1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ

120 1,4K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành phần sâu mọt hại sắn bảo quản, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ mọt đục hạt nhỏ
Tác giả Nguyễn Xuân Huy
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Oanh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực ăn củ có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh đang được trồng ở trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học nông nghiệp hà nội

- -nguyễn xuân huy

THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIấN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHềNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ (Rhizopertha dominica Fabricius)

TẠI TỈNH YấN BÁI NĂM 2009

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10

Ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts nguyễn thị kim

oanh

Trang 2

Hµ Néi - 2009

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ mộ học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Huy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chânthành, sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh đã tận tình hướng dẫn vàdành nhiều thời gian quí báo giúp đỡ tôi hoàn chỉnh luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ văn phòng Chi cục Bảo vệthực vật tỉnh Yên Bái đã tạo mọi điều kiện sự giúp đỡ và có những góp ý sâusắc trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp và giađình đã giúp đỡ về cơ sở vật chất, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trongquá trình học tập và hoàn thiện luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Huy

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục hình vii

2.1 Nghiên cứu về côn trùng gây hại nông sản lưu trữ trên thế giới 5 2.2 Tình hình nghiên cứu về côn trùng trong bảo quản nông sản ở Việt

3 ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU25

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25 3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26

4.1 Kết quả điều tra thành phần, diễn biến mật độ sâu mọt trong kho

bảo quản sắn lát tại yên bái năm 2009 38 4.1.1 Tình hình sản xuất, bảo quản sắn tại Yên Bái 38 4.1.2 Thành phần sâu mọt trên sắn lát tại Yên Bái năm 2009 39 4.1.3 Diễn biến mật độ một số loài sâu mọt gây hại chủ yếu trong kho

bảo quản sắn lát tại Yên Bái năm 2009 43 4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học mọt đục hạt nhỏ

Trang 6

4.2.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học mọt đục hạt nhỏ R dominica54 4.3 Nghiên cứu khả năng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopetha

4.3.1 Ảnh hưởng của thủy phần sắn lát đến diễn biến số lượng mọt đục

4.3.2 Khả năng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica

Fabr trên các loại thức ăn khác nhau 62

4.3.3 Khả năng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica

4.4 Phòng trừ mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr. 664.4.1 Thí nghiệm sử dụng lá cây trong phòng trừ mọt đục hạt nhỏ

4.4.2 Thí nghiệm đánh giá hiệu lực thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ

mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr. 694.4.3 Thí nghiệm đánh giá hiệu lực thuốc hóa học trừ mọt đục hạt nhỏ

Trang 7

4.3 Diễn biến mật độ mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica

Fabricius trong các dạng kho bảo quản sắn (con/kg) 44

4.4 Diễn biến mật độ mọt gạo Sitophilus ozyzea Linné trong các dạng

4.5 Diễn biến mật độ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum Herbst trong

4.6 Kích thước các pha phát dục của Rhizopertha dominica Fabr 50 4.7 Thời gian phát dục của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica

Fabricius nuôi ở 250C và 300C (ngày) 54

4.8 Khả năng sinh sản của Rhizopertha dominica Fabr trên bột sắn 57 4.9 Khả năng chịu đói của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica

Fabr ở các mức nhiệt độ khác nhau (ngày) 584.10 Ảnh hưởng của thủy phần sắn lát đến diễn biến quần thể mọt đục

4.11 Khả năng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica

Fabr trên các loại thức ăn khác nhau 63

4.12 Khả năng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica

4.13 Hiệu lực của lá xoan ta, xoan Ấn Độ và lá cơi trong phòng trừ

Trang 8

4.14 Hiệu lực thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ mọt đục hạt nhỏ

4.15 Hiệu lực của thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ mọt R dominica

4.16 Hiệu lực trừ mọt của thuốc Aluminium phosphide 56% trừ mọt R.

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của thủy phần sắn lát đến khả năng gây hại

của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius 31

3.2 Thí nghiệm khả năng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha

dominica Fabricius trên các loại nông sản khác nhau 33

3.3 Thí nghiệm khả năng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha

dominica Fabricius đến các giống sắn khác nhau 343.4 Thí nghiệm sử dụng lá cây trong phòng trừ mọt đục hạt nhỏ

4.1 Diễn biến mật độ mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius

trong các dạng kho bảo quản sắn (con/kg) 44

4.2 Diễn biến mật độ mọt gạo Sitophilus ozyzea Linné trong các dạng

4.3 Diễn biến mật độ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum Herbst trong

4.4 Trưởng thành Rhizopertha dominica Fabr. 51

4.7 Sâu non Rhizopertha dominica Fabr. 51

4.8 Tỷ lệ hao hụt trên sắn do Rhizopertha dominica Fabr với các mức

4.9 Tỷ lệ hao hụt do đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr gây hại

4.10 Tỷ lệ hao hụt do mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr trên

Trang 10

4.11 Hiệu lực của lá xoan ta, xoan Ấn Độ và lá cơi trong phòng trừ

4.12 Hiệu lực thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ mọt đục hạt nhỏ

4.13 Hiệu lực của thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ mọt R dominica

4.14 Hiệu lực của thuốc Aluminium phosphide 56% trừ mọt R.

Trang 11

1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực ăn củ có nguồn

gốc từ vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh đang được trồng ở trên 100 nướccủa vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới Sắn tập trung nhiều ở châu Phi, châu Á vàNam Mỹ, là nguồn lương thực thực phẩm và chế biến thức ăn chăn nuôi(CIAT-Chương trình sắn Châu Á, 1993)

Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18 và đượctrồng nhiều ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng núi và trung duphía bắc, vùng ven biển nam Trung Bộ và vùng ven biển bắc Trung Bộ Là câycông nghiệp tiêu thụ trong nước và có giá trị xuất khẩu, sắn dễ tính thích hợpvới nhiều chất đất và địa hình, nông dân trồng sắn hầu như không phải đầu tưnhiều nên được nó được xem như cây “xóa đói giảm nghèo” cho nông dân

Những năm gần đây diện tích trồng sắn ở nước ta ngày càng mở rộng.Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2006, diệntích trồng sắn cả nước đạt 270.000 ha với sản lượng ước tính lúc đó khoảng 3triệu tấn củ sắn tươi thì hiện nay diện tích trồng sắn cả nước đã vọt lên hơn510.000 ha, tăng gần gấp đôi so với 3 năm trước và vượt hơn cả trăm ngàn ha

so với quy hoạch phát triển sắn tới năm 2010 của bộ Bộ Công Thương thống

kê trong 6 tháng đầu năm 2009, cả nước đã xuất khẩu hơn 2,4 triệu tấn sắn vàcác sản phẩm từ sắn, đạt kim ngạch 368 triệu đô la Mỹ, tăng 4,2 lần về sảnlượng và 2,2 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái

Yên Bái, nơi được coi là “vương quốc sắn của Miền Bắc” với diện tíchtrồng sắn của toàn tỉnh năm 2008 là hơn 15.790 ha, trong đó chủ yếu là sắncao sản loại giống KM94, KM60 Sản lượng sắn sản xuất ra là rất lớn kéotheo đó là sự phát triển của sản các ngành nghề chế biến, kinh doanh sắn và

Trang 12

các nguyên liệu từ sắn Sắn được dùng cho các nhà máy sản xuất thức ăn giasúc, hóa chất, sản xuất bột ngọt ở trong nước, ngoài ra sắn lát và tinh bột sắncòn được xuất khẩu ngày càng nhiều sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, HànQuốc, châu Âu.

Trong khi chúng ta nỗ lực vượt qua rất nhiều khó khăn để phấn đấu chonhững mùa vụ bội thu ở giai đoạn trước thu hoạch thì đôi khi lại quên đinhững mất mát xảy ra ở giai đoạn sau thu hoạch

Những con số thống kê cho thấy, thiệt hại do sâu bệnh, cỏ dại và điềukiện bất thuận gây ra cho sản xuất nông nghiệp được đánh giá vào khoảng 30%tổng sản lượng lương thực thu được của ngành trồng trọt Con số thiệt hại nàythay đổi tùy theo điều kiện và trình độ sản xuất ở từng địa phương Ở các vùngnhiệt đới, tỷ lệ mất mát còn cao hơn con số đã nêu trên đây Riêng các loại sâubệnh hại nông sản trong kho hàng năm gây tổn thất vào khoảng 10% khốilượng nông sản cất giữ Ở nhiều nước nhiệt đới số thiệt hại này lên đến 20%

Ở nước ta, côn trùng hại kho đã được quan tâm đến khá sớm Năm

1936, Nguyễn Công Tiễu có dịch cuốn “Cho được có hoa lợi nhiều và tốthơn” của P.Braemer, nêu đặc điểm hình thái và sinh học một số loài gây hạitrong kho thường gặp Năm 1963, Phan Xuân Hương viết cuốn “Côn trùngphá hại trong kho và cách phòng trừ” Năm 1982, Vũ Quốc Trung là tác giảcuốn “Sâu hại nông sản” Và cho đến nay, nhiều nghiên cứu về sâu mọt hạikho đã thu được những kết quả đáng trân trọng Tuy nhiên việc nghiên cứuvẫn còn nhiều hạn chế và phân tán chưa đáp ứng được với tình hình phát triểnchung, đặc biệt là mối quan hệ quốc tế về các vấn đề trong công tác Kiểmdịch thực vật khi nước ta ra nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO)

Sâu bệnh trong kho gây tổn thất lớn về nhiều mặt, không những làm tổnthất về số lượng, giảm sút về chất lượng nông sản, làm hàng hóa bị biến chất,gây thiệt hại lớn về kinh tế mà còn có khả năng gây bệnh cho người và gia súckhi sử dụng nông phẩm hoặc trực tiếp truyền bệnh cho người và gia súc

Trang 13

Tỉnh Yên Bái cũng như các tỉnh khác, sản xuất nông nghiệp phát triển,đòi hỏi phải có nhiều kho tàng lưu trữ hàng nông sản trong thời gian dài Từ

đó làm xuất hiện tập đoàn sâu mọt gây hại trong kho và diễn biến của chúngkhá phức tạp, sức phá hại rất lớn Vì vậy, rất cần có những nghiên cứunghiêm túc về sâu mọt hại hại kho giúp cho quá trình bảo quản đạt hiệu quảcao, bảo vệ được thành quả trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh nói riêngcũng như của cả nước nói chung

Tiến hành phòng trừ sâu mọt gây hại nông sản lưu trữ trong kho là mộtnhiệm vụ quan trọng của công tác sản xuất nông nghiệp và lương thực thựcthực phẩm Nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện tốt, đảm bảo hiệu quả kinh tếcao khi có những hiểu biết đầy đủ, chính xác về thành phần các loài dịch hạitrong kho; đời sống, quy luật phát sinh gây hại của chúng, từ đó đưa ra cácbiện pháp quản lý chúng một cách hợp lý

Trong các loài dịch hại kho, mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica

Fabricius được đánh giá là một trong các loài côn trùng kho nguy hiểm và gâyhại nghiêm trọng nhất [25] Với khả năng ăn tạp, thích nghi cao với các điềukiện sinh thái, sinh trưởng và phát triển nhanh, phân bố rộng, đặc biệt là việcphòng trừ gặp nhiều khó khăn do chúng có khả năng kháng thuốc

Để tìm hiểu kỹ hơn về sinh thái học của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius và biện pháp phòng trừ làm cơ sở khoa học cho công tác

quản lý chúng có hiệu quả Xuất phát từ những vấn đề trên, dưới sự hướngdẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Thành phần sâu mọt hại sắn bảo quản, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabricius) tại tỉnh Yên Bái năm 2009”.

Trang 14

1.2 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu thành phần sâu mọt hại trên sắn lát bảo quản,

nghiên cứu về mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius từ đó đề ra

biện pháp phòng trừ bảo vệ sắn lát khô bảo quản làm dẫn liệu khoa học chonhững nghiên cứu về sau

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Xác định thành phần, diễn biến mật độ sâu sâu mọt gây hại trên sắnbảo quản và thiên địch của chúng trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm 2009

- Tìm hiểu một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của mọt đục hạt

nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius.

- Khảo sát đánh giá hiệu lực của một số biện pháp phòng trừ mọt đục

hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius.

Trang 15

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Nghiên cứu về côn trùng gây hại nông sản lưu trữ trên thế giới

2.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại trong kho

Hầu như ở đâu có sự tồn trữ và lưu trữu, ở đó xuất hiện các loài sinhvật gây hại Nhiều khi chỉ cần sau vài tuần, sinh vật gây hại đã phát triểnthành quần thể với số lượng lớn và gây ra những “vụ cháy ngầm”, tiêu hủymột phần hoặc hoàn toàn hàng hóa bảo quản ở trong kho (Bùi Công Hiển,1995) [9] Sự phá hại của côn trùng đối với sản phẩm bảo quản thật đa dạng.Trước hết là phải kể đến việc làm giảm phẩm chất hoặc phá hủy vật chất, làmcho vật chất dự trữ bị giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng Trong nhiềutrường hợp, thiệt hại có thể là rất lớn thậm chí là vô giá Ví dụ như sự mục nátcủa ngũ cốc dự trữ hoặc hạt giống mất khả năng nẩy mầm

Côn trùng vượt qua tất cả các loài dịch hại khác về số lượng cá thể và

số lượng loài, chúng cạnh tranh với con người về nguồn cung cấp lương thực,lan truyền dịch bệnh cho con người, cho cây trồng và gia súc của họ Đặcđiểm nổi bật của dịch hại là chúng thích nghi cao với điều kiện cuộc sống trêntrái đất, điều này có nghĩa là chúng có thể tồn tại và hoạt động trong cả điềukiện khô hạn (Van der Laan, P.A., 1981) [51]

Trên thế giới đã có nhiều những nghiên cứu về côn trùng hại kho, trướcnhất và chiếm đa số là những nghiên cứu về thành phần loài Có thể kể đếntrước hết là danh mục côn trùng gây hại sản phẩm ngũ cốc và hạt dự trữ củaCotton (1937); Danh mục dịch hại sản phẩm bảo quản của Cotton và Wilbur(1974); Thành phần côn trùng ở Úc của Anonymous (dẫn theo Snelson J.T.,1987) [50]; Côn trùng hại hạt và sản phẩm hạt dự trữ của Cotton R.T (1963)[41]; Thành phần côn trùng trên thóc và gạo dự trữ ở Thái Lan của Hiroshi

Nakakita et al (1991) [45]; Thành phần côn trùng gây hại trên thóc gạo ở

Trang 16

Indonesia của Hall P.W et al (1961) [44] Bên cạnh đó còn có các công trình

nghiên cứu đã công bố về thành phần loài như: Nghiên cứu về sinh thái họccôn trùng trên hạt đóng bao của Graham (1970), Smith (1963), Prevett (1964);Sinh thái học côn trùng trong các kho ngũ cốc của Richards và Woodroffe(1968); hoặc dẫn liệu về côn trùng hại kho của nông dân của Markham (1981)(dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Theo Cotton và Wilbur (1974), côn trùng gây hại hạt dự trữ trong khotrên thế giới gồm 43 loài được chia làm 2 nhóm: nhóm côn trùng gây hại chủyếu gồm 19 loài và nhóm côn trùng gây hại thứ yếu nhưng thường xuyên xuấthiện trên hạt dự trữ gồm 24 loài (dẫn theo Nelson, J.T., 1987) [50]

Hall et al (1961) [44]; Mcfalane (1982) [47]; Prakash A (1980) [48]

báo cáo thành phần côn trùng gây hại trên thóc, gạo dự trữ ở Indonesia gồm

17 loài thuộc 12 họ và 2 bộ

Christoph Reichmuth (2000) đã ghi nhận được 55 loài côn trùng trênsản phẩm bảo quản ở Đức [38]

Hiroshi Nakakita et al (1991) [45] đã ghi nhận được 36 loài côn trùng

thuộc 17 họ và 2 bộ gây hại trong thóc và gạo bảo quản ở Thái Lan năm 1991

Theo Christian (1999) [37] thì côn trùng gây hại trên sắn gồm các loài:

mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis), mọt ngô (Sitophilus zeamais), mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica), mọt cà phê (Araecerus fasciculatus), mọt tre (Dinoderus minutus).

Kỹ thuật bảo quản nông sản sau thu hoạch ngày một phát triển cùng với

sự thay đổi về các điều kiện sinh thái, điều kiện môi trường và nguồn thức ăncủa côn trùng hại kho cũng luôn thay đổi, do vậy thành phần, mật độ các loàicôn trùng trong kho cũng luôn có sự thay đổi cho phù hợp Cho đến nay việcnghiên cứu về thành phần loài côn trùng hại kho vẫn đang được các nhà khoahọc trên thế giới quan tâm

Trang 17

2.1.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của các loài gây hại chính

trong kho lưu trữ hàng nông sản

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của mọt gạo (Sitophilus oryzae L.).

Prvett (1960) cho biết, khi đẻ trứng, mọt gạo dùng vòi khoét lỗ trên bề mặt hạtrồi đẻ trứng sau đó tiết ra chất nhầy bịt miệng lỗ để bảo vệ trứng Mỗi lần đẻ

01 quả, có khi từ 2-3 quả (dẫn theo Vũ Quốc Trung, 1978) [24] Zacher(1964) cho biết trung bình một cá thể cái có thể đẻ được 380 trứng, cao nhất

là 576 trứng Thời gian phát triển của mọt gạo chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt

độ Từ trứng đến trưởng thành ở nhiệt độ 27,20C là 25,5 ngày; ở nhiệt độ 170C

là 92 ngày, tuổi thọ của mọt gạo kéo dài khoảng 8 tháng (dẫn theo Bùi CôngHiển, 1995) [9]

Đối với mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabr.) kết quả nghiên

cứu của Potter và Brich cho thấy mọt đục hạt nhỏ đẻ trứng trực tiếp vào hạt vàdùng chất nhầy để bảo vệ trứng Sâu non lột xác 3 lần, thời gian phát dục củasâu non khoảng 28-71 ngày (dẫn theo Vũ Quốc Trung, 1978) [24] TheoZacher (1964), ở điều kiện 290C thời gian hoàn thành một vòng đời chỉ kéodài 4 tuần; ở nhiệt độ 210C thì chúng hoạt động kém hơn và hầu như không cókhả năng sinh sản (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Cá thể trưởng thành của mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabr.)

khó phân biệt đực cái một cách rõ ràng, con cái có những đốm mờ trên mặtđốt bụng thứ 3 và thứ 4, đốt thứ 5 đồng mầu Con đực có tất cả các đốt bụngmàu như nhau và đậm hơn con cái (Stemley và Wilbur, 1996)

2.1.3 Nghiên cứu về thiệt hại do côn trùng gây ra trong bảo quản

Nông sản bảo quản bị sâu mọt tấn công gây thiệt hại lớn về mặt sốlượng, chất lượng Đó cũng là một trong số những nguyên nhân đã dẫn đếnnạn đói ở nhiều châu lục Subrahmanyan (1962) đã chỉ ra rằng tổng lươngthực của thế giới đã có thể tăng lên đến 25-30% nếu chúng ta có thể tránhđược mất mát sau thu hoạch (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [50]

Trang 18

Tổn thất sau thu hoạch của các loại nông sản phẩm thường ít được đánhgiá một cách đầy đủ Số liệu công bố thường là các số liệu tổn thất về trọnglượng, trong khi hầu như không có số liệu thiệt hại về mặt chất lượng của cácnông sản lưu trữ.

Sắn khô là loại nông sản rất khó dự trữ do rễ bị tấn công bởi các côntrùng gây hại trong kho và yếu tố khí hậu làm cho số lượng cũng như chấtlượng sắn bảo quản bị giảm xuống nhanh chóng Lượng mất mát của sắn khôtrong quá trình bảo quản đã được đánh giá lên đến 16% về trọng lượng sau 2tháng dự trữ ở Malaysia [36]

Ở Ấn Độ đã có báo cáo cho rằng đem luộc sơ nông sản trước bảo quản

có thể dự trữ trong 9 tháng mà chỉ mất 3% trọng lượng, và mất 4-5% khi dựtrữ nơi bình thường Tuy nhiên, đối với sắn lát phơi khô thì sự mất mátkhoảng 12-14% khi dự trữ trong kho Tổn thất trọng lượng trên sắn ở Ghanakhoảng 8% đối với hộ nông dân và 21% ở các kho tập chung sau 8 tháng bảoquản (Elke Stumpf, 1998) [43]

Bakal (1963) đánh giá sự mất mát lương thực hàng năm do chuột, côntrùng và nấm mốc là 33 triệu tấn, lương thực này đủ nuôi sống người dân Mỹtrong một năm Những con số thống kê của tổ chức Lương thực và Nôngnghiệp của Liên hợp quốc (FAO) năm 1973 đã chỉ ra rằng không lâu nữa,nguồn cung cấp lương thực của thế giới sẽ không đủ để chống lại thiệt hạimùa màng và nạn đói Con số cụ thể được đưa ra rằng: ít nhất 10% lươngthực sau thu hoạch bị mất mát do dịch hại kho, và thiệt hại tới 30% là phổbiến ở nhiều khu vực trên thế giới (Hall, 1970), (dẫn theo Snelson, J.T., 1987)[50]

Tại Mỹ, theo Pawgley (1963) tổn thất hại bảo quản mỗi năm được công

bố là khoảng 15-23 triệu tấn, trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột, từ 9-16triệu tấn do côn trùng Ở châu Mỹ - Latinh, người ta đánh giá rằng ngũ cốc vàđậu đỗ đã thu hoạch bị tổn thất tới 25-50%; ở vài nước châu Phi, khoảng 30%tổng sản lượng nông nghiệp bị mất đi hàng năm (Vũ Quốc Trung, Nguyễn

Trang 19

Trọng Hiển, Vũ Kim Dung, 1991) [27].

Đối với thóc và gạo, tổn thất sau thu hoạch tại một số nước châu Á như

Mã Lai là 17% Nhật Bản là 5% và Ấn Độ là 11 triệu tấn/năm (Vũ QuốcTrung, Nguyễn Trọng Hiển, Vũ Kim Dung, 1991) [27]

2.1.4 Các phương pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho

Trên thế giới đã và đang nghiên cứu áp dụng nhiều biện pháp phòng trừcôn trùng gây hại trong kho:

Phòng trừ tự nhiên như sử dụng các yếu tố về khí hậu(điều kiện thời

tiết: nhiệt độ, ẩm độ…); các yếu tố về địa hình ảnh hưởng đến sự phân bố củacây ký chủ cũng như phân bố các loài côn trùng gây hại; kẻ thù tự nhiên củacôn trùng Từ đó để chọn lựa khu vực xây dựng kho tàng, dạng kho, hướngkho, loại hình bảo quản, biện pháp phòng trừ, thời gian phòng trừ… cho hợp lý

sẽ giúp phòng trừ côn trùng hại kho

Phòng trừ nhân tạo là các biện pháp phòng trừ bằng biện pháp kiểm

dịch thực vật, biện pháp sinh học, cơ học vật lý và hóa học

Biện pháp kiểm dịch thực vật là biện pháp mang tính bắt buộc, áp đặt

có sự thỏa thuận trên cơ sở khoa học Đó là việc ban hành và thực hiện cácquy định mang tính pháp lý về điều kiện nhập khẩu hàng thực vật, sản phẩmthực vật và vật thể khác thuộc diện kiểm dịch thực vật nhằm hạn chế sự dunhập và lây lan của các loài côn trùng gây hại nguy hiểm đối với hạt ngũ cốcnói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung Việc ban hành danh mục đốitượng kiểm dịch thực vật để ngăn chặn sự du nhập và lây lan của các loài dịchhại nguy hiểm là rất cần thiết đối với mỗi quốc gia trong hoạt động thươngmại quốc tế hoặc thương mại trong nước

Biện pháp sinh học là hướng nghiên cứu đang được ưu tiên khuyếnkhích vì những ưu điểm của nó Theo tổ chức đấu tranh sinh học quốc tế(IOBC, 1971) định nghĩa: “Biện pháp sinh học là sử dụng những sinh vật sốnghay các sản phẩm hoạt động sống của chúng nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm

Trang 20

bớt tác hại do các sinh vật hại gây ra” (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [15].

Trong phạm vi rộng hơn, phòng trừ sinh học cũng bao gồm việc sửdụng các chất độc có nguồn gốc tự nhiên, các chất xua đuổi hoặc dẫn dụ,những chất có thể được sử dụng trong hệ thống phòng trừ tổng hợp côn trùnggây hại trong kho, thậm chí những kỹ thuật này còn được gọi tên riêng là các

kỹ thuật công nghệ sinh học (Christoph Reichmuth, 2000) [38] Cũng theoChristoph Reichmuth, phòng trừ sinh học tạo ra cơ hội để đấu tranh có hiệuquả chống lại một loài dịch hại riêng biệt mà không gây ra ảnh hưởng đến cácloài dịch hại khác hoặc các loài côn trùng có ích

Một số các kết quả nghiên cứu về sinh học phòng trừ côn trùng gây hạitrong kho:

Hiroshi et al (1991) [45] ghi nhận được ba loài ong ký sinh côn trùng gây hại trong các kho lương thực ở Thái Lan là Chaetospila elegans, Proconus sp và Bracon hebetor Và một số loài bắt mồi như: kiến (khoảng 4-

5 loài), bọ xít (Xylocoris flavipes Reuter), Scenopinus fenestralis và bò cạp giả Chelifer sp.

Theo Bùi Công Hiển (1995) [9], các loài ong ký sinh côn trùng gây hại

trong kho thường giết chết vật chủ, ví dụ như ong ký sinh (Trichogramma spp.) ký sinh trứng ngài gạo (Corcyra cephalonica).

Scholler Matthias (2000) [49] nghiên cứu tại Đức cho biết trong điềukiện thí nghiệm phòng và trong kho có quy mô nhỏ, việc thả ong ký sinh

Trichogramma evanescens đã làm giảm quần thể của Ephestia elutella tới

31,4% so với đối chứng

Christoph Reichmuth (2000) [38] cho biết bọ xít Xylocoris flavipes

Reuter ăn trứng, sâu non và nhộng nhiều loài côn trùng gây hại trong kho

như: Plodia interpunctella, Corcyra cephalonica, Ephestia cautella, Acanthoscelides obtectus, Dermestes maculatus, Sitophilus zeamais, Cryptolestes ferrugineus, Sitophilus granarius, Tribolium confusum,

Trang 21

Tribolium castaneum, Lasioderma serricorne và Sitotroga cerealella Cũng theo Christoph Reichmuth (2000), ong Trichogramma evanescens Wetw ký sinh trứng nhiều loài côn trùng gây hại trong kho như Plodia interpunctella, Ephestia kuehniella, Corcyra cephalonica, Ephestia cautella, Acanthoscelides obtectus, Dermestes maculatus.

Các công trình nghiên cứu về ký sinh côn trùng gây hại trong kho trênthế giới còn nhiều hạn chế thường chỉ tập chung vào việc điều tra, ghi nhậnthành phần, nhân nuôi và thử nghiệm trong thực tiễn sản xuất ở quy mô vừa

và nhỏ

Cũng như những nghiên cứu về ký sinh côn trùng gây hại trong kho.Các nghiên cứu về sinh vật gây bệnh cho côn trùng hại kho cũng có nhiều hạnchế Các loài côn trùng gây hại trong kho đa số thuộc bộ cánh cứng(Coleoptera) bị các loài sinh vật gây bệnh như nấm, tuyến trùng, vi khuẩn,virus … gây bệnh Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập chung vào nhóm vikhuẩn gây bệnh

Berlinder (1911) phân lập được vi khuẩn Bacillus thuringiensis từ sâu non của Ephestia kuehniniella Zeller tại Thuringia Người ta đã phát hiện được 525 loài thuộc 13 bộ côn trùng bị nhiểm vi khuẩn Bacillus thuringiensis,

trong đó nhiều nhất là bộ cánh vảy (318 loài), sau đó là bộ hai cánh (59 loài),

bộ cánh cứng (34 loài) và còn lại là các bộ khác (khoảng 1-12 loài), (dẫn theoPhạm Văn Lầm, 1995) [15]

McGaughey (1980) cho biết việc sử lý trên lớp hạt bề mặt (khoảng

10cm) với một lượng nhỏ chế phẩm Bacillus thuringiensis đã hạn chế khoảng 81% quần thể ngài Ấn Độ (Plodia interpunctella) và ngài bột điểm (Esphestia cautella) và kết quả đã hạn chế sự ăn hại của chúng tới hơn 92% (dẫn theo

Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Subramanyan và Cutkomp (1985) báo cáo về vai trò của Bacillus thuringiensis đối với phòng trừ các loài ngài thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera)

Trang 22

gây hại trong kho Hầu hết các nghiên cứu được tiến hành tại Mỹ với các loài

như Plodia interpunctella, Ephestia cautella, E kuehniella và Sitotroga cerealella Kểt quả cho thấy chỉ cần sử dụng chế phẩm này với liều lượng

dưới 10mg/kg đã hạn chế được sự gây hại của chúng trong kho ngũ cốc (dẫntheo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Sukprakarn (1990) báo cáo về việc sử dụng Bacillus thuringiensis để phòng trừ ngài gạo (Corcyra cephalonica) trong các kho bảo quản gạo ở Thái

Lan (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Có nhiều quan điểm khác nhau về biện pháp phòng trừ cơ học và vật lý.Theo quan niệm của Banks (1981), phòng trừ vật lý là việc làm thay đổi môitrường trong kho bằng các yếu tố vật lý làm cho nó bất lợi đối với sự pháttriển của côn trùng gây hại hoặc không cho nó tiếp cận được với hàng hóa bảoquản (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Các biện pháp kỹ thuật được xử lý trong việc bảo quản lưu trữ hànghóa trong kho có tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển củachúng Vệ sinh sạch sẽ kho tàng trước khi nhập hàng, xắp xếp và bố trí hànghóa bảo quản trong kho gọn gàng, ngăn nắp và giữ cho kho sạch sẽ trong suốtquá trình bảo quản có tác dụng loại bỏ nguồn lây nhiễm côn trùng gây hại chocác lô hàng lưu trữ tiếp theo Côn trùng trong kho thường sống trong các phầnhàng hóa còn sót lại sau khi xuất hàng hoặc ẩn nấp trong các khe kẽ của sàntường kho, trong các phương tiện chế biến, vận chuyển Vì vậy giữ cho khotàng luôn được sạch sẽ trong quá trình bảo quản kết hợp với kiểm tra định kỳgiúp phát hiện sớm sự xuất hiện của côn trùng gây hại để có biện pháp xử lýkịp thời Theo những nghiên cứu của Evans (1981) thì biện pháp vệ sinh khotàng là điều có giá trị trước tiên khi áp dụng các biện pháp phòng trừ côn trùnggây hại (sinh học, hóa học và vật lý) (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Thủy phần của hàng hóa trong bảo quản là một trong những yêu cầu rấtquan trọng Hàng hóa bảo quản phải đủ độ khô cần thiết sẽ hạn chế sự bốc nóng

Trang 23

trong khối hàng cũng như hạn chế sự xâm nhiễm và gây hại của côn trùng Côntrùng hại kho thường có khả năng gây hại bởi chúng có bộ hàm khỏe, tuy nhiênvới những nông sản có thủy phần thấp cộng với điều kiện bảo quản thích hợp thìviệc ăn hại và phát triển của côn trùng sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

Davey và Elcoata (1996) kết luận rằng thủy phần an toàn đối với hạtngũ cốc khoảng 12-13%; với lạc là 8%; với hạt cọ dầu là 6% Hyde (1969)cho rằng nấm mốc và côn trùng chỉ phát triển khi độ ẩm tương đối của khôngkhí trong kho lớn hơn 70-75% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Desmarchelier et al (1979) đã ghi nhận việc phối hợp làm lạnh hay khô

cùng với việc sử dụng hợp lý thuốc bảo vệ thực vật sẽ nâng cao hiệu quả phòngtrừ và giá thành rẻ hơn so với việc sử lý từng biện pháp riêng rẽ Quilan (1980)

đã công bố kết quả sử dụng Malathion (dạng khói) với việc làm khô để phòngtrừ côn trùng Việc sử lý 100 tấn hạt trong máy sấy hồi lưu có dòng khíMalathion đã giết chết hầu hết côn trùng và giảm sức sinh sản tới 99% (dẫn theoBùi Công Hiển, 1995) [9]

Việc bảo quản kín đã có từ rất lâu đời Con người đã biết sử dụng nhiềuphương tiện với các vật liệu khác nhau để đóng gói, chứa đựng hàng hóa bảoquản như các loại hòm, thùng gỗ, chum, vại sành… Hiện nay các phương tiệnhiện đại hơn được thiết kết đồng bộ với các chất liệu khác nhau như chất dẻo,kim loại hoặc các xylô đã mang lại hiệu quả tốt hơn rất nhiều

Spart (1979) đã báo cáo kinh nghiệm ở Úc trong việc bảo quản kín khi

lượng ôxy đạt 5% thì mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabr.) vẫn tồn

tại và sinh sản được Nhìn chung, phương pháp bảo quản kín chỉ thích hợpvới điều kiện hạt khô và nồng độ ôxy đạt từ 5-10% và cácbônic cũng chiếm tỷ

lệ tương tự (dẫn theo [9] Việc bảo quản hạt ngũ cốc ở Úc và Trung Quốchiện nay chủ yếu sử dụng các loại kho sylô với hệ thống thông gió hiện đại cósức chứa 50.000-70.000 tấn Với các loại kho này, côn trùng rất khó xâm

nhiễm từ bên ngoài vào bên trong kho để gây hại (Lin Fenggang et al., 2003)

Trang 24

[46], (Zhanggui Qin et al., 2003) [52] Bên cạnh đó, ở Úc hiện áp dụng biện

pháp bảo quản kín dưới đất bằng việc đào các hố sâu khoảng 1-2m dưới đất,sau đó để trải bạt để cách nhiệt và ẩm, rồi đổ rời hạt lúa mỳ xuống; sau đóchùm lên trên bằng một tấm bạt che khác và ghép các mép bạt lại với nhaulàm kín (không cần đến nhà và mái che cho loại kho này) Phương pháp nàykết hợp với sử dụng thuốc Phosphine xông hơi để trừ côn trùng gây hại trênhạt lúa mỳ Bảo quản theo phương pháp này có thể kéo dài trong thời gian 6tháng Bảo quản dưới mặt đất cũng rất phổ biến ở các nước châu Phi hiện nay,nơi có điều kiện thời tiết khô và nóng Phương pháp bảo quản dưới mặt đất cóchi phí thấp hơn nhiều so với bảo quản trong các xylô Tuy nhiên, phẩm chấthạt bảo quản cũng giảm đi nhanh hơn nên thời gian bảo quản thường chỉ là 6

tháng (Collins P J et al., 2002) [40].

Burrell (1967-1974); Sutherland et al (1970); Evans (1977-1979), đều

nhấn mạnh đến việc sử dụng kỹ thuật hiện đại bằng các máy điều hòa khôngkhí để làm lạnh tới 120C là giới hạn nhiệt độ có thể hạn chế sự phát triển củanhiều loài côn trùng gây hại quan trọng Ở Úc, khoảng 25% khối lượng của

20 triệu tấn lúa mỳ đã được bảo quản bằng các thiết bị làm lạnh, trong điềukiện khí hậu ở đây rất nóng (30-400C) (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Việc đóng gói thực phẩm để ngăn chặn sự tấn công của côn trùng gâyhại đã có lịch sử từ lâu đời Những phát triển gần đây chỉ là sử dụng rộng rãicác loại chất dẻo (Wilkin và Green, 1970; Mallikarjuna Rao và ctv., 1972)hay tráng một lớp bột thiếc mỏng để sử dụng cho vùng nhiệt đới (McFarlane,1970) (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [9]

Golob và Webley (1980) đã tổng kết các kết quả nghiên cứu thử nghiệm

và áp dụng thuốc thảo mộc ở nhiều nơi trên thế giới với các loài thực vật khácnhau, trong đó đáng kể nhất là việc tạo ra các chế phẩm thuốc thảo mộc từ cây

Neem Ấn Độ (Azadirachta india), cỏ mạt (Acorus calamus), cây ruốc cá (Derris

spp.), cây thuốc lá, thuốc lào… Các tác giả đã nêu lên những sản phẩm cụ thể

Trang 25

được dùng để ngăn ngừa côn trùng gây hại từ 47 loài thực vật khác nhau, trong

đó có 40 loài đã được sử dụng dưới dạng các chiết xuất (dẫn theo Bùi CôngHiển, 1995) [9]

Ở Philippine thì các sản phẩm từ cây xoan Ấn Độ cũng được sử dụngtrong bảo quản thóc trong các kho dự trữ thu được kết quả đáng khả quan ởnồng độ 1-2%, trộn lá xoan Ấn Độ với thóc, xử lý 20% dịch chiết trong cáctúi bảo quản hoặc sử dụng lá xoan Ấn Độ khô đặt giữa nền kho và trong cáctúi bảo quản cũng cho kết quả tương tự Xử lý khối hạt với 5% dịch chiết từhạt xoan Ấn Độ hoặc 20% dịch chiết lá xoan có tác dụng phòng trừ côn trùngphá hại trong 6 tháng [42]

Đã có rất nhiều tài liệu ghi nhận tác dụng gây ngán ăn của các dẫn xuất

từ cây xoan Ấn Độ đối với các bộ côn trùng khác nhau Những thí nghiệm

đầu tiên được tiến hành tại Ấn Độ với Schistocera gregaria và kết quả thu

được rất khả quan ở nồng độ 10-40µg/l Ở Ấn Độ và Paskistan đã dùng câyxoan Ấn Độ để trừ sâu hại, hơn 60% nông dân ở các nước này đã trộn lá xoan

Ấn Độ với hạt ngũ cốc để bảo quản và hơn 80% những người trồng cây bạchđậu khấu dùng hạt cây xoan Ấn Độ bón vào đất trừ tuyến trùng [42]

Những chất có trong một số loài thực vật có tính năng tác động làmthay đổi tập tính của côn trùng Có thể là có mùi vị xua đuổi côn trùng; mùi vịhấp dẫn côn trùng (bẫy bả) hoặc có độc tố đối với côn trùng nên được sử dụngtrong phòng trừ tổng hợp Các nghiên cứu còn kết luận rằng, các hợp chấtcũng có hiệu quả như các tác nhân phòng trừ và một số chất còn có thể được

sử dụng như thuốc xông hơi Hiệu quả của các chất chiết xuất từ thực vật đốivới côn trùng hại kho là rất tổng hợp Các loài dịch hại khác nhau và các phaphát dục khác nhau của cùng một loài dịch hại có phản ứng không giống nhauđối với một chất chiết xuất nhất định Lượng hợp chất tinh khiết trong mộtchất chiết xuất từ thực vật có thể khác nhau phụ thuộc vào điều kiện khí hậu,

Trang 26

địa lý và giống cây.

Tại Trung Quốc, thuốc thảo mộc Gu Chong Jing (GCJ) đã được sảnxuất và đưa vào sử dụng rộng rãi trong các kho bảo quản lương thực dự trữ tạitỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và nhiều tỉnh khác ở Trung Quốc đạt hiệu quả

tốt (Lin Fenggang et al., 2003) [45].

Nhiều loại thuốc xông hơi đã được sử dụng trong việc phòng trừ côntrùng gây hại , trong kho như: Methyl bromide (CH3Br), Phosphine (PH3),Chloropicrin (CCL3.NO2), Dichlorvos – DDVP (loại có hàm lượng hoạt chất98%), Ethylene dichloride (CH2Cl.CH2Cl), Cacbon disulphide (CS2), Cacbontetrachloride (CCl4), Sulphuryl fluoride (SO2F2), Acrylonitrile (CH2:CH.CN)

… Tuy nhiên, hiện chỉ còn hai loại thuốc được sử dụng rộng rãi là Methylbromide và Phosphine Những loại khác hầu hết đã bị cấm hoặc hạn chế sửdụng do tính độc cao, gây nguy hiểm cho người sử dụng, hàng hóa và môitrường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến hàng hóa bảo quản sau khi xông hơi.Trong hai loại thuốc xông hơi trên thì Methyl bromide bị kiểm soát nhập khẩu

và sử dụng bởi Nghị định thư Montrean do có tiềm năng phá hủy tần ôzôn củakhí quyển (hệ số 0,6), còn lại là thuốc Phosphine thì đã được xác định là cónhiều loài côn trùng gây hại trong kho thể hiện tính kháng thuốc cao, đặc biệt

là mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabr.)

2.2 Tình hình nghiên cứu về côn trùng trong bảo quản nông sản ở Việt

Nam

2.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại trong kho

Những điều tra và kết quả nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gâyhại trong kho ở Việt Nam là không nhiều và ít được điều tra cập nhật Nhữngcông bố đầu tiên có thể kể đến là: Kết quả điều tra côn trùng hại kho ở MiềnBắc Việt Nam của Đinh Ngọc Ngoạn (1965) [17]; Kết quả điều tra côn trùngtrong kho lương thực ở các tỉnh miền Bắc và miền Nam sau giải phóng 1975

Trang 27

của Bùi Công Hiển và ctv (1975) [10]; Kết quả điều tra điều tra côn trùng làđối tượng kiểm dịch thực vật của Dương Quang Diệu và Nguyễn Thị GiángVân (1976) [6]; Thành phần côn trùng gây hại trong kho lương thực của VũQuốc Trung (1978) [25]; Thành phần côn trùng kho ở Việt Nam của NguyễnThị Giáng Vân cà ctv (1996) [32]; hoặc thành phần công trùng hại kho ở ViệtNam năm 1996-2000 do Phòng Kiểm dịch thực vật, Cục Bảo vệ thực vật tổnghợp (2003) [19].

Lê Trọng Trải (1980) [23] điều tra kho thóc dự trữ đổ rời tại Hoài Đức– Hà Tây đã xác định được 12 loài côn trùng gây hại trong kho thuộc 7 họ và

2 bộ côn trùng khác nhau; trong đó có 3 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp, 9loài thuộc nhóm gây hại thứ cấp

Nguyễn Thị Bích Yên (1998) [35] điều tra thành phần côn trùng hạithóc dự trữ tại Hà Nội đã ghi nhận được 9 loài côn trùng gây hại thuộc 8 họ

và 3 bộ côn trùng khác nhau; trong đó có 3 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp và

6 loài thuộc nhóm gây hại thứ cấp

Vũ Quốc Trung, Bùi Minh Hồng và ctv (1999) [26] đã ghi nhận được

7 loài côn trùng gây hại trong kho thóc dự trữ đóng bao ở đồng bằng sôngCửu Long là mọt gạo, mọt đục hạt nhỏ, mọt bột đỏ, mọt thóc Thái Lan, mọtrâu rài, mọt răng cưa và mọt gạo dẹt

Nguyễn Thị Giáng Vân và ctv (1996) [32] đã ghi nhận được 23 loàicôn trùng gây hại trong kho thóc dự trữ đổ rời thuộc 14 họ và 3 bộ Trong đó

có 4 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp và 19 loài thuộc nhóm gây hại thứ cấp

2.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học

Một số công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của côn trùng gâyhại trong kho đã được công bố: Đặc điểm sinh học và sinh thái học của mọt gạoSitophilus oryzae L của Bùi Công Hiển, (1965) [8]; Một số dẫn liệu về côntrùng gây hại trong kho thóc của Lê Trọng Trải (1980) [23]; Nghiên cứu một sốđặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ côn trùng lạ Tenebrio molitor L của

Trang 28

Dương Minh Tú (1997) [29]; Tìm hiểu khả năng sinh trưởng phát triển của mọtbột tạp Tribolium confusum J Duval ở Việt Nam của Hà Thanh Hương, DươngMinh Tú và ctv (1998) [13] Đặc điểm sinh học của mọt đục hạt nhỏ

Rhizopertha dominica Fabr., mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst và biện

pháp phòng trừ chúng của Nguyễn Thị Bích Yên (1998) [35]

Theo tài liệu của Vũ Quốc Trung mọt đục hạt nhỏ: Rhizopertha dominica Fabr thuộc bộ cánh cứng Coleoptera, họ Botrichidae [24].

Cũng theo tài liệu của Vũ Quốc Trung (1978) trưởng thành của

Rhizopertha dominica Fabr có chiều dài 2,3 - 3 mm, rộng 0,6 - 1 mm thường

chiều dài gấp 3 chiều rộng Thân nhỏ hình ống dài, mầu nâu tối Trứng dài 0,4

- 0,6 mm; rộng 0,1 - 0,2 mm, hình bầu dục dài, màu trắng ở giữa hơi cong,một đầu lớn, một đầu bé Sâu non khi lớn dài khoảng 3mm, mình hơi cong,thân màu trắng sữa, râu đầu có 2 đốt Nhộng dài khoảng 2,5 - 3mm, đầu củanhộng gần giống đầu của trưởng thành Đoạn cuối bụng thu nhỏ lại (con cái

có phần phụ để phân biệt giữa cá thể đực và cái) [24]

Theo Dương Minh Tú (2005), mọt gạo Sitophilus oryzae L và mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr nuôi trên gạo ở nhiệt độ 25, 30, 350C và

độ ẩm tương đối 70% có kích thước phát dục ở các ngưỡng nhiệt độ trên lànhư nhau nhưng thời gian phát dục hoàn toàn khác nhau Ở các mức nhiệt độ

này, thời gian hoàn thành vòng đời của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr lần lượt là: 80,03 ± 1,6; 64,9 ± 1,1 và 45,9 ± 0,76 ngày [30].

2.2.3 Nghiên cứu về thiệt hại do côn trùng gây ra

Không giống như các tác nhân gây hại trên các giống cây trồng ngoàiđồng ruộng mà chúng ta có thể đánh giá được những thiệt hại một cách trựctiếp Những tổn thất của nông sản trong công tác bảo quản thường không thểhiện ngay và thường ít thấy, để đánh giá được mức độ thiệt hại do sâu mọt hạikho gây ra cho nông sản lưu trữ là rất phức tạp Tập đoàn sâu mọt hại kho cókhả năng thích nghi cao thường xuyên gây ra các vụ “cháy ngầm” trong kho,

Trang 29

gây nên những thiệt hại rất lớn [9].

Những công trình nghiên cứu về thiệt hại do côn trùng gây ra cho hạtngũ cốc dự trữ ở nước ta còn rất hạn chế Những kết quả thu được chỉ phảnánh thiệt hại về mặt trọng lượng mà không thể phản ánh được thiệt hại về mặtchất lượng của sản phẩm dự trữ

Theo Vũ Quốc Trung (1978) [25] những con số thể hiện thiệt hại dosâu mọt hại kho gây ra là rất đáng chú ý: Gạo tẻ sau 3 tháng bảo quản với mật

độ sâu hại 100 con/kg và thủy phần 13,5%, nó ăn hao mất 3,5% khối lượng vàphát triển thêm 106% Bột mỳ có thủy phần 12%, mật độ sâu hại là 10 con/kg,sau 3 tháng bảo quản nó ăn hao mất 8% khối lượng và phát triển thêm 190%.Một kho thóc sau 8 tháng không tiến hành các biện pháp phòng trừ sâu hại,mật độ sâu hại còn sống lên đến 32 con/kg Khi tiến hành kiểm tra lớp thóc bềmặt tới độ sâu 0,5 m thì thấy trung bình tỷ lệ hạt bị hại là 13,7%, dung trọngcủa lớp thóc này là 490 g/l (cũng loại thóc này không bị sâu hại có dungtrọng 568 g/l) Đem cân 1000 hạt thóc không bị sâu hại nặng 23,2 g, còn 1000hạt bị sâu hại chỉ nặng có 16,9 g Theo dõi quá trình xay xát thì thấy: từ 100

kg thóc không bị sâu hại có thể thu hồi được 70 – 73 kg gạo trắng, trong khi

đó có mật độ sâu hại 100 con/kg, chỉ thu hồi được tối đa 66 kg gạo Đó làchưa kể tới chất lượng gạo rất kém, giá trị thương phẩm thấp và không đảmbảo về mặt vệ sinh

Theo Lê Doãn Diên (1990) [5], tổn thất sau thu hoạch đối với ngũ cốcbảo quản trong kho ở Việt Nam là 10% Số liệu điều tra tại một số huyệnngoại thành Hà Nội của Nguyễn Kim Vũ (1999) [33] cho thấy tổn thất sau thuhoạch do côn trùng gây ra cho lúa gạo trung bình là 6,4%, mức độ thiệt hạicao nhất có thể lên đến 11,8%/năm Kết quả nghiên cứu về tổn thất ngô sauthu hoạch của Trần Văn Chương, Nguyễn Kim Thúy và ctv (2003) [39] chothấy ở quy mô hộ nông dân, ngô dự trữ bị tổn thất trung bình là 15%, cá biệt

có nơi đến 20%

Trang 30

Kết quả điều tra của Nguyễn Kim Vũ và ctv (2003) [34] tại 1000 hộnông dân ngoại thành Hà Nội cho thấy thiệt hại do côn trùng gây ra đối vớithóc bảo quản trong thời gian 6 tháng là 2,8% về trọng lượng và giảm tới 20%

về giá bán

Nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm, có những điều kiện vềnhiệt độ, độ ẩm thích hợp với sự phát sinh phát triển của sâu hại kho, cơ sởvật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác bảo quản nông sản nói chung và phòngtrừ sâu hại nói riêng còn hạn chế, do đó thiệt hại do chúng gây ra không phảinhỏ Ở nước ta công tác phòng trừ sâu mọt hại kho có một tầm quan trọng và

ý nghĩa đặc biệt, nếu làm tốt sẽ mang lại lợi ích kinh tế rất to lớn

2.2.4 Các phương pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho

Hiện nay trong bảo quản nông sản có nhiều biện pháp phòng trừ côntrùng hại kho khác nhau

Biện pháp cơ học vật lý hầu như chỉ sử dụng với việc bảo quản ở quy

mô nhỏ bằng các phương pháp cơ học như: sàng để loại bỏ côn trùng ra khỏinông sản ở nhưng nơi chúng tập chung với mật độ cao; phơi sấy tiêu diệt côntrùng bằng tác dụng của nhiệt độ cao; bẫy đèn thu hút các loài côn trùng cótính hướng quang …

Cũng như các nước trên thế giới, thuốc hóa học sử dụng trong bảo quảnkho tại Việt Nam cũng gồm 2 loại chính là Methyl bromide và Phosphine Vớingưỡng phòng trừ của các loại sâu mọt gây hại chính (mọt gạo, mọt đục hạtnhỏ, mọt bột đỏ và mọt thóc Thái Lan) là 20con/kg nông sản thì tiến hành sửdụng thuốc hóa học để diệt trừ Ngoài ra còn có nhóm thuốc sát trùng mà chủyếu là Sumithion 50EC sử dụng để sát trùng kho, vật dụng trong kho khi đãxuất hết lô hàng cũ và chuẩn đưa lô hàng mới vào bảo quản Sumithion cũngdùng để xua đuổi, ngăn chặn sự xâm nhiễm côn trùng vào gây hại trong khobằng cách phun vào rèm vải ở cửa kho và các khu vực xung quanh kho [30]

Biện pháp sinh học trong bảo quản nông sản lưu trữ là một hướng đi

Trang 31

đúng trong việc tạo ra các sản phẩm nông nghiệp an toàn và bền vững, đồngthời giảm thiểu những tác hại đến môi trường và cân bằng hệ sinh thái

Nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm các chế phẩm sinh học trừ côn trùnggây hại trong kho ở nước ta đã được các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệsau thu hoạch thực hiện từ năm 1998 Kết quả thử nghiệm hai loại chế phẩm Bt(chế phẩm trừ côn trùng cánh cứng và chế phẩm hỗn hợp) với mọt ngô(Sitophilus zeamais) có hiệu quả khá cao nhưng lại không có tác dụng tiêu diệtđối với mọt bột đỏ (Tribolium castaneum) và diệt hiệu quả đến 100% ngài gạo(Corcyra cephalonia) [3]

Theo Phạm Thị Thùy (2004) [20] nấm Beauveria bassiana trừ rầy nâu

hại lúa và sâu xanh hại đay, các tác giả đã nhận thấy hiệu quả đạt hơn 70% và

đã thử nghiệm hiệu quả nấm Beauveria bassiana với mọt gạo (Sitophilus oryzae) trong điều kiện phòng thí nghiệm, tác dụng diệt trừ từ 53,2-61,1% sau

20 ngày

Thuốc thảo mộc BQ-01 do Trung tâm Công nghệ hóa học, Viện Hóa,Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốcgia) sản xuất và đưa vào thử nghiệm trong các kho thóc dự trữ tại tỉnh Hà SơnBình (nay là Hà Tây và Hòa Bình) năm 1991-1992 Thuốc BQ-01 được sảnxuất với nguyên liệu chính là cao lanh và bột hạt xoan ta Kết quả khảo nghiệmcho thấy thuốc không có hiệu lực trừ côn trùng nhưng có hiệu quả xua đuổi(Dương Minh Tú và Đinh Ngọc Ngoạn, 1993) [31] Nhược điểm của thuốcBQ-01 là để lại lượng tạp chất quá lớn, bụi và có mùi khó chịu lưu lại trongnông sản bảo quản

Thuốc thảo mộc Gung Chong Jing (GCJ) do Trung Quốc sản xuất làloại thuốc tổng hợp của nhiều loại tinh dầu thực vật, chất mang và được bổsung thêm hoạt chất Deltamethrin Sau khi có kết quả thử nghiệm tại TháiBình và Hà Bắc năm 1998 (Dương Minh Tú, Bùi Thị Tuyết Nhung, 2000) vàthử nghiệm diện rộng trong các kho thóc dự trữ đổ rời tại Thái Bình năm

Trang 32

1999-2000, Cục Dự trữ quốc gia đã cho phép các Chi cục ở phía Bắc đưathuốc GCJ vào sử dụng để trừ côn trùng gây hại trong kho Kết quả thu đượctrong năm 2001-2002 là khá khả quan Ưu điểm của thuốc là dễ sử dụng, hiệulực thuốc kéo dài và giá thành phù hợp Nhược điểm là để lại lượng mùn (tạpchất) ở trong nông sản Tuy nhiên, theo Dương Minh Tú (2005) [30] khi sosánh hiệu quả thử nghiệm thuốc GCJ tại một số kho tàng lưu trữ ở khu vựcphía Bắc nhận định thuốc GCJ của Trung Quốc nhập vào Việt Nam năm 2000

và thuốc nhập năm 1998-1999 là có sự khác biệt (có thể hàm lượng củaDeltamethrin trong thuốc thay đổi)

Từ lâu, nhân dân ta đã có kinh nghiệm dùng một số loại thực vật để trừsâu hại mùa màng hoặc dùng trong bảo quản nông sản sau thu hoạch Nhữngcây thường được dùng nhất là cây xoan, cây thuốc lá, cây củ đậu, cây hột mạt,cây ruốc cá, thanh hao hoa vàng… Hiện nay, thuốc thảo mộc đang đượckhuyến khích nghiên cứu phát triển với những ưu điểm vượt trội và là nguồnthuốc có xu hướng dần thay thế cho thuốc hóa học trong nhiều lĩnh vực nóichung và trong bảo quản nói riêng Việc xác định, chiết xuất và giữ ổn địnhđược các hoạt chất có khả năng tiêu diệt, gây ngán, dẫn dụ hoặc xua đuổi cácloài côn trùng gây hại đang được nhiều đơn vị nghiên cứu và thử nghiệm, cónhiều thành công bước đầu

Một số loại cây và hoạt chất của nó được sử dụng trong bảo quản:

Cây xoan ta (Melia azedarach) hay còn gọi là cây xoan hay xoan ta,

xoan nhà, sầu đông, thầu đâu Xoan ta thuộc Bộ Sapindales; Họ Meliaceae;

Chi Melia Là cây trồng phổ biến ở Việt Nam được dùng chủ yếu để lấy gỗ vàtạo bóng mát ở các tỉnh vùng Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu ) Tất cả các bộphận của cây xoan đều có độc tính đối với con người nếu ăn phải Một số loài

chim có thể ăn quả xoan, nhờ thế mà hạt của xoan được phát tán khi chúng bịđánh rơi, nhưng chỉ cần 15 gam hạt đã là liều gây chết cho một con lợn nặng

22 kg Các triệu chứng ngộ độc đầu tiên xuất hiện chỉ vài giờ sau khi ăn phải.Các triệu chứng này bao gồm mất vị giác, nôn mửa, táo bón hoặc tiêu chảy,

Trang 33

phân có máu, tổn thương dạ dày, sung huyết phổi, trụy tim v.v Tử vong cóthể xảy ra sau khoảng 24 giờ.

Cây xoan được sử dụng như là một loại thuốc trừ sâu tự nhiên để bảoquản một số loại lương thực được lưu giữ, nhưng không ăn được do nó rấtđộc Nước ngâm lá xoan và vỏ xoan có tác dụng diệt sâu ngoài đồng ruộng

hay trong kho do cây xoan có hoạt chất Azadirachtin(Az) thuộc nhóm

tetranortriterpenoid có khả năng gây ngán ăn, làm giảm khả năng sinh sản củacôn trùng

Cây xoan Ấn Độ (Azadirachta indica) là cây thuộc Bộ Sapindales; HọMeliaceae; Chi Azadirachta Nguồn gốc của cây này là ở Nam và Đông Nam

Châu Á nhưng ngày nay nó có mặt ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới củaChâu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc Cây xoan Ấn Độ dùng để kiểm soát côn trùnghại kho Hoạt chất chủ yếu có tác động đến côn trùng từ hạt xoan và lá xoan

Ấn Độ là chất Azadirachtin(Az) thuộc nhóm tetranortriterpenoid có khả năng

chống sự đẻ trứng, gây ngán ăn, làm gián đoạn quá trình phát triển, làm giảmkhả năng sinh sản của côn trùng [4] Ở Bình Thuận, nông dân đã dùng lá vàquả để bảo quản nông sản trong một số tháng như dùng lá khô trộn lẫn với hạt

để chống sâu mọt, cây xoan Ấn Độ đã trở thành một loại thuốc thảo mộctrong bảo quản nông sản ở quy mô hộ nông dân

Cây cơi (Pterocarya tonkinensis) mọc tự nhiên ở các tỉnh miền núi phía

Bắc, được bà con nông dân dùng để bảo quản thóc, ngô có tác dụng trừ mọttrong bảo quản Cây cơi thuộc Họ: Juglandaceae; Bộ: Juglandales; Nhóm:Cây gỗ lớn

 Phân bố: Cây mọc rộng rãi ở các tỉnh miền Bắc, như Nghệ An, QuảngNinh, Hòa Bình, Vĩnh Phú, Sơn La và phân bố ở Lâm Đồng (Suối vàng)

Lá cơi đắng, có độc, có tác dụng trừ sâu, sát khuẩn (nước chiết từ lá tươi

có tác dụng đối với Staphylococcus aureus và Bacillus subtilis) Lá cơi không

hoàn toàn độc đối với cá nhưng độc đối với chuột Người ta thường dùng lá

Trang 34

giã ra để duốc cá; cũng dùng chữa ghẻ lở bằng cách lấy nước nấu lá để tắmrửa hoặc dùng cao lá để bôi ngày 1-2 lần vào các mụn.

Thuốc thảo mộc Gu Chong Jing do Trung Quốc sản xuất là loại thuốctổng hợp của nhiều loại tinh dầu thực vật: hồi, quế, thanh hao hoa vàng, longnão, chất mang và được bổ sung thêm thuốc hóa học Deltamethrin với hàmlượng 0,024% Thuốc GCJ sử dụng ở liều lượng 0,04% để bảo quản thóc, ngôrất có hiệu quả và đặc biệt thích hợp bảo quản ngô hạt ở tại hộ nông dân tạitỉnh Hà Giang (Nguyễn Thị Kim Oanh và cộng sự, 2003) [18] Trong quytrình hoàn thiện và ứng dụng công nghệ phòng trừ tổng hợp sinh vật hại gồm

9 giai đoạn khép kín từ khâu thu hoạch đến bảo quản ngô, thóc quy mô nông

hộ và trang trại tại Hà Nội đã sử dụng thuốc GCJ với tỷ lệ 0,04% cho kết quảcao [34] Theo Dương Minh Tú sử dụng thuốc GCJ với tỷ lệ 0,04% va 0,1%

trong việc phòng trừ mọt gạo (Sitophilus oryzae L.) đạt hiệu lực lần lượt là 95,9% và 97,9% sau 90 ngày theo dõi; trên mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabr.) hiệu lực đạt 98,63% và 99,66% sau 90 ngày theo dõi [30].

Trang 35

3 ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài sâu mọt gây hại nông sản lưu trữ trong kho bảo quản sắn látkhô và thiên địch của chúng

3.1.2 Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu

3.1.2.1 Vật liệu: sắn lát, lá xoan, lá cơi, thuốc Gu Chong Jing 0,042%, thuốc

hộ lao động, thiết bị thông thoáng, đảo khí, đồng hồ, biển cảnh giới, thuốc sơcứu tai nạn…

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm điều tra: kho lưu trữ sắn của Nhà máy chế biến thức ăn chănnuôi cao cấp Bình Sơn, xý nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi Việt Thái, Tổngkho Nam Cường, cửa hàng lương thực phường Hồng Hà – Thành phố YênBái và các kho lưu trữ sắn trên địa bàn tỉnh Yên Bái (huyện Văn Yên, huyệnYên Bình)

- Thí nghiệm trong phòng: thực hiện tại phòng thí nghiệm của Chi cụcBảo vệ thực vật tỉnh Yên Bái

3.1.4 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01 năm 2009 đến tháng 8 năm 2009.

Trang 36

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Điều tra tình hình sâu mọt trong kho bảo quản sắn lát khô tại Yên

Bái năm 2009

3.2.1.1 Điều tra thành phần sâu mọt gây hại trong kho bảo quản sắn lát khô

và thiên địch của chúng tại Yên Bái năm 2009

Điều tra tại các kho lưu trữ sắn lát trên địa bàn tỉnh Yên Bái: kho Nhàmáy chế biến thức ăn chăn nuôi cao cấp Bình Sơn; kho Xý nghiệp chế biếnthức ăn chăn nuôi Việt Thái; Tổng kho Nam Cường; kho cửa hàng lương thựcPhường Hồng Hà - thành phố Yên Bái

Điều tra theo Phương pháp điều tra cơ bản côn trùng hại kho của tác giảBùi Công Hiển

Điều tra theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc Điều tra định kỳ 7ngày/lần.Điều tra sâu mọt gây hại trực tiếp trên sắn bảo quản, nơi sâu mọt thường tậptrung như khe, kẽ nứt, nền, tường kho, góc kho, trên các vật dụng làm kệ, kêlót, bao bì, nơi có hàng tồn đọng lâu, mục nát Điều tra bổ sung khi cần thiết

Số liệu về thành phần sâu mọt hại trên sắn lát bảo quản có sổ theo dõi và đượcghi chép cụ thể, cẩn thận qua mỗi kỳ điều tra

Lấy mẫu theo phương pháp: Kiểm dịch thực vật - Phương pháp lấy mẫu(tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4731-89) [26]

Phương pháp thu thập, phân loại mẫu côn trùng: Đối với côn trùng cánhcứng dùng panh, bút lông và ống nghiệm để thu bắt Đối với côn trùng cócánh, dùng ống nghiệm để chụp lên trên và chúng sẽ bay ngược lên phía đáyống hoặc dùng vợt để bắt Mẫu thu được của từng địa điểm được để riêngtrong túi nilon có nhãn theo quy định Mẫu được giám định được gửi đi giámđịnh tại Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu I (Đông Ngạc – Từ Liên– Hà Nội)

Trang 37

3.2.1.2 Điều tra diễn biến một số loài sâu mọt gây hại chính trên sắn lát khô

bảo quản tại Yên Bái năm 2009

Điều tra mật độ của 3 loài: mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica); mọt gạo (Sitophilus ozyzea) và mọt thóc đỏ (Tribolium castaneum) Điều tra

theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc, định kỳ 7 ngày/lần Điều tra cố định tại cáckho bảo quản sắn khác nhau

Kho xylô: kho bảo quản nằm trong dây chuyền chế biến tại nhà máychế biến thức ăn gia súc

Kho nông hộ: kho nông hộ quy mô nhỏ (bảo quản trong bể chứa, cóbạt phủ; quy mô và khối lượng sắn lát bảo quản ít, chủ yếu phục vụ chăn nuôitrong hộ);

Kho tiệp: kho thông thường (kho kín - kiểu kho tiệp cải tiến): Nền khocao, có hệ thống thông gió ở phía dưới ngầm kho; tường xây gạch trát vữa 2mặt; mái lợp ngói; trần cót; trên cửa ra vào và các cửa sổ đều bố trí lưới ngăn

sự xâm nhập của các loài chim, chuột vào trong kho

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của mọt đục

hạt nhỏ R dominica gây hại trên sắn khô bảo quản

Thu mọt đục hạt nhỏ trưởng thành qua quá trình điều tra và nuôi tronghộp nhựa bên trong có chứa thức ăn là sắn lát đã được khử trùng và làm sạch(khử trùng ở điều kiện nhiệt độ 600C trong 45phút) - đây là nguồn cung cấpmọt cho các thí nghiệm của đề tài

Quan sát, mô tả màu sắc và đo kích thước của từng pha phát dục với sốlượng mọt quan sát là 30 cá thể Đơn vị đo là mm

- Pha trứng: đo chiều dài từ mép trên đến mép dưới của trứng theohướng nhất định, chiều rộng đo phần rộng nhất;

- Pha sâu non: chiều dài, chiều rộng: đo ở nơi rộng nhất từng tuổi sâu;

- Pha nhộng: đo chiều dài, chiều rộng đo nơi rộng nhất của nhộng;

- Pha trưởng thành: đo chiều dài, chiều rộng (nơi rộng nhất của cơ thể)

Trang 38

Dùng công thức thống kê sinh học để tính kích thước trung bình:

Trong đó: : kích thước trung bình của từng pha;

Xi: giá trị kích thước cá thể thứ i;

n: số cá thể theo dõi

Thời gian phát dục trung bình được tính theo công thức:

Trong đó: : thời gian phát dục trung bình của từng pha;

Xi: thời gian phát dục của cá thể thứ i;

ni: số cá thể lột xác trong ngày thứ i

- Với pha trứng: kiểm tra hàng ngày khi thấy trứng ghi lại ngày, tháng

và tiến hành tách riêng từng quả đưa vào hộp petri (1 quả/hộp) có chứa thức

ăn là bột sắn Tiếp tục theo dõi quan sát thời điểm trứng nở

- Với pha sâu non: khi trứng nở thành sâu non tiếp tục theo dõi thờigian phát dục của từng tuổi Quan sát mỗi ngày một lần và ghi lại thời điểmkhi phát hiện thấy có xác sâu non của mọt trong hộp petri Thời gian phát dục

Trang 39

của mỗi tuổi được tính từ thời điểm lột xác lần trước đến lần lột xác tiếp theo.

- Pha nhộng: tiếp tục theo dõi mỗi ngày một lần Ghi chép thời điểmkhi sâu non tuổi cuối bắt đầu hóa nhộng và khi nhộng vũ hóa trưởng thành

- Pha trưởng thành: khi phát hiện nhộng vũ hóa trưởng thành Chọn 01

cá thể cái cho ghép đôi với 01 cá thể đực và nuôi trong hộp petri có thức ăn làngô hạt Theo dõi mỗi ngày một lần đến khi tìm thấy quả trứng đầu tiên và ghichép ngày phát hiện

Vòng đời của mọt được tính từ khi trứng nở đến khi mọt trưởng thành

đẻ quả trứng đầu tiên

Thí nghiệm với các pha được tiến hành với hai ngưỡng nhiệt độ là 25

và 300C Với mỗi pha tiến hành quan sát 30 cá thể Sau khi thu được kết quả,

so sánh thời gian phát dục các pha và vòng đời của mọt đục hạt với haingưỡng nhiệt độ ở trên

Nghiên cứu khả năng sinh sản của Rhizopertha dominica Fabricius:

Mọt đục hạt nhỏ được nuôi trong môi trường thức ăn là bột sắn Trongđiều kiện giao phối cưỡng bức, tiến hành thí nghiệm nghiên cứu khả năngsinh sản của mọt đục hạt nhỏ với các công thức bố trí như sau:

- CT1: 1 cặp trưởng thành 3 ngày tuổi, ghép đôi trong 3 ngày;

- CT2: 1 cặp trưởng thành gồm 1 cá thể đực 7 ngày tuổi và 1 cá thể cái 3ngày tuổi, ghép đôi trong 3 ngày;

- CT3: 1 cặp trưởng thành gồm 1 cá thể cái 7 ngày tuổi và 1 cá thể đực 3ngày tuổi, ghép đôi trong 3 ngày;

- CT4: 1 cặp trưởng thành 7 ngày tuổi, ghép đôi trong 3 ngày

Mỗi công thức nhắc lại 3 lần

Sau thời gian ghép đôi, các cá thể ở các lần nhắc lại của từng công thức đượcnuôi riêng rẽ và theo dõi khả năng đẻ trứng ở điều kiện ẩm độ, nhiệt độ phòng

Chỉ tiêu theo dõi: Số lượng trứng đẻ trung bình/ngày, thời gian đẻ trứng

Trang 40

trung bình, số trứng đẻ trung bình và tỷ lệ trứng nở.

Số trứng đẻ của 1 cá thể cái (quả)

Số trứng đẻ trung bình/ngày/1 cá thể cái =

(quả/ngày) Thời gian đẻ (ngày)

Tổng thời gian đẻ của các cá thể (ngày)Thời gian đẻ trứng TB của một cá thể cái =

(ngày) Số cá thể cái (ngày)

Thí nghiệm được bố trí như sau: bắt 10 cặp mọt trưởng thành đựngtrong hộp petry và để ở các ngưỡng nhiệt độ khác nhau là 25, 30 và 350Ctrong điều kiện không có thức ăn

Theo dõi hàng ngày và ghi chép số cá thể mọt chết cho đến khi khôngcòn cá thể nào sống sót

Thí nghiệm được bố trí với 3 lần nhắc lại

3.2.3 Nghiên cứu khả năng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha

dominica Fabricius

3.2.3.1 Ảnh hưởng của thủy phần sắn lát đến khả năng gây hại của mọt đục

Ngày đăng: 11/04/2013, 08:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1.  Thành phần sâu mọt gây hại trong kho bảo quản sắn lát tại Yên Bái năm 2009 - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Bảng 4.1. Thành phần sâu mọt gây hại trong kho bảo quản sắn lát tại Yên Bái năm 2009 (Trang 49)
Bảng 4.3: Diễn biến mật độ mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica  Fabricius trong các dạng kho bảo quản sắn (con/kg) - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Bảng 4.3 Diễn biến mật độ mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabricius trong các dạng kho bảo quản sắn (con/kg) (Trang 52)
Bảng 4.7. Thời gian phát dục của mọt đục hạt nhỏ - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Bảng 4.7. Thời gian phát dục của mọt đục hạt nhỏ (Trang 61)
Bảng 4.8. Khả năng sinh sản của Rhizopertha dominica Fabr. trên bột sắn Chỉ tiờu theo dừi - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Bảng 4.8. Khả năng sinh sản của Rhizopertha dominica Fabr. trên bột sắn Chỉ tiờu theo dừi (Trang 64)
Bảng 4.9. Khả năng chịu đói của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica  Fabr. ở các mức nhiệt độ khác nhau (ngày) - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Bảng 4.9. Khả năng chịu đói của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr. ở các mức nhiệt độ khác nhau (ngày) (Trang 65)
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của thủy phần sắn lát đến diễn biến quần thể mọt  đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr. - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của thủy phần sắn lát đến diễn biến quần thể mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr (Trang 68)
Hình 4.9. Tỷ lệ hao hụt do đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr. gây  hại trên các loại thức ăn khác nhau - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Hình 4.9. Tỷ lệ hao hụt do đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica Fabr. gây hại trên các loại thức ăn khác nhau (Trang 70)
Hình 4.10. Tỷ lệ hao hụt do mọt đục hạt nhỏ - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Hình 4.10. Tỷ lệ hao hụt do mọt đục hạt nhỏ (Trang 72)
Hình 4.11: Hiệu lực của lá xoan ta, xoan Ấn Độ và lá cơi   trong phòng trừ Rhizopertha dominica Fabr - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Hình 4.11 Hiệu lực của lá xoan ta, xoan Ấn Độ và lá cơi trong phòng trừ Rhizopertha dominica Fabr (Trang 75)
Hình 4.12: Hiệu lực thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ mọt đục hạt nhỏ - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Hình 4.12 Hiệu lực thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ mọt đục hạt nhỏ (Trang 77)
Bảng 4.15. Hiệu lực của thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ mọt - THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI SẮN BẢO QUẢN, NGHIÊN CỨU  ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỌT ĐỤC HẠT NHỎ
Bảng 4.15. Hiệu lực của thuốc Gu Chong Jing 0,042% trừ mọt (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w