1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên

106 607 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 728,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách của Nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để bảo đảm an toàn quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

Trang 1

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM

2.1.2 Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội 20

2.2.1 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH trên

2.2.2 Kinh nghiệm hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH ở Việt Nam 35

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BHXH tỉnh 39 3.1.2 Bộ máy tổ chức của Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên 41

Trang 2

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48

4.1 Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại

4.1.1 Nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng Bảo hiểm xã hội 50 4.1.2 Nhóm hành vi vi phạm quyền thụ hưởng Bảo hiểm xã hội 62 4.1.3 Nhóm hành vi vi phạm liên quan tới quản lý và thực hiện Bảo

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên 70

4.2.2 Ảnh hưởng mức độ hiểu biết về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

4.2.3 Ảnh hưởng của mức xử phạt trong vi phạm pháp luật bảo hiểm

4.2.5 Đánh giá chung hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DNN&V Doanh nghiệp nhỏ và vừa

NSNN Ngân sách nhà nước

NSDLĐ Người sử dụng lao động

DNCVĐTNN Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

DN Doanh nghiệp

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

3.1 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ năm 2013 44

4.1 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của các DN trên địa bàn tỉnh

4.2 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của doanh nghiệp đăng ký

hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hưng Yên (giai đoạn

4.3 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của lao động thực tế DN sử

4.4 Thực trạng đóng BHXH của DNNVV tham gia BHXH trên địa

4.5 Tiền lương đăng ký BHXH so với tiền lương thực tế trong doanh

4.6 Tình hình giải quyết chế độ BHXH trong doanh nghiệp trên địa

4.7 Tổng hợp số tiền lương của DN đóng BHXH từ năm 2011 – 2013 65 4.8 Tổng hợp các DN vi phạm đóng BHXH từ năm 2010 – 2013 trên

4.9 Mối quan hệ giữa thủ tục tham gia, thủ tục hưởng và kết quả thực

4.10 Mối quan hệ giữa mức đóng và kết quả thực hiện BHXH của

Trang 5

4.13 Mối quan hệ giữa mức xử phạt vi phạm lĩnh vực BHXH và kết

4.14 Hoạt động tuyên truyền và kết quả thực hiện BHXH của người

Trang 6

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, mang tính chia sẻ cộng đồng, là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ

sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội được thực hiện ở nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập (năm 1945) Từ đó đến nay chính sách bảo hiểm xã hội không ngừng sửa đổi, bổ sung phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước

Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam có chức năng tổ chức và thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên theo quy định của pháp luật

và của ngành Trong những năm qua, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch được giao, đóng vai trò quan trọng trong

sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế tại địa phương Tuy nhiên, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn, việc nhiều đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trốn đóng nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động, trây ỳ, nợ đọng kéo dài, thanh toán hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội sai quy định, lạm dụng quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế … tác động xấu tới công tác quản lý của Bảo hiểm xã hội tỉnh Để đảm bảo tăng trưởng, phát triển quỹ bảo hiểm

xã hội và là cơ sở thực hiện giải quyết các chế độ chính sách cũng như quyền lợi của người tham gia thì công tác hạn chế vi phạm luật bảo hiểm xã hội đóng một vai trò hết sức quan trọng

Để đảm bảo tăng trưởng, phát triển quỹ bảo hiểm xã hội và là cơ sở thực hiện giải quyết các chế độ chính sách cũng như quyền lợi của người

Trang 7

tham gia thì công tác hạn chế vi phạm luật bảo hiểm xã hội đóng một vai trò

hết sức quan trọng, tôi tiến hành chọn đề tài “Giải pháp hạn chế vi phạm

pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh Hưng Yên” làm

nội dung nghiên cứu của luận văn thạc sỹ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh Hưng Yên

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội, các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

- Phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên

- Đề xuất giải pháp nhằm hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên

- Trên cơ sở đó đưa ra giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên

Trang 8

Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Bảo hiểm xã hội

tỉnh Hưng Yên Tập trung vào 60 Doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng với 120 lao

động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

Phạm vi thời gian:

Dữ liệu thứ cấp thu thập tập trung trong 3 năm 2011 – 2013

Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2014 - 2020

Thời gian làm đề tài: từ 5/2013 – 8/2014

Trang 9

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM

PHÁP LUẬT VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Bảo hiểm xã hội

2.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu, có nhiều khái niệm về BHXH do có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau

- Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra Bảo hiểm là hình thức chuyển giao rủi ro Tham gia bảo hiểm thực chất có được sự an tâm, là đổi lấy cái sự không chắc chắn có khả năng xảy ra thiệt hại bằng sự chắc chắn thông qua việc bù đắp bằng tài chính

- Theo nghĩa rộng, BHXH là một phạm trù kinh tế xã hội tổng hợp, đa dạng và phức tạp Trong ngôn ngữ tiếng Việt, khi đưa ra khái niệm BHXH người ta xuất phát từ khái niệm chung về bảo hiểm Có thể hiểu: bảo hiểm là

sự đảm bảo bằng quy định hoặc thoả thuận về việc trả một khoản tiền cho bên tham gia khi có rủi ro xảy ra với đối tượng được bảo hiểm, trên cơ sở một khoản đóng góp vào quỹ bảo hiểm Thông qua bảo hiểm, những người tham gia có thể chia sẻ một số rủi ro của cá nhân mình cho cộng đồng và nhà tổ chức có thể tính toán để quản lý các rủi ro đó

- Theo nghĩa hẹp, BHXH chỉ bao gồm trường hợp bảo hiểm thu nhập cho người lao động Vì vậy, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thường được

Trang 10

tách ra với tên gọi riêng mặc dù đó cũng là những hình thức bảo hiểm mang tính xã hội và phi lợi nhuận Ở nước ta, cũng như một số nước trên thế giới khi đưa ra khái niệm về BHXH, người ta cũng xuất phát từ nghĩa hẹp này Cụ

thể, Luật BHXH ở Việt Nam khẳng định: "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp phải những biến cố do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH để hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội"

- Theo tập một Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: "BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội"

- Nhưng khái niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội

Với các khái niệm này, đối tượng được bảo vệ bằng hệ thống BHXH thường là những người lao động và thân nhân của họ, không phải là tất cả các thành viên của xã hội nói chung Biện pháp công cộng được sử dụng trong

Trang 11

BHXH thông thường là biện pháp lập quỹ chuyên dùng, từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, hầu như không bao hàm sự chu cấp

từ NSNN hoặc từ các quỹ xã hội

Các khái niệm nêu trên đều có nội hàm tương đối thống nhất, thể hiện

ở một số điểm sau đây:

- BHXH là sự bảo vệ của xã hội, của Nhà nước đối với người lao động

- NLĐ sẽ được BHXH trợ giúp vật chất và các dịch vụ y tế cần thiết để

ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ

- Chỉ trong các trường hợp có những rủi ro liên quan đến thu nhập của NLĐ thì mới được hưởng BHXH

- BHXH được thực hiện trên cơ sở một quỹ tiền tệ

Tuy nhiên, những khái niệm này đã thể hiện được nhận thức chung về BHXH như sau:

- Trước hết phải khẳng định, BHXH là một loại hình bảo hiểm mang tính xã hội cao, bởi thế, tổ chức BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận

- Đối tượng của BHXH là thu nhập của NLĐ, còn diện bảo vệ của BHXH lại bao gồm cả NLĐ và gia đình họ Vì thế, suy cho cùng BHXH đã, đang và sẽ bảo vệ cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội

- Tham gia đóng góp để hình thành quỹ BHXH bao gồm cả NLĐ và NSDLĐ Quỹ được hình thành và sử dụng luôn có sự hỗ trợ và bảo hộ của Nhà nước

- Rủi ro và sự kiện trong BHXH đều liên quan đến thu nhập của NLĐ

Đó là các rủi ro như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn phế… và các sự kiện như: tuổi già về hưu, sinh đẻ của lao động nữ…

- Mục đích của BHXH là góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an sinh xã hội

Xuất phát từ những quan điểm và nhận thức trên, tôi cho rằng: BHXH

Trang 12

là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm, trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an sinh xã hội

Như vậy, có thể thấy BHXH là một vấn đề kinh tế xã hội tổng hợp có thể tiếp cận, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Trong lý luận cũng như trong thực tế, BHXH thường được phân loại hình BHXH của người tham gia BHXH Theo cách phân loại này, BHXH được chia thành hai loại: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện

- BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm mà NLĐ, NSDLĐ bắt buộc phải tham gia theo quy định của pháp luật Loại BHXH này được hình thành khi Nhà nước đã đứng ra lo liệu với tư cách là người tổ chức, quản lý BHXH Việc tổ chức BHXH bắt buộc chủ yếu để thực hiện mục đích ràng buộc trách nhiệm của NSDLĐ với NLĐ nhằm ổn định nguồn thu, chi để phát triển BHXH bền vững Thông qua đó, có thể đảm đời sống cho NLĐ, đảm bảo an sinh xã hội nói chung

- BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của NLĐ nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, giúp phần bảo đảm an toàn xã hội BHXH tự nguyện

là loại hình bảo hiểm mà NLĐ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia, được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng, hưởng phù hợp, theo các quy định linh hoạt của pháp luật

2.1.1.2 Đối tượng áp dụng

BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện trên cơ sở nhu cầu đời sống xã hội dựa trên sự đóng góp của NSDLĐ và NLĐ cùng với việc hỗ trợ và quản

Trang 13

lý của Nhà nước để thực hiện các chế độ BHXH cho NLĐ và đối tượng thụ hưởng theo quy định Các chế độ BHXH được triển khai thực hiện gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết được áp dụng cho đối tượng NLĐ là công dân Việt Nam trong

độ tuổi lao động và thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật

Đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Nghị định

số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 và hướng dẫn tại Phần I Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 là công dân Việt Nam làm việc trong cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp (đơn vị SDLĐ) gồm :

- Người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công thuộc các chức danh gồm: chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức danh quản

lý khác do điều lệ công ty quy định

- Công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan,

hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật thuộc Công

an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân,

Trang 14

công an nhân dân

- Hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân; học sinh cơ yếu hưởng phụ cấp được đào tạo về kỹ thuật, nghiệp vụ mật mã do Ban Cơ yếu Chính phủ quản lý

- NLĐ đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài

- Phu nhân, phu quân trong thời gian hưởng chế độ phu nhân, phu quân tại các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài mà trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc

- NLĐ đã tham gia BHXHBB mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo các loại hợp đồng: Hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghề và doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài có đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; hợp đồng cá nhân

b) Đơn vị sử dụng lao động

- Cơ quan của Đảng, Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, huyện đến cấp xã và đơn vị thuộc lực lượng vũ trang

- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác

- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) và Luật Đầu tư

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã

- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp

Trang 15

Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác

- Các tổ chức khác có sử dụng lao động được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể,

tổ hợp tác, tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ

2.1.1.3 Nguyên tắc bảo hiểm xã hội bắt buộc

- Có đóng góp BHXH thì mới được hưởng BHXH, trong đó NSDLĐ và NLĐ cùng có trách nhiệm đóng góp BHXH bắt buộc

- Người tham gia BHXH bắt buộc trên cơ sở có quan hệ lao động và hưởng tiền lương, tiền công

- Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của NLĐ Tiền lương, tiền công được ghi trên hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, trong quyết định của cơ quan có thẩm quyền làm căn cứ đóng BHXH thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung

- Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH, với các mức độ khác nhau tùy theo từng chế độ

- NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở tổng thời gian đã đóng BHXH (có sự liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện)

- Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp Quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước, được nhà nước bảo hộ không bị phá

Trang 16

sản, được đầu tư tăng trưởng theo quy định của nhà nước Lương hưu và trợ cấp BHXH, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH được miễn thuế

- Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm chính xác, kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH

BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi NLĐ khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của BHXH Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, NLĐ cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm

và thời hạn được hưởng phải đúng quy định Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Tham gia BHXH không chỉ có NLĐ mà cả NSDLĐ, các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập Số lượng những người này thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số người tham gia đóng góp Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối lại giữa những người có thu nhập cao và thấp, giữa người khỏe mạnh đang lao động với những người ốm yếu phải nghỉ việc v v Thực hiện chức năng này có nghĩa

là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội

- Góp phần kích thích NLĐ hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Khi khoẻ mạnh tham gia

Trang 17

lao động sản xuất, NLĐ được NSDLĐ trả lương hoặc tiền công Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo

ổn định và có chỗ dựa Do đó, NLĐ luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo năng suất lao động xã hội

- Gắn bó lợi ích giữa NLĐ với NSDLĐ, giữa NLĐ với xã hội Trong thực tế lao động sản xuất, NLĐ và NSDLĐ vốn có những mâu thuẫn nội tại khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị xã hội được phát triển và an toàn hơn

2.1.1.4 Tính chất của bảo hiểm xã hội

- Tính chất xã hội

BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ Quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm quốc nội được xã hội tổ chức quản lý, bảo tồn và phân phối lại cho NLĐ Thực chất quỹ BHXH là một phần trong tổng sản phẩm quốc nội, trong đó NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ nhưng khi gặp rủi ro được cả cộng đồng trợ giúp để vượt qua khó khăn, hoạn nạn Kết quả của sự phân phối lại

đó tạo ra được sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong

xã hội Chính từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động, tạo thêm được nhiều điều kiện thúc đẩy sản xuất có hiệu quả,

Trang 18

tạo thêm được nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch vụ xã hội phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá Hoạt động BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và tiến bộ xã hội BHXH mang tính chất nhân đạo, nhân văn, dùng tiền đóng góp khi còn trẻ khoẻ

để dùng vào lúc tuổi già, đau yếu Xét về lâu dài, mọi NLĐ trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi NLĐ và gia đình họ, kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao động

- Tính dịch vụ

Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao

2.1.1.5 Bản chất của bảo hiểm xã hội

BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan

hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Bên tham gia BHXH chỉ có thể là NLĐ hoặc NLĐ và NSDLĐ Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là người lao động và gia đình

họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết

Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn trái với chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể

là trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản v v

Trang 19

Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài lao động

Phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến

cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu

này đã được ILO cụ thể hoá như sau (Một số Công ước của Tổ chức lao động quốc tế - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 1993,1994):

- Đền bù cho NLĐ những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ

- Chăm sóc sức khoẻ và hạn chế bệnh tật

- Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em

2.1.1.6 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xã hội

Trong những nhu cầu của con người, trước hết phải ăn, mặc, ở, đi lại, thỏa mãn nhu cầu sinh lý và được bảo vệ, an toàn v v Để tồn tại và phát triển, thoả mãn những nhu cầu đó, con người phải lao động để làm ra những sản phẩm cần thiết Khi sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Như vậy, việc thỏa mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ Nhưng trong thực tế, con người không chỉ lúc nào cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hoặc bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động hay khả năng

tự phục vụ bị suy giảm v v Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu

Trang 20

cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần được khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng v v Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v v Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu cần thiết khi đau ốm, gặp phải tai nạn rủi ro, sinh đẻ Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi trả một khoản nào Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc

họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn

Vì thế mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội Do vậy, Nhà nước

đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của

cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Qũy này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh

Trang 21

diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với NLĐ Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên

cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ góp phần đảm bảo toàn xã hội

2.1.1.7 Tổ chức quản lý bảo hiểm xã hội

Theo Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22/08/2008 của Chính phủ, Nghị định số 116/2011/NĐ-CP ngày 14/12/2011 của Chính phủ, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản

lý và sử dụng các quỹ: BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện theo quy định của pháp luật BHXH Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ LĐTB&XH về BHXH, của Bộ Y tế về bảo hiểm y tế, của Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ BHXH, bảo hiểm y tế

* Nội dung quản lý nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

a) Nội dung quản lý nhà nước về BHXH

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách BHXH Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về BHXH Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp luật về BHXH Thực hiện công tác thống kê, thông tin về BHXH Tổ chức bộ máy thực hiện BHXH; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác BHXH Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp

Trang 22

luật về BHXH

b) Cơ quan quản lý nhà nước về BHXH

Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH Bộ LĐTB&XH chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp thực hiện quản lý nhà nước về BHXH trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ

* Hội đồng quản lý Bảo hiểm Xã hội Việt Nam

Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách và thu, chi, quản lý,

sử dụng các quỹ BHXH, bảo hiểm y tế của BHXH Việt Nam Hội đồng quản

lý gồm đại diện lãnh đạo Bộ LĐTB&XH, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và thành viên khác do Chính phủ quy định Hội đồng quản lý có Chủ tịch, Phó Chủ tịch thường trực và các thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản lý là 5 năm

* Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng quản lý:

Trang 23

a) Chỉ đạo xây dựng và thông qua chiến lược phát triển ngành Việt Nam Việt Nam, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm về thực hiện các chế

độ BHXH, bảo hiểm y tế, đề án bảo toàn và tăng trưởng các quỹ BHXH, bảo hiểm y tế trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; giám sát, kiểm tra Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam thực hiện chiến lược, kế hoạch, đề án sau khi được phê duyệt;

b) Giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thu, chi, quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách của Nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để bảo đảm an toàn quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

c) Thông qua dự toán hàng năm về thu, chi quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

d) Thông qua quyết toán hàng năm về thu, chi quỹ BHXH, bảo hiểm y

tế, báo cáo Bộ Tài chính theo quy định hiện hành;

đ) Quyết định hình thức đầu tư quỹ bảo BHXH, bảo hiểm y tế theo đề nghị của Tổng Giám đốc;

e) Thành viên của Hội đồng quản lý là đại diện của Bộ, ngành chịu trách nhiệm báo cáo về những nội dung liên quan với Bộ trưởng Bộ, ngành đó;

g) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi,

bổ sung chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH, bảo hiểm y tế, chiến lược phát triển của ngành, kiện toàn hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam, cơ chế quản lý và sử dụng các BHXH, bảo hiểm y tế;

h) Đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam

* Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH Việt Nam

* Ở trung ương: Văn phòng, Ban Tổ chức cán bộ, Ban Kế hoạch - Tài

chính, Ban thực hiện chính sách BHXH, Ban Thu, Ban Chi, Ban cấp sổ-thẻ, Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Ban hợp tác quốc tế, Ban kiểm tra,

Trang 24

Ban thi đua khen thưởng, Ban tuyên truyền, Ban Pháp chế, Ban Đầu tư quỹ, Ban Dược và Vật tư y tế

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc gồm: Trung tâm Lưu trữ, Trung tâm thông tin, Viện khoa học BHXH, Báo BHXH, Tạp chí BHXH, Trường Đào tạo nghiệp vụ BHXH, Trung tâm Giám định BHYT và thanh toán đa tuyến Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế, bổ nhiệm, miễn nhiệm chức vụ lãnh đạo của các tổ chức nói trên do Tổng giám đốc quyết định

* Bảo hiểm xã hội tỉnh

BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan trực BHXH Việt Nam đặt tại tỉnh, có chức năng giúp Tổng giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện; quản lý quỹ BHXH, bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh theo quy định của BHXH Việt Nam và quy định của pháp luật BHXH tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng giám đốc và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh của UBND tỉnh BHXH có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng, có các phòng chức năng trực thuộc Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc và quy định kinh phí hoạt động của BHXH tỉnh

Tổng Giám đốc quyết định thành lập, giải thể BHXH tỉnh trong trường hợp có quyết định sáp nhập, chia tách đơn vị hành chính cấp tỉnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

* Bảo hiểm xã hội huyện

BHXH huyện (bao gồm cả BHXH thị xã, thành phố trực thuộc BHXH tỉnh) là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp giám đốc BHXH tỉnh tổ chức thực hiện chế độ chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo phân cấp quản lý của BHXH Việt Nam và quy định của pháp luật BHXH huyện

Trang 25

chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của giám đốc BHXH tỉnh BHXH BHXH huyện có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng

* Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan bảo hiểm xã hội

Xây dựng kế hoạch phát triển BHXH dài hạn, ngắn hạn và chương trình công tác hàng năm; tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt Tổ chức thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH, bảo hiểm y tế; tổ chức khai thác, đăng ký, quản lý các đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH, bảo hiểm y

tế theo phân cấp Tổ chức cấp sổ BHXH, thẻ bảo hiểm y tế cho những người tham gia bảo hiểm theo phân cấp Tổ chức thu các khoản đóng BHXH, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức và cá nhân, hướng dẫn và tổ chức tiếp nhận hồ sơ; giải quyết các chế độ BHXH, bảo hiểm y tế theo phân cấp; tổ chức chi trả các chế độ BHXH, bảo hiểm y tế theo phân cấp Từ chối việc đóng hoặc chi trả các chế độ BHXH, bảo hiểm y tế không đúng quy định Quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí và tài sản theo phân cấp Kiểm tra, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

2.1.2 Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội

2.1.2.1 Khái niệm về vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hay không hành động), trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

a) Mặt khách quan của vi phạm pháp luật:

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật mà con người có thể nhận thức được bằng trực quan sinh động bao gồm:

+ Hành vi trái pháp luật: thể hiện dưới dạng hành động hay không hành

Trang 26

động, trái pháp luật gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho xã hội

+ Sự thiệt hại của xã hội: là những tổn thất thực tế về mặt vật chất, tinh thần mà xã hội phải gánh chịu, hoặc nguy cơ tất yếu xảy ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần nếu hành vi trái pháp luật không được ngăn chặn kịp thời

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại cho

xã hội: trong đó hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân trực tiếp, còn sự thiệt hại của xã hội đóng vai trò là kết quả tất yếu

Ngoài những yếu tố nói trên, còn có các yêu tố khác thuộc mặt khách quan của vi phạm pháp luật như: công cụ thực hiện hành vi vi phạm, thời gian, địa điểm thực hiện hành vi,…

b) Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là trạng thái bên trong của chủ thế vi phạm pháp luật Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật cơ bản gồm các yếu tố sau:

- Lỗi: là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Có các hình thức sau:

+ Lỗi có ý trực tiếp: chủ thể vi phạm pháp luật nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra và mong muốn hậu quả xảy ra

+ Lỗi cố ý gián tiếp: chủ thể vi phạm nhận thức được hành vi của mình

là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra + Lỗi vô ý vì quá tự tin: chủ thể của vi phạm nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng tin tưởng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

+ Lỗi vô ý do cẩu thả: chủ thể vi phạm do cẩu thả nên không nhận thấy trước thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể hoặc cần phải thấy trước hậu quả đó

Trang 27

- Động cơ: là cái thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

- Mục đích: là kết quả cuối cùng mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

c) Khách thể của vi phạm pháp luật

Là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới Tính chất của khách thể bị xâm hại phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật

2.1.2.2 Phân loại vi phạm pháp luật trong bảo hiểm xã hội

Hoạt động BHXH là quá trình thu, chi và quản lý quỹ tài chính được hình thành chủ yếu từ nguồn đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động nên khả năng xảy ra vi phạm và tội phạm về BHXH cũng không nằm ngoài quá trình thu, chi và quản lý hoạt động BHXH đó Căn cứ vào tính chất của hoạt động BHXH, có thể chia những hành vi này thành 3 nhóm chính như sau:

+ Nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH

+ Nhóm hành vi vi phạm quyền thụ hưởng BHXH

+ Nhóm hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện BHXH Đối với nhóm thứ nhất - nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH: Những hành vi thuộc nhóm này xuất phát từ ý thức tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động chưa cao Tỷ lệ đóng BHXH (bao gồm cả bảo hiểm y

tế và bảo hiểm thất nghiệp) hiện nay là 31,5% so với tổng quỹ tiền lương của đơn vị sử dụng lao động, trong đó người sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng 21%, người lao động đóng 9,5% và nhà nước đóng hỗ trợ bảo hiểm thất

Trang 28

nghiệp 1% Tỷ lệ các bên đóng góp vào quỹ BHXH cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc nâng cao ý thức pháp luật của người sử dụng lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH Việc có đảm bảo cân đối được quỹ BHXH hay không phụ thuộc rất nhiều vào ý thức tuân thủ pháp luật BHXH của người sử dụng lao động Tuy nhiên, nhằm mục đích giảm tối đa chi phí đóng BHXH, nhiều chủ sử dụng lao động đã tìm mọi cách để có thể lẩn tránh nghĩa vụ đóng BHXH hoặc chỉ đóng cho một bộ phận người lao động, chậm đóng BHXH hay chỉ đóng BHXH cho người lao động với mức thấp Sự trốn tránh này có thể ở những mức độ khác nhau nhưng đều có tính nguy hiểm cho

xã hội, làm ảnh hưởng đến quyền được tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH của người lao động, trong đó có trường hợp mà mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội là đáng kể, cần bị coi là tội phạm

Đối với nhóm hành vi thứ hai, những hành vi vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH là những hành vi gian lận qua việc làm sai lệch hồ sơ, làm giả giấy tờ, hồ sơ để hưởng các chế độ BHXH trái pháp luật Những hành vi gian lận BHXH có thể do một cá nhân thực hiện một cách độc lập để cho chính mình được hưởng BHXH hoặc được hưởng BHXH ở mức cao hơn mức quy định Tuy nhiên, những hành vi này cũng có thể do một nhóm người thực hiện như trong hành vi tổ chức làm giả, làm sai lệch một số lượng lớn hồ sơ của nhiều đối tượng khác nhau nhằm chiếm đoạt tiền của quỹ BHXH Những hành vi gian lận này, trước hết gây thiệt hại cho quỹ BHXH và qua đó gián tiếp gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của người lao động tham gia BHXH Các hành vi vi phạm quy định này, dù ở mức độ nào cũng có tính nguy hiểm cho xã hội, cần bị xử lý bằng chế tài phù hợp, là chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự

Đối với nhóm thứ ba, những hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động BHXH, những quy định này có thể là những quy định chung trong quản lý kinh tế nhưng cũng có thể là quy định riêng đối với hoạt động quản lý BHXH Việc vi phạm những quy định này có thể dẫn đến thất

Trang 29

thoát về mặt tài sản của quỹ BHXH, không những ảnh hưởng đến quỹ BHXH theo chiều hưởng giảm thiểu mà còn ảnh hưởng gián tiếp đến quyền lợi của người lao động, làm giảm niềm tin của của người lao động vào việc thực thi chính sách BHXH của Nhà nước Do có tính nguy hiểm cho xã hội như vậy nên những hành vi này cũng có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự tùy theo mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi

Xét về mặt lý thuyết ở đâu có quyền lợi thì ở đó tiềm ẩn khả năng bị lạm dụng và sự lạm dụng ở mức độ nhất định thì trở thành vi phạm và tội phạm Thực tế đã chứng minh trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường với sự đa dạng các thành phần kinh tế, chính sách BHXH đã và đang chịu áp lực trước yêu cầu phải kiểm soát hiệu quả những hành vi vi phạm pháp luật BHXH, và đặc biệt là tội phạm trong lĩnh vực này Chính vì vậy, ngày 16/05/2012, BHXH Việt Nam và Tổng cục Cảnh sát phòng, hạn chế tội phạm thuộc Bộ Công an đã ký Quy chế Phối hợp phòng, hạn chế tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT Đây được coi là một giải pháp được BHXH Việt Nam đưa ra nhằm kìm chế sự gia tăng của những hành vi vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực BHXH hiện nay Tuy nhiên, nó sẽ chỉ phát huy hiệu quả tối đa khi có một hàng lang pháp lý hình sự đầy đủ cho phép xử lý được đối với cả 3 nhóm hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH Chúng ta cũng thấy rằng, trong những năm qua thực hiện các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước trong đó có Chỉ thị số 48-CT/TW ngày

22/10/2010 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, hạn chế tội phạm trong tình hình mới”, Chương trình quốc

gia phòng, hạn chế tội phạm, công tác đấu tranh hạn chế và phòng ngừa tội phạm trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả góp phần kìm chế sự gia tăng của một số loại tội phạm, trong đó có tội phạm trong lĩnh vực BHXH, củng cố lòng tin của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng, hạn chế tội phạm trong lĩnh vực BHXH

Trang 30

cũng đã đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi khoa học luật hình sự phải giải quyết như việc xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH chưa thực hiện được do trong BLHS chưa quy định về tội danh này mặc dù pháp luật BHXH đã quy định những hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH có thể

bị xử lý về hành chính hoặc về hình sự nếu có dấu hiệu của tội phạm Việc không xử lý được bằng chế tài nghiêm khắc nhất của Nhà nước đã khiến cho những hành vi này đang ngày một gia tăng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động và làm cho người sử dụng lao động có ý thức coi thường pháp luật Điều này không những làm ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật BHXH mà còn ảnh hưởng đến tính tôn nghiêm của pháp luật nói chung, đòi hỏi chúng ta phải có nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật hình sự về vấn đề này

Trên thế giới, hầu hết văn bản pháp luật của các nước đều quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng và quyền thụ hưởng các chế độ Các văn bản pháp luật an sinh xã hội phải quy định các hành vi vi phạm có thể bị truy tố, ví dụ như: Gian lận để hưởng BHXH hay không nộp tiền đóng BHXH đúng hạn… Cũng có quan điểm cho rằng, không nên hình sự hóa đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH vì lo ngại trước việc có thể làm ảnh hưởng tới sự tồn tại của các doanh nghiệp Tuy nhiên, quan điểm khác thì cho rằng miễn là những hình phạt được pháp luật quy định là hợp lý, thỏa đáng và có ý nghĩa giáo dục, răn đe thì nhất định sẽ được người lao động ủng hộ Bằng việc truy tố những kẻ phạm pháp, cơ quan,

tổ chức BHXH có thể khẳng định rằng dưới góc nhìn của người tham gia BHXH, mình đã làm tròn nghĩa vụ đối với họ

Trong một số trường hợp, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các

vụ phạm tội nghiêm trọng lại càng chứng minh tính đúng đắn trong việc phòng ngừa đối với những kẻ phạm pháp tiềm ẩn Nếu vi phạm nghiêm trọng xảy ra mà ta bỏ qua không truy tố hoặc không thể truy tố thì sẽ ảnh hưởng đến

Trang 31

niềm tin của người lao động vào hệ thống BHXH và khuyến khích người ta tin rằng có thể vi phạm pháp luật BHXH mà không phải chịu hậu quả gì Mặc dù, do mô hình thực hiện BHXH ở các quốc gia không giống nhau

do có sự khác nhau về điều kiện kinh tế và mục tiêu chính sách của quốc gia Bên cạnh đó, cách thức quy định tội phạm và hình phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH nói chung cũng có sự khác nhau Trước hết là sự khác nhau về nguồn văn bản quy định tội phạm trong lĩnh vực BHXH

và tiếp theo là khác nhau về dạng hành vi vi phạm bị coi là tội phạm mặc dù tội phạm trong lĩnh vực BHXH luôn gắn với 3 nhóm là nhóm hành vi nói trên Nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định chế tài hình sự để xử lý những hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH và vi phạm về quyền thụ hưởng các chế độ BHXH để bảo vệ chính sách an sinh xã hội của mình thông qua việc bảo vệ những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách BHXH trong các luật chuyên ngành về BHXH (như: Mỹ, Philippin, Thái Lan, Campuchia ) Bên cạnh đó cũng có nhiều quốc gia đi theo hướng tội phạm hóa các hành vi này trong BLHS (như: Đức, Slovenia )

Ở Việt Nam, các văn bản luật về BHXH đều có quy định cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHXH Tuy nhiên do trong Bộ luật hình sự hiện hành không quy định tội danh cụ thể đối với những hành vi bị coi là tội phạm về BHXH nên không phải bất cứ hành vi vi phạm nào

mà pháp luật BHXH cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự trên thực tế cũng có thể áp dụng những quy định đã có của Bộ luật hình sự để xử lý được

2.1.2.3 Quy định của Việt Nam với việc áp dụng để xử lý vi phạm trong lĩnh vực BHXH

- Đối với nhóm tội vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH: Nhóm này bao gồm

4 dạng hành vi sau:

+ Hành vi của người sử dụng lao động không tham gia BHXH cho người lao động và do vậy không đóng BHXH cho toàn bộ người lao động

Trang 32

thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc Do không tham gia, không đóng nên có thể chủ sử dụng cũng không khấu trừ tiền đóng BHXH từ tiền lương của người lao động Hành vi này thường được gọi là hành vi trốn đóng BHXH cho người lao động

+ Hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia BHXH cho người lao động nhưng không phải tham gia cho tất cả mà chỉ tham gia cho một bộ phận Trong trường hợp này, chủ sử dụng lao động không đóng BHXH cho một bộ phận người lao động và họ có thể không khấu trừ tiền đóng BHXH từ tiền lương của người lao động Hành vi này cũng có thể gọi là hành vi trốn đóng BHXH cho người lao động (không phải trốn toàn bộ mà chỉ là cho một bộ phận người lao động) nhưng cũng có thể được gọi là không đóng BHXH cho đủ số người lao động

+ Hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia BHXH cho người lao động nhưng không nộp tiền cho cơ quan BHXH đúng thời hạn mặc dù họ

đã khấu trừ tiền đóng BHXH từ tiền lương của người lao động Hành vi này được gọi là hành vi không đóng đúng hạn BHXH cho người lao động (hành vi chậm đóng BHXH)

+ Hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia BHXH cho người lao động nhưng không đảm bảo đúng mức mà thấp hơn mức quy định Hành

vi này được gọi là hành vi không đóng đủ mức BHXH cho người lao động Bốn loại hành vi vi phạm trực tiếp nghĩa vụ đóng BHXH đều gây thiệt hại trước hết về tài chính cho quỹ BHXH qua đó nhóm hành vi này còn đe dọa gây thiệt hại cho người lao động ở cả hiện tại và trong tương lai

Hiện nay, các hành vi vi phạm pháp luật về nghĩa vụ đóng BHXH xảy

ra ngày một nghiêm trọng và cần có giải pháp hiệu quả để ngăn chặn và xử lý Theo số liệu được công bố tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Luật BHXH

do Bộ Lao động – Thương Binh xã hội tổ chức ngày 29/11/2011, con số 4.611

tỷ đồng tiền BHXH mà các đơn vị sử dụng lao động đang chiếm dụng đã làm

Trang 33

cho quyền hưởng BHXH của hàng triệu người lao động bị ảnh hưởng

Bên cạnh đó, đa số người lao động trong khu vực kinh tế tư nhân đều được chủ sử dụng lao động đóng BHXH trên mức lương hợp đồng thấp không đúng với mức lương thực tế của người lao động và vi phạm quy định về điều chỉnh tiền lương theo mức quy định của lương tối thiểu vùng Theo báo cáo của Vụ BHXH Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội, có khoảng 62% số doanh nghiệp trong cả nước chỉ tham gia BHXH cho người lao động trên mức lương bằng hoặc cao hơn không đáng kể so với lương tối thiểu Điều này là nguyên nhân của nhiều cuộc đình công, ngừng việc tự phát kéo dài mà chỉ tính riêng ở tỉnh Long An, trong năm 2011 đã xảy ra khoảng 100 vụ ngừng việc tập thể

Điều này cho thấy nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH hiện

đã lên tới mức báo động, pháp luật BHXH, BHYT bị vi phạm nghiêm trọng, quyền lợi về BHXH của hàng ngàn người không được đảm bảo Những những hành vi này, hiện chúng ta không xử lý được về mặt hình sự do trong Bộ luật hình sự chưa quy định tội danh cụ thể và cũng không thể vận dụng các tội danh đã có trong Bộ luật hình sự để xử lý do chủ thể của tội phạm là pháp nhân

Đối với nhóm hành vi vi phạm quyền thụ hưởng BHXH bao gồm: Hành

vi gian lận BHXH; tổ chức gian lận BHXH và các hành vi tạo điều kiện cho người khác gian lận BHXH Các hành vi này đều gây thiệt hại về tài chính cho quỹ BHXH và thường được gọi là nhóm hành vi gian lận BHXH

Hiện nay, hành vi làm sai lệch một số nội dung trong hồ sơ BHXH đã được phát hiện ở nhiều tỉnh, thành phố, một số vụ sai phạm nghiêm trọng đã bị

xử lý hình sự Bên cạnh đó, việc lập hồ sơ bệnh án khống để rút tiền BHYT đã được phát hiện ở một số bệnh viện và có một số vụ án đã được đưa ra xét xử tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Bắc Giang Việc phát hiện số

Trang 34

lượng lớn giấy chứng nhận nghỉ ốm giả, sổ khám bệnh khống được bán cho người lao động để làm hồ sơ rút tiền bảo hiểm trái pháp luật đã xảy ra trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố như: Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, trái ngược với hành vi của người sử dụng lao động trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH, thì hành vi lập khống hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc nhưng trên thực

tế những người tham gia không có quan hệ lao động thực sự, nghĩa là hành vi làm giả toàn bộ hồ sơ minh chứng cho quyền được hưởng BHXH đã được phát hiện tại một số tỉnh, thành phố Trước tình hình này, ngày 17/5/2012 BHXH Việt Nam đã chính thức có công văn đề nghị cơ quan quản lý nhà nước cho ý kiến giải quyết vì đây không còn là hiện tượng cá biệt nữa mà đã trở nên có tính phổ biến Tất cả những hành vi gian lận này đang làm cho chính sách BHXH bị lạm dụng và quỹ BHXH bị thâm hụt Vì vậy, những hành vi này rất cần bị lên án và xử lý kịp thời cũng như cần áp dụng chế tài nghiêm khắc hơn nữa để răn đe và phòng ngừa

Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành, nhóm hành vi này khi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, có thể xử lý được theo tội danh chung đó là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) Tuy nhiên, việc áp dụng như vậy không đảm bảo tính phân hóa xét về tội danh cũng như về hình phạt bởi vì hành vi gian lận để hưởng BHXH và BHYT không hoàn toàn giống với lừa đảo nói chung; hành vi tổ chức gian lận BHXH, BHYT cũng khác với đồng phạm lừa đảo và hành vi tạo điều kiện cho người khác gian lận BHXH (hành vi giúp sức trong một vụ đồng phạm) có khi lại nguy hiểm hơn hành vi của người thực hành Chính vì vậy, cần nghiên cứu để có thể tách thành một số tội danh riêng trong lĩnh vực BHXH để có đường lối xử lý phù hợp, dễ áp dụng hơn, tránh để lọt tội phạm

Đối với nhóm hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động BHXH, có thể là hành vi tham ô, hành vi cố ý làm trái quy định trong

Trang 35

quản lý và thực hiện hoạt động BHXH hoặc hành vi thiếu trách nhiệm trong quản lý các hoạt động BHXH Cơ quan chức năng đã phát hiện một số trường hợp có dấu hiệu tội phạm như dấu hiệu hành vi tham ô tài sản, hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản ở một số tỉnh, thành phố Đây là nhòm hành vi hoàn toàn có thể áp dụng những tội danh đã có trong Chương Các tội phạm về chức vụ của Bộ luật hình sự để xử lý Hiện nay, các hành vi này có thể xử lý được theo quy định của Bộ luật hình sự, song do đặc thù của lĩnh vực BHXH nên có thể xem xét để tách thành những tội danh riêng để đảm bảo tính thống nhất về đường lối xử lý so với hai nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH và nhóm hành vi vi phạm về quyền thụ hưởng BHXH Tóm lại, ở góc độ pháp luật, có thể thấy rằng mặc dù chế tài xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH đã được quy định tương đối đầy đủ Tuy nhiên, chế tài hành chính, với mức xử phạt thấp, không đủ sức răn đe cũng như các biện pháp đảm bảo thực hiện thiếu tính khả thi; chế tài dân sự cũng chưa thật sự giải quyết hiệu quả đối với những đơn vị cố tình vi phạm, không thực hiện nghiêm quyết định thi hành án dân sự nên đã làm cho tình trạng trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH, tình trạng gian lận để hưởng BHXH đang gia tăng, khó kiểm soát, làm ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người lao động cũng như gây thiệt hại cho quỹ BHXH Về chế tài hình sự, mặc dù có thể áp dụng một số tội danh đã có trong Bộ luật hình sự để xử lý đối với một số dạng hành vi Song, đối với một số hành vi có tính chất nguy hiểm của tội phạm nhưng do chưa có quy định riêng về tội phạm trong lĩnh vực BHXH nên không thể xử lý hình sự được, một số dạng hành vi khác có thể xử lý nhưng có sự không thống nhất trong áp dụng tội danh cũng như mức hình phạt nên đã bộc lộ những hạn chế nhất định

Trang 36

2.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến vi phạm pháp luật trong BHXH

a) Yếu tố chủ quan

+ Ảnh hưởng mức độ hiểu biết về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH

Mức độ hiểu biết về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH của chủ doanh nghiệp và nhất là người lao động còn khá hạn chế Đây là nguyên nhân gây ra tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH Nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp không nộp BHXH là do chủ sử dụng lao động không quan tâm, lợi dụng kẽ hở của Luật BHXH để trục lợi và chiếm dụng vốn, không ít trường hợp chủ doanh nghiệp trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH nhưng không thực hiện chuyển nộp cho cơ quan BHXH hoặc khi các cơ quan thanh tra, xử lý thì doanh nghiệp mới chịu nộp Trong khi đó, đa

số người lao động thiếu hiểu biết về Luật BHXH để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động, hoặc biết nhưng không dám đấu tranh sợ bị mất việc làm Thời gian qua, do việc chậm nộp, trốn nộp BHXH, nộp không đầy đủ của một số doanh nghiệp dẫn đến hậu quả là một bộ phận người lao động không được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, nhiều người không thể chuyển công tác do không được chốt sổ BHXH

+ Ảnh hưởng của mức xử phạt trong vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội

Trong những năm gần đây, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT đang có chiều hướng gia tăng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của người lao động Thực tế, những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT xảy ra rất đa dạng, với nhiều hình thức khác nhau, có nhiều trường hợp gây ra hậu quả nghiêm trọng, không chỉ thiệt hại về vật chất, ảnh hưởng đến quỹ BHXH, BHYT mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước

Các hành vi vi phạm đa phần là xử lí vi phạm hành chính, mà các mức đóng vi phạm này chưa đủ lớn để khiến các đối tượng không dám vi phạm, hiện

Trang 37

nay mức nộp phạt chậm đóng đối với đơn vị nợ tiền BHXH chỉ là 14,2% /1 năm tương đương với mức 1,183% /1 tháng, mức nộp phạt chậm đóng đối với đơn vị

nợ tiền BHYT chỉ là 9% /1năm tương đương với mức 0,75%/1 tháng, mức phạt quá nhỏ khiến cho người chủ sử dụng lao động đôi lúc cố tình vi phạm, không đóng BHXH cho người lao động, chủ động lấy tiền đóng BHXH của người lao động để đầu tư kinh doanh sinh lời, ảnh hưởng quyền lợi của người lao động cũng như gây thiệt hại nặng nề cho Quỹ BHXH, để hạn chế những điều này, đòi hỏi có các quy định sửa đổi kịp thời về mức phạt chậm đóng, cũng như các quy định về việc truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng cố tình vi phạm, những điều này

sẽ góp phần chấm dứt tình trạng vi phạm luật BHXH, giúp công tác thu được diễn

ra thuận lợi, đảm bảo quyền lợi người lao động

+ Ảnh hưởng của công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH, hiện nay còn nhiều doanh nghiệp và người lao động còn chưa hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH dẫn đến các doanh nghiệp và người lao động chưa có ý thức tự giác tham gia BHXH mà chỉ coi đó là một điều kiện bắt buộc để có thể sản xuất kinh doanh theo các quy định của Nhà nước

Người lao động chưa ý thức được những quyền lợi mà mình được hưởng khi tham gia BHXH, trong khi đó người sử dụng lao động lại muốn tiết kiệm một phần chi phí sản xuất kinh doanh đáng lẽ ra phải đóng góp BHXH cho người lao động của mình

Có lúc, có nơi người lao động và người sử dụng lao động đã đồng tình với nhau để không tham gia BHXH, họ mong có được thêm một khoản thu nhập từ nguồn tiền đóng vào BHXH, họ sử dụng tiền đóng BHXH để chia nhau Cũng có tình trạng một số doanh nghiệp (trong đó có cả những doanh nghiệp Nhà nước) đã cố tình chiếm dụng số tiền đóng BHXH cho người lao động để

Trang 38

sử dụng làm vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây ra tình trạng né tránh, nợ đọng tiền đóng BHXH Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho công tác hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH không đạt được hiệu quả cao

b) Yếu tố khách quan

+ Ảnh hưởng của chính sách pháp luật

Giữa chính sách pháp luật về chấp hành luật BHXH nói chung và chính sách về bảo hiểm xã hội nói riêng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bởi vì cơ sở để tính toán mức đóng và mức hưởng bảo hiểm xã hội của chúng ta hiện nay là phụ thuộc vào mức lương tối thiểu do nhà nước quy định, như vậy khi nhà nước nâng mức lương tối thiểu lên đồng nghĩa với việc mức đóng bảo hiểm xã hội cũng phải tăng lên

Theo kết quả một điều tra mới đây của Bộ Lao động thương binh xã hội: Doanh nghiệp nhà nước có tốc độ tăng tiền lương quá nhanh so với tốc độ tăng năng suất lao động, còn doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiền lương tăng chưa tương xứng với tốc độ tăng lợi nhuận và tốc độ tăng năng suất lao động Hiện nay mức thu nhập thực tế mà các doanh nghiệp trả cho người lao động đã cao hơn nhiều so với lương tối thiểu Nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều nộp BHXH theo mức lương tối thiểu chứ không nộp theo mức thu nhập thực tế của người lao động Việc các doanh nghiệp không lấy mức thu nhập thực tế của người lao động làm cơ sở tính phần trăm nộp BHXH đã không chỉ làm thiệt thòi về quyền lợi cho người lao động mà còn gây thất thu quỹ BHXH

+ Điều kiện phát triển kinh tế xã hội

Điều kiện phát triển kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu Bảo hiểm xã hội nói riêng và chính sách an sinh xã hội của toàn ngành BHXH nói chung, khi kinh tế xã hội kém phát triển thì các doanh nghiệp đang hoạt động cũng sẽ không đủ điều kiện để đóng BHXH cho người lao động, nguồn thu BHXH sẽ bị giảm sút, đồng thời khi nền kinh tế đi xuống, sẽ có

Trang 39

thêm nhiều doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động dẫn tới người lao động sẽ

bị mất việc làm, tình trạng thất nghiệp tràn lan, bùng phát Nguồn thu bị giảm sút nhưng chế độ về chính sách cho người lao động như: thất nghiệp, ốm đau,thai sản, hưu trí …vẫn phải tiếp tục, nguồn thu BHXH không đủ cho nguồn chi các chế độ BHXH sẽ làm cho nguồn quỹ BHXH bị thâm hụt, dẫn tới sự đổ vỡ của cả hệ thống ngành BHXH

Thực tế như ta đã biết, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt đầu từ Hoa kì đã diễn ra tương đối phức tạp, sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy

mô lớn ở nhiều nước… dẫn tới suy thoái kinh tế toàn cầu Việt Nam cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó, tình hình kinh tế diễn biến tiêu cực, sự đổ

vỡ nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ, một số doanh nghiệp khác phải thu hẹp quy

mô hoạt động, người lao động thiếu việc làm và thu nhập giảm, doanh nghiệp thì không có vốn để kinh doanh, tình trạng nợ đọng diễn ra theo chiều hướng xấu, dẫn tới việc đóng góp vào quỹ BHXH cũng bị giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển và duy trì quỹ BHXH, nguồn quỹ BHXH

bị ảnh hưởng làm cho mọi hoạt động của ngành BHXH bị ảnh hưởng

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH trên thế giới

Trên thế giới, hầu hết văn bản pháp luật của các nước đều quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng và quyền thụ hưởng các chế độ Các văn bản pháp luật An sinh xã hội phải quy định các hành vi vi phạm có thể bị truy tố, ví dụ như: Gian lận để hưởng BHXH hay không nộp tiền đóng BHXH đúng hạn… Cũng có quan điểm cho rằng, không nên hình sự hóa đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH vì lo ngại trước việc có thể làm ảnh hưởng tới sự tồn tại của các doanh nghiệp Tuy nhiên, quan điểm khác thì cho rằng miễn là những hình phạt được pháp luật quy định là hợp lý, thỏa đáng và có ý nghĩa giáo dục, răn đe thì nhất định sẽ

Trang 40

được người lao động ủng hộ Bằng việc truy tố những kẻ phạm pháp, cơ quan,

tổ chức BHXH có thể khẳng định rằng dưới góc nhìn của người tham gia BHXH, mình đã làm tròn nghĩa vụ đối với họ

Trong một số trường hợp, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vụ phạm tội nghiêm trọng lại càng chứng minh tính đúng đắn trong việc phòng ngừa đối với những kẻ phạm pháp tiềm ẩn Nếu vi phạm nghiêm trọng xảy ra mà ta bỏ qua không truy tố hoặc không thể truy tố thì sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của người lao động vào hệ thống BHXH và khuyến khích người ta tin rằng có thể vi phạm pháp luật BHXH mà không phải chịu hậu quả gì

Mặc dù mô hình thực hiện BHXH ở các quốc gia không giống nhau do có

sự khác nhau về điều kiện kinh tế và mục tiêu chính sách của quốc gia Bên cạnh

đó, cách thức quy định tội phạm và hình phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH nói chung cũng có sự khác nhau Trước hết là sự khác nhau về nguồn văn bản quy định tội phạm trong lĩnh vực BHXH và tiếp theo là khác nhau về dạng hành vi vi phạm bị coi là tội phạm mặc dù tội phạm trong lĩnh vực BHXH luôn gắn với 03 nhóm hành vi nói trên

Nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định chế tài hình sự để xử lý những hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH và vi phạm về quyền thụ hưởng các chế độ BHXH để bảo vệ chính sách An sinh xã hội của mình thông qua việc bảo vệ những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách BHXH trong các luật chuyên ngành về BHXH (như: Mỹ, Philippines, Thái Lan, Campuchia ) Bên cạnh đó cũng có nhiều quốc gia đi theo hướng tội phạm hóa các hành vi này trong Bộ Luật Hình sự (như: Đức, Slovenia )

2.2.2 Kinh nghiệm hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH ở Việt Nam

Hiện nay, tình trạng trốn đóng BHYT, BHXH xảy ra ở hầu hết các địa phương với mức độ ngày càng nhiều, phổ biến nhất là ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các hộ kinh doanh gây thiệt hại lớn về tài chính cho quỹ BHYT, BHXH, xâm phạm trực tiếp đến quyền thụ hưởng

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Định, 2008, ‘‘Giáo trình Bảo hiểm”, Nhà xuất bản trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘‘Giáo trình Bảo hiểm”
Nhà XB: Nhà xuất bản trường Đại học Kinh tế Quốc dân
2. Phạm Văn Đặng, 2008, ‘‘Giáo trình an sinh xã hội”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội -Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
3.Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2011, 2012, 2013 - BHXH tỉnh Hưng Yên Khác
4. 4. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2011, 2012, 2013 – Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hưng Yên Khác
5. 5. Báo cáo thống kê người nộp thuế theo loại hình doanh nghiệp năm 2011, 2012, 2013 - Cục thuế tỉnh Hưng Yên Khác
6. 6. Báo cáo tổng hợp doanh nghiệp có địa chỉ và trụ sở chính trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2011, 2012, 2013 – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hưng Yên Khác
7. 7. Luật bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành - Nhà xuất bản Tài chính, 2007 Khác
8. 8. Nghị định số 86/2010/NĐ-CP ngày 13/8 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội - Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010) Khác
9. Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22/8 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam - Chính phủ, Chính phủ, 2008 Khác
10. Nghị định số 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội - Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007) Khác
11. Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên 2011, 2012, 2013 - Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1. Bộ máy tổ chức của Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Sơ đồ 3.1. Bộ máy tổ chức của Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên (Trang 47)
Bảng 3.1: Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ năm 2013 - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 3.1 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ năm 2013 (Trang 49)
Bảng 3.3 Số lượng mẫu điều tra, phỏng vấn - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 3.3 Số lượng mẫu điều tra, phỏng vấn (Trang 52)
Bảng 4.1 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của các DN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên (giai đoạn 2010 – 2013) - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.1 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của các DN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên (giai đoạn 2010 – 2013) (Trang 56)
Bảng 4.2 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.2 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh (Trang 58)
Bảng 4.3 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của lao động thực tế DN sử dụng giai đoạn 2010 – 2013                                                                                                                                                        ĐVT: Doan - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.3 Tình hình đăng ký tham gia BHXH của lao động thực tế DN sử dụng giai đoạn 2010 – 2013 ĐVT: Doan (Trang 61)
Bảng 4.4 Thực trạng đóng BHXH của DNNVV tham gia BHXH - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.4 Thực trạng đóng BHXH của DNNVV tham gia BHXH (Trang 63)
Bảng 4.5 Tiền lương đăng ký BHXH so với tiền lương thực tế trong doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.5 Tiền lương đăng ký BHXH so với tiền lương thực tế trong doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên (Trang 65)
Bảng 4.6 Tình hình giải quyết chế độ BHXH trong doanh nghiệp trên địa - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.6 Tình hình giải quyết chế độ BHXH trong doanh nghiệp trên địa (Trang 68)
Bảng 4.7 Tổng hợp số tiền lương của DN đóng BHXH - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.7 Tổng hợp số tiền lương của DN đóng BHXH (Trang 70)
Bảng 4.8 Tổng hợp các DN vi phạm đóng BHXH từ năm 2010 – 2013 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.8 Tổng hợp các DN vi phạm đóng BHXH từ năm 2010 – 2013 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên (Trang 72)
Bảng 4.9 Mối quan hệ giữa thủ tục tham gia, thủ tục hưởng và kết quả - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.9 Mối quan hệ giữa thủ tục tham gia, thủ tục hưởng và kết quả (Trang 76)
Bảng 4.12 Hiểu biết về BHXH của người lao động - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.12 Hiểu biết về BHXH của người lao động (Trang 80)
Bảng 4.13 Mối quan hệ giữa mức xử phạt vi phạm lĩnh vực BHXH và kết - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
Bảng 4.13 Mối quan hệ giữa mức xử phạt vi phạm lĩnh vực BHXH và kết (Trang 81)
7- Hình thức khác  10  3  7 - Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên
7 Hình thức khác 10 3 7 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w