Yêu cầu của đề tài • Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân khác nhau tới các yếu tố cần thiết cho quá trình quang hợp, tạo khả năng sản xuất của đất trồng trồng ngô:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm và chỉ bảo tận tình của các tập thể, cá nhân Trước hết, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn đối với sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo Bộ môn Nông Hóa; Bộ môn Vi Sinh và các thầy, cô giáo Khoa Môi trường; Viện sau đại học trường Học viện nông nghiệp Việt Nam
đã tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của hai thầy cô là Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Như Hà và Thạc sỹ Lê Bích Đào, những người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu và viết luận văn
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đối với sự giúp đỡ quý báu của Trung tâm Phát triển nông lâm nghiệp miền núi Phía Bắc tại tỉnh Sơn La và nhân dân địa phương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Bản thân tôi có được thành quả ngày hôm nay, không thể quên được sự động viên, giúp đỡ của gia đình, người thân và bạn bè đã cùng cảm thông, chia
sẻ những khó khăn vất vả và tạo mọi điều kiện để tôi yên tâm làm luận văn Một lần nữa cho phép tôi được cảm ơn những ý kiến đóng góp của các Thầy trong Hội đồng và sự có mặt của bạn bè đồng nghiệp trong buổi bảo vệ của tôi hôm nay là nguồn động viên cổ vũ to lớn đối với tôi
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thủy
Trang 51.1.2 Hiện trạng và vai trò của trồng ngô ở miền núi phía Bắc 6 1.1.3 Sản xuất nông nghiệp trên đất dốc và môi trường 8 1.2 Sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp và môi trường 11 1.2.1 Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp 11 1.2.2 Sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp và môi trường 19 1.3 Nghiên cứu giảm thiểu ảnh hưởng xấu tới môi trường đất của t;ình
CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tỉnh Sơn La 27 2.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của bón phân khác nhau trong trồng ngô tới 27 2.2.3 Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu của tình trạng sử 28
Trang 62.3.1 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 28 2.3.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích đất, cây 30
3.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tỉnh Sơn La 34
3.1.3 Tình hình sản xuất lương thực và ngô tại Sơn La 38 3.2 Đánh giá ảnh hưởng của các chế độ bón phân khác nhau trong trồng
3.2.1 Đánh giá ảnh hưởng của các chế độ bón phân khác nhau tới khả năng
3.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân khác nhau một số 50 3.2.3 Đánh giá ảnh hưởng của việc bón phân khác nhau tới khả năng bảo vệ
3.2.4 Đánh giá khả năng ảnh hưởng xấu tới môi trường đất của các chế độ
bón phân trong trồng ngô trên đất dốc ở Sơn La 61 3.3 Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu của tình trạng sử 64 3.3.1 Bón phân cân đối và hợp lý, bồi hoàn lại dinh dưỡng do cây trồng lấy đi 64 3.3.2 Áp dung các biện pháp nâng cao hệ số sử dụng phân bón 64
3.3.4 Giải pháp vùi phế phụ phẩm hoàn trả lại dinh dưỡng cho đất 65
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1.1 Năng suất ngô ở các vùng phía Bắc giai đoạn 2005-2010 7 1.2 Đất đỏ Bazan bị thoái hóa, suy giảm dinh dưỡng do quá trình rửa
1.3 Lượng đất mất và năng suất cây trồng của các phương thức canh
3.1 Tăng trưởng nông nghiệp 6 tháng năm 2014 37 3.2 Diện tích , năng suất, sản lượng ngô tại Sơn La 39 3.3 Hiện trạng sử dụng phân bón trong trồng ngô của nông dân tại 3
3.4 So sánh hiện trạng sử dụng phân bón của nông dân với quy trình
3.5 Ảnh hưởng của bón phân khác nhau tới khả năng sử dụng nguồn
3.6 Ảnh hưởng của các chế độ bón phân khác nhau tới việc hấp thu
các chất khoáng N, P, K của cây ngô từ đất (kg/ha) 45 3.7 Ảnh hưởng của các chế độ bón phân khác nhau tới năng suất của
3.8 Ảnh hưởng của liên tục bón phân khác nhau tới khả năng sản xuất
3.9 Ảnh hưởng của việc bón phân khác nhau đến hiệu của sử dụng đất
3.10 Ảnh hưởng của liên tục (3 năm) bón phân khác nhau tới một số
3.11 Ảnh hưởng của liên tục ( 3 năm) bón phân khác nhau tới một số
Trang 83.12 Ảnh hưởng của các chế độ bón phân cho ngô tới khả năng che
3.13 Ảnh hưởng của việc bón phân khác nhau tới hiệu suất năng lượng
3.14 Ảnh hưởng của các chế độ bón phân trong trồng ngô tới cân bằng
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ
3.1 Số giờ nắng tại số trạm quan trắc tỉnh Sơn La năm 2011-2013 34
3.2 Lượng mưa tại Sơn La 2011-2013 35
3.3 Nhiệt độ không khí tại Sơn La 2011-2013 36
3.4 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô qua các năm tại Sơn La 40
3.5 Ảnh hưởng của các chế độ bón phân khác nhau đến hàm lượng chất dinh dưỡng hòa tan trong đất sau 3 vụ 54
3.6 Ảnh hưởng của phân bón đến diện tích lá và khả năng 58
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CEC : Dung tích hấp thu trao đổi của đất
FAO : Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện tại cũng như trong tương lai, sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được Vì nó đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm góp phần quan trọng cho ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế cho mỗi quốc gia Trên 40% số lao động trên thế giới đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp, phần lớn diện tích đất đai đang được sử dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Ở Việt Nam hiện nay tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tới 70%, phần lớn diện tích đất đai trong đó có đất dốc đang sử dụng để sản xuất nông nghiệp
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của nông nghiệp: đất đai, khí hậu và nguồn nước, dân cư và nguồn lao động, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật… Để nâng cao năng suất trong sản xuất lương thực thì không thể không
sử dụng phân bón, đặc biệt là phân bón hóa học Đây là những loại phân bón
có chứa hàm lượng lớn những nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu (N, P, K…) ở dạng dễ tiêu, khi bón cho cây sẽ giúp tăng năng suất và chất lượng cây trồng, tuy nhiên nếu bón phân không hợp lý sẽ để lại các hậu quả tiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái
Vấn đề môi trường gần đây thu hút nhiều sự chú ý của toàn xã hội Ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp và sử dụng phân bón trong nông nghiệp đến môi trường cần được nhìn nhận toàn diện hơn Vì ’’ngăn ngừa người nông dân tiếp cận với giống mới, phân bón, thuốc BVTV, thế giới sẽ bị diệt vong bởi nạn đói và rối loạn xã hội trước khi bị diệt vong do bị ô nhiễm môi trường như một số người vẫn thường nói” (N Borlaurg, 1994), hơn thế bón phân là nhằm “ trả lại cho đất các chất khoáng cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch, để đất khỏi kiệt quệ” (J.Liebig, 1840)
Trang 12Sơn La là một trong những tỉnh miền núi, biên giới đang còn rất nhiều khó khăn ở phía Tây bắc của Việt Nam Hiện tại và trong lai gần nền kinh tế
và đời sống của dân trong Tỉnh vẫn phải chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng trọt Trong đó cây trồng chính là ngô và đất canh tác chính lại là đất dốc Theo niên giám thống kê năm 2012 tỉnh Sơn La thì toàn tỉnh có đến 168,74 nghìn ha đất trồng ngô cho sản lượng 667,35 nghìn tấn ngô đang chiếm phần quan trọng trong đảm bảo đời sống đồng bào các dân tộc đồng thời phát triển kinh tế của tỉnh.Vì vậy, trong hoàn cảnh dân số ngày càng tăng, qũy đất sản xuất lương thực có hạn, không còn con đường nào khác buộc Sơn La phải thâm canh ngô trên đất dốc để đảm bảo an ninh lương thực và an sinh xã hội nhưng phải gắn liền với bảo vệ môi trường Xuất phát từ những thực tiễn trên đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các chế độ bón phân cho cây ngô tới môi trường đất”
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.2 Yêu cầu của đề tài
• Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân khác nhau tới các yếu tố cần thiết cho quá trình quang hợp, tạo khả năng sản xuất của đất trồng trồng ngô: nước, khí cacbonic, dinh dưỡng khoáng
• Đánh giá ảnh hưởng của liên tục bón phân khác nhau tới tính chất hóa học,sinh học và khả năng bảo vệ đất trong trồng ngô
• Các giảm pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu của việc sử dụng phân bón phải
có tính khả thi
Trang 13CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sản xuất nông nghiệp và môi trường
1.1.1 Vai trò của sản xuất nông nghiệp
a Vai trò của SXNN trong đáp ứng nhu cầu thiết yếu và an sinh xã hội
Nông nghiệp là ngành sản xuất và cung cấp cho xã hội những sản phẩm tiêu dùng không thể thay thế được, những sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội như: lương thực, thực phẩm Vì như Ănghen đã viết: “Trước hết con người cần phải có ăn, uống và ở trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, kỹ thuật, tôn giáo ” Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói: “Có thực mới vực được đạo, phải làm cho nhân dân ta ngày càng ấm no” (Nguyễn Như Hà, 2006)
Nông nghiệp là một trong những ngành quan trọng sản xuất và cung cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp
Sự phát triển của nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phát triển kinh tế đất nước và tốc độ tăng trưởng của thu nhập quốc dân (Vũ Đình Thắng, 2002) Nông nghiệp là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm công nghiệp Đối với nước ta hiện nay hơn 70% dân số đang sống ở nông thôn đang đòi hỏi công nghiệp phải cung cấp một khối lượng lớn các loại tư liệu sản xuất cũng như hàng tiêu dùng Sản xuất nông nghiệp phát triển, đời sống kinh tế của nông dân được đảm bảo sẽ góp phần ổn định chính trị - xã hội, an ninh trật tự được giữ vững, từng bước đô thị hóa nông thôn
Nông nghiệp là nơi bổ sung lực lượng lao động cho công nghiệp và các ngành khác của nền kinh tế quốc dân Phát triển nông nghiệp sẽ tăng nguồn
dự trữ lương thực cho quốc gia, đảm bảo nhu cầu cho quân đội, tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước
Trang 14Như vậy nếu không có một nền nông nghiệp phát triển, một nền nông nghiệp tiên tiến thì nền kinh tế quốc dân khó có thể phát triển vững mạnh và với tốc độ cao được Điều đó càng có ý nghĩa quan trọng đối với những nước
có nền kinh tế lạc hậu, sản xuất chủ yếu là nông nghiệp như nước ta ( Nguyễn Đình Hợi,1993)
b.Vai trò của SXNN trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
Bản chất của quá trình trồng trọt là tạo điều kiện cho quá trình quang hợp của cây trồng xảy ra thuận lợi, trong đó áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau (giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, BVTV ) nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên: năng lượng mặt trời, tài nguyên nước, tài nguyên đất bằng bón phân hợp lý trong hệ thống: cây trồng- đất trồng - khí hậu - phân bón - kỹ thuật canh tác (Nguyễn Quang Tin, 2005)
Vì năng suất cây trồng là kết quả của quá trình quang hợp và được tạo thành trực tiếp từ các chất: nước, dinh dưỡng khoáng, CO2 và năng lượng mặt trời Trong đó nguồn năng lượng mặt trời và CO2 có rất nhiều trong tự nhiên
do các cơ thể quang hợp mới chỉ sử dụng được khoảng 2% tổng lượng mà mặt trời chiếu lên trái đất, CO2 do cây trồng lấy từ khí quyển qua lá cũng chỉ mới chiếm 3% tổng khối lượng của khí này có trong khí quyển và được phát thải
từ rất nhiều nguồn trong tự nhiên tới mức gây ô nhiễm môi trường Xét về tổng số, nước có trong tự nhiên thường thừa thãi so với yêu cầu của cây từ lượng mưa hàng năm nhưng do mưa phân bố không phù hợp với yêu cầu (lúc quá nhiều khi quá ít) nên cây trồng vẫn thường bị thiếu nước Do đó trong trồng trọt vẫn thường phải quan tâm cung cấp nước (tưới, tiêu) theo nhu cầu tạo năng suất của từng loại cây trồng, nhưng có thể khai thác từ những nguồn có sẵn trong tự nhiên (nước sông, suối ) (Nguyễn Như Hà, 2011) Trong thành phần hóa học của cây có các nguyên tố cấu tạo chính là: C chiếm tới 42%, H - 44%, O - 6% và tổng của chúng chiếm 92% khối lượng khô của cây, khoảng 8% chất khô còn lại do các nguyên tố dinh dưỡng
Trang 15khoáng (N,P…) tạo thành Các nguyên tố cấu tạo trên được cây trồng lấy từ CO2 trong khí quyển, còn H2O và các chất dinh dưỡng khoáng được cây lấy từ đất qua hệ thống rễ ( (Nguyễn Như Hà, 2011)
Nước được rễ cây hút từ đất vừa là nguồn dinh dưỡng (H và O) vừa là phương tiện vận chuyển các nguyên tố dinh dưỡng khoáng Nước không chỉ cần cho cây dinh dưỡng khoáng và quang hợp mà còn cần với số lượng lớn để thoát hơi nước qua lá Đây là quá trình có tác dụng điều hòa hoạt động sống của cây, trong đó sử dụng một phần năng lượng mặt trời, thải nước thừa của cây vào khí quyển Sự thoát hơi nước từ mặt lá cây cũng rất cần thiết cho quá trình quang hợp và tạo năng suất, do có tác dụng duy trì nồng độ dịch bào và giữ cho nhiệt độ trên mặt lá mà cây có thể chấp nhận được
Như vậy đối với cây trồng nước là nguồn cung cấp các nguyên tố cấu tạo chính H, O, đặc biệt H ( 42% chất khô) Do đó nước rất quan trọng không chỉ với cây trồng mà cả với khả năng sản xuất (độ phì nhiêu) của đất Nước chỉ phát huy tác dụng đối với cây thông qua đất và được bổ sung từ các nguồn có sẵn trong tự nhiên như: nước mưa, nước sông và suối Để tạo 1 tấn chất khô trong quá trình sinh trưởng tùy theo điều kiện cây cần bốc hơi nước, dao động
từ 30-80 tấn,trung bình 50 tấn nước (Nguyễn Như Hà, 2011)
Sản xuất nông nghiệp còn góp phần phòng chống, ngăn ngừa thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa khí hậu đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho
sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người… Có thể nói, trong các nhu cầu sử dụng tài nguyên đất để phát triển kinh tế xã hội ( công nghiệp, giao thông…) của con người, sử dụng đất cho trồng trọt là số ít nhu cầu sử dụng đất còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt trong tiêu thụ nguồn CO2 (Nguyễn Như Hà, 2011)
Trang 161.1.2 Hiện trạng và vai trò của trồng ngô ở miền núi phía Bắc
Trên thế giới, ngô (Zea mays) là cây lương thực có tiềm năng năng suất rất cao Ngô là cây có thể trồng trong những điều kiện khí hậu khác nhau, có khả năng chịu hạn và sử dụng nước tiết kiệm, không kén đất, có thể trồng được nhiều vụ trong năm Vì vậy cây ngô được trồng phổ biến ở khắp nơi và
là cây trồng thích hợp cho vùng đất dốc Ngô là cây lương thực có vị trí thứ 2 (sau lúa) ở Việt Nam, ngoài tác dụng làm lương thực (là lương thực chính của một số dân tộc ít người), ngô hiện được dùng chủ yếu cho chăn nuôi, làm nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi (Nguyễn Như Hà, 2006)
Miền núi phía Bắc là một trong những vùng trồng ngô chính của Việt Nam Sản xuất ngô ở đây còn đặc biệt quan trọng trong ổn định đời sống của phần lớn dân số sống bằng nghề nông Cây ngô ngày càng có vai trò quan trọng đối với nông dân miền núi phía Bắc bởi ngô vừa là cây lương thực chủ đạo vừa là cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao, đem lại thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo do có thị trường tiêu thụ lớn
Vì vậy nhu cầu phát triển sản xuất ngô bền vững ở đây càng trở nên cấp thiết hơn bất cứ nơi nào Tuy nhiên trồng ngô ở miền núi ngoài những hạn chế, khó khăn như những vùng trồng ngô khác ở nước ta còn có một số khó khăn khác: đất dốc bị xói mòn, rửa trôi mạnh và vận chuyển khó khăn; thường hoàn toàn dựa vào nước trời ((Nguyễn Như Hà, 2003)
Điều kiện và yêu cầu phát triển sản xuất ngô ở Việt Nam rất lớn, đặc biệt ở vùng miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Sơn La Những tiến bộ mới về giống ngô, kỹ thuật canh tác tiến bộ đã được chuyển giao, áp dụng phổ biến cho rất nhiều tỉnh miền núi phía Bắc làm tăng năng suất và giá trị hàng hoá cao hơn gấp nhiều lần so với trước đây Nhưng hiện tại nước ta vẫn phải nhập khẩu700.000- 1000 000 tấn ngô hạt/năm, do sản xuất ngô đang có một
số tồn tại lớn: Năng suất ngô trung bình của Việt Nam tuy đã tăng liên tục
Trang 17trong 20 năm gần đây, nhưng mới đạt 3,96 tấn/ha và bằng 81% của thế giới, thấp hơn rất nhiều so với các nước năng suất cao ( 8 - 10 tấn/ha) và với năng suất trong thí nghiệm
Song ngô chưa phát huy được tiềm năng phát triển của nó do trong sản xuất ta mới chỉ chú trọng được nhiều đến giống ngô Để đạt năng suất cao cây ngô lai đòi hỏi phải thâm canh, trong đó có yêu cầu đầu tư vốn không chỉ cho giống mà cả phân bón và các vật tư khác Các biện pháp canh tác ngô mặc dù
đã được cải thiện nhiều xong vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của các giống mới nên là những yếu tố hạn chế năng suất ngô hiện nay ở Việt Nam (Nguyễn Như Hà, 2003)
Năm 2004, sản lượng ngô vùng Đông Bắc đạt 629,5 nghìn tấn, tăng bình quân 16,17%/năm giai đoạn từ 1990 đến 2004 và Tây Bắc là 383,0 nghìn tấn, tăng 44,03%/năm Đối với Tây Bắc, ngô trở thành một trong những cây xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho đồng bào dân tộc
Bảng 1.1 Năng suất ngô ở các vùng phía Bắc giai đoạn 2005-2010
Năm
Năng suất ngô giai đoạn 2005-2010
Trang 18Tuy nhiên, với việc khai thác thiên nhiên để trồng ngô như hiện nay chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả xấu trong tương lai như: tài nguyên rừng
bị suy thoái, độ phì đất giảm, đất mất khả năng canh tác…
Sơn La là một trong những tỉnh miền núi ở phía Tây bắc của Việt Nam vẫn phải chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng trọt Trong đó cây trồng chính là ngô và đất canh tác chính lại là đất dốc Đây là tỉnh có diện tích và sản lượng ngô đã không ngừng tăng lên và chiếm một tỷ
lệ đáng kể trong tổng năng suất và sản lượng ngô của cả nước
1.1.3 Sản xuất nông nghiệp trên đất dốc và môi trường
Đất dốc chiếm khoảng 3/4 diện tích đất tự nhiên của Việt Nam, ở vùng trung du và miền núi có diện tích đất đồi núi chiếm 90% tổng diện tích đất tự nhiên của vùng.nước ta và là vùng kém phát triển, đời sống nông dân còn rất khó khăn và chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Vì vậy bắt buộc người dân
ở vùng trung du miền núi phải sử dụng đất đồi núi để sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng cho cuộc sống của họ (Phạm Đức Tuấn,Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Hữu Lộc, 2003)
Kết quả nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy: Điểm nổi bật nhất và cũng là xu thế của nhiều vùng đất dốc, là sự thoái hoá đất Các nguyên nhân gây thoái hóa đất trồng thường là: Xói mòn, rửa trôi; Chế độ tưới tiêu; Bón phân không cân đối; Kỹ thuật canh tác không hợp lý
Xói mòn và rửa trôi là nguyên nhân gây thoái hoá thường xuyên và quan trọng nhất đối với đất dốc vùng nhiệt đới ẩm, vì nó không chỉ làm suy thoái độ phì nhiêu tầng đất mặt, gây chua hoá đất mà còn có thể làm mất dần lớp đất canh tác Tác động này càng nặng nề, nếu đất dốc không được che phủ thường xuyên, hoặc đất bị canh tác ngay trước hay trong khi mưa Xói mòn và rửa trôi thường liên quan tới lượng mưa; độ dốc; độ che phủ và thảm thực vật; biện pháp canh tác…
Trang 19Chế độ tưới, tiêu “nhờ nước trời”, lúc gây hạn, lúc quá nhiều nước, đặc biệt khi lượng mưa quá lớn, trở thành “đồng minh đắc lực” của xói mòn, rửa trôi và cũng là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất dốc Kỹ thuật canh tác không hợp lý như: Sử dụng cây, giống cây trồng không phù hợp với điều kiện sinh thái; làm đất, gieo trồng không theo đường đồng mức; xới xáo đất khi mưa sẽ trở thành nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất
Thực tiễn sản xuất ở khắp nơi trên thế giới cho thấy, trồng trọt mà không bón phân thì năng suất cây trồng vừa không thể đạt cao vừa nhanh chóng giảm và không còn cho hiệu quả kinh tế, do độ phì nhiêu của đất giảm mạnh Bón phân còn làm giảm rửa trôi, xói mòn đất nhờ sự tăng trưởng mạnh sinh khối cây trồng, tạo độ che phủ mặt đất tốt hơn.Hầu hết các loại cây trồng trên đất dốc không được quan tâm bón phân, tưới nước, bảo vệ độ phì của đất (tập quán trồng tỉa theo vụ mưa và trồng chay) Tập quán này cũng là nguyên nhân dẫn tới đất bị suy thoái nhanh do cây trồng hàng năm lấy chất dinh dưỡng của đất mà không được bổ sung tiếp Hơn nữa, năng suất cây trồng cũng rất thấp và giảm đi nhanh chóng Ở những đất mới khai hoang, năng suất lúa nương có thể đạt 2-2,5 tấn/ha, nhưng chỉ sau 3 vụ chỉ còn hơn 1 tấn/ha, thậm chí đến vụ thứ 4 là không cho thu hoạch Ở những nơi, trong những năm trời ít mưa, khô hạn kéo dài thì năng suất cây trồng cũng giảm hẳn hoặc không cho thu hoạch, có khi cây bị chết khô
Tập quán canh tác cạo sạch bề mặt đất dốc trước mùa tra tỉa hạt (rất phổ biến ở vùng đồi núi Tây Bắc, Việt Bắc) theo kinh nghiệm của người dân
là để diệt cỏ, diệt mầm sâu bệnh cho cây trồng, song lại là một kiểu canh tác làm suy thoái đất nhanh chóng Nếu trời nắng nóng hạn kéo dài, nước trong đất sẽ bốc hơi mạnh, làm thiếu độ ẩm cho cây trồng, gây hiện tượng kết vón đất Nếu mưa đến sớm và cường độ mạnh khi cây trồng còn nhỏ, non thì xảy
ra xói mòn rửa trôi đất và nhiều khi trôi cả cây trồng ( Thái Phiên và Nguyễn
Tử Siêm,1998)
Trang 20Các hoạt động sản xuất trên đất dốc thường dùng lao động đơn giản, bằng sức lao động của con người là chính (lao động cơ bắp) và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên (thời tiết, đất, nước ), vì vậy năng suất lao động thấp, năng suất cây trồng cũng thấp, bấp bênh, kiến thức và kinh nghiệm sản xuất mang tính truyền thống dân gian gọi là kiến thức bản địa lưu truyền qua các thế hệ bằng thực tiễn sản xuất thích hợp với tập tục canh tác và lối sống của từng dân tộc trên các vùng đất dốc khác nhau Vì vậy, canh tác đất dốc đã trải qua một phương thức sản xuất du canh du cư kéo dài, một loại hình sản xuất kém bền vững và để lại hậu quả đất bị suy thoái nghiêm trọng không còn khả năng sản xuất nông nghiệp thậm chí cũng không có khả năng phục hồi thảm thực vật theo quy luật tự nhiên (vì vậy đã hình thành hàng triệu ha đất trồng đồi núi trọc, đất xói mòn trơ sỏi đá) Phương thức sản xuất này không chỉ đe dọa nghiêm trọng vấn đề an toàn lương thực vùng đồi núi mà còn phá hủy môi trường sản xuất (đất và sinh vật), gia tăng các hậu quả của thiên tai như lũ lụt, hạn hán kéo dài
Bảng 1.2 Đất đỏ Bazan bị thoái hóa, suy giảm dinh dưỡng do quá trình
rửa trôi trên đất dốc vùng đồi núi Sơn La
Phương thức sử dụng Mùn
(%)
Lân tổng số (P
2 O
5 %)
Caxi - Magiê (me/100 g đất)
Dung tích hấp thụ (me/100 g đất)
Nguồn: Hội khoa học đất Việt Nam, 2005
Trang 21Cây ngô ở Sơn La chủ yếu là trồng ở trên nương nên phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt là thời tiết và khí hậu Do địa hình dốc nên trồng ngô trên nương phụ thuộc nhiều vào “nước trời”, khi gặp thời tiết không thuận lợi thì nguy cơ mất mùa rất lớn Độ dốc lớn, hiện tượng xói mòn, rửa trôi, thoái hóa đất rất lớn, làm giảm năng suất, hiệu quả trong sản xuất ngô Trình độ canh tác ngô của nông dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa nông dân vẫn gieo trồng theo tập quán quảng canh theo kiểu truyền thống nên vấn đề bảo vệ đất và điều tiết nước không được chú trong từ đó ảnh hưởng đến tính sản xuất lâu bền của đất và năng suất cây ngô Ước tính lượng đất mất đi do xói mòn với canh tác ngô độc canh là 23,1 tấn/ha/vụ ( Hà Đình Tuấn và Lê Quốc Doanh, 2006) Như vậy với diện tích ngô ở Sơn La 2012 khoảng 168,74 nghìn ha thì lượng đất mất đi là 3.897.894 tấn
Bảng 1.3 Lượng đất mất và năng suất cây trồng của các phương thức
canh tác đất dốc
Phương thức canh tác Độ dốc và
lượng mưa
Xói mòn (tấn/ha/năm)
Năng suất (tạ/ha)
Ngô trên dốc tự nhiên
Ngô trên bậc thang
Ngô - mương bờ
7-8o1.056,8 mm
142,8 0,0 56,0
18,0 16,0 19,0 Ngô xen đậu
Ngô thuần
86,4
32,1 24,2
Nguồn: Nguyễn Đức Loan.(2005)
1.2 Sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp và môi trường
1.2.1 Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp
a.Vai trò của phân bón đối với năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng Vai trò của phân bón đối với năng suất cây trồng
Qua điều tra, tổng kết về vai trò của phân bón với cây trồng ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy: Trong số các biện pháp kỹ thuật trồng
Trang 22trọt liên hoàn (làm đất, giống, mật độ gieo trồng, BVTV ), bón phân luôn là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng lớn nhất, quyết định nhất đối với năng suất
và sản lượng cây trồng Giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng của mình, cho năng suất cao khi được bón đủ phân và bón hợp lý ((Nguyễn Như
Hà, 2010)
Từ thực tiễn sản xuất cho thấy không có phân hoá học thì không có năng suất cao Ở các nước có hệ thống nông nghiệp phát triển trong hơn 100 năm trở lại đây (từ khi bắt đầu sử dụng phân bón hoá học), việc sử dụng phân khoáng làm tăng hơn 60% năng suất cây trồng
Cách mạng xanh ở Ấn Độ: Năm 1950, khi nông dân Ấn Độ chưa biết dùng phân bón chỉ sản xuất được 50 triệu tấn lương thực/năm, bị thiếu đói trầm trọng Năm 1984 nhờ sử dụng 7,8 triệu tấn phân bón/năm đã đưa sản lượng lương thực lên 140 triệu tấn, khắc phục nạn đói triền miên cho Ấn Độ Kết quả điều tra của FAO trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ 20 trên phạm vi toàn thế giới cho thấy: tính trung bình phân bón quyết định 50% tổng sản lượng nông sản tăng lên hàng năm và bón 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất thì thu 10 tấn hạt ngũ cốc Tổng kết về vai trò của các yếu tố kỹ thuật trong nông nghiệp hiện đại ở Mỹ: Năng suất quyết định bởi 41% do phân khoáng, 15-20% do thuốc bảo vệ thực vật, 15% do hoàn thiện các biện pháp
kỹ thuật, 8% do chọn giống và tưới nước, 11-18% do các yếu tố khác Năm 1997, kết quả điều tra ở Việt Nam tính trung bình phân bón làm tăng 38-40% tổng sản lượng, dự báo sẽ lớn hơn có thể tới 75% năng suất lúa và bón 1 tấn dinh dưỡng nguyên chất thu được 13 tấn ngũ cốc
Vai trò của phân bón đối với chất lượng sản phẩm cây trồng
Nhờ bộ rễ cây trồng hút các chất dinh dưỡng có trong đất và phân bón
để cung cấp các nguyên tố cần thiết cho mọi hoạt động sống, tạo nên năng suất và chất lượng sản phẩm Phẩm chất nông sản do nhiều loại hợp chất hữu
Trang 23cơ chi phối, và sự hình thành những hợp chất hữu cơ đó là kết quả của những quá trình sinh hoá do nhiều loại men điều khiển Phân bón (nhất là phân kali
và vi lượng) tác động mạnh nên tính chất và hàm lượng của các loại men nên cũng có khả năng tạo phẩm chất tốt (Nguyễn Như Hà, 2010)
• Phân Kali: có nhiều ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm của cây trồng, đặc biệt có ảnh hưởng tới hàm lượng đường, bột và chất lượng sợi
• Vi lượng: Có vai trò chủ yếu là hình thành và kích thích hoạt động của các hệ thống men trong cây Cho nên vi lượng xúc tiến, điều tiết toàn bộ các hoạt động sống trong cây: Quang hợp, hô hấp, hút khoáng, hình thành, chuyển hoá và vận chuyển các hợp chất hữu cơ trong cây
• Phân lân: làm tăng phẩm chất các loại rau, cỏ làm thức ăn gia súc và chất lượng hạt giống
• Phân đạm làm tăng rõ hàm lượng protein và caroten trong sản phẩm,
và làm hàm lượng xenlulo giảm xuất
Vậy: bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng không chỉ làm tăng năng suất mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm về hàm lượng các chất khoáng, protein, đường và vitamin (Nguyễn Như Hà, 2010)
Vai trò của các chất dinh dưỡng chính đối với cây trồng
Trong ngành trồng trọt và theo tiêu chí về độ phì nhiêu đất sở dĩ việc cung cấp các chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu, đặc biệt là các chất đa lượng,
có vai trò rất quan trọng đối với cây trồng vì những lý do sau đây:
Đạm là chất không thể thiếu đối với các cơ thể sinh vật nói chung và đối với cây trồng nói riêng; đạm là yếu tố chính, yếu tố quyết định sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây Do đạm là thành phần cơ bản và thường chiếm 15-17% của chất protein - chất biểu hiện của sự sống Không
có N thì không có protein và cũng không có sự sống, vì vậy cây không có đạm thì cây sẽ chết Đạm có trong nhiều hợp chất hữu cơ, rất cơ bản và rất
Trang 24cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây: Diệp lục, các axit nucleic (ADN và ARN), các loại men, bazơ có đạm, một số hợp chất có hoạt tính sinh học cao Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá các bon vì nằm trong thành phần của diệp lục, đạm có tác dụng kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác của cây(Nguyễn Như Hà, 2010)
Lân là một trong những chất cần thiết bậc nhất của quá trình trao đổi chất của thực vật, do có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phân chia tế bào, tạo thành chất béo và protein Lân thúc đẩy sự phát triển bộ rễ, đặc biệt là các
rễ bên và lông hút (là bộ phận trực tiếp hấp thu dinh dưỡng của cây), kích
thích sự hình thành nốt sần ở cây bộ đậu Lân cũng là yếu tố của sự sinh
trưởng và phát triển của cây, đủ lân hạn chế tác hại của việc thừa N, tăng khả năng hút N cho cây, cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt hơn, thúc đẩy việc ra hoa
và hình thành quả ở cây, làm quả mau chín Cây trồng được cung cấp đủ lân sẽ
có tỷ lệ năng suất thương phẩm (hạt, quả ) cao hơn trong tổng năng suất sinh vật, có hàm lượng đạm protein tăng lên nhiều còn N không protein giảm xuống rất thấp do đó phẩm chất hạt tăng lên, ăn ngon hơn Lân là yếu tố quyết định phẩm chất hạt giống do làm cho hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao, hạt đầy đặn (mẩy), vỏ có màu sắc đẹp hấp dẫn Lân còn có tác dụng tạo cho cây có khả năng điều hoà những sự thay đổi về phản ứng môi trường nhờ sự chuyển hóa của 2 dạng phốt phát hoá trị 1 và 2 tồn tại ở trong cây (thay đổi hoá trị), giúp cây tăng các khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận như: khả năng chịu rét, chịu hạn
và khả năng chống chịu sâu bệnh hại cây trồng (Nguyễn Như Hà, 2010)
Kali tham gia rất tích cực vào quá trình quang hợp, tổng hợp các chất hydratcácbon hay gluxit của cây nên các cây lấy bột, lấy đường, lấy sợi có nhu
cầu K cao Kali điều tiết các hoạt động sống của cây, tham gia vào quá trình phân
chia tế bào; tăng cường khả năng hút các chất dinh dưỡng khác, làm giảm tác hại của việc thừa N, tăng khả năng chống đổ và chống chịu các điều kiện khí hậu bất thuận, chống chịu sâu, bệnh hại cây Kali có ảnh hưởng nhiều tới chất lượng sản
Trang 25phẩm của cây trồng, làm tăng hàm lượng đường, tinh bột, số lượng và chất lượng sợi, chất lượng thương phẩm của các nông sản
Cây trồng lấy các nguyên tố dinh dưỡng khoáng thiết yếu chủ yếu từ đất, tuy nhiên trữ lượng và khả năng cung cấp dưới dạng dễ tiêu đối với cây của các chất này có trong đất lại có hạn, đặc biết đối với các loại đất nghèo dinh dưỡng Do đó việc đảm bảo dinh dưỡng khoáng bằng bón phân cân đối cho cây trồng trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của trồng trọt (Nguyễn Như Hà, 2010)
b Vai trò của phân bón với thu nhập của người sản xuất
Như trên đã thấy, bón phân là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng quyết định đối với năng suất, phẩm chất nông sản và hiệu lực của các biện pháp kỹ thuật khác, nên trong trồng trọt người sản xuất rất coi trọng đầu tư phân bón Phân bón còn là một vật tư sản xuất thường chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí vật
tư và tổng chi phí của trồng trọt Vì vậy việc sử dụng phân bón hiệu quả sẽ làm tăng nhiều thu nhập và lợi nhuận cho người sản xuất Andre Gros (1977) cho biết: Một trong những điều kiện cơ bản của lợi nhuận nông nghiệp là tận dụng được vốn kinh doanh, trong đó vốn dùng cho phân bón có tác dụng kích thích lãi và không nên hà tiện Kinh nghiệm ở Pháp cho thấy việc tăng chi phí
về phân bón thường đi đôi với việc tăng thu nhập và lãi thuần
Bón phân cân đối trong trồng trọt còn giải quyết được mâu thuẫn giữa việc đạt năng suất cây trồng cao và chất lượng sản phẩm để đảm bảo thu nhập cao cho nông dân
Người trồng trọt có thể bón phân để đạt lợi nhuận tối đa từ một đơn vị diện tích trồng trọt thông qua việc xác định được lượng phân bón và năng suất tối thích kinh tế càng cao trong mối quan hệ với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn tiên tiến Nghiên cứu của HLS.Tandon (1994) về sản xuất của 1 nông hộ trên 2 ha cho thấy, nhờ thâm canh cao dù chi phí sản xuất tăng nhiều hơn (1200$, trong đó tăng chi phí phân bón nhiều nhất- 500$) mà làm tăng thu nhập (4000$) nhiều lần (hơn 8 lần) so với không thâm canh (480$) Tính
Trang 26hợp lý của việc bón phân trong trồng trọt cũng bị các quy luật kinh tế chi phối, vì giá của nông sản thấp hay giá của phân bón cao sẽ giới hạn khả năng tăng sử dụng phân bón để đạt lợi nhuận tối ưu cho sản xuất trong từng điều kiện cụ thể
Như vậy sử dụng phân bón hợp lý là biện pháp kỹ thuật hiệu quả nhất đối với sự phát triển và hoàn thiện của trồng trọt Vì không chỉ quyết định năng suất, chất lượng nông sản cao, ổn định độ phì nhiêu đất mà còn là cơ sở quan trọng cho việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt khác phát huy hiệu quả nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho người sản xuất mà không gây hại môi trường( Nguyễn Đăng Nghĩa, Mai Văn Quyển và Nguyễn Mạnh Chỉnh, 2005)
c.Tác dụng của phân bón đối với độ phì nhiêu đất
Khái niệm về độ phì nhiêu đất
Khái niệm về độ phì nhiêu đất gắn liền với quá trình hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp Do yêu cầu sử dụng đất để trồng trọt, nên rất quan tâm đánh giá đất theo khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu và nước cho cây trồng ( là những chất thường bị thiếu trong quá trình trồng trọt) để tạo ra nông sản phẩm (năng suất cây trồng) Các khái niệm đầu tiên về độ phì nhiêu tự đất chỉ giới hạn trong phạm vi mà đất có thể đảm bảo những điều kiện thích hợp cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt để đạt năng suất và phẩm chất nông sản cao là: nước và các chất dinh dưỡng khoáng Tuy nhiên độ phì nhiêu đất dù chỉ trong mối quan hệ giữa cây trồng và đất cũng là một khái niệm phức tạp và hết sức tương đối vì: Đối với cây trồng đất
có 2 vai trò chính:là kho dự trữ, cung cấp thức ăn và là chỗ dựa cho cây Để đảm bảo các vai trò trên, trước hết đất cần có nước và các chất dinh dưỡng khoáng đủ đáp ứng yêu cầu của cây, ngoài ra cần có những đặc điểm vật lý đảm bảo cho chế độ khí, nhiệt phù hợp với cây( Võ Minh Kha, 2003)
Trang 27Quá trình phát triển nông nghiệp từ sản xuất "tự cấp, tự túc" sang sản xuất"hàng hóa" và tiến bộ của khoa học đã tạo ra những nhận thức mới về độ phì nhiêu hay sức sản xuất của đất Từ chỗ con người chỉ sống dựa vào sản xuất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày là lương thực, thực phẩm Xã hội ngày càng phát triển với dân số và nhu cầu ngày càng tăng mạnh cùng với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật đã tạo ra nhiều ngành sản xuất hiệu quả hơn (công nghiệp, thương mại, dịch vu…) mang lại thu nhập cao hơn cho người sản xuất Đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải phát triển theo hướng hàng hóa để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao không chỉ của
cư dân nông nghiệp mà còn đa dạng và phong phú của toàn xã hội Đặc biệt sau khi J Liebig (1840) nêu thuyết dinh dưỡng khoáng và lý thuyết bón phân cho cây trồng, đặt nền móng vững chắc cho việc sản xuất và sử dụng phân bón hoá học trong sản xuất nông nghiệp.Cũng từ đây các nhà khoa học và người sản xuất dần dần phát hiện ra rằng, độ phì nhiêu thực tế hay khả năng sản xuất thực tế của đất trồng không chỉ liên quan đến đất và cây trồng mà còn bao gồm nhiều nhân tố khác như: khí hậu, cơ sở hạ tầng, trình độ khoa học và khả năng tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật mới của những người tham gia trong quá trình sản xuất nông nghiệp
Tác dụng của phân bón đến độ phì của đất
Qua thực tiễn sản xuất người ta nhận thấy, phân bón không ảnh hưởng đến độ dày tầng đất Kĩ thuật canh tác, cày bừa, xới xáo có ảnh hưởng lớn hơn
Phân hữu cơ ảnh hưởng đến kết cấu đất, từ đó ảnh hưỏng nhiều đến các
lí tính cơ bản của đất Chẳng hạn như độ thoáng khí, khả năng giữ ẩm, giữ phân và việc chuyển hoá các chất dinh dưỡng cho cây trồng Để đảm bảo tác dụng làm thức ăn cho vi sinh vật và động vật trong đất, chất hữu cơ phải là chất hữu cơ tươi Chất hữu cơ chỉ có lợi cho hoạt động của vi sinh vật có ích
Trang 28trong điều kiện háo khí Sự phân giải nhiều chất hữu cơ trong điều kiện ngập nước gây tình trạng thiếu ôxi, tạo nhiều axit hữu cơ, làm tăng độ chua là điều kiện thích hợp cho các loại nấm bệnh hại cây trồng
Người ta cho rằng phân vô cơ ảnh hưởng xấu đến hoạt động của vi sinh vật đất Bón nhiều phân đạm thì hoạt động cố định N của vi sinh vật cố định đạm tự do và cộng sinh đều có thể bị ức chế Nhưng những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, chỉ khi bón phân với số lượng quá cao mới
gây ảnh hưởng Thí dụ: Đối với cây họ đậu cung cấp một số lượng đạm vô
cơ vừa phải vào giai đoạn đầu khi cây chưa hình thành nốt rễ sẽ làm cho cây phát triển mạnh, phát sinh nhiều nốt sần hơn, cung cấp đạm tốt hơn cho giai đoạn sau Phân kali, đặc biệt là phân lân rất hữu ích cho hoạt động của các loại vi sinh vật có ích
Được biết các loại phân hoá học cũng ảnh hưởng rất lớn đến độ chua
của đất Các loại phân hoá học hiện nay rất hiếm cây khử được chua ngoài phân lân tự nhiên và các loại phân lân ít hoà tan như phân lân nung chảy, phân lân thái hoá một phần và kali cacbonat, vôi Gần đây người ta sản xuất
một số loại phân không gây chua hoặc gây chua ít như: phân đạm, phân DAP,
phân amôn sunfat (phân SA), amôn clorua, supe lân, phân kali…
Với các vùng đất nhiệt đới mưa nhiều, các chất kiềm dễ bị rửa trôi, chua, cho nên cần chọn loại phân vô cơ ít gây chua, mới đảm bảo cho cây
trồng sinh trưởng và phát triển tốt
Phân bón là một hỗn hợp chứa các chất dinh dưỡng và các chất khác
Trong quá trình trồng cây, việc bón phân không đúng kĩ thuật, sẽ gây ra nhiều bất lợi Các chất có trong phân tích luỹ nhiều sẽ gây độc hại.Các loại phân hữu cơ, phân rác sản xuất từ phế thải sinh hoạt và phế thải công nghiệp chứa các thành phần phụ gây ảnh hưởng xấu như: thuỷ ngân, asen, sêlen, cađimi, chì… Các loại phân bón hoá học, tuỳ theo nguyên liệu chế biến và quá trình sản xuât cũng có chứa chất gây độc Có loại phân chỉ gây hại sau khi
Trang 29bón nhưng không tích luỹ gây độc lâu dài, nhưng có loại phân bón hóa học thì ngược lại (Nguyễn Như Hà, 2011)
1.2.2 Sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp và môi trường
a Hiện tượng suy giảm độ phì nhiêu đất trong quá trình trồng trọt
Nghiên cứu so sánh đất tự nhiên với đất trồng trọt ở Canađa cho thấy hiện tượng suy giảm độ phì nhiêu đất trong quá trình trồng trọt thể hiện cụ thể như sau:
Đối với đạm đất trồng trọt có sự sút kém về hàm lượng đạm so với đất tự nhiên, trong đó 50% là do cây trồng lấy đi theo sản phẩm, 50% là do rửa trôi Đất càng có hàm lượng đạm cao thì sự rửa trôi đạm càng trầm trọng hơn trong điều kiện đất đã khai phá để trồng trọt, vì việc khai hoang, cày bừa, làm đất đã tạo điều kiện cho đạm bị rửa trôi nhiều hơn Tuy trong thực tế trên một số loại đất trồng, vi sinh vật cố định hoặc cộng sinh được nhiều đạm khí trời, làm giàu thêm đạm cho đất, nhưng thường là không bù đắp được so với lượng đạm đã bị mất đi Vì vậy, từ đất thiên nhiên chuyển sang đất trồng trọt, luôn luôn có sự thiếu hụt về đạm và cần thiết phải bón thêm đạm mới đảm bảo cây trồng cho năng suất trên hầu hết các loại đất của thế giới, nhất là ở miền nhiệt đới
Đối với lân, quá trình chuyển đổi từ đất thiên nhiên qua đất trồng trọt tạo ra sự thay đổi phức tạp hơn Lượng lân bị tiêu hao của đất chủ yếu là do cây trồng lấy đi, nhất là trong trường hợp thu hoạch lấy đi tất cả sản phẩm, không để lại gì cho đất Quá trình rửa trôi làm giảm tỷ lệ lân của đất không nhiều lắm và lân bị mất đi ở dạng khí (H3P) là không đáng kể Một phần lớn lân được giải phóng từ các hợp chất hữu cơ lại tác động trở lại với đất chuyển thành hợp chất photphat sắt, nhôm hoặc canxi Như vậy đối với lân mặc dù việc giải phóng lân từ những hợp chất hữu cơ và chất khoáng phần lớn không phải bị rửa trôi, nhưng bị cố định chặt ở dạng khó tan nên cây trồng khó hấp thụ, đồng thời lại bị cây lấy đi theo sản phẩm thu hoạch Vì vậy, đất trồng trọt
Trang 30vẫn ngày càng nghèo lân hơn nếu ta không bón thêm lân để trả lại cho đất lượng mà cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch( Vũ Hữu Yêm, 1995) Đối với kali mặc dù trong đất tự nhiên thường có hàm lượng kali tổng
số cao nhưng đều ở dạng khoáng và có một sự cân bằng giữa các dạng kali (của đất) trong khoáng sét, trong phức hệ hấp thu, trong dung dịch đất Khi đất được khai phá để trồng trọt thì cân bằng đó bị phá vỡ, do một phần kali hấp thu bị trao đổi với những ion từ trong phân, một phần nữa do rửa trôi và phần thứ ba rất quan trọng là phần bị cây trồng hấp thu Nói chung, các loại cây trồng hút kali nhiều hơn đạm (ở cùng một cây) và nhiều hơn so với cây hoang dại Do đó trong quá trình trồng trọt, lượng kali của đất bị giảm đi so với đất tự nhiên và giảm đi nhiều hơn so với đạm Vì thế, đối với những đất nghèo kali, bón phân kali cũng có tác dụng cải tạo đất Trường hợp đặc biệt ở đất nhiệt đới phát triển trên đá bọt (núi lửa) có nhiều khoáng giàu kali thì có khả năng trồng trọt một thời gian dài không cần phải bón phân kali, nhưng kinh nghiệm là: nếu cứ bón N và P thì sau một thời gian kali cũng trở thành yếu tố hạn chế Đất càng giàu sét thì càng có thể kéo dài việc trồng trọt không bón kali ( Nguyễn Văn Bộ, 1993)
Tóm lại, trong quá trình trồng trọt những nguyên tố dinh dưỡng cây hút được từ khí quyển (C, H, O) thực tế không bao giờ cạn Nhưng đối với các dinh dưỡng thiết yếu cần phải cung cấp bằng phân bón như N, P, K, Ca mà cây trồng hút rất nhiều từ đất (tùy theo mức độ thâm canh tăng vụ) thì trữ lượng các chất này có trong đất lại có hạn nên đất nghèo đi nhanh chóng nếu trồng trọt không bón phân hay bón phân không đủ, không hợp lý
Trong điều kiện nhiệt đới ẩm của nước ta, ngoài hiện tượng suy giảm
độ phì nhiêu đất do cây trồng trong quá trình trồng trọt lấy đi để đạt năng suất
và sản lượng cao, còn có những nguyên nhân làm suy giảm độ phì nhiêu đất mang tính đặc thù sau: Nông dân thường không quan tâm bón phân đủ trả lại
Trang 31cho đất phần chất dinh dưỡng mà cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch (nhất là khi sản phẩm thu hoạch bao gồm cả phụ phẩm); do tác động của đặc điểm khí hậu mà sự thay đổi tính chất đất có cường độ mạnh hơn so với các nước ôn đới và có thể nhanh chóng dẫn đến một sự suy giảm độ phì nhiêu đất hơn Những quá trình chuyển hoá trong đất dưới tác động của những yếu tố khí hậu làm cho các khoáng sét bị phân huỷ và giải phóng một phần chất dinh dưỡng cho cây trồng Tuy nhiên, do những hiện tượng chuyển hoá tiếp theo, những quá trình rửa trôi, xói mòn, những biện pháp canh tác không hợp lý, dần dần dẫn đến tình trạng thoái hoá của đất; do đó độ phì của đất bị giảm sút Chất hữu cơ trong đất là một nguồn chất dinh dưỡng có tương quan rất chặt chẽ với độ phì của đất, dưới tác động của ẩm độ và nhiệt độ cao, bị phân giải khá nhanh chóng và bị rửa trôi dần dần… Vì vậy, nói chung chế dộ dinh dưỡng hay độ phì nhiêu của đất ngày càng bị sút kém đi.( Nguyễn Vy, 1998)
b.Suy giảm độ phì nhiêu của đất do việc sử dụng phân bón không cân đối
30 năm trước đây.( Nguyễn Vy,1998)
Trang 32c Hiện tượng du canh, du cư ở miền núi :
Canh tác nương rẫy là hình thức trồng tỉa cây nông nghiệp từ đất rừng
bị chặt phá Sau một số vụ gieo trồng, đất trở nên ngheò kiệt, không hoặc cho năng suất rất thấp, thì đất được bỏ hóa tự nhiên cho cây rừng tái sinh Khi đất được phục hồi độ phì bằng con đường tự nhiên, người ta lại chặt phá để trồng tỉa trở lại
Do đốt nương làm rẫy , rừng bị chặt phá, đốt cháy bề mặt đất bị bốc trần để lộ ra nên tác động của mưa gây nên xói mòn rửa trôi Khi bị xói mòn rửa trôi,lớp đất màu mỡ trên mặt ruộng bị cuốn trôi đi, kéo theo lượng dinh dưỡng cũng bị mất theo Hậu quả , độ phì nhiêu giảm sút, thoái hóa, đất mất sức sản xuất
Canh tác nương rẫy là tác nhân trực tiếp và nguy hiểm nhất lam suy giảm rừng hạn chế che phủ bề mặt Đất đồi núi sau khi khai hoang trồng tỉa cây lương thực , với phương thức quảng canh Đốt nương rẫy làm cháy nguồn hữu cơ quý giá trong đất, đồng thời với quá trình rửa trôi, xói mòn nên hữu cơ đất( mùn đất) giảm nhanh chóng Sau 3-5 năm làm nương rẫy trồng lúa cạn, ngô, sắn hàm lượng hữu cơ trong đất giảm từ 6,1 xuống còn 2,2% ở Đắc Lắc
và 5,5 xuống đến 1,7% ở Lâm Đồng(Lê Quốc Doanh, Nguyễn Văn Bộ và Hà Đình Tuấn, 2003)
d.Tình trạng ô nhiễm môi trường đất do sử dụng phân bón
Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là chìa khóa của sự thành công trong cách mạng xanh, trong nền nông nghiệp công nghiệp hóa để đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm Tuy nhiên trong những năm gần đây nhiều người lo ngại về ảnh hưởng của phân bón hóa học và thuốc BVTV đến môi trường và sức khỏe con người Hệ sinh thái nông nghiệp đã và đang có những biểu hiện báo động về sự suy thoái nghiêm trọng ( Lê Văn Khoa, Trình Khắc Hiệp và Trịnh thị Thanh, 1996)
Trang 33Điều lo ngại này không chỉ trong những nước phát triển mà ngay cả những nước đang phát triển cũng đang phải quan tâm đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất do sử dụng phân hóa học Việc lạm dụng phân bón hóa học trong nông nghiệp đã gây nhiều hệ lụy và đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn như:
Trong nguyên liệu sản xuất phân lân có chứa 3% Flo Khoảng 50 - 60% lượng Flo này nằm lại trong phân bón Khi bón nhiều phân lân sẽ làm tăng hàm lượng Flo trong đất và sẽ làm ô nhiễm đất khi hàm lượng của nó đạt tới
10 mg/1kg đất
Trong các chất thải của nhà máy sản xuất phân lân có chứa 96,9% các chất gây ô nhiễm mà chủ yếu là Flo Flo trong đất sẽ được tích lũy bởi thực vật, Flo gây độc cho người và gia súc, kìm hãm hoạt động của một số enzyme, ngăn quá trình quang hợp và tổng hợp protein ở thực vật
Khi bón đạm cho cây trồng, cây chỉ sử dụng được 40 - 60%, phần còn lại nằm trong đất có thể gây ô nhiễm đất Các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng thường nói đến ảnh hưởng xấu của hàm lượng nitrat quá cao trong nông sản có thể gây ung thư
Việc bón thúc đạm sẽ làm cho hàm lượng nitrat tích lũy trên mặt đất và làm giảm chất lượng nước Khi bón đạm cho cây trồng từ phân khoáng và phân hữu cơ thì sẽ có một lượng khí thải đưa vào không khí Trước hết là khí NH3 làm ô nhiễm môi trường không khí, ngoài ra còn khí NO2 làm ảnh hưởng đến tầng ôzôn, thường số lượng khí N2O sản sinh ra từ phân bón là 15% Khi trong sản phẩm có chứa nhiều đạm, nhất là không cân đối thì đạm
sẽ chuyển từ NH4- sang NO3- Đặc biệt hàm lượng NO3- tồn dư trong các loại rau rất cao, nguyên nhân là do sử dụng không hợp lý liều lượng và tỷ lệ phân đạm vô cơ và hữu cơ bón cho cây, phương thức bón không đúng do chạy theo lợi nhuận, bón thúc trễ, sát với thời điểm thu hoạch, sử dụng nguồn nước tưới
có hàm lượng NO3- rửa trôi cao
Trang 34Ngoài ra, hiện tượng thừa đạm sẽ làm cho bộ phận của cây, nhất là các cơ quan sinh trưởng sẽ phát triển mạnh, tạo thêm nguồn thức ăn cho nhiều loài vi sinh vật gây hại Đạm thừa làm cho vỏ tế bào cây trở nên mỏng, tạo điều kiện dễ dàng cho một số loài vi sinh vật gây bệnh xâm nhập, kích thích một số loài vi sinh vật trong đất xâm nhập vào rễ và gây hại cho cây Sâu bệnh xuất hiện nhiều làm số lần phun thuốc tăng theo cũng làm ô nhiễm môi trường
Các loại phân hóa học do nguồn nguyên liệu và quá trình sản xuất có khi chứa các loại kim loại nặng, các kim loại này được cây trồng hấp thụ và tích lũy trong sản phẩm Người và gia súc dùng sản phẩm chứa các kim loại này lâu ngày sẽ bị nhiễm độc ( Lê Văn Khoa, Trình Khắc Hiệp và Trịnh thị Thanh, 1996)
1.3 Nghiên cứu giảm thiểu ảnh hưởng xấu tới môi trường đất của t=ình trạng sử dụng phân bón trong trồng trọt
Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống nông nghiệp trong đó phân bón phải bảo đảm trả lại chất dinh dưỡng đã bị lấy đi, ổn định hoặc tăng lượng mùn cho đất, độ chua không biến động theo chiều hướng xấu, không đưa chất độc vào đất và bảo đảm khống chế được xói mòn ( Ngô Thị Đào, Vũ Hữu Yêm, 2007)
Chế độ bón tốt xúc tiến sự phát triển của hệ vi sinh vật đất, cải thiện môi trường vật lý để bộ rễ phát triển tốt, nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón của cây Chế độ bón không dẫn đến làm ô nhiễm đất và không khí, không làm
ô nhiễm nguồn nước Chế độ bón tạo ra sản phẩm tốt về mặt chất lượng là chế
độ bón kết hợp phân hữu cơ với phân hóa học và bón một cách cân đối, hợp
lý các chất dinh dưỡng đa và vi lượng
* Thực hiện bón phân theo hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp
(Ngô Thị Đào, Vũ Hữu Yêm, 2007)
Duy trì hay điều chỉnh độ phì nhiêu của đất và cung cấp thức ăn cho cây đến mức tối thích để ổn định năng suất cây trồng như mong muốn qua
Trang 35việc vận dụng tối thích mọi nguồn thức ăn có thể có cho cây một cách tổng hợp Kết hợp thích đáng các loại phân khoáng, các loại phân hữu cơ, mọi tàn thể thực vật, các loại phân ủ hay cây cố định đạm tùy theo hệ thống sử dụng đất và các điều kiện sinh thái xã hội và kinh tế (R.Roy 1995)
Rất coi trọng việc bổ sung chất hữu cơ cho đất: bảo đảm cân bằng hữu
cơ cho đất Đối với đất hàm lượng chất hữu cơ đã xuống thấp thì phải có kế hoạch nâng dần chất hữu cơ cho đất Kết hợp phân khoáng trên cơ sở coi trọng chất hữu cơ Các biện pháp cung cấp chất hữu cơ chủ yếu là :
- Ở các loại đất vốn cằn cỗi ngay cây phân xanh cũng khó phát triển thì
có thể dùng phân hóa học đi trước một bước để tạo nhanh và nhiều sinh khối
Ví dụ : việc bón phân hóa học đi trước một bước ở các vùng đất xấu mà
chăn nuôi chưa phát triển kịp để cân đối với trồng trọt ( Ngô Thị Đào, Vũ Hữu Yêm, 2007)
Trên đất đồi xấu , tầng canh tác mỏng, đất chua, pHKCl từ 3,8 - 4,0, lân
và kali đều nghèo, phân xanh cũng khó phát triển, bón phân hóa học cân đối
đi trước một bước làm tăng sinh khối
- Bón phối hợp phân hữu cơ và phân vô cơ để bảo đảm chất lượng mong muốn
- Kết hợp tàn thể thực vật, phân chuồng, phân hóa học để bảo đảm phát triển nông nghiệp bền vững
Kết hợp với tàn thể thực vật để giảm bớt lượng phân hóa học bón Dùng phân hóa học cân đối lại chất dinh dưỡng đã lấy đi theo sản phẩm thu hoạch kết hợp với phân chuồng ở mức có thể được đảm bảo cho môi trường bền vững (không để lại những hậu quả do bón nhiều phân hóa học) và chất lượng nông sản không ảnh hưởng xấu đến con người và vật nuôi ( Ngô Thị Đào, Vũ Hữu Yêm, 2007)
Trang 36* Bón phân cân đối để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón
Khi bón thiếu hoặc quá nhiều một yếu tố nào đó, mặc dù các yếu tố khác được bón đảm bảo cho cây trồng, nhưng vẫn không thể cho năng suất cao, chất lượng tốt, thậm chí có lúc còn giảm năng suất Bón phân cân đối sẽ phát huy hiệu lực của từng yếu tố cao hơn và góp phần bảo vệ môi trường đất, (Lê Văn Khoa 1983, Nguyễn Văn Trường, Lê Văn Nghĩa 1997)
Sử dụng cân đối P, K với N giảm được lượng N tiêu tốn cho 1 tấn sản phẩm (lúa) khoảng 24 - 26% và hiệu suất N đạt 50 - 88% (Bùi Đình Đinh,
1995 Bón cân đối K với N tăng hiệu suất N trên đất bạc màu 62% (vụ Xuân), 124% (vụ Mùa) so với không bón kết hợp N với K (Nguyễn Văn Bộ, 1993 )
Trang 37CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Các chế độ bón phân khác nhau trong trồng ngô và ảnh hưởng của chúng tới môi trường đất sau 3 năm áp dụng
• Nghiên cứu thực hiện trên thực địa tại trung tâm phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc ở tỉnh Sơn La và tại phòng phân tích bộ môn Nông hóa ĐHNNHN
• Phạm vi về thời gian: Đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân
khác nhau trong trồng ngô sau vụ trồng thứ 3 ( năm 2013)
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1.Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tỉnh Sơn La
a Đặc điểm tự nhiên tỉnh Sơn La
b Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Sơn La
2.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của bón phân khác nhau trong trồng ngô tới môi trường đất
a Đánh giá ảnh hưởng của việc bón phân khác nhau tới khả năng sản xuất của đất trồng ngô
- Đánh giá ảnh hưởng của việc bón phân khác nhau tới khả năng sử dụng nước, CO2 từ đất trồng
- Đánh giá ảnh hưởng của việc bón phân khác nhau tới việc hấp thu các chất dinh dướng khoáng chính từ đất vào cây
- Đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân khác nhau tới khả năng tạo năng suất ngô của đất
b Đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân khác nhau một số tính chất đất trồng ngô
Trang 38• Đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân khác nhau tới các tính chất hóa học đất trồng ngô
• Đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân khác nhau tới tình trạng
vi sinh vật trong đất trồng ngô
c Đánh giá ảnh hưởng của việc liên tục bón phân khác nhau tới khả năng bảo vệ đất trong trồng ngô ( chỉ số diện tích lá)
• Đánh giá tác động của việc liên tục bón phân khác nhau tới khả năng che phủ đất trong trồng ngô
• Đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng của việc liên tục bón phân khác nhau trong trồng ngô
2.2.3 Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu của tình trạng sử dụng phân bón trong trồng ngô
a.Xác định khả năng và nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu của việc liên tục bón phân khác nhau trong trồng ngô
• Đánh giá cân bằng các chất N, P,K và hữu cơ trong đất sau các vụ trồng ngô
• Xác định khả năng và nguyên nhân gây thất thoát phân bón ra môi trường trong trồng ngô
b.Giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu của tình trạng sử dụng phân bón
trong trồng ngô
• Giải pháp giảm thiểu suy thoái đất
• Giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng xấu do sử dụng phân bón
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng
- Thí nghiệm được tiến hành cho cây ngô trên đất feralit đỏ vàng , đất có
độ dốc 7-100 tại xã Chiềng Ban huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
- Thí nghiệm đồng ruộng gồm 6 công thức, có nội dung cụ thể như sau:
Trang 39STT Nội dung công thức thí nghiệm Phương pháp bón
1 Không bón phân
Bón lót 100% phân HC,phân lân,30% N
Thúc 1: 30% N, 50% K Thúc 2: Toàn bộ lượng phân đạm
• Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Khả năng che phủ đất - chỉ số diện tích lá theo phương pháp Yosida
+ Đo ở 4 thời kỳ: tại thời điểm ngô được 15; 30; 60; 120 ngày trồng + Chọn 3 cây đại diện của ô thí nghiệm (có chiều cao và số lá bằng mức trung bình của ô)
+ Đếm tổng số lá trên mỗi cây, đo chiều dài, chiều rộng của từng lá
- Diện tích mỗi lá S (m2) được tính theo công thức:
S (m 2 ) = D tb x R tb x 0,7
Trong đó: Dtb là chiều dài trung bình của các lá trên cây
Rtb là chiều rộng trung bình của tất cả các lá trên cây
0,7 là hệ số điều chỉnh
- Chỉ số diện tích lá (LAI): được tính theo công thức:
LAI (m 2 lá/m 2 đất) = (S (m 2 ) x số lá trung bình/cây) x (mật độ cây/m 2
)
(Tổng số lá: là số lá xanh có trên cây vào thời gian theo dõi)
Trang 40- Năng suất: sinh vật, hạt, phụ phẩm theo phương pháp thí nghiệm đồng ruộng (cân khối lượng)
- Hiệu suất sử dụng phân bón (HS) tính bằng kg sản phẩm/kg NPK
Hiệu suất (HS) = NS chênh lệch so với không bón phân/tổng lượng phân bón NPK
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích đất, cây
2.3.2.1 Phương pháp lấy mẫu đất thí nghiệm
- Lấy 6 mẫu đất tổng hợp, mỗi mẫu được lấy ở tầng đất canh tác (0-30 cm) tại 5 điểm theo đường chéo của một khối (lần nhắc), trộn đều và lấy khoảng 1 kg cho vào túi riêng biệt, ghi nhãn vào tờ giấy và bỏ vào trong túi hoặc ghi nhãn ra ngoài túi (TCVN 4046 - 85, TCVN 5297 - 1995 và 10 TCN
68 - 84)
2.3.2.2 Phương pháp lấy mẫu cây sau thí nghiệm
- Mẫu cây lấy ở thời điểm trước khi thu hoạch
- Mỗi ô thí nghiệm lấy mẫu ở 5 cây theo đường chéo góc Từ 5 cây đã chọn chia ra thành: mẫu hạt, mẫu phụ phẩm cây ngô Mẫu phụ phẩm tổng hợp cần lấy theo tỷ lệ của từng bộ phận (rễ, thân, lá, lá bi, lõi ngô) Để làm được việc này cần biết khối lượng khô trung bình của: toàn bộ phụ phẩm, và từng
bộ phận: thân, lá, lá bi, lõi bắp ngô bằng cách lấy mẫu tươi tổng hợp ( tương đương 1 cây ngô) từ 5 cây đã chọn trên, xác định khối lượng tươi của từng bộ phận rồi sấy khô
- Mỗi mẫu( tổng hợp) khô có khối lượng khoảng 1kg, cho vào túi nilon, ghi nhãn vào tờ giấy và bỏ vào trong túi hoặc ghi nhãn ra ngoài túi
2.3.2.4 Các chỉ tiêu đất cần phân tích và phương pháp phân tích
• Các chỉ tiêu cần phân tích đất sau thí nghiệm
- Chỉ tiêu phân tích tính chất hóa học : Hàm lượng các bon hữu cơ theo phần trăm (% OC),CEC , pHKCl, N, P, K tổng số, P, K dễ tiêu
- Chỉ tiêu phân tích vi sinh vật đất : Vi khuẩn tổng số , xạ khuẩn, vi