2.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa thược dược ở Việt Nam 17 4.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng hoa 4.1.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thượ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ THU THÙY
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG HOA THƯỢC DƯỢC NHẬP NỘI
VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT TỚI GIỐNG GOLDEN EMBLEM
TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ THU THÙY
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG HOA THƯỢC DƯỢC NHẬP NỘI
VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT TỚI GIỐNG GOLDEN EMBLEM
TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ NGÀNH : 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS: NGUYỄN QUANG THẠCH
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Thùy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường trong quá trình nghiên cứu
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Quang Thạch, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS Hoàng Minh Tấn, người đã có những
cố vấn về mặt khoa học hết sức xác đáng cho bản Luận văn của tôi
Tôi xin chân trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Nông học - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ, kỹ sư thuộc Trung tâm Nghiên cứu
và Phát triển Hoa cây cảnh – Viện Nghiên cứu Rau Quả đã tạo điều kiện cho tôi về vật chất và thời gian trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Để hoàn thành nghiên cứu này tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ và giúp đỡ của bạn bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu đó
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng …năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Thùy
Trang 52.3 Tình hình nghiên cứu về hoa thược dược trên thế giới và ở Việt Nam 13
Trang 62.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa thược dược ở Việt Nam 17
4.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng hoa
4.1.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thược dược nghiên cứu 35 4.1.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của các giống hoa thược
4.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng phát triển, năng suất và
4.2.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ sống sau trồng và thời gian sinh
4.2.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao của
4.2.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất của
4.2.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng hoa của giống Golden
Trang 74.2.5 Hiệu quả kinh tế của giống Golden Emblem khi trồng ở các thời vụ
4.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và
4.3.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao cây
4.3.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và
4.4 Ảnh hưởng của phân bón gốccó tỷ lệ NPK khác nhau đến sinh trưởng,
4.4.1 Ảnh hưởng của phân bón gốc có tỷ NPK khác nhau đến động thái tăng
4.4.2 Ảnh hưởng của phân bón gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến thời gian
4.4.3 Ảnh hưởng phân bón gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến năng suất và
Trang 9DANH MỤC BẢNG
4.2 Tỷ lệ sống và thời gian hồi xanh của các giống thược dược nghiên cứu 36
4.4 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống thược dược
4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất hoa của các giống thược dược nghiên cứu 43
4.9 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ sống và thời gian qua các giai
4.10 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao của
4.11 Các yếu tố cấu thành năng suất hoa của các giống thược dược nghiên cứu 53 4.12 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng hoa của giống Golden
4.13 Hiệu quả kinh tế của giống Golden Emblem trồng ở các thời vụ khác
4.14 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều
4.15 Ảnh hưởng của các phân bón lá đến năng suất và chất lượng của
4.16 Ảnh hưởng của phân bón gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến động thái
Trang 104.17 Ảnh hưởng của phân bón gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến thời
4.18 Ảnh hưởng của phân bón gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến năng suất
Trang 11DANH MỤC HÌNH
4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống thược dược nghiên cứu 39 4.2 Động thái tăng trưởng số lá/cây của các giống thược dượcnghiên cứu 42 4.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao của
4.4 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều
4.5 Ảnh hưởng của phân bón gốc có tỷ lệ NPK khác nhau đến động thái
Trang 121 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hoa không chỉ là vẻ đẹp của thiên nhiên, có giá trị về thẩm mỹ mà còn có giá trị kinh tế cao Hoa đã trở thành một sản phẩm đặc biệt, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp
Trên thế giới hiện có rất nhiều loài hoa đang được sản xuất thương mại Tùy thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu, mỗi nước chọn trồng và phát triển một số chủng loại hoa để mang lại nguồn thu cho ngành sản xuất, thương mại của quốc gia
Hoa thược dược (Dahlia variabilis Desh) là loài hoa đẹp, đa dạng về màu sắc
nên được trồng phổ biến ở rất nhiều nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Anh, Australia, Mexico, Tây Ban Nha,… Đặc biệt hoa thược dược còn được chọn làm quốc hoa của Mexico
Thược dược là loại hoa truyền thống được người dân Việt Nam ưa chuộng và trồng khá phổ biến ở một số vùng chuyên canh hoa như Bắc Giang, Hưng Yên, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt Tuy nhiên sản xuất hoa thược dược của nước ta còn manh mún do các giống thược dược trồng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu
là các giống hoa cũ, màu sắc không mới lạ, hấp dẫn đặc biệt độ bền hoa thấp và độ cứng cổ bông yếu nên không được đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Cùng với đó các biện pháp kỹ thuật sử dụng trong sản xuất hoa thược dược hiện nay đều chỉ áp dụng đối với những giống hoa cũ và dựa vào những kinh nghiệm là chủ yếu chưa có sự quan tâm nghiên cứu dẫn đến năng suất và chất lượng hoa không cao Muốn đáp ứng được nhu cầu của thị trường hiện nay thì bộ giống hoa thược dược phải được đổi mới đẹp và đa dạng hơn, các biện pháp kỹ thuật cũng cần phải được quan tâm nghiên cứu sâu hơn để nâng cao năng suất và chất lượng hoa Do vậy song song với công tác nhập nội giống để tuyển chọn ra các giống mới phục vụ cho sản xuất chúng ta cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp tạo điều kiện cho giống sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất và chất lượng hoa cao nhất Xuất phát từ những l ý
do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa thược dược nhập nội và nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật tới giống Golden Emblemtại Gia Lâm – Hà Nội”
Trang 131.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển và năng suất, chất lượng của một số giống hoa thược dược nhập nội từ đó giới thiệu một số giống có triển vọng đưa vào khảo nghiệm sản xuất tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, góp phần làm phong phú bộ giống hoa thược dược cho sản xuất hoa tại Việt Nam
- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật thích hợp cho giống thược dược Golden Emblem tại Gia Lâm – Hà Nội
1.2.2 Yêu cầu
- Mô tả một số đặc điểm hình thái của các giống hoa thược dược nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống hoa thược dược nghiên cứu
- Đánh giá khả năng chống chịu với sâu bệnh hại của các giống hoa thược dược nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng hoa và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống hoa thược dược nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển của cây và xác định được thời vụ trồng phù hợp nhất đối với giống Golden Emblem
- Xác định được loại phân bón lá thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của giống Golden Emblem
- Xác định được loại phân bón qua gốc có tỷ lệ NPK thích hợp để giống Golden Emblem cho năng suất và chất lượng cao nhất
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị
về đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của một số giống hoa thược dược mới nhập nội tại Gia Lâm – Hà Nội
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những thông tin cần thiết làm cơ
sở để xây dựng và hoàn thiện quy trình trồng hoa thược dược tại Hà Nội nói riêng
và vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung
Trang 14- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về cây hoa thược dược ở vùng đồng bằng Bắc bộ
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổsung thêm một số giống hoa thược dược mới cho sản xuất hoa của Việt Nam Đồng thời qua việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật đối với giống hoa thược dược Golden Emblem sẽ làm cơ sở đề xuất quy trình kỹ thuật sản xuất hoa thược dược cắt cành để tăng hiệu quả sản xuất của
giống hoa này
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung về cây hoa thược dược
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố
Thược dược có tên khoa học là Dahlia variabilis Desh, tên địa phương gốc là
Chichipathi hay Aeocothi Trong tên khoa học, chữ Dahlia là lấy tên nhà thực vật học Thụy Điển Andreas Dahl (học trò của Carlvon Linne), ông đã đưa củ thược dược vào Châu Âu như một loại thức ăn thời bấy giờ Thược dược có nguồn gốc
từ Mexico ở vĩ độ 20 – 300 Bắc, mọc hoang dại ở các đồi gò, các cao nguyên có độ cao từ 1700 – 1800m so với mặt nước biển Vào năm 1963 thược dược còn được chọn làmquốc hoa của Mexico Bắt đầu từ năm 1979, thược dược được đưa đến trồng trong cung của các đời vua chúa tại Tây Ban Nha Do hoa thược dược có nhiều chủng loại, đẹp, đa sắc màu và được nhiều khách thập phương biết đến nên bắt đầu từ năm
1804, hoa thược dược đã được nhân rộng khắp các nước Châu Âu đặc biệt là Hà Lan
Từ đó đến nay, hoa thược dược đã được nghiên cứu và lai tạo ra nhiều nhóm có tên gọi, màu hoa khác nhau và được trồng rộng rãi khắp trên thế giới Tên khoa học
Dahlia variabilis Desh được đặt vào năm 1829 ở Châu Âu để chỉ những loài thược dược đang phát triển lúc đó (Trịnh Văn An, 1995)
Thược dược được nhập nội vào Việt Nam đầu thế kỷ XX và ngày càng được trồng rộng rãi, nhất là ở các thành phố, thị xã, thị trấn Hoa thược dược thường được trồng để thu hoa vào dịp tết Nguyên đán nên rất có giá trị (Khuyết danh , 2007)
2.1.2 Phân loại
- Thược dược thuộc bộ Asterales, họ Asteraceae, chi Dahlia Hiện nay, trên thế
giới có khoảng 30 loài và trên 20.000 giống thược dược (Nguyễn Nghĩa Thìn, Đặng Thị Sỹ, 2004)
Thược dược được phân loại theo hình dạng hoa và sắp xếp các cánh hoa
- Hoa thược dược đơn: hoa có một hàng cánh hoa, cây thường có chiều cao dưới 1m, và đường kính hoa nhỏ hơn 10 cm Các loại hoa thược dược đơn bao gồm: đĩa đơn, hoa phong lan, cỏ thân ngỗng và collaretts Thược dược đĩa đơn thì một hoa có một vòng cánh hoa cách đều nhau
Trang 16- Hoa bán kép: có hai hàng cánh hoa xung quanh một đĩa
- Hoa thược dược kép: có nhiều hàng cánh hoa, thân cây tương đối cao và có hoa lớn Loại hoa kép cũng được phân loại theo kích thước và hình dạng hoa
- Thược dược xương rồng: một phần cánh hoa hình ống cong về phía sau hơn một nửa chiều dài cánh hoa
- Thược dược bán xương rồng: trông giống thược dược xương rồng nhưng những cánh hoa rộng ở đầu cánh và đường cong của cánh Cánh hoa chỉ xoăn lại ở nửa trên của cánh hoa Tùy từng giống mà độ cong của cánh hoa khác nhau
- Thược dược trang trí: dạng hoa thường thấy có đường kính từ 20 đến 30cm Cánh hoa phẳng đôi khi hơi xoăn lại với nhiều màu sắc
Thược dược búp tròn: Loại này có những cánh hoa uốn cong từ nhuỵ tới đài hoa, tạo ra dạng hình như một trái banh, cao từ 60cm đến 1m (Swan Island Dahlia, 2009)
2.1.3 Giá trị kinh tế
Thực tế sản xuất cho thấy, trồng hoa là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao Trên thế giới và ở nước ta trong những năm qua, sản xuất hoa dưới nhiều hình thức khác nhau như sản xuất hoa cắt, hoa trồng chậu, hoa trồng thảm đều có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển kinh tế của đất nước
Theo Vi Quốc Hiển (2003), hộ trồng hai vụ lúa + một vụ Đông trong một năm giá trị sản lượng bình quân: 19 triệu đồng/ha/năm, trong đó chi phí mất 11,4 triệu đồng/ha/năm, do đó lợi nhuận chỉ đạt được là 7,6 triệu đồng/ha/năm Còn đối với các hộ trồng hoa chuyên nghiệp thì bình quân giá trị sản lượng đạt: 118 triệu đồng/ha/năm, chi phí mất 28 triệu đồng/ha/năm và lợi nhuận đạt 90 triệu đồng/ha/năm Như vậy, so với sản xuất lúa + hoa màu/ha/năm thì giá trị sản lượng hoa tăng gấp 6,2 lần, chi phí tăng gấp 2,5 lần và lợi nhuận tăng 11,8 lần
Hoa thược dược không những sử dụng làm hoa cắt cành mà còn có thể sử dụng làm hoa chậu Ở nước ta hiện nay hoa thược dược vẫn được người tiêu dùng rất ưa chuộng Thược dược thường được trồng để thu hoa vào dịp Tết Nguyên Đán nên có giá trị kinh tế cao
Trang 172.1.4 Giá trị sử dụng
Thược dược là một loại cây rất thích hợp để làm cây trang trí cảnh quan và làm hoa cắt cành Thược dược có chiều cao trong phạm vi rất rộng (30 -150 cm) và một loạt các hình dạng và kích thước hoa (5 - 30 cm) nên rất thích hợp để trang trí Nó cũng bao gồm nhiều màu như: cam, hồng, tím, đỏ, đỏ tươi, màu vàng, trắng Một số loài hoa có
kẻ sọc với một màu sắc khác nhau Thược dược có thể được sử dụng theo nhiều cách Trồng trong khu vườn, hoặc sử dụng làm cây cảnh quan tại các khuôn viên trụ sở Cây thược dược có ưu điểm là rất dễ chăm sóc và cắt tỉa Tùy theo điều kiện của từng nơi có thể lựa chọn loại thược dược cao, trung bình hay lùn hoặc những màu sắc hoa phù hợp (Nguyễn Xuân Linh và cộng sự, 2000)
Ngoài việc dùng để trang trí thì thược dược còn được sử dụng để làm thuốc Tương truyền từ 3.000 năm trước, vào thời Tam Đại, thược dược đã được trồng để thưởng ngoạn và làm thuốc ở rất nhiều nơi Thược dược là loài thân thảo, được xếp vào nhóm thuốc bổ huyết, sử dụng chủ yếu để bồi dưỡng cơ thể
Các kết quả nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy trong dịch chiết cồn của các loài thược dược có chứa acid gallic và methyl gallate có tác dụng như một chất chống oxy hóa tế bào Ngoài ra các chất như transresveratrol, trans-epsilon-viniferin, gnetin
H, suffruticosol A và B được phân lập từ hạt của các loài thược dược có tác dụng trên một số dòng ung thư trên chuột thí nghiệm trong đó có ung thư gan và ung thư vú Rễ của thược dược còn có tác dụng làm hạ cholesterol trong máu, đây là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Triều tiên và Nhật bản Từ rễ thược dược các nhà khoa học ở Đài Bắc, Trung Quốc còn phân lập được chất paeoniflorin và 8-debenzoylpaeoniflorin có tác dụng ổn định đường huyết và làm giảm sự hấp thu chất béo vào cơ thể, nên có ích cho người béo phì và tiểu đường Các nhà nghiên cứu ở Đại học Toyama, Nhật Bản còn cho thấy rễ thược dược còn hữu hiệu trong việc phòng bệnh huyết khối, huyết áp và bệnh tim mạch Các phụ nữ sử dụng thường xuyên vị thuốc này (liều 2-4g/ngày) sẽ giúp máu được thanh lọc, được nuôi dưỡng, điều hòa kinh nguyệt, giảm đau cơ và các cơn đau do co thắt Nó giúp cho da sáng đẹp, chống nếp nhăn và người phụ nữ có dung mạo xinh đẹp rực rỡ ví như một đóa hoa thược dược
Tóm lại, thược dược loài hoa vừa đẹp vừa quý và đem lại cho ta nhiều lợi ích nhất là cho phái đẹp (Lê Kim Phụng, 2012)
Trang 182.1.5 Một số đặc điểm của hoa thược dược
2.1.5.1 Đặc điểm thực vật học
- Rễ: Rễ thược dược thuộc loại rễ bàng ăn ngang nổi, một số rễ phình to thường gọi là củ, chứa nhiều chất dự trữ vì vậy, kỹ thuật làm đất cần chú ý lên luống cao và vun gốc để tạo điều kiện cho rễ phát triển ngang
- Thân: Thược dược thuộc thân thảo, mọng nước, yếu, có nhiều đốt, trên các mấu đốt phát sinh cành, lá Chiều cao thân tùy giống: có giống cao 1,2-1,5m, có giống thấp 0,2 - 0,3m Vì thân thược dược yếu, cho nên đối với những loại cây có thân cao cần vun gốc, bảo vệ chống đổ
- Lá: Lá mọc đối, lá kép, bản lá to, hình dạng biến đổi tùy giống Cần chú ý đặc điểm lá to này để phát huy khả năng quang hợp của lá, nhằm tăng năng xuất, chất lượng cây
- Hoa: Hoa có hai loại hoa đơn và hoa kép Giống hoa đơn còn mang tính chất của tổ tiên chỉ có một vòng cánh màu sắc cũng đẹp và đa dạng nhưng ít được
ưa chuộng Giống hoa kép rất đẹp có nhiều hình dáng và màu sắc Cánh hoa cũng rất đa dạng về hình thái có loại cánh rối (cánh hoa như bị xé nhỏ), có loại cánh xếp như tổ ong, có loại cánh xoăn… Điều cần chú ý ở hoa thược dược là bao phấn thường chín trước nhụy cho nên bao hoa không thể tự thụ phấn được mà phải nhờ tác nhân đưa phấn từ hoa này sang hoa khác Vận dụng đặc điểm này để tiến hành lai tạo lấy hạt gieo trồng sẽ có nhiều giống mới có màu sắc, hình dáng khác nhau
- Quả: Thuộc loại quả bế, khô, khi chín vỏ quả màu đen Mỗi quả trung bình có
từ 40 – 60 hạt tùy giống (Nguyễn Khắc Trung, Phạm Minh Thu, 2002)
2.1.5.2 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa thược dược
- Đất: Thược dược có bộ rễ ăn ngang nên đòi hỏi đất tốt, đất thịt pha hoặc đất sét pha nhiều màu Thược dược sẽ phát triển rất tốt trên những loại đất có tầng canh tác dày từ 30 – 35 cm Nếu đất có tầng đất canh tác mỏng thì cần phải lên luống cao
để tăng độ sâu cho bộ rễ hoạt động tốt và tăng chất lượng của củ Ngoài ra, độ pH của đất phải trung tính, pH = 6-7 là thích hợp nhất Ở độ cao 800 – 1500m so với mặt biển, thược dược phát triển tốt, màu sắc hoa đậm đà (Jiang Qing Hai,2004; Sanjay Chaurasia, 2007)
Trang 19- Ánh sáng: Thược dược là cây ưa sáng vì vậy ánh sáng mặt trời rất quan trọng để thúc đẩy cây sinh trưởng và ra hoa Cây thược yêu cầu thời gian chiếu sáng tối thiểu từ 8 - 10 giờ ánh sáng trực tiếp hoặc ánh sáng tán xạ Nếu trồng ở nơi có nhiều ánh sáng không những cây tốt, nhiều hoa, hoa to, màu sắc hoa tươi, đậm đà hơn mà củ cũng dễ bảo quản hơn, qua mùa sau củ ít bị thối Ở nơi thiếu ánh sáng thì cây vống cao, yếu, dễ bị đổ, hoa nhỏ, nở hoa không tập chung, củ khó bảo quản, dễ
bị thối Ngoài ra, ở những vùng có 4 mùa thì cần chú ý phải che giảm ánh sáng vào mùa hè hoặc trồng ở nơi có cây bóng mát, tránh ánh sáng trực tiếp (Jiang Qing Hai, 2004; Sanjay Chaurasia, 2007)
- Nhiệt độ: Thược dược ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình không cao quá 300C và không thấp dưới 100C Cây thược dược phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ
20 – 30oC Nếu trồng thược dược ở khu vực có nhiệt độ ban ngày luôn vượt quá
32oC cần làm mát vào buổi chiều bằng cách tưới nước sẽ cải thiện chất lượng hoa (Andy Hankins, 2009)
- Ẩm độ: Đối với cây thược dược độ ẩm đất từ 60 – 70% là tốt nhất Nếu ẩm độ đất cao trên 80% cây mọc khỏe, lá nhiều tuy nhiên thân cành yếu, dễ đổ gãy và thối củ
- Nguồn nước: Cây thược dược không chịu được điều kiện nhiều nước, nơi
có mạch nước ngầm cao sẽ làm thối củ Nếu đất có mạch nước ngầm cao hoặc là liên tục ướt thì cần chú ý đến hệ thống thoát nước hoặc phải nâng độ cao của luống (Swan Island Dahlia, 2009)
- Phân bón: Cũng như hầu hết các loại cây hoa thời vụ khác, thược dược cần
tỉ lệ N:P:K cân đối, rất ưa phân bắc, nếu bón đầy đủ và cân đối màu hoa sẽ tươi đậm
và rực rỡ hơn Tuy nhiên có nhiều giống như Đỏ Cờ, nhiều phân quá, cây to mập cho hoa kém, giống Cánh Sen, thiếu phân hoặc bón ít không cho hoa được và hay bị bệnh Nếu tỷ lệ N cao bộ lá sẽ phát triển mạnh, nhưng củ dễ bị thối khi bảo quản Nên tăng tỷ lệ K để cây chống được rét, chống hạn và tạo nhiều đường bột cho củ (Khuyết danh, 2007)
Tóm lại: Điều kiện sinh thái thích hợp đối với thược dược là: thời tiết mát mẻ, nhiều ánh sáng, đất tốt, phân đủ, đất trồng thoát nước tốt (Jiang Qing Hai, 2004)
Trang 202.1.6 Các giống hoa thược dược
Thược dược được phân thành một số loại sau:
+ Thược dược xương rồng (Dahlia Caetus): cánh hoa cuộn tròn, dài ống và
chĩa ra từng cánh nhọn, hoa to rất đẹp
+ Thược dược cánh dẹt (Dahlia Graceland)
+ Thược dược tổ ong (Dahlia Ponyron): hoa dạng tròn rất đều đặn, cánh hoa
tạo thành hình những lỗ tổ ong
+ Thược dược lùn nhiều màu và sặc sỡ, chịu thời tiết bất thuận, cây khỏe
+ Thược dược lai (Dahlia Hybrids)
Hiện nay có rất nhiều giống hoa thược dược trồng ở Việt Nam với rất nhiều màu sắc đa dạng và phong phú Sau đây là một số giống phổ biến
- Thược dược Vàng: Vàng đậm, vàng nhạt (vàng lụa), vàng cánh cuốn
Thược dược vàng đậm, vàng nhạt cây cao, hoa to, đường kính hoa 7 – 10 cm, cánh rộng, xòe Thược dược cánh cuốn cây thấp, hoa nhỏ, đường kính hoa 5 – 7 cm, cánh cuốn trông như tai chuột
Cả ba giống hoa này đều có đặc tính là dài ngày, trồng sớm được, kém chịu rét
- Thược dược Trắng:
+ Trắng sữa: cây thấp, hoa to, đường kính hoa 20 - 30 cm, ít hoa
+ Trắng trong: cây cao, hoa to, đường kính hoa trung bình từ 15 - 20cm
Đặc tính hai giống hoa trên là dài ngày, chịu nắng kém, khó bảo quản giống
- Thược dược Đỏ: Đỏ cờ, đỏ thẫm
Cây cao, hoa to, đường kính hoa từ 12 – 15 cm, cánh hoa xòe
Đặc tính là dài ngày chịu rét, khó bảo quản giống
- Thược dược Nhung: Cây cao, hoa to, đường kính hoa từ 12 – 15cm, cánh rộng màu đỏ đậm, phớt đen
Đặc tính là dài ngày, chịu rét
- Thược dược Cánh Sen: Cánh sen đậm, cánh sen nhạt
Cây cao, hoa to, đường kính hoa từ 12 – 15cm, cánh xòe Đặc tính là dễ trồng, ngắn ngày, trồng sớm muộn đều được, chịu hạn, chịu rét
Trang 21- Thược dược Biến: Cây cao, cánh hoa màu đỏ có viền trắng, đường kính hoa
từ 12 – 15cm, dài ngày, khó trồng, khó bảo quản giống
- Thược dược Da Cam: Cây cao, hoa có đường kính từ 15 – 20, cánh hoa rộng, dài (màu giống vỏ quả cam chín nên gọi là thược dược da cam)
Đặc tính là dài ngày, khó trồng, ít hoa, khó bảo quản giống
- Thược dược Tím: Cây thấp, hoa nhỏ, đường kính từ 6 – 8 cm Cánh hoa cuốn, màu tím (Khuyết danh, 2011)
Như vậy có thể nói hoa thược dược đã được trồng ở Việt nam từ rất lâu, các giống chủ yếu là các giống địa phương, và một số giống di thực từ nước ngoài về bằng nhiều con đường khác nhau (thương mại, du lịch .) Chủng loại đa dạng và phong phú, kỹ thuật trồng chủ yếu do kinh nghiệm tập quán canh tác cũ
2.2 Tình hình sản xuất hoa thược dược trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất hoa thược dược trên thế giới
Thược dược là một trong những loại hoa được người tiêu dùng ưa chuộng
do có nhiều chủng loại, đẹp, đa sắc màu Bắt đầu từ năm 1804, hoa thược dược đã được nhân rộng khắp các nước Châu Âu đặc biệt là Hà Lan Từ đó đến nay, hoa thược dược được nghiên cứu và lai tạo ra nhiều nhóm có tên gọi, màu hoa khác nhau và được trồng rộng rãi khắp trên thế giới
Hiện nay hoa thược dược cũng được trồng phổ biến nhiều nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Australia, Mexico, Tây Ban Nha, Hà Lan, Ấn Độ… (Hai Quang sưu tầm)
Hà Lan đứng đầu thế giới cả về sản lượng cũng như xuất khẩu hoa, phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn gồm 80 nước trên thế giới Diện tích trồng thược dược ở Hà Lan chiếm 30% diện tích trồng hoa tươi Hàng năm Hà Lan đã xuất khẩu hoa thược dược cắt cành và hoa thược dược chậu thu về hàng trăm triệu USD mỗi năm (Virgina state University, 2005)
Mexico là đất nước nổi tiếng bởi hoa thược dược Hoa thược dược còn đặc biệt được quan tâm bởi vì nó còn là quốc hoa của nước này Ở Mexico thược dược
có lịch sử khá dài và được sử dụng bởi người Aztec trong các nghi lễ nhất định Có gần 30 loại thược dược đang được trồng phổ biến ở đất nước này Thược dược được
Trang 22trồng chủ yếu đề thu hoa vào mùa hè và mùa thu Thược dược thường phát triển ở các vùng miền núi của Mexico (Emilia Richter, 2007)
Theo điều tra năm 2009 của thì sản xuất hoa cắt cành của Hoa Kỳ có giá trị trên 400 triệu USD/năm với rất nhiều loại hoa như: Hồng môn, loa kèn, cẩm chướng, cúc, thủy tiên, lily, cát tường, thược dược, hướng dương… Trong đó hoa thược dược, hướng dương, cát tường được coi là những loại hoa đặc sản (PennState University, 2007)
Ở thành phố Jakarta thuộc Indonexia thược dược đứng thứ 6 trong các loại hoa cắt được sản xuất ở trong nước với sản lượng đạt trên 4 triệu cành/năm (Toto Sutater and Kusumah Effendie, 2001)
Island là nước sản xuất hoa thược dược lớn nhất Nghề sản xuất Island phát triển do nước này đã rất chú trọng vào công tác lai tạo giống mới Mỗi năm Island
đã lai tạo ra 5-15 giống mới và cung cấp hơn 10.000 cây giống cho sản xuất (Swan Island Dahlia, 2009)
Ở Cộng hòa Séc hoa cẩm chướng, hoa đồng tiền và hoa hồng là những loại hoa quan trọng nhất trong lĩnh vực sản xuất hoa cắt cành Tuy nhiên cùng với sự phát triển của những loại hoa cắt này thì những loại hoa cắt cành trồng theo mùa và
có thể trồng ngoài tự nhiên như hoa thược dược, tulip, layơn, thủy tiên cũng đang được phát triển mạnh mẽ (Luis Guillermo Plata P, 2003)
Bảng 2.1: Cơ cấu sản xuất hoa cắt cành năm 2001 ở Cộng hòa Séc
Loại hoa cắt Sản lượng (Nghìn EUR) Tỷ lệ (%)
Trang 23Theo Buschman J.C.M (2005) Pháp là nước có diện tích trồng hoa cắt cành
là 1.289ha trong đó sản xuất các loại hoa chủ yếu như: Lily, tulip, lay ơn, thược dược, thủy tiên Còn Balan có diện tích trồng hoa cắt cành là 335ha và sản xuất chủ yếu các loại hoa cắt cành là: Tulip, lily, thủy tiên, lay ơn, thược dược
2.2.2 Tình hình sản xuất hoa thược dược ở Việt Nam
Việt Nam là nước có nghề trồng hoa phát triển từ lâu đời và có điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi để trồng một số loại rau, hoa Với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm là điều kiện tốt để nghề trồng hoa phát triển mạnh Sản xuất hoa ở Việt Nam đang ngày càng được hình thành và phát triển một cách mạnh mẽ (Jiang Quing Hai, 2004)
Hoa thược dược được trồng ở nhiều vùng trồng hoa trên cả nước như: Hưng Yên, Lục Ngạn - Bắc Giang, Đông Hà - Quảng Trị, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt… Tuy nhiên, diện tích trồng thược dược còn nhỏ và manh mún, chưa đáp ứng
đủ nhu cầu thị trường
Theo Sở NN&PTNT Hà Nội (2012), diện tích trồng hoa, cây cảnh của nước
ta năm 2011 là 2.009ha, trong đó có 68,9% diện tích (1.350ha trên 42 vùng tập trung, diện tích 20ha/vùng) tại 18 xã của 5 quận, huyện: Từ Liêm, Mê Linh, Tây
Hồ, Đan Phượng, Thường Tín Còn lại hoa được trồng phân tán tại các xã, phường, sản xuất nhỏ lẻ, một số diện tích mới chuyển từ cây trồng kém hiệu quả sang trồng hoa Các chủng loại hoa, cây cảnh chính của Hà Nội là hoa hồng 770ha, chiếm 38,3%; cúc 450ha, chiếm 22,4%; đào 288,2ha, chiếm 14%; đồng tiền 179,5ha, chiếm 8,9%; quất 184,7ha, chiếm 8,2%; lily, lan 14,4ha, chiếm 0,7%; Các chủng loại hoa khác như thược dược, lay ơn, cẩm chướng… có 67,3ha, chiếm 3,3% diện tích Trung bình hằng năm sản xuất hoa, cây cảnh đã cung ứng cho thị trường 1.000
- 1.100 triệu cành hoa, khoảng 1 triệu chậu hoa và 1,2 triệu cây cảnh các loại
Hiện nay nghề trồng hoa thược dược nước ta vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn như:
+ Khí hậu không thích hợp: Ở phía Bắc, hầu hết các loại hoa chỉ có thể sản xuất được trong vụ Đông và vụ Xuân, các tỉnh phía Nam khí hậu càng ít thuận lợi hơn (trừ một số vùng đặc biệt như Đà Lạt)
Trang 24+ Quy mô sản xuất nhỏ, tổ chức sản xuất đơn lẻ nên khó áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật mới trên thế giới
+ Kỹ thuật trồng hoa chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phương pháp cổ truyền + Bộ giống hoa thược dược chưa đa dạng, chưa đáp ứng được sản xuất ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Các giống thược dược mới nhập nội có năng suất
và chất lượng kém ổn định, nhiều sâu bệnh do mẫn cảm với điều kiện khí hậu trong khi các giống truyền thống thì ngày một thoái hoa do nông dân tự không chú ý định
kỳ phục tráng giống Các cơ sở nghiên cứu chọn tạo giống hoa thược dược chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng ở nước ta
2.3 Tình hình nghiên cứu về hoa thược dược trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về hoa thược dược trên thế giới
2.3.1.1 Nghiên cứu về giống trên thế giới
Đầu tiên vào Thế kỷ thứ 16 các nhà thám hiểm Tây Ban Nha đến quốc gia da
đỏ Aztec rộng lớn đã khám phá ra một loài cây có tên khoa học là Dahlia
imperialis Gần khoảng 200 năm sau, hạt, rễ, củ, cây thược dược mới được đưa đi khắp miền Tây châu Âu Đầu thế kỷ 18, hoa thược dược cánh kép – double mới xuất hiện Từ 1810 đến 1840, hoa thược dược trồng rất phổ biến vì các nhà nghiên cứu tiếp tục tuyển chọn hoa thược dược dáng hình cầu, pha trộn nhiều màu sắc
Năm 1872 thược dược được chuyển từ Mexico đến Hà Lan dùng để lai giống và đã cho ra một giống hoa cánh đỏ thắm, uốn cong về phía sau và nhọn đầu Ngay sau đó, thược dược chiếm lại lòng say mê của các nhà tuyển chọn thực vật.Họ
đã thành công trong việc tạo ra giống mới này, có tên là Dahlia Juarezii, với cha mẹ là các giống đã du nhập từ trước Các con lai này là nguồn gốc cha mẹ các giống thược dược lai – hybrids ngày nay
Sau đó họ tiếp tục nhập nội thêm nhiều giống khác sưu tầm ở Mexico, đồng thời dùng phương pháp lai giống chọn giống để tạo ra nhiều loài mới (Richard Dean, 2013)
Năm 2002 Dhane và Nimbalkar đã đánh giá sự phát triển và năng suất hoa của 25 giống hoa thược dược khác nhau từ Pune, Maharashtra (Ấn Độ) Kết quả cho thấy trong 25 giống trên thì có 13 giống là Swami Madhavanand, White Kenya,
Trang 25Bhikkus Mother, Barbara Marshall,Cheroky Beauty,Blukus Buddha, Bela, Yellow Ball, Dixcy, Yellow White Ball, My Love, Jyotsna và Yellow Cactus được đánh giá
là những giống triển vọng và thích hợp cho canh tác ngoài trời (Dhane, A.V và Nimbalkar, C.A, 2002)
Từ năm 2007-2008 Vikas H M thuộc Trường Đại học Khoa học Nông nghiệp Dharwad bang Karnataka, Ấn Độ đã đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của
25 giống hoa thược dược thuộc nhóm Dahlia variabilis được thu thập ở các vùng
Sagar, Dharwad và Bangalore của Ấn Độ Kết quả cho thấy các giống hoa thược dược: Giống số 5 (tím, trắng), giống số 12 (vàng nghệ), giống số 16 (cam sẫm) và giống số 25 (cam nhạt) là những giống có khả năng sinh trưởng mạnh và cho năng suất hoa cao nhất thích hợp để trang trí vườn và trồng hoa cắt cành Giống số 8 (đỏ sẫm) là giống có khả năng sinh trưởng kém và cho năng suất hoa thấp nhất Trong các giống nghiên cứu thì giống số 18 (hồng, tím) là giống có thời gian từ trồng đến
ra nụ dài nhất (67,3 ngày) Giống số 16 và giống số 17 (vàng sẫm) là hai giống có
độ bền hoa cao nhất (Vikas H M, 2009)
Cũng trong công tác tuyển chọn giống năm 2011 các nhà nghiên cứu thuộc khoa Trồng trọt Trường Đại học Khoa học Nông nghiệp và Thuốc thú y của Rumani đã tiến hành đánh giá các đặc tính sinh trưởng phát triển của 12 giống hoa thược dược với mục đích sử dụng là trang trí các khu vườn và công viên công cộng bao gồm Color Spectacle, Acapulco, Pennelope, Witteman’s Best, Chat Noir, Gold Krown, Sorbet, American Dream, Kenora Jubilee, Mik’s Peppermint, Black Berry Ripple, Hy pimento Qua đánh giá về thời gian từ trồng đến bắt đầu nở hoa, thời gian hoa nở tối đa, chiều cao cây, đường kính hoa, số lượng hoa, số lá, số cành/cây, đường kính cây, màu sắc hoa… đã kết luận các giống Color Spectacle, Acapulco, Pennelope, Black Berry Ripple, Hy pimento, Sorbet là những giống có khả năng sinh trưởng phát triển tốt nhất, màu sắc nổi trội Những giống này thích hợp trồng trong các khu vườn, công viên công cộng hoặc cũng có thể sử dụng làm hoa cắt cành (Cantor Maria và cs, 2012)
Trang 262.3.1.2 Nghiên cứu về thời vụ trồng trên thế giới
Năm 1998 các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Hoa và cây cảnh của Pakistan đã nghiên cứu ảnh hưởng của các thời vụ gieo trồng khác nhau đến năng suất và chất lượng hoa của thược dược Thí nghiệm được tiến hành trên 4 thời vụ: 10/9, 25/9, 10/10, 25/10 Kết quả cho thấy rằng ở thời vụ gieo hạt 25/9 tỷ lệ hạt mọc mầm, đường kính hoa, số hoa/cây đạt cao nhất (Muhammad Afzal và cs, 2000)
2.3.1.3 Nghiên cứu về phân bón trên thế giới
Năm 2003 Quazi Adeel Javid và các cộng sự (Trường Đại học Nông Nghiệp Iris - Pakistan) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ các loại phân N:P:K đến năng suất
và chất lượng hoa của giống hoa thược dược Dahlia Delight Kết quả cho thấy sử dụng N:P:K với tỷ lệ là 30-20-20 g/m2 cho năng suất và chất lượng hoa cao nhất
Năm 2003 các nhà khoa học của trường Đại học Nông nghiệp Rawalakot của Pakistan đã nghiên cứu ảnh hưởng của N, P2O5 và phân hữu cơ đến sự tăng trưởng và
ra hoa của thược dược (Dahlia variabilis) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi sử
dụng kết hợp 3 loại phân với liều lượng 20g/m2 N + 40g/m2 P2O5+ 4kg/m2phân hữu cơ thì chiều cao cây, số nhánh/cây, số hoa/cây, đường kính hoa có sự tăng trưởng đáng
kể, thời gian ra hoa cũng sớm hơn so với các công thức sử dụng đơn lẻ các loại phân hay sử dụng kết hợp 2 loại phân (Ahmed và cs, 2004)
Từ năm 2005-2006 Gohar Ayub Khan và các cộng sự thuộc trường Đại học Nông nghiệp NWFP, Peshawar của Pakistan đã nghiên cứu sự phản ứng của hoa
thược dược Dahlia pinnata với các mức N,P, K riêng lẻ và sự kết hợp giữa các loại
phân trên Kết quả cho thấy sử dụng phân bón ở các mức khác nhau có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng phát triển cũng như năng suất, chất lượng của hoa thược dược thể hiện qua các chỉ tiêu thời gian từ trồng đến ra hoa, chiều cao cây, số lá/cây, diện tích lá, số hoa/cây và đường kính hoa Sử dụng riêng lẻ 30g N/sq.ft (1sq.ft = 0,93m2) thì thời gian từ trồng đến ra hoa là dài nhất (123 ngày) Thời gian
từ trồng đến ra hoa ngắn nhất là ở công thức chỉ sử dụng 15g P/sq.ft (91 ngày) Tuy nhiên năng suất và chất lượng hoa của 2 công thức này lại rất thấp Trong các công thức nghiên cứu thì công thức sử dụng kết hợp N, P, K với tỷ lệ 25g N + 15g P +15g
Trang 27K/sq.ft là thích hợp nhất và được khuyến cáo sử dụng đối với hoa thược dược Dahlia
pinnata trong điều kiện khí hậu của Peshawar Gohar (Gohar Ayub Khan và cs, 2007)
Cũng trong thời gian từ năm 2005-2006 Youssef, A.S.M và Gomaa, A O thuộc trường đại học Moshtohor Benha của Ai Cập đã nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 và phân bón lá Kristalon có thành phần (N 20%, P2O5 20%, K2O 20%, Zn 0,0014%, Fe 0,0070%, Mn 0.0042%, Cu 0,0016%, Mg 0,0120%, Mo 0,0014% và
Bo 0,0022%) đến sự tăng trưởng của cây và năng suất hoa, củ của hoa thược dược
Dahlia pinnata GA3 được dùng để xử lý củ trước khi trồng 24 giờ và phun qua lá với nồng độ 0, 100, 200, 300ppm Phân bón lá Kristalon được phun 3 lần ở giai đoạn sau trồng 40, 55 và 70 ngày với liều lượng 0, 2, 4, 6g/l nước Kết quả cho thấy tất cả các công thức có sử dụng GA3 và phân bón lá đều có tác động rõ rệt đến sự tăng trưởng của cây tuy nhiên sử dụng GA3 với nồng độ 200ppm và phân bón lá
Kristalon với liều lượng 6g/L nước là thích hợp nhất đối với hoa thược dược Dahlia
pinnata (Youssef, A.S.M và Gomaa, A O., 2008)
Các nhà nghiên cứu của trường Đại học Nông nghiệp Faisalabad - Pakistan (2010-2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ các chất dinh dưỡng đa lượng
và vi lượng đến sinh trưởng và ra hoa của giống hoa thược dược Dahlia variabilis
Kết quả cho thấy phun phân vi lượng (5000±200 Zn; 4000±200 B; 1000±200 Mn; 1000±100 Cu; 1000±100 Cl; 50±10 Mo) với liều lượng 7,5ml/L và phân đa lượng (80 N+ 80 P2O +60 K2O) với liều lượng 6ml/L thì giống thược dược nghiên cứu
có chiều cao cây, số lá, số chồi và đường kính hoa đạt lớn nhất (Adnan Younis và
cs, 2014)
Từ năm 2011-2012 các nhà khoa học của trường Đại học Nông nghiệp Faisalabad của Pakistan cũng đã tiến hành đánh giá hiệu quả của sự kết hợp giữa phân bón qua gốc và phân bón qua lá đến sự tăng trưởng và năng suất của giống hoa thược dược lùn Fresco Kết quả cho thấy ở hai công thức sử dụng kết hợp phânbón qua gốc và phân bón qua lá là (T2: NPK (15:32:7) + Phân bón lá có tỷ lệ (1% N; 1%
K2O; 2,5% Zn; 1% Bo; 1% Fe; 1% Mn; 2% Cu và T3: NPK (15:32:7) + Phân bón lá
có tỷ lệ (1,5% Zn; 2% B; 2% Fe; 2% Mn; 1% Cu) có tác dụng rõ rệt cây trong việc thúc đẩy sự sinh trưởng của cây và tăng năng suất đáng kể (Kashif và cs, 2014)
Trang 28Từ năm 2012-2013 V.M.Prasad và S.Saravana của Viện Công nghệ và Khoa học Nông nghiệp Sam Higginbottom, Allahabad, Ấn Độ đã nghiên cứu ảnh hưởng của sự kết hợp giữa phân hữu cơ và phân vô cơ đến năng suất hoa và năng suất củ của
hoa thược dược (Dahlia variabilis) với 9 công thức Kết quả cho thấy sử dụng kết
hợp phân hữu cơ và vô cơ ở công thức 6 (T6) là 30 tấn phân gia cầm + 100kg N + 120kg P2O5 + 100kg K2O/ha cho hoa có đường kính lớn nhất, năng suất hoa cao và khối lượng củ lớn mang lại lợi nhuận cao cho người trồng hoa thược dược Sự kết hợp của 2 loại phân trên cũng được khuyến cáo sử dụng trong điều kiện khí hậu nông nghiệp của Allahabad (V.M.Prasad và S.Saravana, 2014)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa thược dược ở Việt Nam
2.3.2.1 Nghiên cứu về giống ở Việt Nam
Hiện nay với những kết quả thành công trong chọn tạo các giống hoa bằng phương pháp đánh giá tính thích ứng của giống từ nguồn gen các giống nhập nội, việc chọn hướng đi nhập nội các giống hoa thược dược tốt từ nước ngoài để khảo nghiệm tính thích ứng và thuần hoá cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, cũng như nhập nội một số nguồn vật liệu mới phục vụ công tác lai tạo giống là một hướng đi rất đúng
Trong công tác tuyển chọn giống từ năm 2010-2012 Ngô Hồng Bình, và các cộng sự đã tiến hành khảo nghiệm và tuyển chọn được hai giống thược dược trồng
chậu là TDL-03 hoa kép màu đỏ (thuộc nhóm Figaromis) và TDL-05 hoa kép màu vàng (thuộc nhóm Riconetto) từ 7 giống hoa thược dược lùn nhập nội Cả hai giống
này đều thích hợp trồng chậu trong vụ Đông tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng
và đã được hội đồng khoa học Bộ NN&PTNT công nhận là giống sản xuất thử vào tháng 6 năm 2012 (Ngô Hồng Bình và cs, 2012)
Năm 2013 Đào Thanh Vân và các cộng sự cũng tiến hành nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của một số giống thược dược lùn nhập nội tại Thái Nguyên Kết quả đã chọn ra được hai giống thược dược lùn TDL01 (hoa màu vàng) và TDL05 (hoa màu đỏ) có khả năng sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất chất lượng hoa cao
Trang 292.3.2.2 Nghiên cứu về thời vụ trồng ở Việt Nam
Thược dược có nguồn gốc ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ và có khả năng chịu rét nên Tùy theo điều kiện thời tiết của từng nước, từng miền mà thời vụ trồng thược dược được bố trí khác nhau Ở miền Bắc Việt Nam khí hậu phân theo 4 mùa rõ rệt xuân, hạ, thu, đông Dựa vào đặc tính ưa khí hậu mát mẻ nên ở miền Bắc Việt Nam thược dược thường được trồng từ tháng 8 đến tháng 12 âm lịch tuy nhiên cây hoa thược dược lại có giá cao vào dịp Tết Nguyên Đán nên việc bố trí thời vụ để thu hoa đúng vào dịp Tết Nguyên Đán là rất cần thiết Tùy thuộc vào thời gian sinh trưởng của các giống hoa thược dược khác nhau mà việc bố trí thời
vụ trồng cũng khác nhau
Năm 2012 các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng và phát triển của 2 giống hoa thược dược lùn TDL-03, TDL-05 Kết quả nghiên cứu cho thấy ở thời vụ trồng 15/10 cả hai giống TDL-03 và TDL-05 đều sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất, chất lượng hoa cao và đặc biệt hoa nở vào đúng Tết Nguyên Đán nên mang lại hiệu quả kinh tế cao (Ngô Hồng Bình và cs, 2012)
Năm 2013 Đào Thanh Vân và các cộng sự Trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên cũng tiến hành nghiên cứu thời vụ trồng giống hoa thược dược lùn TDL01 tại Thái Nguyên Kết quả cho thấy trồng hoa thược dược lùn ở thời vụ 15/10 là thích hợp nhất cây sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao và chất lượng hoa tốt, nở đúng dịp Tết Nguyên Đán
2.3.2.3 Nghiên cứu về phân bón lá ở Việt Nam
* Cơ sở khoa học và một số ứng dụng phân bón lá trong sản xuất
Thông thường bộ rễ của cây làm nhiệm vụ chính là hút nước và dinh dưỡng cho cây trồng Các chất khí CO2, O2 và các chất khoáng hòa tan cũng dễ dàng được đồng hóa qua khí khổng, tuy nhiên sự hấp thu các nguyên tố khoáng dưới dạng ion
từ dung dịch gặp phải khó khăn hơn vì tầng cutin lớp ngoài cùng lá Tầng cutin này
có thể dày, mỏng thay đổi tùy từng cây trồng và tuổi cây Các chất khoáng hoàn toàn có khả năng xâm nhập qua các lỗ siêu nhỏ trên tầng cutin, đường kính các lỗ này lớn hơn 1nm và mật độ của chúng rất cao 1010 lỗ/dm2
Trang 30Độ dày mỏng của tầng cutin rất khác nhau giữa các loài câu trồng do đó hiệu quả của dinh dưỡng qua lá là rất khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm giải phẫu lá của cây và cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường Để tăng khả năng hấp thu yêu cầu khi phun phải tạo ra một lớp màng mỏng dinh dưỡng trên bề mặt lá
Điều kiện nhiệt độ và thời tiết cũng ảnh hưởng tới hiệu quả của dinh dưỡng qua lá, do đó khi sử dụng dinh dưỡng qua lá thường kết hợp với các chất bề mặt lá, phun vào lúc trời râm mát không mưa
Quá trình hấp thu dinh dưỡng qua các tế bào lá cũng giống như sự hấp thụ dinh dưỡng qua rễ cây Thực chất quá trình này là sự vận chuyển của các chất khoáng qua màng sinh học, đây là quá trình vận chuyển tích cực với hầu hết các dinh dưỡng khoáng Tỷ lệ hấp thu dinh dưỡng bị ảnh hưởng bởi trạng thái sinh lý của lá cây Tỷ lệ hấp thu dinh dưỡng của lá được qua định bởi khả năng xâm nhập của các chất khoáng từ màng dinh dưỡng mỏng trên bề mặt lá qua tầng cutin vào bên trong của tế bào
Thuật ngữ Folia application- phương pháp bón phân qua lá rất nổi tiếng vào những năm 80 của thế kỷ 20 ở các nước nông nghiệp phát triển tại Châu Âu vì phương pháp này nếu bón đúng thời điểm không chỉ nâng cao năng suất, cải thiện hàm lượng Protein cũng như các chất khoáng mà còn góp phần hạn chế sự ô nhiễm đất, nước ngầm khi phải sử dụng một lượng đạm lớn để bón vào đất (Nguyễn Văn Phú, 2002)
Bón phân qua lá là biện pháp phun một hay nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng lên các phần ở phía trên mặt đất của cây (lá, cuống, hoa, quả) với mục đích nâng cao sự hấp thu dinh dưỡng qua các phần trên mặt đất của cây trồng Thường nên phun vào lúc cây còn non khi màng cutin chưa thật phát triển, hoặc vào lúc cây sắp đạt cường độ cực đại của quá trình trao đổi chất (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Trần Văn Phẩm, 2000)
- Ưu điểm của phương pháp dinh dưỡng qua lá
Theo Nguyễn Văn Phú (2002) thì phương pháp dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong các trường hợp sau
+ Đất nghèo dinh dưỡng, khả năng dinh dưỡng của cây bị hạn chế
+ Đất bị khô hạn không thể dinh dưỡng vào đất
Trang 31+ Dinh dưỡng qua lá là phương pháp phổ biến đối với các nguyên tố như:
Mg, S và nhất là các nguyên tố vi lượng, phương pháp dinh dưỡng qua lá là hoàn toàn có thể thỏa mãn như cầu của cây
+ Điều chỉnh sự mất cân bằng của cây khi chuyển từ giai đoạn sinh trưởng sinh thực Lúc này bộ rễ không sinh trưởng thêm thậm chí còn giảm đi làm cho quá trình hút khoáng giảm dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng, nên bổ sung dinh dưỡng qua lá sẽ khắc phục được tình trạng này
+ Dinh dưỡng qua lá rất có hiệu quả trong khi đất có hiện tượng đối kháng ion Trong điều kiện đất giàu K+ lớn hơn 300 mg/kg đất và Mg++ lớn hơn 160 mg/kg đất, sự hấp thu Mg++ bị ngăn cản do hiện tượng đối kháng ion cây có biểu hiện thiếu
Mg++, bón Mg++ vào đất sẽ làm cây mất cân bằng dinh dưỡng và chết do ngộ độc
Mg++ Trong khi bón Mg++ qua lá giúp cây sinh trưởng tốt
+ Cây được bón phân qua lá sinh trưởng ổn định, chắc khỏe, ít sâu bệnh, chống chịu được điều kiện bất thuận (ngập, hạn, mặn, phèn…) và cho năng suất cao hơn đối chứng
+ Bón phân qua lá đáp ứng nhanh như cầu dinh dưỡng của cây Nếu sau một thời kỳ bị sâu bệnh hại hoạc ngập úng bón phân qua lá giúp cây mau chóng hồi phục hơn
+ Khi bón phân qua lá các chất dinh dưỡng được đi qua khí khổng và tầng cutin vào lá nên chất dinh dưỡng cung cấp cho cây nhanh hơn, hiệu suất sử dụng dinh dưỡng cao hơn (tới 95%) do không bị đất và cỏ dại hấp thu Chi phí thấp hơn,
ít ảnh hưởng đến môi trường và đất trồng, phân bón qua lá ngày càng được người nông dân nhiều nơi áp dụng vào trong sản xuất
- Nhược điểm của phương pháp dinh dưỡng qua lá
Phương pháp dinh dưỡng qua lá có hiệu quả cao, nhưng cần khắc phục một
số nhược điểm sau:
+ Một lượng nhỏ chất khoáng có thể hút qua lá vì đối với các nguyên tố đa lượng khoảng 10% là được đồng hóa qua lá cho nên phương pháp này không phổ biến với các nguyên tố đa lượng mà chỉ phổ biến với các nguyên tố trung lượng và
vi lượng
Trang 32+ Rất dễ bị rửa trôi khỏi lá khi có mưa và cháy lá khi nhiệt độ cao, hiệu quả phun thuốc phụ thuộc vào điều kiện thời tiết Vì vậy khi phun phải chọn lúc trời râm mát, phu vào chiều tối và được kết hợp với bề mặt
+ Có thể gây cháy lá cục bộ do mất cân bằng dinh dưỡng, vì thế phải sử dụng đúng nồng độ 0,5-1,5%
+ Dinh dưỡng qua lá không áp dụng cho một số loài cây trồng lá có lớp sáp bao phủ không thấm nước (Nguyễn Văn Phú, 2002)
Hiện nay các chế phẩm trên thị trường rất phong phú, trong đó chủ yếu các loại phân bón lá là do cơ sở trong nước sản xuất, chỉ có một số chế phẩm phân bón
lá là nhập từ nước ngoài Loại phân bón lá do các cơ sở trong nước sản xuất được chia thành hai nhóm chính:
+ Nhóm có thêm các chất kích thích sinh trưởng nhằm thúc đẩy sinh trưởng, hoặc thúc đẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc đẩy quá trình chín hoặc làm nhanh quá trình ra rễ
+ Nhóm không chứa các chất kích thích sinh trưởng mà chỉ chứa các nguyên
tố khoáng vi lượng, đa lượng được phối trộn theo một tỷ lệ hợp lý giúp cây sinh trưởng ổn định một cách tự nhiên
Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, Anh, Úc, Thái Lan… đã sản xuất và sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá đã được khảo nghiệm ở Việt Nam
* Nghiên cứu về phân bón lá đối với cây hoa thược dược
Năm 2011 Ngô Hồng Bình và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng phát triển và chất lượng hoa của giống thược dược TDL-03 và TDL-05 đã kết luận rằng phun phân bón lá Plant soul
3 trên 2 giống thược dược TDL-03 và TDL-05 cây sinh trưởng phát triển tốt, chất lượng hoa cao (Ngô Hồng Bình và cs, 2012)
2.3.2.4 Nghiên cứu về phân bón gốc ở Việt Nam
- Cơ sở khoa học và một số ứng dụng phân bón gốc trong sản xuất
Phân bón là "thức ăn chính" do con người bổ sung cho cây trồng Trong phân bón chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây Các chất dinh dưỡng chính trong
Trang 33phân là: Nitơ (N), Phospho (P), và kali (K) Ngoài các chất trên, còn có các nhóm nguyên tố vi lượng Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực vật nói chung và cây hoa nói riêng Nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của cơ thể thực vật
Nitơ (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của câytrồng Mặc dù hàm lượng trong cây không cao, nhưng nitơ lại có vai trò quan trọng bậc nhất Thiếu nitơ cây không thể tồn tại Nitơ là thành phần quan trọng cấu tạo nên tất
cả các axit amin và từ các axit amin tổng hợp nên tất cả các loại protein trong cơ thể thực vật Vai trò của protein đối với sự sống của cơ thể thực vật là không thể thay thế được Nitơ có mặt trong axit nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng porphyril,
là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật Nói chung, nitơ là dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thành phần chính của protein, vào quá trình hình thành các chất quan trọng như amino axit, men, nhiều loại vitamin trong cây như B1, B2, B6…Nitơ thúc đẩy cây tăng trưởng, đâm nhiều chồi, lá to và xanh, quang hợp mạnh Nếu thiếu đạm, cây sinh trưởng chậm, còi cọc,
lá ít và có kích thước nhỏ và hơi vàng Nhưng nếu bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây Biểu hiện của triệu chứng thừa đạm là cây sinh trưởng quá mức, cây dễ đổ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm vì diệp lục được tổng hợp nhiều
Phospho (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng Phospho có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ P cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả Cây được cung cấp đầy đủP sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua và kiềm.Nếu thiếu P, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng cứng, lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng xuất chất khô giảm Ngoài ra, thiếu P sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng N Một vài loại lá kim khi thiếu P lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ Ở những loài cây lá rộng, thiếu P sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm Khi thừa P không thấy tác hại nghiêm trọng như thừa N
Trang 34Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá trình đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đẩy quátrình sử dụng N
ở dạng NH4+, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ítđổ ngã, chống sâu bệnh, chịu hạn và rét Do vậy, nếu thiếu kali, thì cây cóbiểu hiện về hình thái rất rõ như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và có màu lục tối,sau chuyển sang vàng, xuất hiện những chấm đỏ, lá bị khô (cháy) rồi rủxuống (Viện Thổ nhưỡng Nônghóa, 1998)
Việc kết hợp cân đối các nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, hệ thống canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng được bón trực tiếp vào đất hoặc hòa lẫn vào nước phun, xử lý hạt giống, rễ và cây con Cây trồng cần cung cấp các chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển Các chất dinh dưỡng này bao gồm các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây, chúng đều có trong đất và được cây trồng hấp thụ qua hệ thống rễ Tuy nhiên số lượng các nguyên tố này đất không có khả năng cung cấp đủ cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng, do đó phải bón phân bổ sung Hiện tượng cây thiếu các nguyên tố vi lượng vẫn xảy ra do trong đất quá nghèo hoặc bón không đủ phân hữu cơ, nhu cầu dinh dưỡng của cây cao mà đất không cung cấp đủ Việc bón phân cho cây trồng phải tiến hành thường xuyên và được chú trọng để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt và nâng cao sức sống cho cây trồng
Bón phân cũng như những biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau, thường không chỉ gây ra một tác động trực tiếp dẫn đến một kết quả nào đó mà thường có nhiều tác động lên các thành tố trong hệ có thể dẫn đến những kết quả khác nhau
Do đặc điểm của quá trình phản ứng dây chuyền và quá trình tiếp nhận các tác động
từ bên ngoài vào các hệ sinh thái mà có thể có những tác động rất mạnh nhưng không gây ra hiệu quả gì đáng kể, trong khi đó, có những tác động nhẹ nhàng nhưng được nhân lên trong phản ứng dây chuyền và tạo nên những hiệu quả rất lớn Bón
Trang 35phân hợp lý có thể không cần sử dụng những lượng phân bón mà có thể đạt được hiệu quả rất cao
Cây trồng có yêu cầu đối với các chất dinh dưỡng ở những lượng nhất định với những tỷ lệ nhất định giữa các chất Thiếu một chất dinh dưỡng nào đó, cây sinh trưởng và phát triển kém, ngay cả những khi có các chất dinh dưỡng khác ở mức thừa thãi
Các nguyên tố dinh dưỡng không chỉ tác động trực tiếp lên cây mà còn có ảnh hưởng qua lại trong việc phát huy hoặc hạn chế tác dụng của nhau
Đối với mỗi loại cây trồng có những tỷ lệ khác nhau trong mức cân đối các yếu tố dinh dưỡng Tỷ lệ cân đối này cũng thay đổi tuỳ thuộc vào lượng phân bón được sử dụng Tỷ lệ cân đối giữa các nguyên tố dinh dưỡng cũng khác nhau ở các loại đất khác nhau
Điều cần lưu ý là không được bón phân một chiều, chỉ sử dụng một loại phân
mà không chú ý đến việc sử dụng các loại đất khác
Bón phân không cân đối không những không phát huy được tác dụng tốt của các loại phân, gây lãng phí mà còn có thể gây ra những tác dụng không tốt đối với năng suất cây trồng và đối với môi trường
Bón phân cân đối có các tác dụng tốt là:
- Ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của chất, bảo vệ đất chống rửa trôi, xói mòn
- Tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả của phân bón và của các biện pháp kỹ thuật canh tác khác
Phân hỗn hợp là các loại phân tạo được do quá trình trộn lẫn 2 hoặc nhiều loại phân đơn với nhau một cách cơ giới và đều đặn
Trang 36Phân tổng hợp cũng như phân hỗn hợp có các tỷ lệ NPK ở các tổ hợp khác nhau được lựa chọn phù hợp với từng loại đất và từng nhóm cây trồng Nhiều trường hợp trong phân tổng hợp cũng như phân hỗn hợp còn có thêm cả các nguyên
tố Mg, Ca, S và các nguyên tố vi lượng khác
Trên thị trường hiện đang có các loại phân sau đây
- Loại 2 nguyên tố N và P với tỷ lệ NPK: 18:46:0 và 20:20:0
- Loại 3 nguyên tố NPK với tỷ lệ: 20:20:10 và 15:15:15
-Loại nhiều nguyên tố N, P, K, Mg, Ca… với tỷ lệ: 20:20:15+Te; 13:13:13+Te …
Các loại phân tổng hợp và hỗn hợp chỉ phát huy hiệu lực tốt khi được bón đúng với yêu cầu của cây và phù hợp với tính chất của các loại đất Vì vậy, muốn sử dụng có hiệu quả các loại phân này cần nắm được đầy đủ và cụ thể đặc điểm của cây và tính chất của đất Mỗi loại cây lại yêu cầu một tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng nhất định vì vậy tùy theo loại cây trồng mà ta lựa chọn loại phân bón nhất định để đạt được năng suất cao nhất
Phân bón là 1 trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng xuất cao, chất lượng tốt (Nguyễn Vịnh, 2011)
- Nghiên cứu về phân bón qua gốc đối với cây hoa thược dược
Năm 2011 Ngô Hồng Bình và các cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phân bón (qua gốc) đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa thược dược trồng chậu Kết quả cho thấy sử dụng phân bón Đầu trâu có tỷ lệ 20-20-15+Te có tác dụng tốt nhất đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa của cây thược dược trồng chậu (Ngô Hồng Bình và cs, 2012)
Tóm lại ở Việt Nam việc tuyển chọn và khảo nghiệm các giống hoa thược dược cắt cành và các biện pháp kỹ thuật hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu Hiện nay nhu cầu thị trường ngày càng cao đòi hỏi bộ giống hoa thược dược luôn phải đổi mới, đa dạng hơn về chủng loại và màu sắc, quy trình kỹ thuật đầy đủ mới
Trang 37có thể đáp ứng được nhu cầu của sản xuất Để nghề trồng hoa nói chung và trồng hoa thược dược nói riêng có thể phát triển mạnh mẽ hơn nữa thì cần phải có sự quan tâm và đầu tư nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn cả cơ cấu giống cũng như các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế từ nghề trồng hoa
Trang 383 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1.Vật liệu nghiên cứu
- Giống: 7 giống hoa thược dược nhập nội từ Hà Lan năm 2011, giống đối chứng là giống Đỏ Cờ (giống đang được trồng phổ biến ở các vùng trồng hoa của nước ta)
Bảng 3.1: Tên các giống thược dược trồng thí nghiệm
(cm)
CC cây (cm)
TGST (ngày)
Nguồn gốc
1 Orange Nugger Cam 10-13 60-80 100-120 Hà Lan
2 Duet Đỏ viền trắng 12-15 68-80 90-110 Hà Lan
3 Red Pigmy Đỏ tươi 9- 12 50-70 80-100 Hà Lan
5 Golden Emblem Vàng 12-15 70-90 90-110 Hà Lan
6 Gallery Singer Đỏ sẫm 12-15 80-100 90-110 Hà Lan
7 Tartan Trắng lẫn đỏ 15-17 80-100 100-120 Hà Lan
8 Đỏ Cờ (Đ/c) Đỏ cờ 10-13 60-80 90-110
Các giống hoa thược dược nhập nội được nhập nội dưới hình thức củ giống Cây giống thược dược đem trồng được nhân bằng phương pháp giâm cành và đều đạt tiêu chuẩn xuất vườn, chiều cao cây từ 5-8cm, số lá trên cây đạt từ 4-6 lá, số rễ
≥ 5 rễ, cây khỏe không bị sâu bệnh
- Phân bón lá:
+ Phân bón lá Plant soul 3 xuất xứ từ Trung Quốc do công ty Bảo vệ thực vật đa quốc gia cung cấp có thành phần gồm: 20% N + 20% P2O5 + 20% K2O + 0,1% Mg + 0,009% Bo + 0,02% Cu + 0,05% Mn + 0,002% Mo + 0,02% Zn + 0,0005% Co
+ Phân bón lá Seaweed 95% (Rong biển) xuất xứ từ Canada do công ty TNHHTM Quốc Bảo đóng gói thành phần gồm: HC: 50%; N: 5%; P2O5: 2%; K2O:
Trang 3910% và NAA: 150ppm; B: 150ppm; Zn: 150ppm; Vitamin C: 150ppm
+ Phân bón lá Đầu trâu 009do công ty phân bón Bình Điền cung cấp thành phần gồm: 20% N + 20% P2O5 + 20% K2O +S + Mg + Ca + Zn + Fe + Cu + Mn + B + Mo + gibberellin, αNAA
+ Phân bón lá Komix: do công ty cổ phần Thiên Sinh cung cấp, có thành phần dinh dưỡng theo thể tích như sau: N: 2,6%; K2O: 2,2%; P2O5: 7,5%, Zn, B,
Mg, Mn, Cu…
- Phân bón gốc:
+ Phân bón qua gốc NPK Đầu Trâu 20-20-15+Tethành phần gồm: Nitơ (N): 20%; Phospho (P2O5 hh): 20%; Kali (K2O): 15%; Canxi (CaO): 0.25%; Magiê (MgO): 0.35%; Lưu huỳnh (S): 0.5%; Fe: 10ppm; Cu: 5ppm; Zn: 5ppm; B: 10ppm
+ Phân bón qua gốc Đầu Trâu 13-13-13+Te thành phần gồm: Nitơ (N): 13%;Phospho (P2O5 hh): 13%; Kali (K2O): 13%; Canxi (CaO): 1%; Magiê (MgO): 0,6%; Lưu huỳnh (S): 6%; Sắt (Fe): 90ppm; Kẽm (Zn):15ppm; Đồng (Cu): 10ppm;
Bo (B): 90ppm
+ Phân bón qua gốc NPK Đầu Trâu 20-20-15 thành phần gồm: Nitơ (N): 20%; Phospho (P2O5 hh): 20%; Kali (K2O): 15%
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí trong khu thí nghiệm của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh - Viện Nghiên cứu Rau quả - Gia Lâm - Hà Nội
* Thời gian: từ tháng 9/2013-tháng 2/2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài thực hiện 2 nội dung sau:
- Đánh giá đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, chất lượng hoa
và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống hoa thược dược nhập nội và so sánh với giống đối chứng (Đỏ Cờ) trong vụ Thu Đông 2013 tại Gia Lâm – Hà Nội
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng phát triển, chất lượng hoa và các yếu tố cấu thành năng suất của giống hoa thược dược Golden Emblem trồng trong vụ Thu Đông tại Gia Lâm – Hà Nội
Trang 403.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
*Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất
lượng của các giống thược dược nhập nội trong điều kiện vụ Thu Đông 2013
Thí nghiệm gồm 8 công thức tương ứng với 8 giống thược dược
Ngày trồng 15/10/2013
Diện tích toàn bộ ô thí nghiệm là 100,8m2 Nền phân bón: 0,5 tấn Phân chuồng + 4,8kg Urê + 4,8kg Supe lân + 2,8kg Kali
*Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát
triển của giống Golden Emblem
- Thí nghiệm được bố trí trên 5 công thức:
* Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến năng suất và chất
lượng hoa đối với giống Golden Emblem
- Thí nghiệm được bố trí trên 4 công thức
+ Công thức 1: Không phun - Đối chứng (Đ/c)
+ Công thức 2: Phun phân bón lá Đầu Trâu 009
+ Công thức 3: Phun phân bón lá Plantsoul 3
+ Công thức 4: Phun phân bón lá Seaweed 95% (Rong biển)
+ Công thức 5: Phun phân bón lá Komix