Sáng kiến kinh nghiệmKhai thác các bản “tuyên ngôn” của dân tộcđịnh rằng, ngay từ bây giờ chúng ta phải quan tâm hơn, tích cực hơn trong việc giáodục lịch sử, truyền thống dân tộc cho họ
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệmKhai thác các bản “tuyên ngôn” của dân tộc
định rằng, ngay từ bây giờ chúng ta phải quan tâm hơn, tích cực hơn trong việc giáodục lịch sử, truyền thống dân tộc cho học sinh đúng nh Bác Hồ đã nhắc nhở:
Dân ta phải biết sử ta Cho tuờng gốc tích nớc nhà Việt Nam
Tri thức lịch sử của nhiều môn học khác xây dựng niềm tin cơ sở cho học sinh,cung cấp cho học sinh vốn hiểu biết phổ thông, cơ bản vững chắc về xã hội loài ng-
Trang 2ời, làm cơ sở để rút ra những kết luận khoa học, giúp học sinh nhận thức đúng con
đờng mà loài ngời và dân tộc đã trải qua, đồng thời cung cấp các kiến thức khoahọc cho học sinh một cách cụ thể nh: sự ra đời , hựng thịnh suy vong của mỗi chế
độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử Từ đó hình thành thế giới quan đạo đức làm choviệc định hớng của học sinh trở nên đung đắn và tự giác
Bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông có khả năng giáo dục cho học sinh truyềnthống tốt đẹp của dân tộc Nhân dân ta đã xây dựng những truyền thống đẹp đẽ vềlòng yêu nớc.Vì vậy cần giáo dục cho thế hệ trẻ tinh thần dân tộc, tinh hoa củanhân loại và từ đó xác định rõ trách nhiệm của mình trong cuộc sống hiện tại Học sinh cần nhận thấy rõ ngay từ thời mới ra đời dân tộc Việt Nam đã tiến hành
đồng thời hai nhiệm vụ: dựng nớc và giữ nớc
Trên cơ sở khai thác nội dung các sự kiện lịch sử, tiến hành giáo dục t tuởng tìnhcảm một cách tự nhiên, có hiệu quả, không áp đặt, công thức Ngoài ra còn giáodục cho học sinh nhiều khía cạnh khác của đạo đức, phẩm chất t tởng chính trị nhgiáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động sản xuất, trong đấu tranhxã hội, giáo dục niềm tin và sự trung thành với lí tởng cách mạng, với chủ nghĩaMác - Lênin, với Đảng và giáo dục t tởng nhân văn trong cuộc sống
Trong điều kiện xã hội hiện nay,việc giáo dục t tởng nói chung,việc giáo dục ttuởng qua bộ môn Lịch Sử nói riêng rất khó, vì không phải lúc nào việc tiếp thukiến thức cũng phù hợp với thực tiễn cuộc sống, suy nghĩ mong ớc cua học sinh.Vìvậy giáo dục t tởng thông qua dạy học Lịch Sử phải nhằm vào việc định hớng chohoạt động của học sinh, hóng dẫn cho học sinh biết nhận thức đúng đắn quá trìnhphát triển của xã hội, biết tự phân tích sự kiện lịch sử theo quan điểm khoa học, biết
đánh giá các sự kiện trong đời sống xã hội truớc kia cũng nh hiện nay
Tuy nhiên trong để tài nay tôi không có tham vọng muốn trình bày phơng phápgiáo dục t tởng cho học sinh bằng toàn bộ kiến thức lịch sử dân tộc mà chỉ trìnhbày phơng pháp khai thác một số bản “Tuyên ngôn” trong lịch sử dân tộc để thôngqua đó giáo dục lòng yêu nớc cho học sinh một cách có hiệu quả nhất
C- Nhận thức cũ,tình trạng cũ-Nhận thức mới, tình trạng mới
I- Nhận thức cũ - tình trạng cũ:
Trong nhiệm vụ giáo dục t tởng cho HS thì giáo dục lòng yêu nớc là một nhiệm vụquan trọng Thông qua các sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc trong công cuộcdựng nớc và giữ nớc hình thành cho học sinh lòng yêu nớc, biết ơn các vị anh hùngdân tộc từ đó có ý thức gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xâydựng và bảo vệ quê hơng đất nớc
Từ trớc đến nay nhiệm vụ giáo dục lòng yêu nớc luôn đớc các giáo viên chú ýquan tâm Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định tính hiệu quả của việc giáo
Trang 3dục đó cha cao Đa số học sinh vẫn thờ ơ với lịch sử dân tộc, cha có ý thức trântrọng quá khứ hào hùng của cha ông, bàng quan trớc hiện tại của đất nớc.
Một trong những nguyên nhân của việc đó là do giáo viên cha khai thác một cáchtriệt để những kiến thức lịch sử dân tộc , đặc biệt là những kiến thức có dấu ấnmạnh mẽ nh các trận đánh oanh liệt, những nhân vật những tác phẩm lịch sử và cácbản "tuyên ngôn" của dân tộc
Các bản "Tuyên ngôn" trong lịch sử dân tộc có ý nghiã giáo dục to lớn, song hầuhết các giáo viên khi dạy đến nội dung này chỉ dạy mạng tính chất "thông báo" chohọc sinh nh những sự kiện bình thờng, vì vậy đã làm mất đi tác dụng giáo dục củacác tác phẩm đó
II- Nhận thức mới ,tìnhtrạng mới
Trong thời đại ngaỳ nay, khi khoa học công nghệ thông tin đang phát triển với tốc
độ chóng mặt, xu hớng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực.Cùng với qua trình đó lớp trẻ đang đợc tiệp xúc với nhiều nền văn hoá, đặc biệt lànhững nền văn hoá hiện đại, hởng thụ từ phơng Tây Trong bối cảnh đó việc giáodục tinh thần dân tộc là vấn đề hết sức cần thiết
Bộ môn lịch sử, với đặc trng là truyền tải những kiến thức về quá trình hình thànhphát triển của lịch sử loài ngời và lịch sử dân tộc có vai trò to lớn trong việc giáodục tinh thần dân tộc, lòng yêu nớc cho lớp trẻ
Trong chơng trình lịch sử Việt Nam bậc THCS, có các tác phẩm của các tớng lĩnh
đợc xem nh là tuyên ngôn của đất nớc : Nam quốc sơn hà (Lý Thờng Kiệt), Hịch
Tớng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) (Lịch sử lớp 7) và bản Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh đọc vào ngày 2-9-1945 (Lịch sử 9) Những tác
phẩm vĩ đại đó có tác dụng giáo dục học sinh một cách to lớn, có sức lay động lòngngời sâu sắc Vì vậy trong đề tài này tôi muốn đa ra một vài ý kiến về phơng phápkhai thác các tác phẩm đó để giáo dục lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc cho học sinh
III- Giải pháp
1- Nội dung của các bản "Tuyên Ngôn " trong lịch sử Việt Nam
a Bài thơ " Nam quốc sơn hà " của Lí Thờng Kiệt.
Nam quốc sơn hà nam đế c Tiệt nhiên định phận tại thiên th
Nh hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại h
Trang 4Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
(Dẫn theo Lịch sử việt Nma- tập 1-NXN giáo dục)
b." Hịch tớng sĩ" của Trần Quốc Tuấn.
Ta thường nghe: Kỷ Tớn lấy thõn chết thay, cứu thoỏt được vua Cao-đế; Do Vuchỡa lưng chịu giỏo che chở được vua Chiờu-vương; Dự Nhượng nuốt than để trảthự cho thầy; Thõn Khoỏi chặt tay để gỏnh nạn cho nước; Uất Trỡ Cung một viờntướng nhỏ, cũn biết che đỡ Đường-chủ, ra khỏi vũng võy của Thế Sung; Nhan Cảo-Khanh là bầy tụi xa, cũn biết mắng chửi Lộc Sơn, khụng nghe lời dụ của nghịch-tặc Từ xưa, những bậc trung-thần nghĩa-sĩ, lấy thõn theo nước, đời nào là khụng
cú đõu? Nếu mấy người kia, chăm chăm học thúi dỳt-dỏt của con gỏi trẻ con, chẳngqua cũng đến chết dũ ở dưới cửa sổ, đõu được ghi tờn vào trong thẻ tre lụa trắng,danh tiếng cựng trời đất cựng lõu bền?
Cỏc người đời đời là con nhà vừ, khụng biết chữ nghĩa, nghe những chuyện ấy,thảy đều nửa tin nửa ngờ Thụi thỡ những việc cổ xưa, hóy để đú khụng núi đếnnữa Nay ta hóy đem chuyện nước Tống, giống Thỏt(là chuyện gần đõy) kể cho cỏcngười cựng nghe: Vương cụng Kiờn là người gỡ? Nguyễn văn Lập tỳ-tướng của ylại là người gỡ, chỉ cú vũng thành Điếu-ngư nhỏ bằng cỏi đấu hai người ấy chốngnổi toỏn quõn trăm vạn của Mụng-kha, khiến cho con dõn nước Tống, đến nay hóycũn nhớ ơn Đường ngột Ngại là người gỡ? Xớch tu Tư tỳ-tướng của y lại là ngườigỡ? xụng pha lam-chướng trờn đuờng muụn dặm, hai người ấy đỏnh được quõnNam-chiếu trong vài tuần, khiến cho vua chỳa giũng Thỏt nay cũn để tiếng!
Huống chi ta với cỏc ngươi, sinh ở buổi rối ren, lớn lờn nhằm khi khú nhọc, chớnhmắt ngú thấy sứ ngụy đi lại, đường xỏ nghẽn-ngang, chỳng mỳa cỏi lưỡi cỳ quạlàm nhục chốn triều-đỡnh, chỳng giơ cỏi thõn chú dờ, kiờu ngạo với quan tể-phụ;chỳng nhờ mệnh lệnh của chỳa Mụng-Cổ, mà đũi nào ngọc nào lụa, sự vũi vĩnhthật vụ cựng; chỳng mượn danh hiệu của vua Võn-nam mà hạch nào bạc nào vàng;của kho đụn đó hồ hết Cung-đốn cho chỳng giống như đem thịt mà liệng cho cọpđúi, sao cho khỏi lo về sau?
Ta thường thỡ tới bữa quờn ăn, giữa đờm vỗ gối, nước mắt tràn xuống đầy mộp, tấmlũng đau như bị đõm, vẫn lấy cỏi sự chưa thể ăn thịt nằm da, nuốt gan uống mỏucủa chỳng làm tức Dẫu cho một trăm cỏi thõn của ta phải đem đốt ở đồng cỏ, mộtnghỡn cỏi thõn của ta phải đem bọc vào da ngựa, ta cũng vui lũng Cỏc ngươi lõunay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu ỏo thỡ mặc ỏo cho, thiếu ăn thỡ sẻ cơm
đỡ, quan nhỏ thỡ cho lờn chức, bổng ớt cho thờm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộcấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thỏc thầy chung với trũ, những lỳc mừngkhao, tiếng vui cười ai cũng như nấy So với Cụng Kiờn làm chức thiờn-lý, NgộtNgại ở ngụi phú nhị, cú khỏc gỡ đõu
Trang 5Thế mà các ngươi thấy chủ bị nhục chẳng lấy làm lo, gặp nước bị dơ chẳng lấy làmthẹn, làm tướng nhà nước phải hầu mấy đứa chum mường, mà không có lòng cămhờn, nghe khúc nhạc thờ đem thết một tên ngụy sứ, mà không có vẻ tức giận; kẻ thìchọi gà cho thích, kẻ thì đánh bạc mua vui, có người chỉ chăm vườn ruộng, cốtnuôi được nhà; có người chỉ mến vợ con, lấy mình làm trọng; cũng có kẻ chỉ lolàm giàu làm có, việc quân quốc chẳng thèm đoái hoài, cũng có người chỉ ham vềsăn-bắn mà quên việc binh, hoặc là đam mùi rượu ngọt, hoặc là mê tiếng hát hay.
Một khi giặc Mông đến nơi, thì cựa con gà nòi không thể đâm thủng áo-giáp củagiặc; thuật ở bàn bạc không thể đem làm mưu mẹo ở trong quân; vườn ruộng tuygiàu, tấm thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vợ con tuy sẳn, trong đám ba quân khódùng, của cải tuy nhiều, không thể mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe, không thểđuổi được quân thù, rượu ngon không đủ để cho giặc phải mê; hát hay không đủlàm cho giặc phải điếc; lúc đó thầy trò ta sẽ cùng bị trói, đáng đau đớn biết chừngnào! Nếu thế, chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươicũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia- quyến của ta phải đuổi, mà vợ concủa các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dàyxéo, mà đến mồ mả của cha mẹ ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng nhữngthân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn,
mà gia thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng là nhà bại tướng Đã đếnkhi đó các ngươi muốn chơi bời cho thỏa, được chăng?
Nay ta bảo rõ các ngươi: cái chuyện dấm lửa đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổirau nên nhớ Các ngươi hãy nên huấn luyện quân-sĩ, rèn-tập cung tên, khiến chongười người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, bêu đầu Tất-Liệtdưới cửa khuyết, ướp thịt Thoát-Hoan trong trại rơm Như thế chẳng những là thái-
ấp của ta mãi mãi là của gia truyền, mà bổng-lộc các ngươi cũng được suốt đờihưởng thụ; chẳng những gia- quyến của ta được yên giường nệm, mà vợ con cácngươi cũng được sum họp đến già; chẳng những là tông-miếu ta sẽ được muôn đời
tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân takiếp này đắc chí, mà đến các người dưới trăm đời nữa tiếng thơm vẫn lưu truyền;chẳng những tên tuổi ta không bị mai một, mà đến tên họ các người cũng để tiêngthơm trong sử xanh Khi ấy các ngươi không muốn vui chơi, được chăng?
Nay ta lựa chọn binh pháp các nhà, làm một quyển sách, đặt tên là sách "Binh-thưyếu-lược" Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy làduyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy làmối cựu thù kiếp xưa, Sao vậy? Bởi vì như vậy tức là kẻ thù không đội chung trời,thế mà các ngươi không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn, không tinh;đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện dạy-tập quân-sĩ Thế là giở giáo hànggiặc, nắm tay chống giặc Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phảithẹn muôn đời, còn mặt-mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở? Ta muốn cácngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch
Trang 6(Bản dịch của Ngụ Tất Tố trong Việt Nam Văn Học: Văn Học Đời Trần Ngụ
Tất Tố, Nxb Đại Nam, Sài Gũn, 1960)
c- Tác phẩm Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)
Thay trời hành húa, hoàng thượng chiếu rằng,
Từng nghe:
Việc nhõn nghĩa cốt ở yờn dõn,
Quõn điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đó lõu,
Nước non bờ cừi đó chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khỏc;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xõy nền độc lập;
Cựng Hỏn, Đường, Tống, Nguyờn; mỗi bờn hựng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu cú lỳc khỏc nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng cú
Cho nờn:
Lưu Cung tham cụng nờn thất bại;
Triệu Tiết chớ lớn phải vong thõn;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đụ
Sụng Bạch Đằng giết tươi ễ Mó
Việc xưa xem xột
Chứng cứ cũn ghi
Vưà rồi:
Nhõn họ Hồ chớnh sự phiền hà
Để trong nước lũng dõn oỏn hận
Quõn cuồng Minh thưà cơ gõy loạn
Bọn gian tà cũn bỏn nước cầu vinh
Nướng dõn đen trờn ngọn lửa hung tàn
Trang 7Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Trang 8Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Trông người, người càng vắng bóng,
Miịt mù như nhìn chốn bể khơi
Tự ta, ta phải dốc lòng,
Vội vã hơn cứu người chết đói
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan
Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Trang 9Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạọ
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay
Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng
Vương Thông gỡ thế nguy,
Mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh
Mà quân ta hăng lại càng hăng
Bó tay để đợi bại vong,
Giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
Ta đây mưu phạt tâm công
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
Nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
Trang 10Lại còn chuốc tội gây oan
Giữ ý kiến một người,
Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc,
Để cười cho tất cả thế gian
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín,
Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười,
Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang
Ta trước đã điều binh thủ hiểm,
Chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường
Tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn
Dánh một trận, sạch không kình ngạc
Trang 11Đánh hai trận tan tác chim muông
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi,
Cỏ nội đầm đìa máu đen
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù,
Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức
Trang 12Chẳng những mưu kế kỡ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xó tắc từ đõy vững bền
Giang sơn từ đõy đổi mới
Càn khụn bĩ rồi lại thỏi
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhó sạch làu
Muụn thuở nền thỏi bỡnh vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tụng
Linh thiờng đó lặng thầm phự trợ;
Than ụi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nờn cụng oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bỡnh,
Ban chiếu duy tõn khắp chốn
Xa gần bỏ cỏo,
Ai nấy đều hay
(Bản dịch của )
d- Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)
Hỡi đồng bào cả nước!
Tất cả mọi người đều sinh ra cú quyền bỡnh đẳng Tạo hoỏ cho họ những quyền khụng ai cú thể xõm phạm được; trong những quyền ấy, cú quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phỳc.
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, cõu ấy cú nghĩa là: tất cả cỏc dõn tộc trờn thế giới đều sinh ra bỡnh đẳng, dõn tộc nào cũng cú quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng
núi: Người ta sinh ra tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi; và phải luụn luụn được tự
do và bỡnh đẳng về quyền lợi.
Đú là những lẽ phải khụng ai chối cói được
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dõn Phỏp lợi dụng lỏ cờ tự do, bỡnh đẳng, bỏc ỏi,đến cướp đất nước ta, ỏp bức đồng bào ta Hành động của chỳng trỏi hẳn với nhõn đạo và chớnh nghĩa
Về chớnh trị, chỳng tuyệt đối khụng cho nhõn dõn ta một chỳt tự do dõn chủ nào