5 cho 1 ha chè
Bón phân cân đối, đúng tỷ lệ và liều lượng làm cho năng suất chè tăng 20%, với hệ số lãi là 2,8-3,9 lần Bón phân đúng còn làm tăng hàm lượng tanin thêm 2,0-6,5%, chất hoà tan tăng 1,5-3,5%, hương vị chè được cải thiện
14-Bón magiê với lượng 10-20kg MgO/ha làm tăng năng suất và phẩm chất búp chè
Ngoài các nguyên tố đa lượng và trung lượng, kẽm có tác dụng tốt đối với chè Phun dung dịch sunphat kẽm lên lá có tác dụng làm tăng năng suất và phẩm chất búp chè
Phân kali có thể chia thành 2 lần để bón tập trung vào thời gian từ tháng 1 đến tháng 7
1.1.2 Đặc điểm đất đai huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Qua quá trình điều tra hiện trạng sản xuất chè ở vùng chè Ba Vì (2013) có nhận xét sau:
- Các nương chè thường được phân bổ ở độ cao 30-100m trên hai nền đất chủ yếu:
+ Đất hình thành trên sản phẩm chất phù sa cổ đất bạc màu nghiêm trọng, đang trên con đường thoái hóa Biểu hiện tầng đất mặt có hàm lượng sét thấp, kết von sỏi sạn chiếm trên 60% đất có màu xám nhạt Tầng đất mỏng dao động từ 40-60cm
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
dưới sâu là cuội sỏi kết von dày đặc Đất có độ pH từ 4,5-5; độ dốc trung bình từ 50
-200
+ Nhóm đất hình thành trên đá phiến sét, cát kết Đất có màu nâu nhạt đến vàng nhạt, tầng đất còn khá dày (trên 70cm) chứa hàm lượng keo sét cao, trong tầng đất mặt chứa ít sỏi sạn kết von Tuy nhiên một số vùng đã bắt đầu xuất hiện quá trình
đá ong hóa ở độ sâu 60-80cm Đất có độ pH: 5,0-5,5 nhóm đất này tập trung ở các
xã Cam Thượng, Tản Lĩnh, Minh Quang, Ba Vì
- Về độ dốc:
Qua điều tra tại các tiểu vùng cho thấy cây chè được trồng chủ yếu trên đất có
độ dốc thấp, từ 0 – 100, tập trung ở vùng đồi gò và một phần nhỏ ở vùng đồi núi Riêng ở xã Vân Hòa, có một số vườn chè trồng trên đồi có độ dốc 10 -150, tuy nhiên các vườn này đã được thiết kế theo đường bình độ (đường vành nón)
Nhìn chung cây chè tại Ba Vì được trồng trên đất khá bằng phẳng, ít xảy ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi Các diện tích có độ dốc lớn trồng chè trước đây đã được thay thế bằng cây lâm nghiệp có hiệu quả cao hơn Mục đích của việc bón phân là nhằm bảo đảm dinh dưỡng cân đối cho cây trồng và không để các chất dự trữ trong đất giảm xuống dưới mức cây cần Trên nguyên tắc duy trì độ phì sẵn có trong đất
dễ dàng và đỡ tốn kém hơn là khôi phục độ phì của đất do hậu quả của việc bón phân không hợp lý trong thời gian dài
Như vậy, việc cung cấp dinh dưỡng cho cây chè cần đầy đủ và thường xuyên, liên tục trong năm Ngoài cung cấp dinh dưỡng là phân khoáng cần bổ sung phân hữu cơ sinh học cho cây chè, có tác dụng làm tăng năng suất và phẩm chất búp chè
1.2 Vai trò của các nguyên tố dinh đến dưỡng đến sinh trưởng phát triển của cây chè
Qua kết quả nghiên cứu về phân bón cho chè của một số tác giả cho thấy: lượng phân bón cho chè là rất khác nhau Có nước căn cứ vào hàm lượng và thành phần các chất dinh dưỡng có trong đất, có nước căn cứ vào sản lượng búp chè thu hoạch hàng năm, có nước còn căn cứ vào điều kiện địa hình, thời tiết khí hậu ở vùng cao, vùng thấp
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
mà có chế độ bón phân theo vùng Do vậy thành phần các nguyên tố dinh dưỡng, tỷ lệ phối hợp N, P, K và phương thức bón cũng rất khác nhau
Về phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh) nhiều nước cũng đang sử dụng cây phân xanh, cây bóng mát trồng xen trong chè đã có tác dụng tích cực là bảo vệ và cải thiện độ phì nhiêu của đất Cung cấp bổ sung dinh dưỡng đáng kể cho cây chè
Xu hướng sử dụng phân bón cho chè chủ yếu vẫn là 3 nguyên tố đa lượng chính N, P, K Một số nước còn quan tâm tới 2 nguyên tố bán đa lượng là Mg và S Dạng phân bón cho chè thường là phân phối hợp theo một số tỷ lệ nhất định, phù hợp điều kiện đất đai và năng suất búp chè của từng vùng nhằm tăng hiệu suất sử dụng của từng loại phân bón Đồng thời bón phân cân đối phần nào có ảnh hưởng tốt phẩm chất chè
Chè cần rất nhiều chất dinh dưỡng, mỗi chất có vai trò quan trọng nhất định với sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng chè
Đạm (N): là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein Đạm giúp tăng chiều cao cây, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè
Lân (P): là thành phần của phophatides, axit nucleic, protein… quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và protein Lân cần thiết cho sự phát triển của
bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất và lượng đượng hòa tan và tanin, tăng chất lượng chè
Thiếu lân: lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thụ đạm kém Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất thấp và chất lượng kém
Kali (K): hoạt hóa enzym liên quan đến quang hợp, tổng hợp hydratcacbon, protein, điều chỉnh pH và nước ở khí khổng Giúp cây cứng chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và rụng lá già, tăng năng suất và tăng
độ ngọt, độ đậm trong chè búp
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
Thiếu kali: cây sinh trưởng chậm, mép và chóp lá có màu xám hay nâu nhạt sau khô dần, lá già rụng sớm, lá non ngày càng nhỏ, dễ bị sâu bệnh Búp thưa, vỏ cây có màng trắng bạc, cây chậm ra búp, năng suất thấp, chè kém ngọt, chất lượng giảm Magiê (Mg): cấu tạo diệp lục tố, enzym chuyển hóa hydratcacbon và axit nucleic Thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân và đường trong cây, giúp cây cứng chắc
và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè khô
Thiếu magiê: xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lượng chè khô giảm Kẽm (Zn): là thành phần của men metallo-enzymes-carbonic-anhydrase, anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây Thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và chất lượng chè Thiếu kẽm: cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần bạc trắng, số búp ít
Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong cây, tăng khả năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon Tăng độ dẻo của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè
Molypđen (Mo): là thành phần của men nitrogenase, cần cho vi khuẩn
Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, năng suất và chất lượng chè Phân hữu cơ sinh học là loại phân bón bao gồm nhiều chủng vi sinh vật hữu ích như: vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, phân giải xelluloza, và các chất khó tan, vi sinh vật kích thích quá trình quang hợp, vi sinh vật kháng bệnh Kết hợp với các sản phẩm hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên như: than bùn, bùn thải từ các ao hồ, rác thải trong sinh hoạt, các sản phẩm phụ nông nghiệp qua quá trình phân giải tạo mùn và cung cấp các nguyên tố cần thiết cho cây trồng, đồng thời có tác dụng cải thiện độ phì cho đất, bảo vệ môi trường
Phân hữu cơ sinh học còn gọi là phân sạch, được sản xuất theo tiêu chuẩn của ngành quy định Nếu bón đầy đủ và hợp lý cho cây trồng, không những đất đai không
“già” đi theo thời gian mà nó còn “trẻ” lại và ngày càng tràn trề chất dinh dưỡng
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
Các chất được phân hữu cơ sinh học cung cấp cho cây trồng là chất đạm (N), lân (P), Kaly (K20), lưu huỳnh (S) Ngoài ra trong phân hữu cơ sinh học còn chứa một số chất vi lượng như; Sắt (Fe), Manhê (Mg), Molyden (Mo) và các chất kích thích rất cần thiết cho cây trồng như: a - NAA - b - NOB Phân hữu cơ sinh học còn
có tác dụng làm cho đất có kết cấu tốt hơn, làm tăng khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất, nhờ đó tác dụng tốt đến sự phát triển của cây trồng
1.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây chè trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây chè trên thế giới
Sử dụng phân bón cho chè là vấn đề khá phức tạp bởi tính đa dạng và phức tạp của đất đai vùng đồi núi Xu thế hiện nay các tác giả đều cho rằng bón phân cho chè kết hợp 3 yếu tố N, P, K là cần thiết, song tỷ lệ và liều lượng bao nhiêu là hợp
lý cũng rất phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thời tiết và khí hậu của từng vùng Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè được nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau, hoặc hiệu suất thu hoạch trên đơn vị phân bón, hoặc với một đơn vị năng suất lấy đi một lượng dinh dưỡng cần thiết các yếu tố khác nhau
Năng suất cây trồng là kết quả tổng hợp của tất cả các yếu tố sinh trưởng nội tại bên trong và các yếu tố ngoại cảnh tác động trong suất quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Chè là loại cây trồng cho sản phẩm thu hoạch là búp và lá non do vậy khi bón các loại phân khoáng vì nhiều lý do như: điều kiện kinh tế, hạn chế về hiểu biết kỹ thuật, dẫn đến mất cân đối thừa hay thiếu nguyên tố nào đó đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng phát triển của cây, sâu bệnh phát sinh phát triển nhiều, năng suất chất lượng giảm Đồng thời với địa hình tại các vùng trồng chè chủ yếu là đồi dốc việc sử dụng các phân khoáng như: urê, kaliclorua với phương pháp bón trên bề mặt thì rất dễ bị rửa trôi, hiệu quả sử dụng phân thấp, gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước Để đạt được tiêu chuẩn chất lượng nông sản, bón phân cân đối cả đa lượng, trung lượng và vi lượng, với mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế tối
đa trên đơn vị đất, lượng bón phải đủ, nhưng không thừa, để tiết kiệm và tránh ô nhiễm môi trường đất, nước và nông sản
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
Đối với cây chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất, làm tăng các thành phần dinh dưỡng: N,
P, K và các nguyên tố trung, vi lượng nhưng thực trạng hiện nay việc sử dụng phân hữu cơ cho chè còn gặp nhiều khó khăn: do phải cạnh tranh nguồn hữu cơ với các cây trồng khác; đồi chè thường xa nhà, cây chè vào giai đoạn kinh doanh đã khép tán nên việc vận chuyển và bón phân thường gặp khó khăn Những giải pháp
để tăng cường hữu cơ cho chè là; làm phân tự chế bằng cách đào hố ủ ngay tại vườn chè, trồng cây phân xanh, cây họ đậu để lấy thân lá ép xanh cho chè, ép xanh cành, lá già sau khi đốn chè, ngoài ra việc bón phân cho chè phải được chú ý ngay
từ khi bón lót trước khi trồng
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lĩnh vực nghiên cứu sản xuất phân bón đã có bước phát triển nhảy vọt đặc biệt là công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ sinh học Các kết quả nghiên cứu cho thấy chất dinh dưỡng được hoàn trả cho đất thấp hơn nhiều so với lượng chất dinh dưỡng mà nông sản và sản phẩm phụ đã lấy đi và không cân đối giữa tỷ lệ N:P2O5, K2O Để đảm bảo cho một nền nông nghiệp bền vững phải tăng cường sử dụng phân bón trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và hữu cơ, sử dụng hợp lý với điều kiện hiện nay Cây chè là loại cây thu hoạch lá nên yếu tố N là chất dinh dưỡng quan trọng hàng đầu, N có ảnh hưởng tốt đến năng suất búp chè Bón N có thể làm tăng năng suất chè búp 40- 50%, hoặc có khi còn cao hơn nữa, nhưng khi bón N đơn độc kéo dài đã làm giảm năng suất và ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè Trong cây, hàm lượng đạm tập trung nhiều nhất ở các bộ phận non như búp và lá non, đạm có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây và có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá nhỏ, búp nhỏ và búp bị mù nhiều, do đó năng suất thấp Yêu cầu về đạm thay đổi tùy theo loại đất tuổi của cây và năng suất của vườn chè Theo M.L Bziava (1973), liều lượng đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10tấn/ha bón 200 kg N/ha cho hiệu quả kinh tế cao nhất
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
Lân là yếu tố rất cần thiết trong đời sống cây chè, có tác dụng tăng cường sự phát triển của rễ mới, còn yếu tố N chỉ kích thích sự phát triển chiều dài của rễ Bộ
rễ chè có tương quan rất chặt chẽ với năng suất Bón kết hợp lân và N đã làm tăng cường sự sinh trưởng của bộ rễ Lân còn có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng chè chế biến, làm tăng hương vị của chè đen Đất trồng chè của ta hiện nay đa phần là nghèo lân do canh tác lâu năm nên có thể bón lượng lớn hơn so với
số lượng cây lấy đi để làm giàu dần cho đất quá chua (theo phân tích) mà chia lượng phân bón để cải tạo ra bón trong một thời gian dài, nhằm tránh sự giữ chặt một phần ion PO4 trong dung dịch đất (không phân hủy thành dạng lân dễ tiêu cho cây) Cũng
có thể bón lân cho cây phân xanh (cốt khí, muồng) để cải tạo đất trước khi trồng mới nương chè Bón lân duy trì cho các loại đất chè đã đủ lân bằng cách bón hàng năm theo đúng quy trình kỹ thuật đề ra Theo quy trình bón phân cho chè ở giai đoạn kinh doanh sung sức cần bón lót 500 – 600 kg supe lân/ha, và bón thúc hàng năm kết hợp với các loại phân khác
Vai trò của Kali đối với sự sinh trưởng và năng suất chè còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất Có tác giả cho rằng hiệu lực kali đối với chè là tùy thuộc vào từng loại đất Trên các loại đất có hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu thấp, bón kali cho chè đã làm tăng năng suất rõ rệt Song cũng có những nghiên cứu bón kali trong thời gian dài đã không làm tăng năng suất chè ở mức độ có ý nghĩa Thậm chí, theo Wanyoko Othieno (1987) có thí nghiệm bón kết hợp N và kali kéo dài trong 21 năm cũng không thấy tăng năng suất đáng kể Nhu cầu kali của cây chè tương đối cao, ở những nơi đất thiếu kali nếu bón đầy đủ Kali cho chè thì tác dụng của kali rất rõ rệt năng suất có thể tăng từ 28-35 %, hàm lượng tannin tăng 6,7 % và các chất hòa tan
8 % Cây chè thiếu kali có hàm lượng kali trong lá dưới 0,5% Thiếu kali ở cây chè ban đầu thường có biểu hiện lá vàng, giòn và lá chè thường bị khô đầu lá và cháy hai bên rìa lá Khi phát hiện có triệu chứng thiếu kali cần phải bón phục hồi ngay vì phục hồi sinh trưởng của cây khó khăn hơn so với thiếu các nguyên tố khác Tùy từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau và năng suất búp tươi của cây chè để bón sao
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
cho hợp lý, ở giai đoạn kinh doanh thường bón kali cho chè với mức 80 – 120 kg
K2O/ ha
Cung cấp mùn hữu cơ đã được hoạt hoá, các dưỡng chất cân đối và hợp lý cho cây Chè, các tập đoàn Vi sinh vật hữu ích, cải tạo và tăng độ phì nhiêu cho đất Giúp cây giữ ẩm, chịu hạn, chịu rét, tăng sức đề kháng sâu bệnh Nâng cao hiệu suất
sử dụng và đẩy nhanh quá trình hấp thu dinh dưỡng khoáng của cây Kích thích phát triển bộ rễ và hệ chồi búp, lá xanh dày, cây sinh trưởng mạnh, tăng hiệu suất quang hợp và quá trình sinh tổng hợp chất, nâng cao sản lượng và chất lượng chè thu hái
Những kết quả nghiên cứu về nhu cầu phân bón và các thực nghiệm về hiệu lực phân bón đã chứng minh: đạm là yếu tố chủ yếu đối với cây chè, có tương quan chặt chẽ với năng suất Tương quan giữa năng suất chè với đạm là tuyến tính với cả mức bón phân cao hơn 120kg N/ha Khi lượng bón trên 80 – 90kg N/ha thì tối thiểu phải bón làm 2 lần Hiệu ứng của đạm là tác động tích lũy, vượt qua giới hạn của một năm mà phải tính qua các chu kỳ thu hái
Trong nhiệm kỳ kinh tế vài chục năm của đời sống cây chè với các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Willson K C (1992), đã xác định rằng cây chè ở giai đoạn đầu sau trồng (1 – 3 tuổi) sang giai đoạn cho thu búp (4 – 6 tuổi) lượng đạm được bón làm nhiều lần, bón từ 30 kg N/ha tăng dần nhưng không vượt quá 100kg N/ha Hiệu lực của lượng đạm 100kg N/ha đạt cao nhất ở độ tuổi 7 – 8 đến 10 – 12 tuổi Thời kỳ 10 – 12 tuổi lượng đạm bón có hiệu lực cao nhất từ 200 –
300 kg N/ha, nhưng năng suất búp của 1 kg N cao nhất không quá 200 kg N/ha ở những nương chè có mức năng suất 5 – 8 tấn đọt tươi/ha, còn những nương chè có năng suất trên 10 tấn/ha đầu tư đến 300kg N/ha vẫn cho hiệu suất cao Tất cả các liều lượng bón trên 300kg N/ha không làm tăng năng suất chè và hiệu suất giảm Các nương chè trên 20 tuổi hiệu lực phân đạm tốt nhất với liều lượng không quá 200kg N/ha
Cũng theo Willson K.C and M.N Lifford (1992) để thu hoạch 1 tấn chè búp tươi cần phải bón 32,0 - 33,5 kg N; 16,5 - 18,0 kg P2O5; 2,0 – 10,0kg K2O Trong
đó chỉ một nửa dinh dưỡng bị lấy đi bởi thu hái búp, được tích lũy trong 25 – 28%
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
lượng vật chất khô trong búp thu hoạch Bởi vậy cung cấp lượng dinh dưỡng hằng năm cho cây chè cần quan tâm đến sự tiêu hao cho quá trình duy trì bộ khung tán cây chè, bộ rễ, sinh khối phần đốn hằng năm, và duy trì hệ sinh vật đất, các quá trình rửa trôi, bốc hơi, cỏ dại
Tác giả Othieno (1994), cho biết việc bón N đơn độc kéo dài nhiều năm (từ những năm 1960 đến những năm 1990) đã gây ra sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng đặc biệt là P và K trong đất Qua việc phân tích đất và lá chè cho thấy cây chè ở Kenya cần loại phân có N, P, K, S với tỷ lệ phối hợp 25:5:5:5 hoặc N, P, K với tỷ lệ 20:10:10
Tác giả Wang Xia Ping (1989), cho biết đất trồng chè ở Trung Quốc rất nghèo và thiếu dinh dưỡng nên ngay từ những năm 1960 Trung Quốc đã chú trọng bón đủ N, P, K và tăng lượng phân bón trên những diện tích đất thiếu hụt dinh dưỡng
Kết quả nghiên cứu của tác giả M.L Bziava (1973) cho rằng: liều lượng đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10t/ha bón 200 kg N/ha cho hiệu quả kinh tế cao nhất
Về phẩm chất, nhiều tài liệu ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn Độ, Xrilanca đều cho rằng bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều hoặc bón đơn độc đều làm giảm chất lượng chè (đặc biệt là đối với nguyên liệu dùng để chế biến chè đen) Những công trình nghiên cứu của Liên Xô cho thấy liều lượng đạm 300kg/ha thì hàm lượng tanin, cafein và vật chất hòa tan trong búp chè đều cao, có lợi cho phẩm chất, song nếu vượt quá giới hạn trên thì phẩm chất chè giảm thấp Khi bón nhiều đạm hàm lượng protein ở trong lá tăng lên Protein kết họp với tanin thành các hợp chất không tan vì thế lượng tanin trong chè bị giảm đi Mặt khác khi bón nhiều đạm, hàm lượng ancaloit trong chè tăng lên làm cho chè có vị đắng
Số liệu của G.S Goziaxivili (1949), bón K2O trên đất đỏ với liều lượng 80 - 320kg/ha có thể tăng sản 28 - 55% so với đối chứng bón N,P Những nghiên cứu của A.D Makharobitze (1948) cho thấy phẩm chất nguyên liệu trong các công thức bón phân khác nhau được xếp theo thứ tự sau: P, K, N và không bón Những kết
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
quả nghiên cứu của Liên Xô cho thấy: hàm lượng kali trong lá dưới 0,5%, dấu hiệu thiếu kali biểu hiện rõ, trên 1% thì cây sinh trưởng bình thường Hàm lượng K2O 15mg/100g đất là thiếu kali, trên 15mg/100g đất, cây sinh trưởng bình thường Trong nền nông nghiệp cổ truyền của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam và các nước Asian, phân hữu cơ không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng với hàm lượng vốn có của nó mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các đặc tính lý hoá học của đất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ Do đó hiện nay phân hoá học được coi là yếu tố quan trọng để đẩy năng suất cây trồng nên xu hướng sử dụng phân hoá học vẫn ngày càng tăng Nhưng phân hữu cơ nói chung và phân hữu cơ vi sinh nói riêng vẫn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường ở các nước nhiệt đới cũng như là ở các nước phát triển
Tác giả Enwall (2005) nhận định: ngoài tác dụng phân hữu cơ làm gia tăng sản lượng và cung cấp dưỡng chất trực tiếp cho cây, các loại phân bón hữu cơ có thể cải thiện sự đa dạng sinh học (tuổi thọ đất) và khả năng sản xuất lâu dài của đất
và có thể là nơi lưu giữ phần lớn lượng carbon dioxide thừa
Các dưỡng chất hữu cơ làm tăng sự màu mỡ của các cơ cấu đất bằng cách cung cấp chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cho các cơ cấu như nấm mycorrhiza (giúp các loại cây hấp thu dinh dưỡng), và có thể làm giảm đáng kể nhu cầu sử dụng các loại thuốc trừ sâu, năng lượng và phân bón, nhưng làm giảm sản lượng thu hoạch Theo cuốn Thực vật cận lợi chí của tác giả Tôn Phúc Bảo và tuyển tập Lư Sơn vật sản chí cảo của tác giả Mẫu Bá Bình (1930), (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ) đều nói rằng phân hữu cơ là những phân bón chủ yếu của vườn chè đương thời, trong đó khô dầu là tốt nhất Và cũng theo đây, các giới học giả nói chung đều gọi phân hữu
cơ là phân bón thế hệ 1 của các vườn chè Trung Quốc
Theo tài liệu của Đỗ Ngọc Quỹ và cộng sự (1983) nhận thấy rằng: nền nông nghiệp cổ truyền của các nước trên thế giới, các nước Asian và ở Việt Nam, phân hữu cơ không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng với hàm lượng vốn có
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
của nó mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các đặc tính lý hoá học của đất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ
Từ năm 1992 - 1997, Quỹ Kellogg, W K tài trợ thử nghiệm bón phân hữu cơ được bổ sung thêm một số loài vi sinh vật có ích thuộc 2 chi: Bacillus, Pseudomonas có khả năng phân giải lân, kali tại 2 vùng trồng chè trọng điểm của Srilanca và nhận thấy năng suất chè tăng 9 – 14% so với đối chứng có bón phân hữu
cơ và tăng 17% so với đối chứng không sử dụng 2 loại phân bón này
Tác giả Tabagari và các cộng tác viên (1987) dẫn theo Đinh Thị Ngọ ;nghiên cứu dùng than bùn để tủ gốc cho chè trên đất Podzolic cho thấy: cây chè được tủ bằng than bùn có sinh khối phần trên mặt đất cao nhất, sau đó đến tủ gốc bằng màng mỏng PE màu đen, công thức đối chứng không tủ cho sinh khối thấp nhất Trọng lượng bộ rễ đặc biệt là rễ hút tăng 63% ở công thức tủ bằng than bùn, tăng 27% ở công thức tủ bằng màng mỏng PE màu đen (so với đối chứng), lượng rễ hút phân bố nhiều ở tầng đất 0 – 10cm (công thức tủ bằng than bùn chiếm 46%, công thức tủ bằng màng mỏng PE màu đen chiếm tới 64%, công thức không tủ chỉ có 7%) Theo Zakhtop, Lacton và Sevich dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc Bình thì việc bón phân hữu cơ có tác dụng chống xói mòn rất tốt (giảm 40% so với không bón)
vì bón phân thúc đẩy cây trồng sinh trưởng tốt, tạo độ che phủ nhiều hơn Khi bón phân đất có cấu tạo tốt hơn, khả năng ngấm nước vào đất tốt hơn, thúc đẩy vi sinh vật hoạt động góp phân cải tạo các tín chất của đất
Tác giả Obaga và Othieno (1987) khi nghiên cứu tác dụng chống xói mòn của một số loại cây phân xanh cho biết: đất trồng chè sau 4 năm, không được trồng cây phân xanh lượng đất bị mất 143 tấn/ha do xói mòn, khi trồng xen cây Crolataria lượng đất bị mất 15 tấn/ha, còn trồng cây Cymbopogon lượng đất chỉ mất có 10 tấn
Bón phân hữu cơ cho chè ngoài việc cung cấp thức ăn cho cây, còn có tác dụng cải thiện tính chất vật lý, hóa học, sinh vật học và chế độ nước trong đất Nguồn phân hữu cơ gồm có phân chuồng, phân trấp, phân xanh và các nguyên liệu
ép xanh (dùng cành lá sau khi đốn vùi vào giữa hai hàng chè)
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
Kết quả thí nghiệm của Christian Bruns và Christian Schüler (2000) cũng cho thấy nếu phân hữu cơ (làm từ phân người, gia súc và cây xanh) có bổ sung thêm
Bacillus Subtilus, Lactobaccillus Rhammossus, Bacillus Polymyxa bón cho chè thì chất
hòa tan trong chè tăng từ 47,31% (chỉ bón phân hữu cơ) lên 51,01% (bón phân hữu cơ
vi sinh)
Tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, kết quả điều tra của Zhao và cộng sự (2005) cho thấy: tình hình sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp ủ thành phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp tăng dần Khoảng 77% nông dân sử dụng 60% sản phẩm phụ của cây trồng vụ trước cho các cây trồng vụ sau, 18% hộ nông dân sử dụng 90% sản phẩm phụ cho cây trồng vụ sau
Viện Lân và Kali của Canada (1995) xác nhận 80% tổng số kali cây lấy đi nằm trong xác, bã cây Nếu các xác bã thực vật này được hoàn lại cho đất đã canh tác thì chúng sẽ cung cấp một lượng kali đáng kể cho các cây trồng vụ sau
Cung cấp mùn hữu cơ đã được hoạt hoá, các dưỡng chất cân đối và hợp lý cho cây Chè, các tập đoàn Vi sinh vật hữu ích, cải tạo và tăng độ phì nhiêu cho đất Giúp cây giữ ẩm, chịu hạn, chịu rét, tăng sức đề kháng sâu bệnh Nâng cao hiệu suất
sử dụng và đẩy nhanh quá trình hấp thu dinh dưỡng khoáng của cây Kích thích phát triển bộ rễ và hệ chồi búp, lá xanh dày, cây sinh trưởng mạnh, tăng hiệu suất quang hợp và quá trình sinh tổng hợp chất, nâng cao sản lượng và chất lượng chè thu hái
Các vùng trồng mía lớn trên thế giới (Ấn Độ, Trung Quốc, Cuba, ) cũng có cách thức trả lại ngọn lá mía cho đất để làm dinh dưỡng cho vụ sau thông qua kỹ thuật ủ tạo phân hữu cơ Van Dillewijn (1952) phân tích thấy bộ phận ngọn và lá mía chiếm 62% N, 50% P2O5 và 55% K2O trong tổng số của bộ phận thu hoạch Như vậy
có nghĩa nếu trả lại ngọn lá mía bón lại cho vụ sau thì cung cấp một lượng dinh dưỡng tương đối lớn cho cây
Các nghiên cứu, áp dụng công nghệ EM đạt được kết quả một cách rộng rãi trong lĩnh vực xử lý môi trường, chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến phân bón vi sinh cho cây trồng Qua các báo cáo khoa học tại các Hội nghị Quốc tế về công nghệ EM cho thấy công nghệ EM có thể gia tăng cân bằng sinh quyển, tính đa dạng
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
của đất nông nghiệp, tăng chất lượng đất, khả năng sinh trưởng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp Vì thế, các nước trên thế giới đón nhận EM là một giải pháp để đảm bảo cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Nhiều nhà máy, xưởng sản xuất EM đã được xây dựng ở nhiều nước trên thế giới và đã sản xuất được hàng ngàn tấn EM mỗi năm như: Trung Quốc, Thái Lan (hơn 1000 tấn/năm), Myanmar, Nhật Bản, Brazil (khoảng 1.200 tấn/năm), Srilanca, Nepal, Indonesia (khoảng 50 - 60 tấn/năm)
Đánh giá vai trò của phân hữu cơ và khả năng thay thế phân hoá học, Gill và cộng sự đã chỉ ra rằng sử dụng phân chuồng với mức 12 tấn/ha kết hợp với 80 kg N cho năng suất tương đương với mức 120 kg N Ngoài ra các tính chất vật lý và hoá học đất cũng được thay đổi đáng kể sau 3 năm thí nghiệm liên tục hàm lượng hữu
cơ tăng 0,072 % so với đối chứng, hàm lượng lân tăng 0,15 mg/kg và kali dễ tiêu cũng tăng đáng kể so với đối chứng
Nghiên cứu dài hạn về ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn phụ phẩm nông
nghiệp (đã xử lý thành phân bón hữu cơ) trên đất phiến thạch sét tại Brazil của Diekow và cộng sự (2005); sau 17 năm đã chỉ ra rằng, trong công thức luân canh với sử dụng tối đa nguồn hữu cơ từ thân lá ngô và cây họ đậu đã làm tăng hàm lượng các bon trong tầng đất mặt (0-17,5 cm) 24% và đạm tổng số tăng 15% và hàm lượng kali dễ tiêu cũng tăng 5% so với đối chứng với công thức đối chứng độc
canh hai vụ ngô
Sự giảm độ phì của đất là do sự khai thác đất và xói mòn đất kết hợp với việc cung cấp không đầy đủ chất hữu cơ và không thực hành bảo vệ tài nguyên đất Ước lượng có khoảng 30cm đất mặt bị mất đi từ vùng đất dốc đến cuối thể kỉ 20 từ khi chè bắt đầu được trồng tương đương với 40 tấn/ha/năm Để đất trồng chè bền vững trong một thời gian dài thì phải có kế hoạch quản lí, bảo vệ đất dốc Nguồn Carbon hữu cơ trong đất có thể được cải thiện trong suốt quá trình bón phân hữu cơ
Từ năm 1992 - 1997, Quỹ Kellogg, W K tài trợ thử nghiệm bón phân hữu cơ được bổ sung thêm một số loài vi sinh vật có ích thuộc 2 chi: Bacillus, Pseudomonas có khả năng phân giải lân, kali tại 2 vùng trồng chè trọng điểm của
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
Srilanca và nhận thấy năng suất chè tăng 9 – 14% so với đối chứng có bón phân hữu
cơ và tăng 17% so với đối chứng không sử dụng 2 loại phân bón này
Người ta rất coi trọng hiệu quả về sau của việc bón phân hữu cơ cho chè Kết quả nghiên cứu của N.L.Bziava (1973) cho thấy trung bình 16 năm, phân chuồng làm tăng sản lượng búp 18%, phân xanh 16% và phân trấp 9%
Theo quy trình hiện nay đối với chè kinh doanh 3 năm, bón phân hữu cơ một lần với liều lượng 25 tấn/ha
1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây chè ở Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu đang gây ra những tác hại nhất định đến chất lượng nông sản, đến môi trường sinh thái Đã đến lúc cần thiết phải thay đổi quan điểm về dinh dưỡng cây trồng theo hướng hữu cơ vi sinh để bảo vệ môi trường, môi sinh Chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây và đất trồng là
sử dụng cân đối phân bón hoá học và phân bón sinh học cho cây trồng phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng và điều kiện đất đai, khí hậu, trong đó phân bón sinh học có vai trò vô cùng quan trọng Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật sống tồn tại trong đất, nước và vùng rễ cây có ý nghĩa quan trọng trong các mối quan hệ giữa cây trồng, đất và phân bón Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vật (mùn hoá, khoáng hoá chất hữu cơ, phân giải, cố định chất vô cơ v.v.) Vì vậy từ lâu vi sinh vật đã được coi là một bộ phận của hệ dinh dưỡng cây trồng tổng hợp
Kết quả nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thanh Đoàn và Nguyễn Văn Toàn (2013) cho thấy: bón bổ sung các loại phân hữu cơ sinh học thay thế một phần phân khoáng làm tăng năng suất, chất lượng cũng như cải thiện độ tính chất đất Bón bổ sung các loại phân hữu cơ sinh học thay thế một phần phân khoáng, năng suất tăng
từ 2,7 - 16,6% Trong đó bón bổ sung phân hữu cơ sinh học Sông gianh cho năng suất và sản lượng cao nhất, cao hơn đối chứng 16,6% Sau 3 năm tiến hành thí nghiệm độ xốp đất tăng từ 58,85 (phân HCSH Quế Lâm) đến 60,07% (phân HCSH Sông gianh); CHC tăng từ 3,18 (phân HCSH Quế Lâm) đến 3,26% (phân HCSH chuyên dùng cho chè)
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
Với chè giai đoạn đầu kinh doanh, Đinh Thị Ngọ (1996), cho thấy: cùng tổng lượng bón N + P2O5 + K2O là 200 kg/ha, tỷ lệ bón phối hợp N : P : K khác nhau, chè cho năng suất khác nhau Các tỷ lệ phối hợp có N chiếm tỷ lệ cao chè cho năng suất cao hơn, tỷ lệ phối hợp N : P : K = 2 : 2 :1 chè cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế Về sử dụng phân khoáng, qua kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy vai trò của N đối với sự tăng sinh khối của chè KTCB rất rõ Về tác dụng tăng sinh khối
có thể xếp thứ tự như sau: N>P>K
Theo nghiên cứu 10 năm liên tiếp của trại chè Phú Hộ về việc bón phân N, P,
K thấy trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 P2O5/ha trong từng năm không có chênh lệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu do phân bón là rất rõ rệt qua 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng được 3,5 kg chè búp tươi
Kết quả 10 năm (1969-1979) nghiên cứu về phân bón NPK cho chè ở Trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy, khi bón đạm và kali cho giống chè Trung Du có tác dụng rõ về năng suất và chất lượng búp chè, hàm lượng tannin và chất hòa tan đều cao Tỷ lệ phối hợp bón NPK cho chè hợp lý là 3:1:1 Kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Ngọ (1998) về bón phân cho các giống chè cho thấy, các giống chè và tuổi chè khác nhau có yêu cầu lượng phân bón khác nhau
Đối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất nhờ làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất, làm tăng các thành phần dinh dưỡng: N, P, K
và các nguyên tố vi lượng khác trong đất Tuy nhiên việc sử dụng phân bón hữu cơ cho chè ít được quan tâm vì đồi chè thường xa nhà, lại có độ dốc đáng kể do vậy việc vận chuyển phân bón lên đồi chè là một công việc khó khăn, nông dân, công nhân ngại làm vì tốn công và nguồn phân hữu cơ còn hạn chế Ngoài ra cần chú ý rằng bón phân hữu cơ cho chè, thuận lợi nhất là khi chè còn nhỏ và khi gieo trồng,
do vậy khi gieo trồng chè nhất thiết phải bón đủ lượng phân hữu cơ và trồng xen với các cây họ đậu nhằm tăng lượng hữu cơ cho đất
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
Sự canh tác đi liền với thời gian cộng vào đó là do mưa, nắng không ngừng tác động làm hao mòn, cuốn trôi và làm mất lớp đất màu mỡ bề mặt Các chất dinh dưỡng trong đất bay hơi và cuốn trôi ra khỏi tầm rễ ăn tới của cây trồng Cứ như thế, đất ngày càng trở nên cằn cỗi, nghèo nàn và cây trồng trên đất sẽ còi cọc và kém phát triển chứ không được xanh tươi, hoa trái xum xuê như lúc đầu canh tác Như chúng ta đã biết, để khắc phục tình trạng trên, muốn giữ vững và tăng cường độ phì nhiêu cho đất, chúng ta phải hoàn trả lại cho đất những chất khoáng dinh dưỡng mà cây trồng và mưa, nắng đã lấy đi của đất, bồi hoàn cho đất những chất mùn để chúng có khả năng giữ chất màu cho đất và làm cho đất luôn giữ được kết cấu tốt
Phân hữu cơ sinh học có chứa những chất giúp cho đất khắc phục được tình trạng trên Phân hữu cơ sinh học được bón cho đất để đất để tạo ra cây, trái sạch, như: Chè, dứa, cà phê
Cách bón phân hữu cơ sinh học tốt nhất là kết hợp với phân hoá học một cách hài hoà và cân đối theo từng loại cây trồng Muốn để vừa tốt lá, vừa nhiều quả, nặng hạt, ta cần bón phân hợp lý Nếu trên đất màu mỡ ta chỉ cần bón phân hữu cơ sinh học kết hợp với phân tổng hợp NPK Đối với cây ăn quả, ta có thể hạn chế sự phát triển cành, lá bằng cách không bón bằng phân vô cơ mà bón lót bằng phân hữu
cơ sinh học, đồng thời tăng cường thêm một lượng lân Supe và Kali để tạo ra sự cân bằng và dinh dưỡng cho cây, tăng độ mùn cho đất, giữ được độ ẩm và chống được sâu bệnh Dùng phân hữu cơ sinh học còn giúp bảo vệ môi trường và góp phần không làm dư thừa hóa chất trong sản phẩm Sản xuất lương thực, thực phẩm mà dùng đủ lượng phân bón vô cơ và hữu cơ sẽ ngăn ngừa và làm cây trồng tăng sức đề kháng đối với bệnh tật
Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ sinh học thay thế một phần phân khoáng bón cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ song phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ được hết hiệu quả Sử dụng phân hữu cơ
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
sinh học thay thế dần dần và tiến tới loại bỏ các loại phân khoáng đối với cây chè,
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tác động đến năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện môi trường, cải thiện độ phì cho đất
Tùy thuộc nhu cầu của sản xuất mà có thể phối trộn các loại phân nguyên liệu sao cho cây trồng phát triển tốt nhất mà không cần phải bón bất kỳ các loại phân đơn nào Phân HCSH có thể dùng bón lót hoặc bón thúc Loại phân này có hàm lượng dinh dưỡng cao nên khi bón trộn đều với đất Nếu sản xuất phù hợp cho từng loại cây trồng thì đây là loại phân hữu cơ tốt nhất Phân bón hữu cơ sinh học được sự trợ giúp của vi sinh vật chuyên biệt có khả năng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hóa các phế thải hữu cơ thành phân bón
Thông thường trong các nhóm vi sinh vật chuyển hóa xenlulo và Ligno Xenlulo là các loài Aspegillus Niger, Trichoderma reesei, Aspegillus sp., Penicillium sp., Paeceilomyces sp., Trichurus spiralis, Chetomium sp Nhóm nấm đối kháng Trichoderma hiện nay đang được ứng dụng rất rộng rãi trong công nghệ sản xuất phân hữu cơ sinh học hiện nay ở Việt Nam Phân hữu cơ sinh học có phối trộn thêm nấm đối kháng Trichoderma là lọai phân có tác dụng rất tốt trong việc phòng trừ các bệnh vàng lá chết nhanh, còn gọi là bệnh thối rễ do nấm Phytophthora palmirova gây ra Hay bệnh vàng héo rũ hay còn gọi là bệnh héo chậm do một số nấm bệnh gây ra: Furasium solari,Pythium sp, Sclerotium rolfosii…
Các sản phẩm phân hữu cơ sinh học hiện có trên thị trường với chất lượng tốt
và có uy tín như nhóm sản phẩm phân hữu cơ Cugasa của Công Ty Anh Việt, phân
VK của Công ty Viễn Khang, phân hữu cơ Phaga, Trimix của Công ty Phaga, phân bón HCSH Quế Lâm, phân bón hCSH của công ty cổ phần nông nghiệp hữu cơ,
Tiềm năng sử dụng phân bón hữu cơ sinh học trong canh tác cây trồng rất lớn, là một hướng đi đúng đắn, hướng tới một nền nôngnghiệp hữu cơ, sinh thái bền vững và thân thiện với môi trường
Theo tác giả Hà Thị Thanh Đoàn và cộng sự (2013) thì: xử lý thân cành lá chè bằng các chủng vi sinh vật tuyển chọn đã làm tăng năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất chè theo hướng có lợi cho người sử dụng Đây là một trong những
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
nhân tố có ý nghĩa trong việc chế biến phân hữu cơ tại chỗ tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp cho cây chè Ở năm thứ 2: Khi xử lý cành lá chè đốn bằng các chủng vi sinh vật có sự sai khác rõ rệt giữa các công thức Trong đó, công thức 5 (xử lý cành
lá chè + 100% NPK) cho năng suất cao nhất đạt 140,52 tạ/ha) Công thức 4 (xử lý cành lá chè + 70% NPK) đạt năng suất chè là 123,04 tạ/ha tương đương với công thức 5 (không xử lý cành lá chè + 100% NPK)
Viện Nghiên cứu chè đã cùng phối hợp với tổ chức SIDSE, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tiến hành khảo nghiệm ứng dụng phân vi sinh, phân ủ trên chè
1998 - 2000 Mục đích tìm dạng phân khác thay thế phân hoá học làm cho đất ngày càng phì nhiêu, năng suất chè ổn định, sản phẩm an toàn có lợi cho sức khoẻ con người và môi trường Giảm dần đến mức không dùng thuốc trừ sâu hoá học thay thế bằng quản lý dịch hại tổng hợp IPM và sử dụng các loại thuốc trừ sâu sinh học khác
Dẫn theo Nguyễn Thị Dần (1980), thí nghiệm được tiến hành tại Viện Nghiên cứu chè Phú Hộ Qua nghiên cứu 3 năm kết quả cho thấy: thay thế phân
vô cơ (NPK) bằng phân ủ (Compost) + phân vi sinh không phun thuốc trừ sâu Năng xuất giảm 28 - 40% so với sản xuất theo quy trình bình thường có bón đủ phân vô cơ và phun thuốc Tuy nhiên, bón phân ủ + phân vi sinh làm cho lý hoá tính đất được cải thiện Khi không phun thuốc trên chè đã làm cho số lượng thiên địch tăng lên Bằng biện pháp canh tác + kết hợp cây che bóng phần lớn thành phần sâu hại chính (nhện đỏ, bọ trĩ, rầy xanh) và các bệnh trên chè không hề ảnh hưởng đến năng xuất, duy có một đối tượng bọ xít muỗi gây hại thành dịch ảnh hưởng lớn nhất đến sản lượng
Theo tác giả Vũ Cao Thái (1996 ), việc sử dụng phân bón cân đối là một tiền
đề duy trì năng suất cao và tiết kiệm phân bón Sử dụng phân bón không cân đối có thể dẫn đến thoái hóa đất và suy giẩm sức sản suất của cây Mục tiêu của sử dụng phân bón cân đối là tăng năng suất cât trồng, chất lượng nông sản, hiệu chỉnh sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng của cây trồng mà đất thiếu, duy trì, nâng cao độ phì nhiêu của đất
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
Nguyễn Hữu Phiệt (1966 - 1967) (Trường Trung cấp, Bộ Nông trường) sử dụng tế, guột, rơm rạ, cành lá chè không qua xử lý tủ cho chè kinh doanh trên đất phiến thạch và phù sa cổ tại Nông trường Quốc doanh Tân Trào và trại thí nghiệm của Trường Trung cấp Nông lâm Tuyên Quang cho thấy độ ẩm đất chè tầng 0 - 30cm có tủ cỏ tăng hơn so với đối chứng là 4,57 - 5,56 % ở đất diệp thạch và 6,50%
ở đất phù sa cổ; nhiệt độ đất chè cỏ tủ tầng đất mặt 10cm và tầng đất 30cm thấp và
ổn định nên lợi cho hoạt động vi sinh vật thể hiện bằng lượng CO2 đo được; hàm lượng mùn và đạm dễ tiêu đất chè có tủ sau 5 tháng đều tăng hơn so đối chứng; chè con có tủ có tốc độ sinh trưởng gấp 2 lần so đối chứng; NTQD Tân Trào có tủ chè góp phần tăng năng suất chè Trung Du lên trên 25 tấn búp/ha
Cũng trong những năm 1970, các Nông trường Quốc doanh Mộc Châu, Sông Cầu và Chí Linh phát động phong trào tủ cỏ tế cho chè kinh doanh Kết quả tác dụng rất tốt, chống được xói mòn, cỏ dại, tăng được chất mùn cho đất, và tăng được sản lượng búp ở Mộc Châu đạt 146,6% so đối chứng không tủ
Theo Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1999); thí nghiệm về hiệu lực của phân chuồng và phân đạm đối với chè búp cho thấy bón phối hợp hai loại đã tăng năng suất chè lên 2 - 2,5 lần so với không bón
Việc sử dụng phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam, không những làm cho môi trường trở nên sạch, đất tơi xốp, dễ canh tác, giữ nước và chống được xói mòn, mà còn trả lại cho đất những phần dinh dưỡng mà cây lấy đi, giảm thiểu được việc lạm dụng phân bón hóa học, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp hữu cơ sạch, an toàn
Nhận thức được vai trò của phân bón vi sinh vật từ những năm đầu của thập
kỷ 80 nhà nước ta đã triển khai hàng loạt các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp giai đoạn 1986 – 1990 và chương trình công nghệ sinh học các năm 1991 -1995, 1996-1998 (Phạm Văn Toản, 2002)
Năm 2003, Phạm Văn Toản, Phạm Bích Hiên đã nghiên cứu tuyển chọn một
số chủng Azotobacter đã hoạt tính sinh học sử dụng cho sản xuất phân bón vi sinh
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
vật chức năng Kết quả đã xác định được 9 chủng Azotobacter có khả năng cố định nitơ, sinh tổng hợp IAA và ức chế vi khuẩn héo xanh Hầu hết các chủng Azotobacter đều có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ thích hợp là 25 – 300C và pH từ 5,5 – 8,0 Đồng thời cũng tuyển chọn được 3 chủng Azotobacter vừa có hoạt tính sinh học cao, vừa đa hoạt tính, có các điều kiện sinh trưởng và phát triển thích hợp với điều kiện sản xuất và ứng dụng phân bón vi sinh vật ở nước ta
Năm 2005, đề tài về “Nghiên cứu công nghệ sản xuất phân bón vi sinh vật đa chủng, phân bón chức năng phục vụ chăm sóc cây trồng cho một số vùng sinh thái” thuộc chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sinh học (KC.04.04) được thực hiên Đề tài trên đã giải quyết được nhiều vấn đề, như thu thập, phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật đối kháng, vi khuẩn/vi nấm gây bệnh vùng rễ cây trồng cạn từ nguồn gen vi sinh vật có sẵn và từ các mẫu đất và rễ cây trồng Nghiên cứu đặc điểm di truyền và định danh vi sinh vật đa chức năng….Đánh giá tính chất chức năng của các tổ hợp vi sinh vật tuyển chọn đối với cây trồng Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất và sản xuất thử nghiệm phân bón vi sinh vật cố định nitơ sử dụng cho cà chua, khoai tây, lạc, một số cây trồng công nghiệp và lâm nghiệp Đánh giá hiệu quả của phân bón sinh vật cố định nitơ đối với cà chua,khoai tây, lạc, tiêu, cà phê, bong, keo và thông Sản xuất thử nghiệm phân bón vi sinh vật cố định nitơ …(Phạm Văn Toản và ctv, 2005)
Cung cấp chất hữu cơ quan trọng cho đất, giúp cải tạo tính chất lý hoá của đất Nông nghiệp bền vững không thể không sử dụng phân hữu cơ vi sinh Đây là yếu tố quan trọng phục vụ thâm canh bảo đảm năng suất cao ổn định và nâng cao độ phì nhiêu của đất
Đất trồng chè ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè nhờ có độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn một mét và thoát nước Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ Vì thế vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè và cải tạo kết
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
cấu vật lý của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây chè bị hại Bởi thế không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất
có độ pH quá thấp, dưới 4
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Toàn và cộng sự (2006), Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi Phía Bắc, cho thấy việc bón phân hữu cơ kết hợp với vô cơ năng suất chè tăng 30-32% so với việc sử dụng riêng rẽ phân vô cơ Người ta rất coi trọng hiệu quả về sau của việc bón phân hữu cơ cho chè Yêu cầu về đạm thay đổi tùy theo loại đất tuổi của cây và năng suất của vườn chè Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ, cho thấy bón đạm đầy đủ, sản lượng búp chè tăng 2 - 2,5 lần so với đối chứng không bón
Theo TS Nguyễn Văn Toàn, TS Nguyễn Thị Ngọc Bình (2007) thử nghiệm phân lân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho cây chè Trung Du trồng tại Tân Cương, Thái Nguyên cho thấy 6 công thức có bón phân hữu cơ vi sinh đều làm tăng mật độ búp so với công thức đối chứng không bón phân vi sinh Sự sai khác trong các nhóm công thức là có ý nghĩa Trong đa số trường hợp khi thêm 30% lượng phân khoáng bằng phân hữu cơ tương ứng đều làm tăng mật độ búp ngoại trừ với trường hợp phân hữu cơ Fito
Khi xét đến năng suất tươi sau mỗi lứa hái kết quả phân tích sai số ban đầu cho thấy sử dụng 3 loại phân bón hữu cơ này đã ảnh hưởng đến năng suất búp tươi chè xanh Tân Cương giai đoạn kinh doanh so với công thức đối chứng không bón phân hữu cơ vi sinh Khi thay thế 50% theo giá trị đầu tư phân bón hóa học bằng phân hữu cơ vi sinh cho hiệu quả kinh tế cao nhất
Bón phân khoáng cân đối và bổ sung phân hữu cơ đều làm tăng sản lượng chè Nhưng liều lượng NPK thích hợp cho nương chè còn phụ thuộc vào tính chất lý hóa của đất, tuổi chè và yếu tố tác động các các yếu tố sinh thái
Khi thay thế dần phân hoá học bằng phân hữu cơ và phân ủ (Compost) năng suất chè không giảm, chất lượng chè được cải thiện Khi kết hợp 30 tấn phân ủ
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
(Compost) + NPKMg 3 : 1,5: 1 : 0,3 đã làm cho năng suất chè tăng 15% so đối chứng, chất lượng chè được cải thiện
Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ vinh sinh thay thế một phần phân khoáng bón cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ song phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ được hết hiệu quả Sử dụng phân hữu cơ vi sinh thay thế dần dần và tiến tới loại bỏ các loại phân khoáng đối với cây chè, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tác động đến năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện môi trường, cải thiện độ phì cho đất
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là giống chè PH1 tuổi 10
Phân bón: đạm ure (46%N); Super lân (16% P2O5); kali clorua (60% K2O) Phân hữu cơ sinh học Quế Lâm Thành phần: Độ ẩm: 30%; Hữu cơ: 15%;
P2O5hh: 1,5%; acid humic: 2,5%; trung lượng: Ca:1%; Mg:0,5%; S:0,3%
Phân hữu cơ sinh học NPK 3-2-2 Thành phần: hữu cơ: 23%; N- P2O5 (hh)-
K2O: 3-2-2; CaO : 0,5; MgO: 0,5; Vi lượng (ppm): Cu: 50; Zn: 100; B: 150
Phân hữu cơ vi sinh Bông lúa vàng Thành phần: Độ ẩm: 25%; Hữu cơ: 23%;
Đa lượng Nts: 4%, P2O5hh: 2%, K2Ohh: 2%; Trung lượng Ca: 2%, Mg: 1,5%; Vi lượng (ppm): B: 600, Mn: 600, Zn: 600, Cu: 600 Vi sinh vật hữu ích: Bacillus mycoidec, Rhizobium, Aspergillus fumigatus: 1 x 106 CFU/g mỗi loại
2.1.2 Thời gian, địa điểm
+ Thời gian nghiên cứu: từ Tháng 9/2013 – 10/2014
+ Địa điểm: xã Ba Trại - Huyện Ba Vì – Hà Nội
2.2 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân hữu cơ sinh học Quế Lâm đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
Thí nghiệm gồm 4 công thức được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại Một ô thí nghiệm có diện tích là 200m2 Tổng diện tích thí nghiệm (bao gồm cả diện tích dải bảo vệ) là 2.500 m2
+ Cách bón: phân lân và phân Hữu cơ sinh học bón sau đốn (tháng 11)
Phân Đạm, Kali chia làm 4 lần bón (tháng 3: 35%; tháng 5: 25%; tháng 7: 20%; tháng 9: 20%)
2.3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân hữu
cơ sinh học Quế Lâm đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè
Thí nghiệm gồm 4 công thức được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại Một ô thí nghiệm có diện tích là 200m2 Tổng diện tích thí nghiệm (bao gồm cả diện tích dải bảo vệ) là 2.500 m2
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
CT1: Bón 100 kg N+ 50 kg P2O5 + 50 kg K2O + 1 tấn phân hữu cơ sinh học Quế Lâm (đối chứng)
CT2: Bón 100 kg N+ 50 kg P2O5 + 50 kg K2O + 1,5 tấn phân hữu cơ sinh học Quế Lâm
CT3: Bón 100 kg N+ 50 kg P2O5 + 50 kg K2O + 2 tấn phân hữu cơ sinh học Quế Lâm
CT4: Bón 100 kg N+ 50 kg P2O5 + 50 kg K2O + 2,5 tấn phân hữu cơ sinh học Quế Lâm
+ Cách bón: phân lân và phân hữu cơ sinh học bón sau đốn (tháng 11)
Phân Đạm, Kali chia làm 4 lần bón (tháng 3: 35%; tháng 5: 25%; tháng 7: 20%; tháng 9: 20%)
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng
Chọn cây đại diện theo phương pháp ngẫu nhiên Mỗi công thức chọn 5 cây, với 3 lần nhắc là 15 cây theo dõi Các chỉ tiêu theo dõi gồm:
- Chi ều cao cây (cm)
Phương pháp đo: Dùng một khung vuông có có kích thước bằng diện tích tán chè đặt lên mặt tán thăng bằng song song với mặt đất, chiều cao cây đo từ cổ rễ đến
bề mặt khung vuông Chiều cao cây là trung bình của các lần đo