1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội

121 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 8,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM PHẠM THỊ TƯƠI NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT BÓN PHÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

PHẠM THỊ TƯƠI

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT BÓN PHÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA TH3 - 7 VỤ XUÂN 2013 TRÊN ĐẤT GIA LÂM, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM THỊ TƯƠI

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT BÓN PHÂN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA TH3 - 7 VỤ XUÂN 2013 TRÊN ĐẤT GIA LÂM, HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HÀ THỊ THANH BÌNH

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của tôi Tất cả các những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được

cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Người viết cam đoan

Phạm Thị Tươi

Trang 4

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong Bộ môn Canh tác học, các thầy cô giáo trong Khoa Nông học, Ban quản lý đào tạo– những người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị 0 tới tất cả người thân, bạn bè, gia đình – những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình hoàn thiện bản luận văn này

Luận văn này khó tránh khỏi còn có những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, bạn đọc và xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 4 tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Phạm Thị Tươi

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích và yêu cầu 2

2.1 Mục đích 2

2.2 Yêu cầu 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 4

1.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 4

1.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 9

1.2 Cơ sở lý luận của việc bón phân cho cây lúa 11

1.3 Phương pháp bón phân cho lúa 18

1.3.1 Các loại và các dạng phân bón sử dụng cho lúa 18

1.3.2 Vấn đề bón phân cân đối cho cây lúa 19

1.3.3 Lượng phân bón cho lúa ở những vùng trồng lúa chính ở Việt Nam 22

1.4 Một số kết quả nghiên cứu phân bón đối với cây lúa 24

1.4.1 Một số kết quả nghiên cứu về phân đạm đối với cây lúa 24

1.4.2 Một số kết quả nghiên cứu về phân lân đối với cây lúa 27

1.4.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân kali đối với cây lúa 29

Trang 6

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 31

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 32

2.3.2 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng 34

2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 34

2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 35

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa TH3-7 36

3.1.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng của TH3-7 36

3.1.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón và dạng phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây và tốc độ tăng tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa TH3-7 38

3.1.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón và dạng phân bón đến động thái đẻ nhánh và tốc độ đẻ nhánh của giống lúa TH3-7 42

3.1.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái ra lá của giống lúa TH3-7 trong vụ Xuân 2013 46

3.1.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến chỉ số diện tích lá của giống lúa TH3-7 48

3.1.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến khả năng tích lũy chất khô và tốc độ tích lũy chất khô 51

3.1.7 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính 54

3.1.8 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất 56

3.1.9 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến năng suất và hệ số kinh tế của giống lúa TH3-7 58

3.1.10 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến đến hiệu suất sử dụng NPK 61

Trang 7

3.2 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến sinh trưởng phát

triển và năng suất của giống lúa TH3-7 62

3.2.1 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa TH3-7 62

3.2.2 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống lúa TH3-7 71

3.2.3 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính 76

3.2.4 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất 77

3.2.5 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến năng suất và hệ số kinh tế của giống lúa TH3-7 79

3.2.6 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến hiệu suất sử dụng NPK 81

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83

1 Kết luận 83

2 Đề nghị 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm 5

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu thế giới năm 2012 6

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm 10

Bảng 1.4 Lượng hút dinh dưỡng liên quan đến giống lúa 12

Bảng 1.5 Lượng chất khô N, P2O5, K2O do cây lúa hút theo từng giai đoạn sinh trưởng 13

Bảng 1.6 Thay đổi tỉ lệ bón N : P2O5 : K2O theo thời gian 22

Bảng 1.7 Thay đổi tỉ lệ bón N : P2O5 : K2O cho lúa tại miền Bắc Việt Nam 22

Bảng 1.8 Lượng phân bón cho lúa 23

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến thời gian sinh trưởng của giống lúa TH3-7 36

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa TH3-7 39

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa TH3-7 41

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái đẻ nhánh của giống lúa TH3-7 43

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến tốc độ đẻ nhánh của giống lúa TH3-7 44

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái ra lá của giống lúa TH3-7 47

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón và dạng phân bón đến chỉ số diện tích lá của giống lúa TH3-7 48

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến khối lượng chất khô và tốc độ tích lũy chất khô của giống lúa TH3-7 52

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chínhcủa giống lúa TH3-7 55

Trang 10

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng

suất của giống lúa TH3-7 56 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến năng suất và hệ số kinh tế

của giống lúa TH3-7 59 Bảng 3.12 Hiệu suất sử dụng NPK ở các tỷ lệ và dạng phân bón khác nhau 61 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến thời gian sinh

trưởng của giống lúa TH3-7 63 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái tăng

trưởng chiều cao cây của giống lúa TH3-7 65 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến tốc độ tăng

trưởng chiều cao cây của giống lúa TH3-7 67 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái đẻ

nhánh của giống lúa TH3-7 68 Bảng 3.17 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến tốc độ đẻ

nhánh của giống lúa TH3-7 69 Bảng 3.18 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái ra lá

của giống lúa TH3-7 70 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến chỉ số diện tích

lá của giống lúa TH3-7 71 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến khả năng tích

lũy chất khô và tốc độ tích lũy chất khô của giống lúa TH3-7 74 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến mức độ nhiễm

một số sâu bệnh hại chính của giống lúa TH3-7 76 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến các yếu tố cấu

thành năng suất của giống lúa TH3-7 78 Bảng 3.23 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến năng suất và

hệ số kinh tế của giống lúa TH3-7 80 Bảng 3.24 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến hiệu suất NPK của

giống lúa TH3-7 81

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái tăng trưởng

chiều cao cây của giống lúa TH3-7 40 Hình 3.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái đẻ nhánh của

giống lúa TH3-7 45 Hình 3.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến chỉ số diện tích lá của

giống lúa TH3-7 50 Hình 3.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón và dạng phân bón đến khối lượng chất

khô của giống lúa TH3-7 vụ Xuân 2013 53 Hình 3.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến năng suất của giống lúa

TH3-7 60 Hình 3.6 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái tăng

trưởng chiều cao cây của giống lúa TH3-7 66 Hình 3.7 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái đẻ

nhánh của giống lúa TH3-7 69 Hình 3.8 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến chỉ số diện

tích lá của giống lúa TH3-7 72 Hình 3.9 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến khả năng tích

lũy chất khô của giống lúa TH3-7 74 Hình 3.10 Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến năng suất của

giống lúa TH3-7 80

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Lúa (Ozyra sativar L.) là một trong những cây lương thực chủ yếu, được

trồng cách đây hàng nghìn năm, có vai trò quan trọng trong đời sống, văn hóa và lịch sử phát triển của loài người Hiện nay, trên thế giới có hơn 100 nước trồng lúa, chủ yếu tập trung ở châu Á Lúa gạo ảnh hưởng tới đời sống của ít nhất 65% dân số thế giới trong đó có khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng ngày

Ở Việt Nam, nghề trồng lúa đã có cách đây hơn 4000 năm, gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Lúa gạo là nguồn lương thực chính, không thể thiếu được trong mỗi bữa cơm gia đình hay tiệc tùng Trước năm

1989, dân ta thiếu lương thực, phải đi nhập khẩu và xin viện trợ của nước ngoài

Từ thập niên 90 trở lại đây, Việt Nam đã không những thỏa mãn nhu cầu lương thực trong nước mà còn trở thành một trong những nước xuất khẩu lúa gạo đứng đầu trên thế giới

Đạt được thành tựu đó, trước hết là do sự thay đổi chính sách quản lý và sản xuất nông nghiệp Sau đó là do áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa, việc đầu tư thâm canh, áp dụng giống mới, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuật

Phân bón là yếu tố đầu vào quan trọng nhất để đảm bảo năng suất cây trồng, chất lượng nông sản và ổn định độ phì nhiêu của đất Chính vì ý nghĩa to lớn như vậy nên phân bón được sử dụng rộng rãi cho tất cả các loại cây trồng, trong đó cây lúa sử dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 70% tổng lượng phân bón sản xuất và nhập khẩu hàng năm của nước ta

Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng phân bón hiện nay chưa cao, nhiều nơi chỉ đạt dưới 50%, không chỉ gây ra thất thoát lớn về kinh tế mà còn làm ô nhiễm môi trường gây ra phú dưỡng nguồn nước ảnh hưởng xấu đến chất lượng nông sản Nguyên nhân

cơ bản của hiệu quả phân bón thấp là do nông dân chưa tuân thủ nguyên tắc 8 đúng trong sử dụng phân bón Đó là: Đúng đất, đúng cây, đúng liều lượng, đúng tỷ lệ, đúng chủng loại, đúng thời gian, đúng phương pháp và đúng diễn biến thời tiết

Trang 13

TH3-7 là giống lúa lai hai dòng được lai tạo giữa dòng mẹ T1S-96BB và

dòng bố R7 do PGS, TS Nguyễn Thị Trâm và cộng tác viên Viện Nghiên cứu và phát triển cây trồng - Học viện Nông nghiệp Việt Nam lai tạo và chọn lọc Giống TH3-7 có thể gieo cấy trong vụ Xuân và vụ Mùa ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Để khai thác tiềm năng năng suất của giống cần tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật thâm canh, đưa giống lúa TH3-7 trở thành giống lúa lai siêu cao sản Phân bón là cơ sở quyết định năng suất cây trồng nói chung và năng suất cây lúa nói riêng Vì vậy để tăng năng suất và phẩm chất lúa gạo thì việc xác định kỹ thuật bón phân có ý nghĩa rất quan trọng

Xuất phát từ yêu cầu trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát

triển và năng suất giống lúa TH3 -7 vụ xuân 2013 trên đất Gia Lâm, Hà Nội”

2 Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

Xác định tỷ lệ phân bón, lượng và dạng phân bón thích hợp cho giống lúa TH3-7, góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa TH3-7 trên đất phù sa sông Hồng

2.2 Yêu cầu

- Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của giống lúa TH3-7

- Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến khả năng chống chịu một

số loài sâu bệnh hại chính của giống lúa TH3-7

- Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân tới yếu tố cấu thành năng

suất và năng suất của giống lúa TH3-7

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo, góp phần định hướng cho việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng như đề xuất xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác cho giống lúa TH3-7

Trang 14

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tích cực cho việc chỉ đạo, hướng dẫn sản xuất nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế cũng như mở rộng sản xuất giống lúa TH3-7 tại Gia Lâm - Hà Nội

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới

Cây lúa là một trong những cây lương thực quan trọng đối với đời sống con người do vậy lúa được trồng và phân bố rộng khắp trên thế giới Theo số liệu của FAO lúa được trồng ở 112 nước với tổng diện tích gieo trồng trên 148 triệu

ha Diện tích trồng lúa trên thế giới phân bố không đều Gần 90% tổng diện tích tập trung ở châu Á, 4,6% châu Phi và 4,7% châu Mỹ Trong từng châu diện tích, năng suất của các vùng khác nhau không giống nhau Tại châu Á lúa được trồng

ở 26 nước trong số 45 quốc gia của châu lục Ở châu Mỹ lúa trồng ở 28 trong số

41 quốc gia trong số 53 Ở châu Âu lúa được trồng 11 trong số 28 nước còn ở châu úc và Đại dương 5 trong số 11 quốc gia có trồng lúa Châu Á sản xuất khoảng 92% tổng sản lượng lúa gạo thế giới, châu Mỹ (4,7%), châu Phi (2,7%), châu Úc và Đại dương sản xuất khoảng 0,2% tổng sản lượng lúa gạo của thế giới Mười nước châu Á: Bangledet, Myanma, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, CHDCND Triều Tiên, Thái Lan, Philippin và Nhật Bản sản xuất khoảng 90% sản lượng lúa gạo của châu Á và khoảng 88,6% sản lượng gạo của thế giới Riêng hai nước Ấn Độ và Trung Quốc sản xuất 67% tổng sản lượng lúa gạo của châu Á và khoảng 57% tổng sản lượng của thế giới Những nước dẫn đầu về năng suất lúa ở châu Á là CHDCND Triều Tiên (75 tạ/ha), Hàn Quốc (62 tạ/ha), Nhật Bản (59 - 62 tạ/ha), Trung Quốc (57- 58 tạ/ha)

Qua bảng 1.1 cho thấy, diện tích canh tác lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây có xu hướng tăng Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90 của thế

kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 80 Đến thập niên 90 và những năm đầu thế kỷ suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 2,38 tấn/ha năm 1970 lên 4,32 tấn/ha vào năm 2009 Điều này cho thấy “cuộc Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến bộ kỹ thuật

Trang 16

mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 17

tích trồng lúa trên toàn thế giới đạt mức 163,46 triệu ha Như vậy trong vòng 47 năm (từ năm 1965 đến năm 2012), diện tích trồng lúa trên toàn thế giới tăng gấp 1,3 lần, năng suất tăng 2,2 lần và sản lượng tăng gấp 2,8 lần Trong đó, các nước Châu Á vẫn giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo Trung Quốc,

Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Burma, Philippines, Brazil, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pakistan vẫn là 12 nước đứng đầu thế giới về sản xuất lúa gạo, với tổng sản lượng lúa gạo chiếm tới 89% tổng sản lượng lúa gạo của cả thế giới Sang những năm đầu của thế kỷ 21, người ta có xu hướng hạn chế sử dụng các chất hoá học tổng hợp trong thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất lượng hơn

là số lượng làm cho năng suất lúa có xu hướng chững lại hoặc tăng chút ít

Theo thống kê của FAO năm 2013 (bảng 1.2) cho thấy, trong 10 nước trồng lúa

có sản lượng lúa hàng đầu thế giới đã có 9 nước nằm ở châu Á, chỉ có một đại diện của châu khác đó là Brazil (Nam Mỹ), điều này chứng tỏ Châu Á là khu vực sản xuất lúa gạo hàng đầu thế giới Trung Quốc là nước đạt năng suất và sản lượng lúa cao nhất thế giới (chiếm gần 30% so với sản lượng lúa của toàn thế giới) Tiếp đến là Ấn Độ có sản lượng lúa gạo chiếm khoảng 21% sản lượng lúa gạo toàn thế giới

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lượng lúa

hàng đầu thế giới năm 2012

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (Triệu tấn)

Trang 18

Qua bảng 1.2 cho thấy: Nước có diện tích trồng lúa lớn nhất là Ấn Độ với diện tích canh tác lúa năm 2012 là 42,5 triệu ha, sản lượng lúa của Ấn Độ là 152,6 triệu tấn, chiếm 21,2% tổng sản lượng của thế giới năm 2012

Trung Quốc là một nước có dân số đông nhất thế giới, trong vài thập niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân đạt 65,9 tạ/ha, sản lượng đạt 197,26 triệu tấn (đứng đầu về sản lượng lúa trên thế giới) Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc

Thái Lan là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, diện tích canh tác lớn (Chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nước Vì vậy, cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện tích 10,96 triệu ha, năng suất bình quân 28,7 tạ/ha, sản lượng 31,5 triệu tấn và là nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Nhiệm vụ của các cơ sở này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốt phục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam Theo hướng này Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chất lượng nổi tiếng Thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin (Hương nhài)

Hiện nay, lúa gạo là nguồn lương thực căn bản của 39 nước và vùng địa lý trên thế giới, lúa gạo cung cấp từ 35 đến 59% nguồn năng lượng cho hơn 3 tỷ người Dân số thế giới hiện nay, trung bình tăng thêm 1 tỷ người sau 14 năm Diện tích cây trồng trên đầu người: 0,4 ha/năm (1996); 0,25 ha/năm (1998); và dự đoán còn 0,15

Trang 19

ha vào năm 2050 Thách thức đặt ra cho nhân loại là diện tích nông nghiệp giảm (1,5 tỷ ha) vào năm 2050, nước tưới cho nông nghiệp giảm, nhưng phải tăng sản lượng gấp đôi

Theo thống kê của FAO năm 2009 đã có 1,02 tỷ người thiếu đói (chiếm 14%) tập trung ở hai khu vực chính là châu Á và châu Phi Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA, 2007), tổng nhu cầu tiêu thụ gạo trung bình hàng năm của cả thế giới từ 410 triệu tấn (2004 - 2005), đã tăng lên đến khoảng 424,5 triệu tấn (2007), trong khi tổng sản lượng gạo sản xuất của cả thế giới luôn thấp hơn nhu cầu này Hàng năm thế giới thiếu khoảng 2 - 4 triệu tấn gạo, đặc biệt năm

2003 - 2004 sự thiếu hụt này lên tới 21 triệu tấn Cũng theo thống kê của FAO, trong năm 2010, có khoảng 925 triệu người thiếu đói trên toàn thế giới Trước

đó, trong suốt giai đoạn 2006 - 2008, con số này chỉ là 850 triệu người

Lương thực sản xuất trên thế giới ngày càng thiếu hụt trước nhiều yếu tố mà đặc biệt là các điều kiện thiên nhiên gây ra do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và

đà gia tăng dân số không kiểm soát được Trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán tại Mỹ, khu vực quanh Biển Đen, Ấn Độ đã đẩy giá lương thực tăng gấp đôi chẳng khác gì tình hình dẫn đến cuộc khủng hoảng lương thực năm 2007 - 2008 Chỉ riêng trong tháng 7 đầu năm 2012, giá lương thực toàn cầu đã tăng lên 10%, theo một báo cáo cuối tháng 8 của Ngân hàng Thế giới

Cũng trong báo cáo nêu trên, từ tháng 6 đến tháng 7/2012, giá lúa mì và ngô đã tăng 25%, giá đậu nành tăng 17%, chỉ có giá gạo là giảm đi 4% Ngân hàng Thế giới kết luận là giá lương thực tăng vọt sẽ đe dọa sự sống của người dân nghèo trên thế giới là chính, đặc biệt là ở châu Phi và vùng Trung Đông

Tình hình đáng báo động trên có lẽ sẽ tiếp diễn trong những năm tới vì áp lực của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng kéo theo hạn hán, lũ lụt, nước biển dâng… làm cho nhiều diện tích đất nông nghiệp không sử dụng được để sản xuất lương thực Hơn nữa, tại nhiều nước trên thế giới, diện tích đất nông nghiệp đang

bị thu hẹp vì có xu hướng dùng chúng để trồng cây tạo nhiên liệu sinh học Trong khi ấy, dân số thế giới ngày càng tăng, gây căng thẳng trong việc cung cấp lương thực cho một số dân ước tính là sẽ lên đến 9 tỷ người vào năm 2050 Với dân số 7

Trang 20

tỷ người như hiện nay, sản lượng lương thực trên thế giới vẫn chưa đủ và khoảng 1

tỷ người còn trong tình trạng thiếu đói; các nhà khoa học của Tổ chức Lương Nông Thế giới (FAO) tính rằng đến năm 2050, sản lượng lương thực cần phải tăng thêm 70%, một mục tiêu rất khó thực hiện

1.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp dựa trên sản xuất lúa gạo, trải qua hơn 4.000 năm lịch sử phát triển của cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của đất nước Nghề trồng lúa ở nước ta thuộc loại có lịch sử lâu đời nhất trong nghề trồng lúa ở nước Châu Á Nằm giữa vùng Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc biệt là lượng bức xạ cao, Việt Nam rất thích hợp với sự phát triển của cây lúa Với nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn có lượng phù sa bồi đắp tương đối bằng phẳng

và màu mỡ từ Bắc tới Nam (đồng bằng châu thổ sông Hồng, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long) cùng một loạt châu thổ nhỏ hẹp ở ven sông, ven biển miền trung tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của cây lúa nước

Trước năm 1975, diện tích trồng lúa cả nước dao động trong khoảng 4,42 - 4,94 triệu ha, năng suất có tăng nhưng rất chậm chỉ khoảng 700 kg/ha trong vòng 20 năm Sản lượng lúa hai miền chỉ trên dưới 10 triệu tấn Sau năm 1975, diện tích trồng lúa tăng khá nhanh và ổn định nhưng năng suất bình quân giảm sút khá nghiêm trọng

do đất đai mới khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai và sâu bệnh, cơ chế quản

lý nhà nước trì trệ không phù hợp

Trong những năm qua, chính phủ đã quan tâm cải tạo cơ sở hạ tầng cho các công trình thuỷ lợi, diện tích gieo trồng đã mở rộng hơn và hệ số luân canh tăng theo Nhiều vùng trước đây chỉ trồng một vụ lúa nay đã trồng được 2 - 3 vụ Sau khi giống lúa IR8 (Nông nghiệp 8) được nhập nội từ IRRI, Việt Nam đã mở đầu cuộc cách mạng xanh về cây lúa Sản lượng lương thực của Việt Nam những năm gần đây tăng bình quân trên 1 triệu tấn/năm Từ 1989 Việt Nam đã tự túc được lương thực và duy trì lượng gạo xuất khẩu ngày một tăng Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực Sản lượng lúa của Việt Nam từ 24,9 triệu tấn năm 1995 đã tăng lên 35,9 triệu tấn năm

2007 (Niên giám thống kê, 2013), bình quân tăng 1,1 triệu tấn/năm, đạt mức tăng trưởng cao nhất khu vực và trên thế giới

Trang 21

Cụ thể tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm gần đây thể hiện qua bảng 1.3

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 22

Qua bảng 1.3 cho thấy, diện tích lúa của Việt Nam không ngừng lên từ 4,42 triệu ha năm 1955 đến 7,5 triệu ha năm 2002 (diện tích tăng gấp 1,7 lần) Tuy nhiên

từ năm 2002 đến năm 2007 diện tích trồng lúa có xu hướng giảm dần từ 7,50 triệu

ha xuống còn 7,21 triệu ha, giảm với tốc độ 48,33ha/năm song năng suất và sản lượng lại không ngừng tăng lên, năng suất tăng từ 4,59 tấn/ha lên 4,99 tấn/ha, sản lượng tăng từ 34,45 triệu tấn lên 35,94 triệu tấn Từ năm 2008 đến năm 2012 thì

cả diện tích trồng lúa, năng suất và sản lượng đều có xu hướng tăng lên (Niên giám thống kê, 2013), và đến năm 2012 thì cả diện tích (7,75 triệu ha), năng suất (5,63 tấn/ha) và sản lượng lúa (43,66 triệu tấn) của nước ta đạt cao nhất trong vòng 57 năm từ năm 1955 đến 2012

Như vậy, từ một nước phải nhập khẩu gạo hàng năm chúng ta đã tự túc được lương thực và từng bước hoà nhập thị trường lương thực thế giới, chiếm lĩnh những vị trí xuất khẩu gạo trên thế giới

Dự báo về tình hình xuất khẩu gạo trong giai đoạn 2012 - 2015, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cũng nhận định trong bốn năm tới sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ ổn định ở mức 6 triệu tấn/năm, nhưng thị trường sẽ phải cạnh tranh gay gắt từ các nguồn cung cấp mới Đặc biệt trong thời gian tới, những diễn biến phức tạp vốn là đặc điểm của thị trường lúa gạo thế giới nhiều năm nay và việc cần theo dõi sát và nhanh nhạy để quyết định xuất khẩu với giá

có lợi nhất, vẫn là một bài toán cần tính kỹ với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức lớn từ việc mở cửa thị trường xuất khẩu gạo

1.2 Cơ sở lý luận của việc bón phân cho cây lúa

Phân bón là thức ăn của cây trồng, nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho cây phát triển Đối với sản xuất nông nghiệp, phân bón đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất, chất lượng nông sản Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (INI) phân bón đóng góp khoảng 30 - 35% tổng sản lượng cây trồng

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử dụng phân bón vô cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ Đặc biệt trong những năm gần đây, có

Trang 23

rất nhiều giống lúa lai được đưa vào sử dụng, có khả năng chịu phân rất tốt, là tiền đề cho việc thâm canh cao, nhằm không ngừng tăng năng suất lúa

Cây lúa, bất kỳ lúa nước hay lúa trồng trên cạn, muốn có năng suất cao đều cần nguồn dinh dưỡng rất lớn Theo GS,TS Mai Văn Quyền tổng kết kinh nghiệm trên 60 thí nghiệm khác nhau ở 40 nước có khí hậu khác nhau đã cho thấy: Nếu đạt năng suất 3 tấn thóc/ha, lúa lấy đi hết 50kg N, 26kg P2O5, 80kg

K2O, 10kg Ca, 6kg Mg, 5kg S Và nếu ruộng lúa đạt năng suất 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy đi là 100kg N, 50kg P2O5, 160kg K2O, 19kg Ca, 12kg

Mg, 10kg S Lấy trung bình cứ tạo 1 tấn thóc cây lúa lấy đi hết 17kg N, 8kg

P2O5, 27kg K2O, 3kg Ca, 2kg Mg và 1,7kg S

Những số liệu này cho thấy, để tạo được năng suất cao cây lúa rất cần dinh dưỡng Nhiều năm trước đây nông dân Việt Nam chỉ trồng các giống lúa địa phương, cao cây, chị phân kém, thời gian sinh trưởng dài, năng suất chỉ đạt từ 1-

3 tấn/ha nên nhu cầu cung cấp thêm chất dinh dưỡng từ các nguồn phân bón khác không cao lắm Ngày nay, nông dân đã trồng hầu hết các giống lúa cải tiến thấp cây, chịu phân cao nên muốn có năng suất cao và ổn định cần phải cung cấp thêm nhiều chất dinh dưỡng có trong các nguồn phân bón và phải bón đúng kỹ thuật, cân đối đáp ứng nhu cầu của từng giống, từng vùng, từng vụ

Bảng 1.4 Lượng hút dinh dưỡng liên quan đến giống lúa

Giống lúa

Lượng hút (kg/ha)

Nguồn: Đề tài 02A-06–01, 1990 và Nguyễn Văn Bộ, 2003

Khi nghiên cứu kỹ hơn về tỷ lệ N: P2O5: K2O do lúa hút trong từng giai đoạn Ishizuka, Y, 1973 cho thấy:

Trang 24

Bảng 1.5 Lượng chất khô N, P 2 O 5 , K 2 O do cây lúa hút theo từng giai đoạn

sinh trưởng

Giai đoạn sinh tưởng

% chất khô so với lúc thu hoạch

% chất dinh dưỡng so với toàn bộ cây hút

được

(Nguồn Ishizuka, Y, 1973, YoShida trích dẫn 1980)

Trong số các thiếu hụt về dinh dưỡng cho cây trồng trên các loại đất ở nước ta, lớn nhất và quan trọng nhất vẫn là sự thiếu hụt về đạm, lân và kali Đây cũng là những chất dinh dưỡng mà cây trồng hấp thụ với lượng lớn nhất và sẽ chi phối hướng sử dụng phân bón Mặt khác, khi bón phân người ta cũng bắt đầu tính đến nhu cầu dinh dưỡng của từng loại cây trồng, thậm chí của từng giống cụ thể, trong các vụ gieo trồng trên từng loại đất riệng Vì vậy, trong việc bố trí cơ cấu sản phẩm phân bón, vấn đề quan trọng là phải nắm được cơ cấu cân đối dinh dưỡng cho cây trồng trong vụ đồng thời có tính đến đặc điểm của các loại cây trồng vụ trước

Trong các nguyên tố dinh dưỡng, đạm là chất dinh dưỡng quan trọng nhất Cây lúa cần đạm trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng, tuy nhiên giai đoạn đẻ

nhánh lúa cần nhiều đạm nhất Cung cấp đủ đạm và đúng lúc làm cho lúa đẻ

nhánh nhanh, tập trung tạo nhiều nhánh hữu hiệu Đạm thúc đẩy hình thành đòng

và các yếu tố cấu thành năng suất khác như số hạt/bông, khối lượng 1000 hạt và

tỷ lệ hạt chắc Vì vậy, bón đạm ở giai đoạn làm đòng ảnh hưởng quyết định đến năng suất Mặt khác bón đạm làm tăng hàm lượng protein nên ảnh hưởng đến chất lượng gạo Đạm cũng ảnh hưởng tới đặc tính vật lý và sức đề kháng đối với sâu bệnh hại lúa Thừa hoặc thiếu đạm đều làm lúa dễ bị nhiễm sâu bệnh hại do

sức đề kháng giảm

Trang 25

Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trỗ kém, số hạt/bông ít, lép nhiều, năng suất thấp Thừa đạm làm cho lá to, dài, phiến

lá mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao, lốp, đổ non ảnh hưởng xấu đến năng suất và phẩm chất lúa

Theo Nguyễn Như Hà, (2005), nhu cầu về đạm của cây lúa có tính chất liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây

Theo Vũ Hữu Yêm (1995), hàm lượng đạm trong cây và sự tích luỹ đạm qua các giai đoạn phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liều lượng đạm bón Nhưng nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồng phát triển mạnh, lá to, dài, phiến

lá mỏng, tăng số nhánh đẻ vô hiệu, trỗ muộn, đồng thời dễ bị lốp đổ và nhiễm sâu bệnh, làm giảm năng suất Ngược lại, thiếu đạm cây lúa còi cọc, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm

Hiệu lực của đạm còn phụ thuộc vào các yếu tố dinh dưỡng khác Theo De Datta S.K (1984), cho rằng, đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa có tưới Như vậy, để tăng năng suất lúa nước, cần tạo điều kiện cho cây lúa hút được nhiều đạm Sự hút đạm của cây lúa không phụ thuộc vào nồng độ đạm xung quanh rễ

mà được quyết định bởi nhu cầu đạm của cây

Theo Đỗ Thị Thọ (2004): “Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quan trọng Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất đạm tới 50% do nhiều con đường khác nhau như rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay do phản đạm hoá”

Theo Đào Thế Tuấn (1970) lại cho rằng khi bón vãi đạm trên mặt ruộng lúa có thể gây mất tới 60 - 70% lượng đạm bón Chính vì vậy, khi bón đạm cần bón sớm, bón tập trung và bón dúi sâu xuống tầng đất nơi có bộ rễ lúa tập trung nhiều

Theo Nguyễn Như Hà, (1999), khi bón đạm ta nên bón sớm, bón tập trung toàn bộ hoặc 5/6 tổng lượng đạm cần bón, bón lót sâu vừa có tác dụng tránh mất đạm, lại vừa tăng tính chống lốp đổ cho lúa do bộ rễ cây phát triển mạnh

Cũng theo Nguyễn Như Hà (2005), nên bón kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ mà cụ thể là phân chuồng

Trang 26

Trong quá trình sinh trưởng, cây lúa có nhu cầu đạm tăng đều từ thời kỳ

đẻ nhánh tới trỗ và giảm sau trỗ Lượng đạm cần thiết để tạo ra một tấn thóc từ

17 - 25kg N, trung bình cần 22,2kg N

Nghiên cứu của Nguyễn Như Hà và cs (2000) cho kết quả: Để năng suất lúa đạt 5,0 - 5,5 tấn/ha/vụ, đảm bảo phẩm chất tốt, hiệu suất phân bón cao và ổn định độ phì đất cần bón 120kg N/ha Muốn thu được 7 tấn/ha, các giống lúa cao sản cần bón 150kg N/ha Thực tế, lượng đạm bón cho lúa khác nhau giữa các vùng Ở miền Bắc nông dân thường bón với lượng trung bình 103,2kg N/ha Lượng phân khuyến cáo cho lúa cao sản ở vùng đất phù sa cặp giữa 2 sông Tiền

và sông Hậu là 100 - 120kg N/ha trong vụ Đông xuân và 80 - 100kg N/ha trong

vụ Hè thu hoặc vụ Xuân hè Trên đất phèn vùng Tứ giác Long Xuyên, ở vụ Xuân bón 80 - 100kg N/ha, vụ Hè thu bón 60 - 80kg N/ha, một phần diện tích nhỏ từ Long An đến Cà Mau bón 30 - 50kg N/ha Thời kỳ bón đạm tốt nhất cho lúa gồm: Bón lót, thúc đẻ, thúc đòng và có thể bón nuôi hạt Ở thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng lúa cần nhiều đạm vì vậy bón đạm hợp lý vào 2 thời kỳ này làm tăng khả năng đẻ nhánh, tạo bông lúa, tăng cường quá trình phân hóa hoa và số lượng hạt phấn Phần lớn đạm được bón sớm để đẻ nhánh tốt, hình thành nhiều bông và nhiều hạt Việc bón đạm quá muộn làm cây đẻ nhánh không tập trung, sâu bệnh phát sinh phá hoại mạnh Cây lúa thường bị thừa đạm vào thời kỳ kết thúc đẻ nhánh hữu hiệu, trước và sau khi trỗ bông

Hiệu quả sử dụng đạm của lúa rất thấp, chưa tới 40% Trên đất phù sa không được bồi đắp thường xuyên của hệ thống sông Hồng với mức bón từ 80 - 240kg N/ha, hệ số sử dụng đạm biến thiên từ 17,1 - 47,4% trong vụ Xuân, từ 24,3 - 38,6% trong vụ Mùa Trên đất bạc màu bón với lượng từ 40 - 120kg N/ha thì hệ số sử dụng đạm ở vụ Mùa biến thiên từ 17,7 - 37,5% Cứ 1kg N lúa hút được từ đất và phân bón cho bội thu 38 - 41kg thóc ở vụ Xuân và 60kg thóc ở vụ Mùa Trên các loại đất có vấn đề (đất gley, đất bạc màu) khi các yếu tố hạn chế khác chưa được khắc phục thì vai trò của đạm không phát huy được Bón N hoặc

NP năng suất lúa lai chỉ tăng 17,7% trên đất bạc màu, 11,5% trên đất gley Để nâng cao hiệu quả sử dụng đạm ở ruộng lúa, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành

Trang 27

Theo Bùi Huy Đáp (1985); Nguyễn Như Hà (2006): Khi đạm được bón sâu 5 - 10cm vào tầng khử của đất thì hiệu quả sử dụng đạm cao hơn Bón đạm vào tầng khử, đạm được các keo đất giữ dưới dạng NH4+, cung cấp dần cho lúa, ngăn chặn việc hình thành NO3-, hiệu lực của đạm có thể tăng lên gấp đôi Bón đạm sâu còn ngăn chặn việc bốc hơi NH3 vào tầng khí quyển Tuy nhiên, biện pháp này chỉ thích hợp với lần bón lót trước khi bừa lần cuối, không nên bón khi cày lần đầu

vì đất chưa đủ mức độ khử để ngăn chặn quá trình nitrat hóa Ruộng sau khi bón phân phải giữ ngập nước 3 - 5cm để hạn chế mất đạm

Nghiên cứu của Trần Thúc Sơn (1996), cho kết quả là: Các phương pháp vùi ure không ảnh hưởng đến năng suất lúa, tuy nhiên làm làm tăng lượng đạm lúa tích lũy một cách chắc chắn Biện pháp tháo nước trước khi vùi urea làm tăng năng suất và khả năng tích lũy đạm so với để mức nước 5cm Bón phân viên nén

và chất hữu cơ khi tưới tiết kiệm đã làm tăng 35,4% năng suất so với bón phân vãi và tưới theo phương pháp truyền thống, tiết kiệm được 33% lượng đạm bón

Trộn phân đạm với đất bột rồi vo viên dúi vào gốc lúa làm tăng hệ số sử dụng đạm từ 50 - 100% Bọc phân đạm vào đất thịt và bón vào giữa 4 khóm lúa cũng cho hiệu quả như bón phân viên Bón phân viên với lượng 40kg N/ha cho số bông nhiều hơn bón vãi với lượng 40 - 80kg N/ha Cùng bón 40kg N/ha, bón vãi cho năng suất tăng 4 tạ/ha, bón phân viên tăng 8,5 - 15,5 tạ/ha so với công thức không bón Khi bón 80kg N/ha thì bón vãi tăng tương ứng là 13,5 tạ/ha, bón phân viên tăng 20,5 - 25,5 tạ/ha Bón phân sâu và tập trung làm cho hiệu quả của phân hóa học tăng 2 lần Tuy nhiên, phương pháp này tốn nhiều công lao động

Bón phân cân đối làm tăng hiệu quả sử dụng đạm của lúa Bón cân đối giữa đạm và lân làm tăng 82,2% năng suất, giảm 50,7% lượng đạm cần để sản xuất 1 tấn thóc so với công thức bón đạm đơn độc Trên đất phù sa sông Hồng,

để sản xuất ra 1 tấn thóc cần 23 - 27kg N nếu không bón lân, nhưng nếu có bón lân chỉ cần 19 + 23kg N Khi bón NP thì cây chỉ hút được 42,1kg N/ha, bón NP +

K thì lượng đạm cây hút được là 72,1kg N/ha Không bón K thì bội thu năng suất trên đất bạc màu là 8,1% kg thóc/kg N (vụ Xuân); 2,1kg thóc/kg N (vụ Mùa), bón phối hợp với kali thì bội thu năng suất tương ứng là 13,2 và 4,7kg thóc/kg N

Trang 28

Hiệu quả bón cân đối đạm và kali càng lớn khi bón lượng đạm cao, đặc biệt trên đất nghèo kali

Ngoài phân đạm, phân lân cũng đóng góp một phần đáng kể trong việc tăng năng suất và tổng sản lượng lúa và các cây trồng khác Phân lân đã trở thành vật tư chiến lược trong thâm canh cây trồng nước ta Thành tựu đó là kết quả của nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao tiến hộ kỹ thuật về lân trong sản xuất nông nghiệp

Ở một số loại đất, lân trở thành yếu tố hạn chế đối với năng suất cây trồng Đặc biệt ở hầu hết các loại đất trồng lúa ở các tỉnh phía Nam Thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm Trên một số loại đất ở Tây Nguyên bón 1kg P2O5 cho hiệu quả thu được 8,5kg thóc Ở các vùng đất phèn mới khai hoang, hiệu suất của phân lân càng cao hơn, 1kg P2O5 mang lại 9kg thóc, ở mức bón 40 - 60kg P2O5/ha Bón quá nhiều phân lân trong nhiều trường hợp có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng Vì vậy, cần bón thêm phân vi lượng, nhất là Zn Hiệu lực của phân lân cũng phụ thuộc vào giống lúa Các giống lúa cổ truyền, cao cây như bầu, tép, sài đường, 314 và các giống lúa chịu thiếu lân như IR36, IR29 có nhu cầu NPK thấp,

do đó hiệu lực của phân lân cũng thấp Bón 60kg P2O5/ha, bội thu chỉ được 0,2 - 0,5 tấn thóc/ha, hiệu suất chỉ đạt 3,5 - 8kg thóc/kg P2O5 trong vụ xuân và bội thu

từ 0,1 - 0,3 tấn/ha, hiệu suất đạt 2 - 4kg thóc/kg P2O5 trong vụ mùa Đối với các giống lúa tạp giao, giống lúa mới, thấp cây, năng suất cao như TGl, TG5, NN8,

DT 10, C70, IR64 v.v có nhu cầu dinh dưỡng NPK cao, do đó hiệu lực bón phân lân cũng cao

Phân lân là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc gia tăng năng suất và chất lượng lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là trên vùng đất phèn

Nghiên cứu của Trần Thúc Sơn (1996) về liều lượng bón phân lân cho cây lúa

trên loại đất phèn Typic Sulfaquepts cho thấy bón phân lân có ảnh hưởng đến đến năng suất lúa và độ bạc bụng hạt gạo; công thức phân bón khuyến cáo sử dụng là 90N : 90 P2O5: 45 K2O

Trang 29

Trong mối quan hệ đất - phân bón, kali đóng một vai trò quan trọng trong

sự sinh trưởng và phát triển của cây Thiếu kali sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cây, làm suy yếu hoạt động của hàng loạt các men, giảm quá trình trao đổi các hợp chất carbon và protein, đồng thời tăng chi phí đường cho quá trình hô hấp Về hình thái, các lá trưởng thành sẽ vàng sớm bắt đầu từ bìa lá, sau đó bìa lá khô, đầu lá có đốm vàng hoặc bạc, có triệu chứng rách bìa lá dẫn đến giảm hiệu suất quang hợp Đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến năng suất và chất lượng nông sản bị sụt giảm Bón kali giúp lúa đẻ nhánh tập trung và cho năng suất cao hơn nghiên cứu trên đất phù sa sông Hồng nhận thấy: Khi năng suất lúa dưới 2,5 tấn/ha thì hiệu lực của kali không rõ, năng suất từ 2,5 - 4,5 tấn/ha hiệu lực của kali thể hiện rõ hơn, năng suất lớn hơn 4,5 tấn/ha thì nhất thiết phải bón kali

1.3 Phương pháp bón phân cho lúa

1.3.1 Các loại và các dạng phân bón sử dụng cho lúa

Lúa là cây trồng có phản ứng tốt với phân hóa học nên bón phân hóa học cho lúa cho hiệu quả cao Trong thâm canh lúa, bón phân hữu cơ chủ yếu nhằm

ổn định hàm lượng mùn trong đất, tạo nền thâm canh nên có thể sử dụng các loại phân hữu cơ khác nhau, kể cả rơm rạ lúa sau khi thu hoạch

Các loại phân đạm thích hợp cho lúa là phân đạm amon, ure Ure đang trở thành dạng phân đạm phổ biến đối với lúa nước vì có tỷ lệ đạm cao, lại rất thích hợp để bón trên các loại đất thoái hóa Phân đạm Nitrat có thể dùng để bón thúc ở thời kỳ đòng, đặc biệt hiệu quả khi bón trên đất chua mặn

Đất chua trồng lúa, bón phân lân nung chảy thường cho kết quả ngang phân supe lân hay có thể cao hơn trong điều kiện ngập nước cung dễ cung cấp cho lúa mà ít bị rửa trôi và còn cung cấp cả silic là yếu tố dinh dưỡng có nhu cầu cao ở cây lúa Tuy nhiên nếu cần bón thúc lân và trồng lúa trên đất nghèo lưu huỳnh (đất bạc màu bón ít phân hữu cơ) thì phải dùng supe lân

Loại phân kali thích hợp bón cho lúa là kaliclorua Ngoài ra, còn thường dùng các loại phân NPK, đặc biệt tốt là loại phân chuyên dùng cho lúa, phù hợp với điều kiện của từng vùng đất trồng

Trang 30

Khả năng chịu chua của cây lúa khá, nhưng ở đất quá chua, cây lúa sinh trưởng kém, có thể do nhôm hòa tan gây ra vì hiện tượng ngộ độc nhôm ít thấy trên các loại đất có pH trên 5,5 Mặt khác, sau khi đưa nước vào ruộng đất có thể

bị chua hơn, nên bón vôi là biện pháp quan trọng ở đất lúa nước quáchua và việc bón vôi phải được kết hợp với một chế độ bón phân hợp lý thì mới thu được kết quả mong muốn nhất

1.3.2 Vấn đề bón phân cân đối cho cây lúa

Bón phân cân đối được hiểu là cung cấp cho cây trồng các nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu với liều lượng đúng, tỉ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho từng đối tượng cây trồng, đất, mùa vụ cụ thể đảm bảo năng suất cao, chất lượng nông sản tốt và an toàn môi trường sinh thái Kết quả tổng kết của FAO trên phạm vi toàn thế giới cho thấy có ít nhất 10 nguyên nhân chính làm giảm hiệu lực phân bón, trong đó bón phân cân đối giữ vai trò quan trọng nhất, có thể làm

giảm tới 50% cho cùng một lượng bón

Bón phân cân đối cho lúa là tùy theo yêu cầu của cây lúa về các chất dinh dưỡng và khả năng đáp ứng từng loại chất dinh dưởng cho cây lúa của đất trồng lúa cụ thể mà bón phân Căn cứ định lượng để bón phân cho lúa:

Vụ mùa, vụ hè thu (mùa mưa) lượng đạm cần bón ít hơn so với vụ xuân Khi hàm lượng kali trong nước tưới cao (chẳng hạn phù sa nhiều) thì bón kali với lượng thấp và ngược lại Đất nhẹ cần bón nhiều kali hơn đất nặng, đất phú sa bón ít kali hơn đất xám Đất cát, đất xám, đất bạc màu do hàm lượng kali thấp nên cần bón nhiều kali hơn so với các loại đất khác Trên đất này do hàm lượng hữu cơ và sét thấp nên phải chia ra làm nhiều lần bón hơn để giảm thất thoát phân bón

Trong rất nhiều trường hợp, hiện tượng lốp đổ là một nhân tố không cho phép được bón cho lúa tới lượng đạm tối đa Nếu cây lúa đổ trước khi trỗ, năng suất có thể giảm 50 - 60% Giống lúa mới thấp cây có khả năng chống đổ tốt, lượng đạm bón tối thích cao hơn nhiều

Nếu vừa thu hoạch hạt thóc, vừa lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì bón phân nhiều hơn, đặc biệt là kali, do khá nhiều kali bị lấy đi khỏi đồng ruộng theo rơm

rạ, nhưng nếu không lấy rơm rạ ra khỏi đồng ruộng thì chỉ khoảng 5% lượng kali

Trang 31

bị lấy đi theo sản phẩm thu hoạch qua hạt Khoáng trong đất, rạ và nước tưới là nguồn kali cung cấp cho cây Ở đất nhẹ nhiều cát cây cần kali hơn, đồng thời giống có năng suất cao cần nhiều kali hơn

Các yếu tố dinh dưỡng cũng có mối tác động qua lại, khi thì tương hỗ, lúc lại đối kháng và có mối liên quan rất chặt với độ phì nhiêu tự nhiên/loại đất Trên đất phèn, giá trị hiệu lực tương hỗ N - P có thể đạt trên 2 tấn thóc/ha, giảm đáng

kể lượng N tiêu tốn để tạo ra một tấn thóc Còn trên đất đỏ vàng, giá trị tương hỗ

Mối quan hệ tương hỗ và đối kháng còn thể hiện ở các liều lượng khi áp dụng Với liều lượng thấp và tối ưu, các mối quan hệ giữa N - P - K là tương hỗ, song khi vượt quá tỉ lệ thích hợp, chúng trở nên đối kháng Đây cũng chính là cơ

sở khoa học để bón kali nhằm hạn chế lốp đổ hoặc tăng khả năng chịu lạnh khi bón quá dư thừa đạm Trong mối quan hệ này, kali đã làm tăng hệ số sử dụng đạm của cây lúa Không bón kali hệ số sử dụng đạm chỉ đạt 15 - 30%, trong khi

có bón kali hệ số này tăng lên đến 39 - 49% Như vậy, trong nhiều trường hợp, năng suất tăng không hẳn là do bón kali mà là kali đã có tác dụng tương hỗ, làm cây hút được nhiều đạm và các chất dinh dưỡng khác hơn từ đất và phân bón Ngược lại, thiếu đạm trong thời gian dài, làm cho năng suất cây trồng giảm đi rõ rệt Cân đối đạm - kali cho lúa cũng rất cần xem xét đến ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ Những nghiên cứu gần đây cho thấy trong vụ mùa, hè thu khi nhiệt độ không khí cao hơn, chất lượng ánh sáng tốt hơn, cây trồng có khả năng huy động nguồn kali từ đất nhiều hơn nên hiệu lực phân kali thấp hơn Ngược lại trong vụ

Trang 32

Đông Xuân (nhất là ở miền Bắc), nhiệt độ thấp, thời tiết thường âm u nên hiệu lực phân kali cao hơn Đây chính là các lý do cần bón kali nhiều hơn trong vụ Đông Xuân Một vấn đề còn cần nghiên cứu tiếp là vai trò của kali trên đất phù

sa thuộc hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy hiệu lực kali rất thấp Hiệu lực kali chỉ có thể thấy rõ trong các thí nghiệm dài hạn, nhất là với các cơ cấu cây trồng có tổng sản lượng cao, nhiều vụ trồng trong năm Do vậy, việc sử dụng một lượng kali tối thiểu để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng trong đất, nhất là những nơi không có hoặc quá thiếu phân hữu cơ, hoặc bón cách vụ là rất cần thiết

Bón phân cân đối đạm - kali và vô cơ hữu cơ ngoài tác dụng tăng năng suất còn có ý nghĩa rất lớn trong việc tăng khả năng chống chịu sâu bệnh của cây trồng Thông thường, do sử dụng đạm quá thừa hoặc quá muộn đã làm cho quá trình chín chậm lại, làm mỏng các vỏ tế bào và do đó cây trồng dễ bị các sâu bệnh thâm nhập và phá hoại Nhờ khả năng đối kháng trong quan hệ đạm - kali

mà chúng ta hoàn toàn có thể dùng phân kali để thúc đẩy quá trình hình thành lignin, các bó mạch, làm thành tế bào dầy lên nên khả năng chống bệnh cũng tăng lên

Việc bón phân không cân đối, thiếu khoa học làm cho sâu bệnh phát triển nhiều hơn, tần suất cao hơn và mức độ nghiêm trọng hơn Các dịch lớn như vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa tại ĐBSCL hay lúa lùn sọc đen tại ĐBSH, bệnh chổi rồng trên nhãn, sắn là những ví dụ có một phần nguyên nhân từ bón phân chưa hợp lý Theo Nguyễn Hồng Sơn, năm 2000 Việt Nam mới sử dụng 33.637 tấn thuốc BVTV nhưng năm 2005 đã sử dụng 51.764 tấn, năm 2008 sử dụng 105.900 tấn (Báo Nông nghiệp Việt Nam,18/1/2013)

Do vậy, trong cân đối dinh dưỡng, việc luôn luôn bổ sung các loại phân

có chứa nhiều thành phần dinh dưỡng bao giờ cũng cho hiệu quả cao nhất.Việc hình thành các loại phân bón chuyên dùng NPK, phân chức năng hay Super - Tecmo cũng giúp giải quyết sự mất cân đối dinh dưỡng Các nguyên tố vi lượng

có thể được bổ sung bằng các loại phân phun qua lá Chính nhờ chương trình nghiên cứu nhiều năm của các nhà khoa học trong và ngoài nước mà sử dụng

Trang 33

phân bón cho cây trồng có sự cải thiện đáng kể, cân đối cho từng cây trồng, trên từng loại đất đều đã được đề cập và đưa ra các khuyến cáo Các tỉ lệ ngày càng cân đối hơn giữa NPK cho chúng ta thấy thành quả lâu dài ấy (Bảng 1.6, 1.7) Việc cân đối trong cung cấp dinh dưỡng, ngoài tăng năng suất cây trồng còn giúp

ổn định độ phì nhiêu đất, làm hàm lượng mùn tăng lên có ý nghĩa

Bảng 1.6 Thay đổi tỉ lệ bón N : P 2 O 5 : K 2 O theo thời gian

(Nguồn: Nguyễn Văn Bộ, 2001 và tổng hợp từ các nguồn)

Bảng 1.7 Thay đổi tỉ lệ bón N : P 2 O 5 : K 2 O cho lúa tại miền Bắc Việt Nam

(Nguồn: Nguyễn Văn Bộ, 1998)

1.3.3 Lượng phân bón cho lúa ở những vùng trồng lúa chính ở Việt Nam

Liều lượng phân chuồng thường bón 7 - 10 tấn/ha, vụ mùa nên bón nhiều hơn Liều lượng phân khoáng bón cho lúa phụ thuộc vào năng suất kế hoạch (đặc điểm của giống, loại hình cây), độ phì của đất, các điều kiện khí hậu (mùa vụ) và khả năng cân đối với các loại phân khác Giống năng suất cao cần bón nhiều hơn

so với các giống lúa thường, lúa địa phương, lúa vụ xuân thường bón nhiều hơn lúa vụ mùa, trồng lúa trên đất có độ phì cao cần giảm lượng phân bón

Do hệ số sử dụng phân đạm của cây lúa không cao nên lượng đạm cần bón phải cao hơn nhiều so với nhu cầu Lượng đạm bón dao động từ 60 - 160 kg/ha Với trình độ thâm canh hiện tại, để đạt năng suất 5 tấn/ha thường bón 80 - 120

Trang 34

kg/ha Tuy nhiên, trên đất có độ phì trung bình, để đạt năng suất 6 tấn thóc/ha cần bón 160kg N/ha Trên đất phù sa sông Hồng, để đạt năng suất rên 7 tấn/ha cần bón 180 - 200kg N/ha Các nước có năng suất lúa bình quân cao trên thế giới (5 -

7 tấn thóc/ha) thường bón 150 - 200kg N/ha Lượng phân lân bón cho lúa dao động từ 30 - 100kg P2O5, thường bón 60kg P2O5/ha Đối với đất xám bạc màu có thể bón 80 - 90kg P2O5/ha, đất phèn có thể bón 90 - 150kg P2O5/ha

Lượng phân kali bón cho lúa phụ thuộc chủ yếu vào mức năng suất và khả năng cung cấp kali của đất Các mức bón trong thâm canh lúa trung bình là 30 - 90kg K2O/ha, và mức bón trong thâm canh lúa cao là 100 - 150kg K2O/ha, trong

đó kali của phân chuồng và rơm rạ có hiệu suất không kém kali trong phân hóa học Trên đất phù sa sông Hồng khi đã bón 8 -10 tấn phân chuồng/ha thì chỉ nên bón 30 - 90 kg/ha phân kali khoáng, ngay cả trong điều kiện thâm canh lúa cao (Nguyễn Như Hà, 1999)

Bảng 1.8 Lượng phân bón cho lúa

Trang 35

1.4 Một số kết quả nghiên cứu phân bón đối với cây lúa

1.4.1 Một số kết quả nghiên cứu về phân đạm đối với cây lúa

Nhu cầu đạm của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên tục

từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng đạm cao nhất đó là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng Ở thời kỳ đẻ nhánh rộ cây lúa hút nhiều đạm nhất

Yoshida (1980) đã nói: Đạm là nguyên tố quan trọng nhấ đối với lúa, nếu như không bón đạm thì ở đâu cùng thiếu đạm Điều này rất phù hợp với thực tiễn

ở Việt Nam

Theo Yoshida (1985), lượng đạm cây lúa hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới 74% năng suất Bón nhiều đạm làm cho cây lúa đẻ nhánh khoẻ và đẻ nhánh tập trung, tăng số bông/m2; tăng số hạt/ bông; nhưng trọng lượng nghìn hạt ít thay đổi

Theo các tác giả Bùi Huy Đáp (1980); Nguyễn Hữu Tề (1997): thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng đạm là trong giai đoạn đẻ nhánh, đây là thời

kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn đến năng suất, 10 - 15% là hút ở giai đoạn làm đòng, lượng còn lại là từ giai đoạn sau làm đòng đến chín

Qua nhiều năm nghiên cứu, Đào Thế Tuấn (1980), đã đi đến nhận xét: Cây lúa được bón đạm thoả đáng vào thời kỳ đẻ nhánh rộ thúc đẩy cây lúa đẻ nhánh khoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi đi Ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, đạm có vai trò thúc đẩy tốc độ ra lá, tăng tỷ lệ đạm trong lá, tăng hàm lượng diệp lục, tích luỹ chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh đẻ

Theo tác giả Bùi Đình Dinh (1970), cây lúa cũng cần nhiều đạm trong thời

kỳ phân hoá đòng và phát triển đòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản Thời kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng: Số hạt/ bông, trọng lượng nghìn hạt

Yoshida (1985) cho rằng: ở các nước nhiệt đới lượng các chất dinh dưỡng cần để tạo ra một tấn thóc là 20,5 - kg N; 5,1kg P2O5 và 44kg K2O Trên nền phối hợp 90 P2O5 + 60kg K2O hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhánh ở các mức bón từ 40 - 120kg N/ ha

Trang 36

Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Cự (1995), tại xã Gia Xuyên - Tứ Lộc - Hải Dương cho thấy: Lượng đạm cần bón để đạt 1 tấn thóc phải từ 26 - 28kg N/ha Kết quả này cao hơn nhiều so với dự tính của Đào Thế Tuấn năm 1970, muốn đạt được một tấn thóc cần 22,3kg N/ha trong vụ Chiêm và 22,6kg N/ha ở

Nếu bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất bón đạm cao nhất là bón vào thời kỳ lúa đẻ nhánh và sau đó giảm dần Với liều lượng bón đạm thấp thì bón vào thời kỳ lúa đẻ nhánh và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao

Năm 1973, Ximura và Chiba, có kết quả thí nghiệm bón đạm theo 9 cách tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển Mỗi lần bón với 7 công thức đạm khác nhau, hai tác giả đã đưa ra kết luận sau:

+ Hiệu suất của đạm (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi lượng đạm bón ở mức thấp + Có hai đỉnh về hiệu suất: Đỉnh đầu tiên xuất hiện ở thời kỳ đẻ nhánh; đỉnh thứ hai xuất hiện ở 19 đến 9 ngày trước trỗ Nếu lượng đạm nhiều thì không

có đỉnh thứ hai Nếu bón liều lượng đạm thấp thì bón vào lúc 20 ngày trước trỗ, nếu bón liều lượng đạm cao thì bón vào lúc cây lúa đẻ nhánh

Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa vụ và liều lượng phân đạm bón tới tỷ lệ đạm cây lúa hút, đưa ra kết luận: Không phải do bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của cây lúa sử dụng nhiều Ở mức phân đạm 80kg N/ha, tỷ lệ đạm sử dụng là 46,6%; so với mức đạm này có bón phối hợp với phân chuồng thì tỷ lệ đạm hút được là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160 và 240kg N/ha có bón phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa

Trang 37

sử dụng cũng giảm xuống Trên đất bạc màu so với đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn, Khi bón liều lượng đạm từ 40 - 120kg N/ha thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng có tăng lên

Kết quả nghiên cứu sử dụng đạm trên đất phù sa sông Hồng của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã tổng kết thí nghiệm 4 mức đạm từ năm

1992 - 1994, kết quả cho thấy: Phản ứng của phân đạm đối với cây lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa

Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thí nghiệm nghiên cứu về: “Ảnh hưởng của liều lượng đạm khác nhau đến năng suất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long” Kết quả trung bình nhiều năm, từ 1985 - 1994 đã chứng minh: Trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60kg P2O5 và 30kg K2O làm nền thì khi bón đạm đã làm tăng năng suất lúa 15 - 48,5% trong vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của cả hai vụ đều bón đến mức 90kg N/ha có hiệu quả cao hơn cả, trên mức này thì năng suất lúa cũng tăng không đáng kể

Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994) khi nghiên cứu về bón phân đạm cho lúa cạn đã kết luận: Liều lượng bón đạm thích hợp cho các giống lúa có nguồn gốc địa phương là 60kg N/ha Đối với các giống thâm canh cao như CK136 thì lượng đạm thích hợp từ 90 - 120kg N/ha

Theo Nguyễn Như Hà (1999), nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy: Tăng liều lượng đạm bón ở mật dộ cấy dày có tác dụng làm tăng tỷ lệ nhánh hữu hiệu

Phân đạm đối với lúa lai là rất quan trọng Lúa lai có bộ rễ khá phát triển, khả năng huy động dinh dưỡng từ đất là rất lớn nên ngay trong trường hợp không bón phân năng suất lúa lai vẫn cao hơn lúa thuần Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã kết luận: Cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng đạm và lân thấp hơn lúa thuần Ở mức năng suất 75 tạ/ha lúa lai hấp thu đạm thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp thu P2O5 cao hơn 18,2% và hấp thu K2O cao hơn 30% Với lượng lúa cao sản thì

Trang 38

lúa lai hấp thu đạm cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu K2O cao hơn lúa thuần là 45%, nhưng lượng P2O5 thì bằng lúa thuần

Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy: Trên đất phù sa sông Hồng bón đạm đơn độc làm tăng năng suất lúa lai lên 48,7%, trong khi đó năng suất giống lúa CR203 chỉ tăng 23,1% Với thí nghiệm đồng ruộng, bón đạm, lân cho lúa lai

có kết quả rõ rệt Nhiều kết quả trong đồng cũng như ngoài đồng cho thấy, bón 1kg N cho lúa lai làm năng suất tăng 9 - 18kg thóc, lúa thuần tăng 2 - 13kg thóc Trên các loại đất có vấn đề (bạc màu, glây) khi các yếu tố (độ chua, lân, kali,…) chưa được khắc phục thì vai trò của phân đạm không phát huy được, nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên đất bạc màu và 11,5% trên đất glây

Với đất phù sa sông Hồng, bón đạm mức 180kg N/ha trong vụ Xuân và 150kg N/ha trong vụ Mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suất lúa Trên đất bạc màu liều lượng N bón đến 150 kg/ha vẫn còn làm tăng năng suất Tuy nhiên,

ở mức bón 120kg N/ha cho hiệu quả cao hơn các mức bón khác

Thời kỳ bón đạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực của phân để làm tăng năng suất lúa Với phương pháp bón đạm (bón tập trung giai đoạn đầu và bón nhẹ giai đoạn cuối) ở Việt Nam, năng suất lúa tăng thêm 3,5 tạ/ha

Liều lượng phân bón cho 1 ha: 8 tấn phân chuồng + 120kg N + 90kg P2O5

+ 60kg K2O, kết quả thời kỳ bón cho thấy rất rõ hiệu quả phân bón đạm trên đất phù sa sông Hồng đạt cao nhất vào thời kỳ bón lót từ 50 - 75% tổng lượng đạm, lượng đạm bón nuôi đòng chỉ từ 12,5 - 25 %

1.4.2 Một số kết quả nghiên cứu về phân lân đối với cây lúa

Theo kết quả nghiên cứu của Nagai năm 1959, lân được hút trong 42 ngày đầu tiên sau cấy thì chuyển lên bông, có tác dụng rõ rệt tới năng suất lúa Còn lượng lân được hút sau đó, phần lớn được tích trữ trong rễ và rơm rạ

Kết quả nghiên cứu hiêu suất từng phần của lân đối với việc tạo thành năng suất hạt thóc của Kamura và Ishizaka năm 1996 cho thấy, thời kỳ lân có hiệu suất cao nhất là thời kỳ đầu sau cấy 10 - 20 ngày

TheoTanaka (1978): Hiệu quả bón lân cho lúa thấp hơn so với cây trồng cạn Tuy nhiên, bón lân xúc tiến quá trình sinh trưởng của cây trong thời kỳ đầu,

Trang 39

có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng, đặc biệt ở những vùng lạnh thì hiệu quả càng rõ

Kết quả của Buda năm 1960 cho biết: lúa nước là loại cây trồng cần ít lân,

do đó khả năng hút lân từ đất mạnh hơn cây trồng cạn

Nghiên cứu của Brady và Nylec năm 1985 cho thấy, hầu hết các loại cây trồng hút không quá 10 - 13% lượng lân bón vào đất trong năm Đặc biệt là cây lúa chỉ cần giữ cho lân trong đất khoảng 0,2 ppm hoặc thấp hơn một chút là có thể cho năng suất tối đa Tuy vậy, cần bón lân kết hợp với đạm và kali mới nâng cao được hiệu quả của nó

Ở mỗi thời kỳ, cây lúa hút lân với lượng khác nhau, trong đó thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng cây lúa hút lân mạnh nhất Xét về mức độ thì thời kỳ đẻ nhánh cây lúa hút lân mạnh nhất

Trung bình để tạo ra 1 tấn thóc, cây lúa hút khoảng 7,1kg P2O5 Hàm lượng lân trong đất là rất ít, hệ số sử dụng lân của cây lúa lại thấp, do đó cần bón lân với liều lượng tương đối lớn

Ở Ấn Độ, bón lân với mức 60kg P2O5 có thể tăng năng suất lúa trung bình

từ 0,5 - 0,75 tấn thóc/ha Ở Đài Loan, theo Lian 1989 với mức bón 50 - 60kg

P2O5/ha cho năng suất bội thu cao nhất

Để nâng cao hiệu quả của việc bón lân cho cây lúa ngắn ngày, trong điều kiện bón lân trung bình (10 tấn phân chuồng 90 + 120kg N + 60kg K2O/ha) nên bón lân với lượng 80 - 90kg P2O5/ha và tập trung bón lót

Theo nhiều tác giả cho biết, lượng phân bón cho lúa cần thay đổi theo thời tiết, mùa vụ, và từng loại đất Trên đa số các loại đất, chân lúa cao sản thường bón lượng lân 60kg P2O5/ha; riêng với đất xám bạc màu có thể bón 80 - 90kg P2O5.

Theo Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh và cộng sự (1996) nhu cầu về lân của cây lúa lai không có gì khác biệt so với lúa thuần có cùng thời gian sinh trưởng Lúa lai với năng suất 7 tấn/ha, cây lúa hút 60 - 70kg P2O5/ha

Năm 1996, theo Mai Thành Phụng và một số tác giả cho rằng: Trên đất phèn nặng muốn trồng lúa có hiệu quả cần phải liên tục cải tạo, sử dụng nước ngọt để rửa phèn, bón phân lân trong những năm đầu để tích luỹ lân Trên đất

Trang 40

phù sa đông bằng sông Cửu Long được bồi hàng năm, bón lân có hiệu quả rất rõ

Vụ Đông Xuân, bón 20kg P2O5/ha làm tăng năng suất 20% so với công thức không bón lân Tuy nhiên, bón lân với liều lượng cao hơn thì năng suất có tăng nhưng không rõ Vì vậy, ruộng thâm canh thường được bón lân kết hợp với các loại phân khác từ 20 - 30kg P2O5 là đủ Trong vụ Hè Thu, cây lúa có nhu cầu lượng lân cao và hiệu quả rõ rệt hơn vụ Xuân Bón 20kg P2O5 thì bội thu được 43,7% Tiếp tục tăng lượng lân bón năng suất có tăng nhưng không rõ

Năm 1994, kết quả thí nghiệm bón lân cho lúa của Trường đại học Nông nghiệp II tại xã Thuỳ Dương - huyện Hương Thuỳ (Thừa Thiên Huế) cho thấy: Trong vụ Xuân, bón lân cho lúa từ 30 - 120kg P2O5/ha đều làm năng suất lúa tăng 10 - 17% Với liều lượng bón 90kg P2O5/ha thì năng suất có xu hướng giảm Trong vụ Hè Thu, với giống lúa VM1, bón Supe lân hay lân nung chảy đều làm tăng năng suất rõ rệt

Tất cả các thí nghiệm trong chậu và ngoài đồng đều cho thấy, hiệu quả sử dựng lân ở lúa lai là 10 - 12kg thóc/kg P2O5, so với lúa thuần là 6 - 8kg thóc/kg P2O5

Lân bón cho cây ở giai đoạn mạ ngoài tác dụng ngoài tác dụng lạm cho

mạ sinh trưởng, phát triển tốt, cứng cây còn có tác dụng giúp cây sử dụng phân lân tốt hơn sau khi cây được cấy ra ruộng

1.4.3 Một số kết quả nghiên cứu về phân kali đối với cây lúa

Đặc điểm dinh dưỡng kali của cây lúa được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu

S.Yoshida (1985) cho biết, chỉ khoảng 20% tổng lượng kali cây hút được vận chuyển vào hạt, lượng còn lại được tích luỹ trong các bộ phận khác của cây (rơm, rạ)

Theo Masuto giữa việc hút đạm và lân có mối tương quan thuận, tỷ lệ N/K thường là 1,26 Theo nhiều tác giả khác cho biết, tỷ lệ N/K rất quan trọng, do đó cần bón nhiều kali ở những ruộng bón nhiều đạm

Theo Bùi Đình Dinh (1985) cây lúa hút kali tới tận cuối thời kỳ sinh trưởng Nhu cầu kali rõ nét nhất ở hai thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng Thiếu kali vào thời kỳ đẻ nhánh ảnh hưởng mạnh đến năng suất Lúa hút kali mạnh nhất vào thời kỳ làm đòng

Ngày đăng: 01/07/2015, 19:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Quách Ngọc Ân và Lê Hồng Nhu (1995). Sản xuất lúa lai và vấn đề bón cho lúa lai, Báo cáo tại hội thảo về dinh dưỡng của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hà Nội 30/11/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất lúa lai và vấn đề bón cho lúa "lai
Tác giả: Quách Ngọc Ân và Lê Hồng Nhu
Năm: 1995
2.Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005). Khoa học Công nghệ Nông thôn và Phát triển nông thôn 20 năm đổi mới. Tập 3. Đất- phân bón. NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học Công nghệ Nông thôn "và Phát triển nông thôn 20 năm đổi mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2005
4.Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh, Phạm Văn Ba, Cao Kỳ Sơn, Bùi Thị Trâm, Lê Duy Mỳ (1996). Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho lúa lai ở Việt Nam, Kết quả nghiên cứu khoa học của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 21-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về phân bón cho lúa lai ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh, Phạm Văn Ba, Cao Kỳ Sơn, Bùi Thị Trâm, Lê Duy Mỳ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
5.Nguyễn Văn Bộ, Bùi Huy Hiền, Hồ Quang Đức, Nguyễn Công Vinh, Nguyễn Văn Vấn (2009). Hướng dẫn quản lý dinh dưỡng cho cây lúa theo vùng đặc thù ở Việt Nam.NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quản lý dinh dưỡng cho cây lúa theo vùng đặc thù ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ, Bùi Huy Hiền, Hồ Quang Đức, Nguyễn Công Vinh, Nguyễn Văn Vấn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
6.Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Trọng Thi, Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Chiến (2003). Bón phân cân đối cho cây trồng ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối cho cây trồng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Trọng Thi, Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
7.Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang (2009). Sản xuất lúa gạo Việt Nam - Thành tựu và thách thức, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất lúa gạo Việt Nam - Thành tựu và "thách thức
Tác giả: Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang
Năm: 2009
8.Nguyễn Tất Cảnh, Nguyễn Văn Dung (2006). Tưới tiết kiệm nước và bón phân viên nén trong thâm canh lúa, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 1/2006, trang 77 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tưới tiết kiệm nước và bón phân "viên nén trong thâm canh lúa
Tác giả: Nguyễn Tất Cảnh, Nguyễn Văn Dung
Năm: 2006
9.Phạm Văn Cường và Phạm Thị Khuyên và Phạm Văn Diệu (2009). Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất chất khô ở các giai đoạn sinh trưởng và năng suất hạt của một số giống lúa lai và lúa thuần, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp - Tập III, số 5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng "của liều lượng "đạm đến năng suất chất khô ở các giai "đoạn sinh trưởng và năng suất "hạt của một số giống lúa lai và lúa thuần
Tác giả: Phạm Văn Cường và Phạm Thị Khuyên và Phạm Văn Diệu
Năm: 2009
10. Phạm Văn Cường và Trần Thị Vân Anh (2006). Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến các đặc tính quang hợp và nông học của các giống lúa lai, lúa cải tiến và lúa địa phương, Báo cáo Khoa học hội thảo Quản lý Nông nghiệp vì sự phát triển Nông nghiệp bền vững ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của liều lượng phân "đạm đến các đặc tính quang hợp và nông học của các giống lúa lai, lúa cải tiến và lúa "địa phương
Tác giả: Phạm Văn Cường và Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lượng lúa - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lượng lúa (Trang 17)
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm (Trang 21)
Sơ đồ thí nghiệm: - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Sơ đồ th í nghiệm: (Trang 44)
Hình 3.1. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái tăng trưởng - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Hình 3.1. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái tăng trưởng (Trang 51)
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái đẻ nhánh - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái đẻ nhánh (Trang 54)
Hình 3.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái đẻ nhánh - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Hình 3.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến động thái đẻ nhánh (Trang 56)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón và dạng phân bón đến chỉ số diện - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón và dạng phân bón đến chỉ số diện (Trang 59)
Hình 3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến chỉ số diện tích lá của - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Hình 3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến chỉ số diện tích lá của (Trang 61)
Hình 3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón và dạng phân bón đến khối lượng - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Hình 3.4. Ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón và dạng phân bón đến khối lượng (Trang 64)
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến mức độ nhiễm một số - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến mức độ nhiễm một số (Trang 66)
Hình 3.5. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến năng suất của giống - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Hình 3.5. Ảnh hưởng của tỷ lệ và dạng phân bón đến năng suất của giống (Trang 71)
Hình 3.6. Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Hình 3.6. Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái (Trang 77)
Hình 3.7. Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Hình 3.7. Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến động thái (Trang 80)
Hình 3.8. Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến chỉ số diện - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Hình 3.8. Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến chỉ số diện (Trang 83)
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến năng suất - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa TH3 - 7 vụ xuân 2013 trên đất gia lâm, hà nội
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của dạng phân bón và lượng phân bón đến năng suất (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w