Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần an bình (abbank) chi nhánh thái nguyên - ĐH kinh tế và QTKD - Khoa Quản trị kinh doanh
Trang 11 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, lĩnh vực ngân hàng tài chính đã trở thành mộttrong những lĩnh vực kích thích nhất của nền kinh tế Thị trường tài chínhđang thay đổi nhanh chóng với những phương tiện tài chính mới xuất hiệnngày càng nhiều Thị trường tài chính ngân hàng hoạt động tốt đã tạo ra mộtnền kinh tế thế giới liên kết nhau, rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia trênthế giới
Đặc biệt, kể từ sau khi ra nhập WTO, có thể nói thị trường tài chính ngânhàng Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể Ngành ngân hàng Việt Nambước vào giai đoạn phát triển với nhiều chuyển biến trong hoạt động của khốingân hàng thương mại Nhiều ngân hàng cổ phần gia tăng quy mô bằng việcnâng vốn điều lệ, phát triển mạng lưới, khối ngân hàng quốc doanh đã vàđang hoàn thành công tác cổ phần hóa, một số ngân hàng nước ngoài chínhthức tham gia vào thị trường Kéo theo đó cạnh tranh trên thị trường tài chínhngân hàng sẽ ngày một gay gắt hơn
Trong những năm gần đây tỉnh Thái Nguyên có những bước phát triểnmạnh mẽ Các nhà máy, xí nghiệp mọc lên ở khắp nơi, cùng với đó đời sốngcủa nhân dân ngày càng được nâng cao Nhận thức được đây là thị trường rấttiềm năng cho sự phát triển của ngành tài chính ngân hàng, do vậy bên cạnhnhững chi nhánh của ngân hàng quốc doanh đã được phát triển từ lâu đời thì
sự xâm nhập ngày càng mạnh của các ngân hàng thương mại cổ phần ngoàiquốc doanh đã làm cho sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trên địa bàn thêmgay gắt Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK) đã mở phòng giao dịch tạiThái Nguyên vào tháng 12/2007 và nâng cấp lên thành chi nhánh vào tháng9/2010, cũng đang đứng trước bài toán cạnh tranh rất hóc búa Do mới đượcthành lập và chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong ngành, nên khả năngcạnh tranh của các dịch vụ ngân hàng còn yếu Biểu hiện cụ thể là Ngân hàng
Trang 2TMCP An Bình chi nhánh Thái Nguyên còn chưa được nhiều người biết đến,các dịch vụ chưa đa dạng, chất lượng dịch vụ chưa cao, trình độ nhân lực cònyếu, cách thức tổ chức điều hành còn nhiều bất cập…
Từ thực tế đó, sau một thời gian thực tập tại ABBANK Thái Nguyên, tôi
đã lựa chọn đề tài: “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH (ABBANK) CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN ” làm nội dung nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những cơ sở lý luận vềkhả năng cạnh tranh của các dịch vụ tại ABBANK Thái Nguyên trong thờigian qua cũng như định hướng cho thời gian tới Qua đó thấy được những lợithế, hạn chế của ngân hàng để từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao khảnăng cạnh tranh của ngân hàng
3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trungnghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh củaABBANK trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi về thời gian: ABBANK Thái Nguyên mới được thành lập từtháng 12/2007 nên các số liệu thực tế về tình hình kinh doanh của ngân hàngchưa nhiều, đề tài chủ yếu sử dụng và phân tích các số liệu về thực trạng kinhdoanh của ABBANK Thái nguyên từ khi thành lập đến nay
4 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến khả năng cạnh tranhcủa ABBANK trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu các chỉ tiêu cũngnhư các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của ABBANK Thái Nguyên.Trên cơ sở kết hợp các lý thuyết kinh tế đã được trang bị trong trường đại họcvới việc phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của các dịch vụ tại ngânhàng để đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh củangân hàng
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về khả năngcạnh tranh của ngân hàng, đề tài đã áp dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp so sánh: được sử dụng phổ biến trong phân tích để xácđịnh xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Để tiến hành so sánhcần xác định những vấn đề cơ bản như: xác định số gốc để so sánh, xác địnhđiều kiện so sánh và xác định mục tiêu so sánh
- Phương pháp thống kê mô tả: áp dụng trong việc thống kê các số liệutrong hệ thống các bảng biểu về tình hình kinh doanh của ngân hàng có liênquan đến nội dung của đề tài
- Phương pháp phân tích tỷ lệ: áp dụng trong việc tính toán và phân tích
tỷ trọng của các chỉ tiêu phân tích để thấy được kết cấu và quy mô của các chỉtiêu trong đối tượng phân tích
- Phương pháp phân tích khái quát những tài liệu sơ cấp, thứ cấp có liênquan đến đối tượng nghiên cứu
6 Bố cục của khoá luận.
Bố cục của khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTMCP An Bình (ABBANK) chi nhánh Thái Nguyên.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ABBANK Thái Nguyên.
Trang 4CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Ngân hàng thương mại và chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Cho đến thời điểm này có rất nhiều khái niệm về NHTM Ở Mỹ: “ NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng khoản 1 và khoản 7 Điều 20 đã
xác định “tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán” và trong các loại tổ chức tín dụng thì “ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và phương tiện thanh toán”.
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chếtài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp
vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhucầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại.
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng.
Trang 5Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhấtcủa ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng,NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu vềvốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đivay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênhlệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất
cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán.
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cánhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền
từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặcnhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và cáckhoản thu theo lệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiềuphương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻrút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,… Tùy theo nhu cầu, khách hàng cóthể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủthể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ,gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng mộtphương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủthể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảothanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thônghàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó gópphần phát triển kinh tế
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại vàphát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thùcủa mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là
Trang 6chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung giantín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền chovay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụtrong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đượccoi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa,thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổngphương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trảcủa xã hội
1.2 Khái quát về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cạnh tranh và các loại hình cạnh tranh
1.2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Trong thế kỷ XX, nhiều lý thuyết cạnh tranh hiện đại ra đời như lý thuyếtcủa Michael Porter, J.B.Barney, P.Krugman,… Trong đó phải kể đến lý
thuyết “lợi thế cạnh tranh” của Michael Porter, ông giải thích hiện tượng khi doanh nghiệp tham gia cạnh tranh thương mại quốc tế thì cần phải có “lợi thế
cạnh tranh” và “lợi thế so sánh” Ông phân tích lợi thế cạnh tranh tức là sức
mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh là điềukiện tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, môi trường tạo cho doanh nghiệp,quốc gia thuận lợi trong sản xuất cũng như trong thương mại Ông cho rằnglợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợnhau, lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh, lợi thế so sánh pháthuy nhờ lợi thế cạnh tranh
Qua những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnhtranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnhtranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp Cạnh tranh góp phầncho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biếtquý trọng hơn những cơ hội và lợi thế của mình có được, cạnh tranh mang lại
sự phồn thịnh cho đất nước Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xácđịnh cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách
Trang 7thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất chomình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh.
Vậy cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh
tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp
để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình Cácmục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng,…Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoànhảo và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình mongmuốn Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã
sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đốithủ tham gia cạnh tranh với mình Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêulẫn nhau, nhưng kết quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngược
1.2.1.2 Các loại hình cạnh tranh
Có nhiều hình thức được dùng để phân loại hình cạnh tranh bao gồm: căn
cứ vào chủ thể tham gia, phạm vi ngành kinh tế và tính chất của cạnh tranh
Căn cứ chủ thể tham gia:
* Cạnh tranh giữa người mua và người bán: do sự đối lập nhau của hai
chủ thể tham gia giao dịch để xác định giá cả của hàng hóa cần giao dịch, sựcạnh tranh này diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt” và giá cả của hàng hóađược hình thành
* Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây có lẽ là hình thức tồn
tại nhiều nhất trên thị trường với tính chất gay go và khốc liệt Cạnh tranh này
có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp nhằm chiếm thị phần và thu hútkhách hàng
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:
* Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Đây là hình thức cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hànghóa hoặc dịch vụ nào đó, trong đó các đối thủ tìm cách thôn tính lẫn nhau,giành giật khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trường Biện pháp cạnh
Trang 8tranh chủ yếu của hình thức này là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất laođộng, giảm chi phí Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành làm cho kỹ thuậtphát triển, điều kiện sản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị hàng hóa đượcxác định lại, tỷ suất sinh lời giảm xuống và sẽ làm cho một số doanh nghiệpthành công và một số khác phá sản, hoặc sát nhập.
* Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
khác nhau trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao nhất, sự cạnhtranh này hình thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngànhthông qua sự dịch chuyển của các ngành với nhau
Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh trên thị trường:
* Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mà ở đó không có người
sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thịtrường, làm ảnh hưởng đến giá cả Cạnh tranh hoàn hảo được mô tả: Tất cảcác hàng hóa trao đổi được coi là giống nhau, tất cả những người bán vàngười mua đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc muahoặc bán, trao đổi; không có gì cản trở việc gia nhập hay rút khỏi thị trườngcủa người mua hay người bán Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh cácdoanh nghiệp phải tự tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sựkhác biệt về sản phẩm của mình so với các đối thủ khác
* Cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trường
khi các điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏamãn Các loại cạnh tranh không hoàn hảo gồm: Độc quyền; Độc quyền nhóm;Cạnh tranh độc quyền; Độc quyền mua; Độc quyền nhóm mua Trong thịtrường cũng có thể xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo do những người bánhoặc người mua thiếu các thông tin về giá cả các loại hàng hóa được trao đổi
1.2.2 Khái niệm cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì năng lựccạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị
Trang 9trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảmthực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêucủa doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt
ra Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt
được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xãhội, nâng cao đời sống của nhân dân
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng
thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
và ngoài nước Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó cóđược
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần
của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường Khả năng cạnh tranh của sảnphẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó Nó dựa vào chấtlượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sảnphẩm dịch vụ đó
1.2.2.2 Khái niệm về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và những đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và
là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế NHTM cũng tồn tại vì mục đích cuốicùng là lợi nhuận Vì thế, các NHTM cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấpsản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, vớimức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác,
độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần đểđạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng Do vậy, cạnh tranh trong NHTMcũng là sự tranh đua, giành giật khách hàng dựa trên tất cả những khả năng
mà ngân hàng có được để đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấpnhững sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, có sự đặc trưng riêng của mình so
Trang 10với các NHTM khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợinhuận ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường.Với những đặc điểm chuyên biệt của mình, sự cạnh tranh trong lĩnh vựcngân hàng cũng có những đặc thù nhất định:
- Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng có liên quan trực tiếp đến
tất cả các ngành, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội
Do đó:
* NHTM cần có hệ thống sản phẩm đa dạng, mạng lưới chi nhánh rộng
và liên thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bất kỳ vịtrí địa lý nào
* NHTM phải xây dựng được uy tín, tạo được sự tin tưởng đối với kháchhàng vì bất kỳ một sự khó khăn nào của NHTM cũng có thể dẫn sự suy sụpcủa nhiều chủ thể có liên quan
- Thứ hai, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là dịch vụ, đặc biệt là
dịch vụ có liên quan đến tiền tệ Đây là một lĩnh vực nhạy cảm nên:
* Năng lực của đội ngũ nhân viên ngân hàng là yếu tố quan trọng nhấtthể hiện chất lượng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng Yêu cầu đối với đội ngũnhân viên ngân hàng là phải tạo được sự tin tưởng với khách hàng bằng kiếnthức, phong cách chuyên nghiệp, sự am hiểu nghiệp vụ, khả năng tư vấn vàđôi khi cả yếu tố hình thể
* Dịch vụ của ngân hàng phải nhanh chóng, chính xác, thuận tiện, bảomật và đặc biệt quan trọng là có tính an toàn cao đòi hỏi ngân hàng phải có cơ
sở hạ tầng vững chắc, hệ thống công nghệ hiện đại Hơn nữa, số lượng thôngtin, dữ liệu của khách hàng là cực kỳ lớn nên yêu cầu NHTM phải có hệthống lưu trữ, quản lý toàn bộ các thông tin này một cách đầy đủ mà vẫn cókhả năng truy xuất một cách dễ dàng
* Ngoài ra, do dịch vụ tiền tệ ngân hàng có tính nhạy cảm nên để tạođược sự tin tưởng của khách hàng chọn lựa sử dụng dịch vụ của mình, ngânhàng phải xây dựng được uy tín và gia tăng giá trị thương hiệu theo thời gian
Trang 11- Thứ ba, để thực hiện kinh doanh tiền tệ, NHTM phải đóng vai trò tổ
chức trung gian huy động vốn trong xã hội Nguồn vốn để kinh doanh củangân hàng chủ yếu từ vốn huy động được và chỉ một phần nhỏ từ vốn tự cócủa ngân hàng Do đó yêu cầu ngân hàng phải có trình độ quản lý chuyênnghiệp, năng lực tài chính vững mạnh cũng như có khả năng kiểm soát vàphòng ngừa rủi ro hữu hiệu để đảm bảo kinh doanh an toàn, hiệu quả
- Cuối cùng, mặt hàng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là
một công cụ được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ Hoạt động kinh doanh củaNHTM ngoài tuân thủ các quy định chung của pháp luật còn chịu sự chi phốibởi hệ thống luật pháp riêng cho NHTM và chính sách tiền tệ của Ngân hàngTrung ương
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM
Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng cóhiệu quả các lợi thế so sánh, để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh vớicác NHTM khác
Năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng trong ngành về cơ bản cũnggiống như năng lực cạnh tranh của các công ty sản xuất nhưng do sản phẩmcủa ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ, vì vậy các yếu tố ảnh hưởng đến nănglực cạnh tranh của ngân hàng có sự khác biệt so với một doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh thông thường
1.2.3.1 Môi trường vĩ mô
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp các nhà quản trị ngân hàng trả lờicho câu hỏi: Ngân hàng đang trực diện với những gì?
Yếu tố luật pháp, chính phủ và chính trị
Luật pháp, Chính phủ và chính trị là một yếu tố mang tính chất xúctác rất quan trọng đối với sự phát triển của bất kỳ ngành nào ở mộtnước Đối với lĩnh vực ngân hàng, luật pháp, chính phủ và chính trị lạicàng đóng một vai trò quan trọng
Trang 12Chính trị, Chính phủ và luật pháp tác động đến sự phát triển của các ngânhàng thông qua: các điều lệ hoặc sự bác bỏ các quy định của chính phủ, sự ổnđịnh của chính quyền, những khuyến khích hoặc kích thích đặc biệt, mức trợcấp của chính phủ, luật chống độc quyền, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ,thuế khóa của chính phủ, các cam kết đa phương,…
Yếu tố công nghệ và kỹ thuật
Yếu tố công nghệ và kỹ thuật là thành phần ngày càng quan trọng nhấttrong lĩnh vực ngân hàng Các yếu tố kỹ thuật công nghệ có thể được phảnánh thông qua các chỉ tiêu như: số lượng và trình độ nhân lực về nghiên cứu
và phát triển; việc bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; những sản phẩmmới ra đời; sự chuyển giao kỹ thuật mới; dung lượng và tính ổn định củađường truyền quốc gia; các quy định pháp lý liên quan đến bảo mật và cácgiao dịch điện tử; các chi phí sử dụng công nghệ…
Những yếu tố văn hóa, xã hội, địa lý và nhân khẩu
Năng lực cạnh tranh của một ngành có thể chịu tác động rất nhiều bởimột số yếu tố về văn hóa, xã hội, địa lý và nhân khẩu Những đặc điểm đó cótác động đến nhiều mặt của một ngành và trong lĩnh vực ngân hàng các đặcđiểm đó tác động nhiều nhất đến yếu tố con người thông qua việc tác độngđến nhu cầu và nguồn nhân lực
Có thể kể đến những đặc điểm văn hóa, xã hội, địa lý, nhân khẩu ảnhhưởng đến hoạt động ngân hàng như: lòng tin của dân chúng đối với ngânhàng; thói quen tiêu dùng và tiết kiệm của người dân; trình độ dân trí và khả
Trang 13năng hiểu biết về các dịch vụ của ngân hàng, thái độ đối với nghề nghiệp, sựbiến động của dân số theo giới tính, tuổi, thành phố, vùng,…
1.2.3.2 Môi trường vi mô
So với môi trường vĩ mô thì các yếu tố của môi trường vi mô thường đơn
lẻ, tác động trực tiếp đến hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức Mỗimột tổ chức thường chỉ có một môi trường vi mô mang tính đặc thù của mình.Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và các yếu tố ngoạicảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trongngành Michael Porter đã đúc kết năm yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh,người mua (người sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng), người cung cấp(cũng là khách hàng nhưng với vai trò là người gửi tiền), các đối thủ mới tiềm
ẩn, và các sản phẩm thay thế
Hình 1.1 Áp lực cạnh tranh trong ngành (M Porter)
Đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Sự tranh đua giữa các doanh nghiệp hiện có mặt trong ngành
Người mua
Các đối thủ mới tiềm ẩn
Sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế Nhà cung ứng
Trang 14Thuật ngữ đối thủ cạnh tranh được đề cập nhiều nhất trong các vấn đềliên quan đến quản trị doanh nghiệp và marketing doanh nghiệp Đối thủ cạnhtranh của một NHTM (sau đây gọi tắt là đối thủ cạnh tranh) là tập hợp cácchủ thể kinh doanh thực hiện cung cấp sản phẩm dịch vụ thỏa mãn các nhucầu về ngân hàng – tài chính với những ảnh hưởng làm suy giảm lợi ích củaNHTM trong phạm vi không gian, thời gian nhất định Do đó, phân tích đốithủ cạnh tranh trở thành một phần quan trọng và tất yếu trong công tác lập vàtriển khai kế hoạch chiến lược tại mỗi NHTM.
Khách hàng (người mua)
Khách hàng trung thành là một lợi thế lớn của ngân hàng Sự trung thànhcủa khách hàng được tạo dựng bởi sự thỏa mãn những nhu cầu của kháchhàng và mong muốn làm tốt hơn
Sản phẩm, dịch vụ thay thế
Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận củangành Nếu không chú ý đến các sản phẩm thay thế, doanh nghiệp có thể bịtụt hậu Sản phẩm thay thế phần lớn là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ
Vì vậy, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh buộc các ngân hàng phải chú ý vàdành nguồn lực để phát triển các sản phẩm mới có cùng công năng nhằm thaythế sản phẩm hiện tại
1.2.4 Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.4.1 Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của NHTM được thể hiện qua các yếu tố sau:
Trang 15- Vốn tự có:
Về mặt lý thuyết, vốn điều lệ và vốn tự có đang đóng vai trò rất quantrọng trong hoạt động ngân hàng Vốn điều lệ cao sẽ giúp ngân hàng tạođược uy tín trên thị trường và tạo lòng tin nơi công chúng Vốn tự có thấpđồng nghĩa với sức mạnh tài chính thấp Theo quy định của Ủy ban Bassel,vốn tự có của NHTM phải đạt tối thiểu 8% trên tổng tài sản có rủi rochuyển đổi của ngân hàng đó Đó là điều kiện đảm bảo an toàn cho hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng
- Quy mô và khả năng huy động vốn:
Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hìnhhoạt động kinh doanh của các ngân hàng Khả năng huy động vốn còn thểhiện tính hiệu quả, năng lực và uy tín của ngân hàng đó trên thị trường Khảnăng huy động vốn tốt cũng có nghĩa là ngân hàng đó sử dụng các sản phẩmdịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được khách hàng
- Khả năng thanh khoản:
Theo chuẩn mực quốc tế, khả năng thanh khoản của ngân hàng thể hiệnqua tỷ lệ giữa tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và tài sản “Nợ” phải thanhtoán ngay Chỉ tiêu này đo lường khả năng ngân hàng có thể đáp ứng đượcnhu cầu tiền mặt của người tiêu dùng Khi nhu cầu về tiền mặt của người gửitiền bị giới hạn, thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm một cách đáng kể, kếtquả là NHTM đó sẽ phá sản nếu điều đó xảy ra
- Khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của NHTM.Mức sinh lời được phân tích qua các thông số sau:
Lợi nhuận ròng ROA=
Tổng tài sản Lợi nhuận ròng ROE =
Vốn chủ sở hữu
Trang 16ROA: thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản – đánh giá công tácquản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàngthành thu nhập ròng.
ROE: thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu
Chất lượng tín dụng thể hiện chủ yếu thông qua tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng
nợ Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy chất lượng tín dụng của NHTM đó tốt, tìnhhình tài chính của ngân hàng đó lành mạnh và ngược lại thì tình hình tài chínhcủa ngân hàng đó lành mạnh và ngược lại thì tình hình tài chính của NHTM
đó cần được quan tâm
1.2.4.2 Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ
Với đặc tính riêng của ngành ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ hầu nhưkhông có sự khác biệt thì các NHTM phát huy khả năng cạnh tranh của mìnhkhông chỉ bằng những sản phẩm cơ bản mà còn thể hiện tính độc đáo, sự đadạng của sản phẩm dịch vụ của mình
Một ngân hàng mà có thể tạo ra sự khác biệt riêng cho từng loại sảnphẩm của mình trên cơ sở những sản phẩm truyền thống sẽ làm cho danh mụcsản phẩm của mình trở nên đa dạng hơn, điều này sẽ đáp ứng được hầu hết
Trang 17các nhu cầu khác nhau của khách hàng khác nhau, từ đó dễ dàng chiếm lĩnhthị phần và làm tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng.
Ngoài ra, các NHTM còn sử dụng các sản phẩm dịch vụ bổ trợ khác đểthu hút khách hàng, tạo thu nhập cho ngân hàng như cung cấp sao kê định kỳ,
tư vấn tài chính,…
1.2.4.3 Nguồn nhân lực
Trong một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như NHTM thì yếu tố conngười có vai trò quan trọng trong việc thể hiện chất lượng của dịch vụ Độingũ nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách hàngnhững cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thờitạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Đó chính là những đòi hỏiquan trọng đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng chiếmgiữ thị phần cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnhtranh của mình
Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của các NHTM phải được xemxét trên cả hai khía cạnh số lượng và chất lượng lao động
Về số lượng lao động:
Để có thể mở rộng mạng lưới nhằm tăng thị phần và phục vụ tốt kháchhàng, các NHTM nhất định phải có lực lượng lao động đủ về số lượng Tuynhiên cũng cần so sánh chỉ tiêu này trong mối tương quan với hệ thống mạnglưới và hiệu quả kinh doanh để nhìn nhận năng suất lao động của người laođộng trong ngân hàng
Về chất lượng lao động:
Chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng thể hiện qua các tiêu chí:
- Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động: bao gồm trình độ học vấn vàcác kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học, khả năng giao tiếp, thuyết trình, raquyết định, giải quyết vấn đề,… Tiêu chí này khá quan trọng vì nó là nền tảngthể hiện khả năng của người lao động trong ngân hàng có thể học hỏi, nắm bắtcông việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ
Trang 18- Kỹ năng quản trị đối với nhà điều hành, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ đối với nhân viên: đây là tiêu chí quan trọngquyết định đến chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng.NHTM cần một đội ngũ những nhà điều hành giỏi để giúp bộ máy vận hànhhiệu quả và một đội ngũ nhân viên với kỹ năng nghiệp vụ cao, có khả năng tưvấn cho khách hàng để tạo được lòng tin với khách hàng và ấn tượng tốt vềngân hàng Đây là những yếu tố then chốt cạnh tranh giành khách hàng để tạođược lòng tin với khách hàng và ấn tượng tốt về ngân hàng Đây là những yếu
tố then chốt giúp ngân hàng cạnh tranh giành khách hàng
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết địnhđối với năng lực cạnh tranh của một NHTM Chất lượng nguồn nhân lực làkết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ đồng thời lại chính là năng lực cạnhtranh của ngân hàng trong tương lai Có một đội ngũ cán bộ thừa hành vànhân viên giỏi, có khả năng sáng tạo và thực thi chiến lược sẽ giúp ngân hànghoạt động ổn định và bền vững Có thể khẳng định nguồn nhân lực đủ về sốlượng và đầy về chất lượng là một biểu hiện năng lực cạnh tranh cao củaNHTM
1.2.4.4 Năng lực công nghệ.
Trong lĩnh vực ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong nhữngyếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của các NHTM Để nâng cao chất lượngsản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng thì nhu cầucông nghệ là vô cùng quan trọng Công nghệ sẽ góp phần tạo nên nhữngchuyển biến mang tính độc đáo và tiện ích hơn, nó giúp các NHTM Ngàynay, các NHTM đang triển khai, phát triển những sản phẩm ứng dụng côngnghệ cao, và sử dụng các sản phẩm dịch vụ mang tính chất công nghệ làmthước đo cho sự cạnh tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán và các sảnphẩm dịch vụ điện tử khác
Trong diễn đàn quốc tế “banking vietnam” khẳng định việc sử dụng côngnghệ thông tin là công cụ chính để khẳng định năng lực cạnh tranh của các
Trang 19NHTM, sự phát triển các sản phẩm dịch vụ E-banking là xu hướng thờithượng, công nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các NHTM trong kinhdoanh.
1.2.4.5 Năng lực quản trị điều hành
Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinhdoanh của bất kỳ doanh nghiệp là vai trò của những người lãnh đạo doanhnghiệp, những quyết định của họ có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt độngcủa doanh nghiệp
Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trongngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, antoàn trong hoạt động ngân hàng Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố thenchốt để ngân hàng có một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn.Thông thường đánh giá năng lực quản trị, kiểm soát, điều hành của mộtngân hàng người ta xem xét đánh giá các chuẩn mực và các chiến lược màngân hàng xây dựng cho hoạt động của mình Hiệu quả hoạt động cao, có
sự tăng trưởng theo thời gian và khả năng vượt qua những bất trắc là bằngchứng cho năng lực quản trị cao của ngân hàng
Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân hàng là:
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: bao gồm chiến lược marketing(xây dựng uy tín, thương hiệu), phân khúc thị trường, phát triển sản phẩmdịch vụ,…
- Cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị ngânhàng hiệu quả
- Sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.2.4.6 Danh tiếng, uy tín và khả năng hợp tác
Hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng luôn gắn liền với yếu tố uy tín củaNHTM đó, tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định đến sự sốngcòn, đến hoạt động của NHTM với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của ngườitiêu dùng mang lại Vì thế, danh tiếng và uy tín của NHTM là yếu tố nội lực
Trang 20vô cùng to lớn, nó quyết định sự thành công hay thất bại cho ngân hàng đótrên thương trường Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng lưới hoạt động,tăng thu nhập phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của NHTM.
Tuy nhiên, uy tín của NHTM chỉ được tạo lập sau một khoảng thời giankhá dài thông qua hình thức sở hữu, đội ngũ nhân viên, việc ứng dụng các sảnphẩm mang tính công nghệ cao, việc đáp ứng đầy đủ và thỏa đáng các nhucầu của người tiêu dùng Vì vậy, để tạo được uy tín và danh tiếng trên thươngtrường, các NHTM phải nỗ lực và luôn luôn cải biến sản phẩm dịch vụ để đápứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
Ngày nay, ngoài danh tiếng và uy tín của mình, các NHTM còn phải thểhiện được sự liên kết lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh của mình, sự kiệnmột NHTM hợp tác với một TCTD có uy tín và danh tiếng khác trên thươngtrường, hoặc sự hợp tác chiến lược giữa các ngân hàng hay tổ chức tài chính,tập đoàn kinh tế lớn nào cũng góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh củaNHTM đó trên thương trường
1.2.5 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực NHTM
Một khi mà vấn đề cạnh tranh của các NHTM được xem là một trongnhững vấn đề sống còn của các NHTM thì các NHTM sẽ tìm đủ mọi cách đểgia tăng năng lực cạnh tranh của mình, điều này tất yếu sẽ có không ít cácNHTM sử dụng các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của mình Dưới đây
là một số các định nghĩa mà theo điều 16 Luật các Tổ chức tín dụng địnhnghĩa là cạnh tranh không lành mạnh:
Trang 21- Lạm dụng việc tăng lãi suất để thu hút tiền gửi.
- Lạm dụng cơ chế lãi suất để cạnh tranh trong cho vay (chẳng hạn nhưmột số TCTD không tuân thủ các nguyên tắc và điều kiện cấp tín dụng để thuhút khách hàng)
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là việc các NHTM sử dụng nhữngchương trình, cách thức khác nhau nhằm gây ra sự hiểu lầm, hoặc dễ gây ra
sự hiểu lầm của người tiêu dùng về việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ củamình, hoặc bán những sản phẩm dịch vụ của mình dưới giá thành, mà có thểgây thiệt hại đến các TCTD khác hoặc cho người tiêu dùng, hoặc cho nềnkinh tế
1.3 Những thành tựu và thách thức của ngành ngân hàng
1.3.1 Những thành tựu
Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chứcthương mại thế giới, những cơ hội, thách thức đang mở ra với toàn hệ thốngNgân hàng Việt Nam nói riêng và toàn bộ các ngành kinh tế khác nói chung.Đến nay, ngành Ngân hàng chúng ta đã đạt được những thành tựu như sau:
Về phía ngân hàng nhà nước:
- Đã và đang hoàn thiện dự thảo luật NHNN và luật các tổ chức tín dụng
- Đã khẩn trương dự thảo luật giám sát an toàn hoạt động ngân hàng,Luật bảo hiểm tiền gửi để trình Chính phủ trong thời gian tới
- Đã xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai về đề án thanh toánkhông dùng tiền mặt giai đoạn 2011 – 2015 theo quyết định 291/TTg củaChính phủ
Về phía ngân hàng thương mại:
- Năm 2010, là năm hệ thống các TCTD có tốc độ tăng trưởng rất lớn vềtài sản có, dư nợ tín dụng, huy động vốn và nguồn vốn chủ sở hữu Tổng tàisản có của hệ thống các TCTD tăng trưởng khoảng 44%, tổng dư nợ cho vaynền kinh tế và tổng vốn huy động tăng khoảng 41 – 42%, đặc biệt là nguồnvốn chủ sở hữu, chủ yếu là vốn điều lệ Vốn điều lệ của các NHTM quốc
Trang 22doanh tăng khoảng 57% trong khi đó NHTMCP tăng đến 70% Các NHTMkinh doanh đều có lãi, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ giảm xuống 2%.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động NHTM được tăngcường hơn, những sản phẩm mang đậm tính công nghệ cao ngày càng đượcphát triển, đặc biệt là sản phẩm thẻ, sản phẩm E – Banking, thanh toán khôngdùng tiền mặt…
- Sự hợp tác giữa các NHTM trong nước và TCTD nước ngoài nhằm traođổi công nghệ, kinh nghiệm quản lý cũng như tiềm lực tài chính của cácNHTM trong nước ngày một gia tăng Giữa NHTM và các tập đoàn tài chính
có uy tín trong nước như điện lực, bảo hiểm, bưu chính…nhằm gia tăng nănglực tài chính, cung cấp sản phẩm trọn gói đã được các NHTM xem là tiêu chí
để cạnh tranh
1.3.2 Những thách thức phải đối mặt trong những năm tới
Với những thành tựu mà ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế ViệtNam nói chung đã đạt được trong năm 2010 Kinh nghiệm quản lý vĩ mô củaChính phủ và NHNN trong việc phối hợp hài hòa giữa chính sách tài chính vàCSTT để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Sự tăng trưởng không bền vững của thịtrường chứng khoán, thị trường bất động sản năm 2010 Cùng với tính non trẻtrong công tác quản trị đều hành, quản trị hoạt động kinh doanh của cácNHTM Việt Nam và xu thế cạnh tranh mới của ngành ngân hàng do hội nhậpmang lại sẽ đẩy các NHTM Việt Nam đứng trước những khó khăn và tháchthức Có thể nói, các TCTD Việt Nam đang phải đối mặt với những rủi rotrọng yếu là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro tỷ giá,rủi ro chiến lược… và những thách thức mà hội nhập sẽ mạng lại là:
- Trong năm 2010, tài sản có, tín dụng và huy động vốn của các TCTDđạt tốc độ tăng trưởng rất cao Cụ thể, có trên 50 TCTD có tốc độ tăng trưởngtín dụng trên 50% và 30 TCTD khác có tốc độ tăng trưởng dư nợ trên 100%
Sự tăng trưởng tín dụng quá nhanh của các TCTD hàm chứa dấu hiệu rủi ro
do sự nới lỏng trong kiểm soát tín dụng Sự tăng trưởng tín dụng của các
Trang 23TCTD trong năm qua được tiếp sức từ sự dư thừa của nguồn vốn của cácTCTD Phần lớn dư nợ của các TCTD trong năm qua được đầu tư vào bấtđộng sản và chứng khoán, hai lĩnh vực trên được đánh giá là có tốc độ tăng
trưởng quá nóng “bong bóng” Nên tốc độ tăng trưởng tín dụng ngoạn mục
trong năm qua của các TCTD đã trở thành thách thức đối với các TCTD trongcông tác quản trị rủi ro và cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trong năm2011
- Một số NHTM đang có chiến lược đa dạng hóa hoạt động và phát triểnthành tập đoàn tài chính đa năng, đa lĩnh vực trong khi đó hệ thống chínhsách, pháp luật quản lý, giám sát đối với các tập đoàn tài chính còn chưa đầy
đủ và sự hạn chế về năng lực quản trị của các NHTM trong việc nhận diện,đánh giá và kiểm soát toàn diện các rủi ro phát sinh từ sự đa dạng hóa hoạtđộng Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, trình độ quản trị của cácNHTM Việt Nam còn quá sơ khai, các chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi rochưa được áp dụng Nhiều ngân hàng chưa coi trọng đúng mức việc quản trịvốn theo mức độ rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn tính toán và duy trì chủ yếu để đápứng theo quy định của NHNN, quản trị rủi ro thị trường và rủi ro hoạt độngcòn yếu, hệ thống công nghệ thông tin báo cáo nội bộ còn nhiều hạn chế sovới các yêu cầu của quản trị rủi ro, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ chưahoạt động hữu hiệu
- Dưới tác động của tự do hóa tài chính, các thị trường tài chính trongnước có xu hướng ngày càng liên thông Bên cạnh đó, nguồn vốn tại cácTCTD trong quý I năm 2011 đã trái ngược hoàn toàn với năm 2010, một nămđược xem là thành công của các TCTD Việt Nam Các TCTD luôn tăng lãisuất huy động để huy động vốn nhằm bù đắp sự thiếu hụt thanh khoản Trongkhi đó, lãi suất liên ngân hàng đã tăng lên trên 18%/ năm Dấu hiệu này chothấy công tác quản trị thanh khoản của các TCTD đang là vấn đề quan trọng
và rủi ro lãi suất là tương đối lớn
Trang 24- Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng gia tăng và có xu hướng tăngmạnh hơn trong năm 2010 và những năm tiếp theo do có nhiều TCTD mớicủa Việt Nam và TCTD nước ngoài gia nhập thị trường Trong khi đó, cácTCTD hiện nay chưa xác định được cho mình chiến lược cạnh tranh, chiếnlược kinh doanh và phân đoạn thị trường phù hợp trong khi đó mạng lưới chinhánh của các TCTD tiếp tục được mở rộng như một phương thức cơ bảnchiếm lĩnh thị trường, duy trì và mở rộng thị phần cùng với thiếu hụt vềnguồn nhân lực có chất lượng cao hạn chế về năng lực quản trị, điều hành,công nghệ góp phần làm tăng chi phí, rủi ro chiến lược và rủi ro hoạt độngcho các TCTD.
Trang 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương I đã nêu lên một cách khái quát về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng, những tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM dựa trên chính những đặc điểm của các NHTM và những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM Bên cạnh đó, chương I cũng nhìn nhận lại tình hình thị trường tài chính Việt Nam trong mấy năm trở lại đây bao gồm những thành tựu mà ngành ngân hàng đã đạt được, những thách thức mà ngành ngân hàng phải đối mặt trong những năm tiếp theo.
Những cơ sở lý luận này là tiền đề để phân tích năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Thái Nguyên trong chương 2, tiếp đó
là đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ABBANK Thái Nguyên trong chương 3.
Trang 26CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH – CHI NHÁNH THÁI
NGUYÊN (ABBANK THÁI NGUYÊN) 2.1 Tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của ABBANK Thái Nguyên
2.1.1 Lịch sử ra đời của ABBANK
Tên doanh nghiệp: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNHTên viết tắt: ABBANK
Địa chỉ: 170 Hai Bà Trưng, phường Đa Kao, Quận 1, TP.HCM, Việt Nam.Điện thoại: (84-8)38 244855 Fax: (84-8)38 244856
Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK) được thành lập vào tháng 5 năm1993
Năm 2004: ABBANK tăng vốn điều lệ lên 70,04 tỷ đồng.
Năm 2005: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trở thành cổ đông chiến lược
của ABBANK Các cổ đông lớn khác gồm: Tổng Công ty tài chính dầu khí(PVFC), Tổng công ty Xuất Nhập Khẩu Hà Nội (GELEXIMCO)
Năm 2006: Vốn điều lệ tăng từ 165 tỷ đồng vào đầu năm lên 1.131 tỷ đồng
vào cuối năm
Trang 27- ABBANK tăng vốn điều lệ lên 2.705 tỷ đồng.
- Tháng 12/2009, ABBANK chính thức tăng vốn điều lệ lên 3.482 tỷđồng
- Tháng 9/2009, ABBANK chính thức khai trương Hội sở mới tại 170Hai Bà Trưng, P Đa Kao, Q.1 và triển khai giao dịch ngoài Sở giaodịch
- ABBANK công bố hợp tác với Prudential Việt Nam và ngân hàngDeutsche bank
Trang 28Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK) là một trong 10 ngân hàng
TMCP có vốn điều lệ lớn nhất VN hiện nay Tính đến tháng 12/2010, vốnđiều lệ của ABBANK đạt trên 3.830 tỷ đồng Sau hơn 17 năm thành lập vàphát triển, ABBANK đã trở thành cái tên thân thuộc với gần 10.000 kháchhàng doanh nghiệp và trên 100.000 khách hàng cá nhân tại 29 tỉnh thành Tại ABBANK, khách hàng không chỉ hài lòng với chất lượng sản phẩmlinh hoạt hiện đại, với dãy sản phẩm đa dạng phong phú, mà còn bởi chấtlượng phục vụ chuyên nghiệp thân thiện Với sự hỗ trợ từ cổ đông chiến lượctrong nước là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đối tác chiến lược nướcngoài là Maybank - Ngân hàng lớn nhất Malaysia, và các đối tác khác nhưPrudential, Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPost), Tổng Công ty Viễnthông Quân đội Viettel…, ABBANK đang tiến gần hơn tới mô hình một “siêuthị tài chính” hiện đại
2.1.3 Khái quát về ABBANK chi nhánh Thái Nguyên
2.1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tên giao dịch: Ngân Hàng TMCP An Bình - Chi nhánh Thái Nguyên
Viết tắt: ABBANK Thái Nguyên
Địa chỉ: 140 Đường Hoàng Văn Thụ, Phường Hoàng Văn Thụ, TP TháiNguyên
Ngân hàng TMCP An Bình – chi nhánh Thái Nguyên có tiền thân làPhòng Giao Dịch Thái Nguyên trực thuộc Ngân hàng TMCP An Bình – Chinhánh Hà Nội được thành lập tháng 12 năm 2007
Đến ngày 13/09/2010, Phòng Giao Dịch Thái Nguyên được nâng cấplên thành Chi nhánh Thái Nguyên
Ngân Hàng TMCP An Bình - Chi nhánh Thái Nguyên là một ngânhàng thương mại chuyên nghiệp, phạm vi hoạt động chủ yếu là huy động vốntrong các tầng lớp dân cư, các thành phần kinh tế khác và cho vay trong nhiềulĩnh vực công - thương nghiệp, giao thông vận tải và dịch vụ… Đầu năm
2009, ngân hàng mở rộng thêm hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh
Trang 29ngoại tệ Là một chi nhánh trực thuộc ABBANK, ABBANK- Chi nhánh TháiNguyên hoạt động dựa vào nguồn vốn huy động tại chỗ và nguồn vốn điều
hoà từ Hội sở ABBANK, ABBANK với mục tiêu chiến lược là “trao giải pháp, nhận nụ cười” đã và đang đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh, hiện
đại hoá công nghệ ngân hàng Những năm qua chi nhánh ngân hàng khôngngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên và đạt được những thành công, không ngừnglớn mạnh với những nội dung đa dạng hoá kinh doanh và hiệu quả
2.1.3.2 Lĩnh vực kinh doanh của ABBANK Thái Nguyên
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức: tiền gửi có
kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư vàphát triển của các tổ chức
- Vay vốn của ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá
- Hùn vốn và liên doanh
- Làm dịch vụ thanh toán nội địa và quốc tế
- Tư vấn tài chính
- Tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án
2.1.3.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của ABBANK Thái Nguyên
Trang 30Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của ABBANK Thái Nguyên
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính ABBANK Thái Nguyên)
Nhận xét về cơ cấu tổ chức
Qua sơ đồ 2.1, cơ cấu tổ chức của ABBANK-Thái Nguyên đã thể hiện sựquản lý bao quát của ban giám đốc xuống các phòng ban chức năng, điều nàyđảm bảo cho nhà quản lý có thể trực tiếp điều hành và nắm bắt tình hình hoạtđộng của toàn chi nhánh dễ dàng Bên cạnh đó, việc phân chia các phòng banchức năng thành các phòng cụ thể theo từng nhiệm vụ đã làm cho công việccủa các phòng tập trung vào một mảng công việc Sự phân chia này sẽ đảmbảo công việc của các phòng chức năng không bị đan xen, chồng chéo lẫnnhau, từ đó nâng cao năng suất lao động của nhân viên Chúng ta có thể nhậnthấy sự tách biệt giữa bộ phận khách hàng Doanh nghiệp và bộ phận kháchhàng Cá nhân đã được tách riêng, vì vậy mà ngân hàng có thể tập trung phục
vụ riêng cho từng nhóm khách hàng tiềm năng của mình
Phòng Hành chính
Phòng Quan
hệ khách hàng
Bộ phận Quan hệ khách hàng cá nhân
Bộ phận Quan hệ khách hàng doanh nghiệp
Phòng Tài
chính – Kế
toán
Trang 312.2 Tình hình hoạt động của ABBANK Thái Nguyên
2.2.1 Các sản phẩm chủ yếu của ABBANK Thái Nguyên
- Sản phẩm tín dụng: Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay thì hiện tại sảnphẩm tín dụng của ABBANK Thái Nguyên gồm có: Cho vay tiêu dùng (mua
xe, mua nhà trả góp bằng lương, bằng thu nhập, mua sắm vật dụng gia đình,
…); Cho vay kinh doanh bất động sản; Cho vay kinh doanh chứng khoán;Cho vay du học; Cho vay đi lao động nước ngoài; Cho vay bổ sung vốn lưuđộng sản xuất kinh doanh; Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu; Cho vay mua sắmtài sản cố định, đầu tư dự án
- Sản phẩm huy động vốn gồm: Tiền gửi không kỳ hạn; Tiền gửi thanh toán;Tiền gửi tiết kiệm (Tiền gửi tiết kiệm đảm bảo bằng vàng, tiền gửi bậc thang);Chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn; Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn; Tiền gửi củangân hàng khác
- Sản phẩm bảo lãnh trong nước bao gồm: Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thựchiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh hoàn thanh toán; Bảo lãnh bảohành công trình, thiết bị; Bảo lãnh vay vốn; Bảo lãnh khác
- Sản phẩm thanh toán quốc tế: Mở L/C; Ủy nhiệm chi; Ủy nhiệm thu; Nhờthu; Chuyển tiền; Chiết khấu bộ chứng từ
- Sản phẩm dịch vụ: Dịch vụ kiều hối; Dịch vụ chi trả Western Union; Dịch
vụ thẻ; Dịch vụ thu, chi hộ; Dịch vụ trả lương qua thẻ; Dịch vụ chuyển tiềntrong nước; Dịch vụ séc; Dịch vụ ngân quỹ; Dịch vụ tài khoản; Dịch vụ thanhtoán đa biên; Dịch vụ mua bán ngoại tệ
- Sản phẩm ngân hàng điện tử bao gồm: SMS banking; Internet banking;Vntopup
2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ABBANK Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2010
2.2.2.1 Vốn tự có
Trang 32Vốn tự có hay vốn chủ sở hữu của NHTM là số vốn thuộc quyền sở hữu củaNHTM, nó bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và các tài sản nợ khác theoquy định Vốn tự có là một yếu tố quan trọng đối với một NHTM trong quátrình hoạt động kinh doanh Bởi vì, vốn tự có sẽ thể hiện được thế mạnh tàichính của một ngân hàng, đồng thời nó cũng đảm bảo được độ an toàn tronghoạt động kinh doanh của các NHTM.
Tuy nhiên, do ABBANK - Thái Nguyên là một chi nhánh nên vốn tự códùng hoạt động kinh doanh là nguồn vốn điều chuyển từ hội sở chính Nguồnvốn này được điều chuyển dựa vào những nhu cầu phát sinh từ thực tế của Chinhánh Hội sở chính điều hòa vốn về chi nhánh bằng cách thanh toán bù trừ tạiNgân hàng nhà nước Như vậy, khi đánh giá về chỉ tiêu vốn tự có củaABBANK - Thái Nguyên, ta có thể đánh giá nguồn vốn điều chuyển về Chinhánh Thái Nguyên qua các năm
Bảng 2.1 Tăng trưởng nguồn vốn
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 Tốc độ tăng trưởng (%) 2009/2008 2010/2009
Vốn điều
chuyển 1.108.421 1.183.985 1.029.799 6,82 -13,02Vốn huy
Tổng nguồn
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán ABBANK-Thái Nguyên)
Biểu đồ 2.1: Thể hiện cơ cấu nguồn vốn giai đoạn 2008-2010
Trang 33Vốn điều chuyển Vốn huy động
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán ABBANK-Thái Nguyên)
Theo số liệu ở bảng 2.1, qua 3 năm, nguồn vốn của ABBANK-TháiNguyên đã có biến động và có xu hướng giảm dần qua các năm Năm 2009,tổng nguồn vốn giảm xuống một lượng nhỏ và qua năm 2010, nó lại tiếp tụcgiảm mặc dù tốc độ có chậm hơn nhưng vẫn có giá trị tương đương năm
2009 Nói đến sự giảm xuống này, ta có thể tìm hiểu về sự biến động trongquá trình hoạt động kinh doanh ảnh hưởng đến nguồn vốn của ngân hàng
Từ năm 2008 sang năm 2009, vốn huy động của ABBANK-Thái Nguyên
đã bị giảm xuống đến hơn 25,17% Do nguồn vốn này giảm xuống nên ngânhàng đã phải gia tăng nguồn vốn điều chuyển về Chi nhánh Thái Nguyên(tăng 6,82%) nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh Phần vốn điều chuyểntăng lên là rất nhỏ so với sự giảm xuống của phần vốn huy động, nên tấtnhiên tổng nguồn vốn của ngân hàng bị giảm xuống
Đến năm 2010, nguồn vốn huy động tăng lên đáng kể, nguồn vốn nàytăng trên 22,22% Thế nhưng nguồn vốn của ngân hàng vẫn tiếp tục giảmxuống 3,14% Thực ra, nguyên nhân chính làm cho nguồn vốn củaABBANK-Thái Nguyên lại tiếp tục giảm vào năm 2010 cũng tương tự như ởnăm 2009, đó chính là do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động đến
Trang 34hoạt động của ngành tài chính ngân hàng và ABBANK-Thái Nguyên cũng
không nằm ngoài sự tác động đó
2.2.2.2 Tài sản
Tài sản có của mỗi ngân hàng thể hiện việc sử dụng nguồn vốn vào hoạt
động kinh doanh Chất lượng tài sản có tốt có nghĩa là nguồn vốn được sử
dụng hiệu quả Để đánh giá chỉ tiêu này, chúng ta có thể đánh giá thông qua
chất lượng từng loại cho vay, từng loại dịch vụ theo những chuẩn mực nhất
định để xem xét tính hợp lý trong cơ cấu tài sản có
Hệ số cơ cấu tài sản sinh lời và không sinh lời.
Hệ số cơ cấu này sẽ cho phép nhận định mức độ tận dụng các nguồn vốn
của ngân hàng để tối đa hóa lợi nhuận Đối với một NHTM tài sản có được
phân loại theo khả năng sinh lời của nó, khi đó tài sản sẽ được phân thành
nhóm tài sản sinh lời và nhóm tài sản không sinh lời Trong chỉ tiêu này, ta sẽ
phân tích cơ cấu của 2 nhóm tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời trong
tổng tài sản có Đối với ABBANK-Thái Nguyên, khoản mục tài sản sinh lời
đó chính là khoản mục cho vay của ngân hàng qua các năm Bởi vì đây là
khoản mục mang lại thu nhập chính cho ngân hàng
Trước tiên, ta sẽ tìm hiểu ABBANK-Thái Nguyên sử dụng nguồn vốn của
mình vào tài sản sinh lời như thế nào thông qua sự thay đổi tỷ trọng của loại
tài sản này trong tài sản có
Bảng 2.2 Cơ cấu tài sản có theo tài sản sinh lời và không sinh lời
Tài sản có
sinh lời 1.683.653 97,62 1.394.528 84,76 1.247.599 78,29Tài sản có
không sinh
lời
41.132 2,38 250.684 15,24 345.901 21,71
Trang 35Tổng 1.724.785 100,00 1.645.212 100,00 1.593.500 100,0
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán-ABBANK Thái Nguyên)
Với số liệu có được từ bảng 2.2, về mặt giá trị, ABBANK-Thái Nguyênđang giảm dần có nhóm tài sản sinh lời Đồng thời tỷ trọng của loại tài sảnnày cũng có xu hướng giảm qua các năm; nhưng mức độ giảm xuống làkhông đáng kể và tỷ trọng của nó vẫn chiếm đa số trong tổng tài sản có, thấpnhất là năm 2010 với trên 78%, vẫn đang là một tỷ trọng lớn Sự giảm bớt vềnguồn vốn mà ABBANK-Thái Nguyên đầu tư vào nhóm tài sản sinh lời đãđược chuyển sang nhóm tài sản còn lại là nhóm không sinh lời Nhóm tài sảnkhông sinh lời bao gồm tiền mặt, tiền gửi thanh toán tại NHNN, … được sửdụng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, phòng tránh rủi ro Cho nên sựtăng trưởng về tỷ trọng của tài sản không sinh lời sẽ làm giảm thu nhập củaABBANK-Thái Nguyên nhưng sẽ có thể phòng tránh rủi ro về thanh khoảncho ngân hàng Đây là một sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận mà khi kinhdoanh các NHTM phải chọn lựa
Đặc biệt cần chú ý khi phân tích chất lượng tài sản có của Thái Nguyên, ta nên đánh giá về tài sản sinh lời sâu hơn Bởi vì, tài sản sinhlời là nhóm tài sản chủ yếu mang lại nguồn thu nhập cho ABBANK-TháiNguyên; đồng thời cũng là nhóm tài sản ẩn chứa nhiều rủi ro nhất Dựa vàobảng tài sản có, ta có thể thấy chỉ có 2 loại tài sản sinh lời là cho vay và đầu
ABBANK-tư Nhưng trong đó, cho vay là tài sản chiếm tỷ trọng rất lớn Nên chất lượngtín dụng của những khoản vay này sẽ quyết định phần lớn chất lượng của tàisản có
Trang 37Doanh số cho vay Doanh số thu nợ
Dư nợ cho vay
ĐĐVT: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.2: Tình hình cho vay – thu nợ
Dựa vào các chỉ tiêu tín dụng tại bảng 2.3, ta nhận thấy doanh số cho vay củangân hàng tăng giảm không ổn định qua các năm Nhưng nếu đánh giá trên khoảngthời gian từ 2008 đến 2010 thì nhìn chung hoạt động tín dụng của ABBANK-TháiNguyên bị thu hẹp Tuy nhiên hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng lại rất tốt
và có xu hướng tăng hơn nữa qua các năm Có thể dựa vào 2 chỉ tiêu doanh số thunợ/ doanh số cho vay và thu nhập lãi cho vay/ tổng thu nhập để chứng minh chonhận xét này
Doanh số thu nợ/ doanh số cho vay của ABBANK-Thái Nguyên đều có giá trịtrên 92 % đến 121% cho thấy khả năng quản lý nợ vay của ngân hàng là tốt Ngoạitrừ phần nợ quá hạn của ngân hàng lại tăng và với tốc độ quá nhanh Mặc dù tỷ lệ
nợ quá hạn vẫn còn ở mức thấp (không quá 2,5%) thế nhưng giá trị nợ quá hạn lạităng rất nhanh ở năm 2009 (tăng gần 4 lần so với năm 2008) Ta có thể lý giải chotình trạng tín dụng không tốt này bằng cách phân tích tình hình kinh doanh của cáckhách hàng mà ABBANK-Thái Nguyên cho vay Trong khoảng thời gian 2008 –
2009, nền kinh tế Thái Nguyên có nhiều bất ổn vì những khó khăn khác nhau như:thị trường bất động sản đóng băng, nhiều dự án đầu tư bị treo vì nhiều lí do như:
Trang 38vay vốn của ngân hàng không có khả năng trả nợ.
2.2.2.3 Hiệu quả kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của ABBANK-Thái Nguyên qua các năm 2008-2010nhìn chung là tốt do kết quả kinh doanh qua các năm đều có lợi nhuận Theo báocáo kết quả hoạt động kinh doanh của ABBANK-Thái Nguyên qua các năm, chúng
ta nhận thấy rằng cả 3 năm vừa qua, lợi nhuận kinh doanh đều dương, có nghĩa làkinh doanh có lời
Bảng 2.4 Kết quả kinh doanh
(Nguồn:Phòng tài chính kế toán ABBANK-Thái Nguyên)
Theo số liệu trên, ABBANK-Thái Nguyên đã kinh doanh có lợi nhuận nhưngcon số lợi nhuận này đang có xu hướng giảm dần qua các năm Đặc biệt cần chú ýlợi nhuận trước thuế có xu hướng giảm ngày càng nhanh (từ 25% lên đến 50%).Chúng ta có thể lấy số liệu năm 2009 để làm ví dụ phân tích Sự giảm mạnh của lợinhuận trước thuế là do tốc độ tăng của thu nhập thấp hơn tốc độ tăng của chi phí.Nguyên nhân của vấn đề này là do sự tăng lên đáng kể của các chi phí Đầu tiên làchi phí huy động vốn tăng do tăng lãi suất huy động cạnh tranh với các ngân hàngkhác Đồng thời, do doanh số cho vay tăng cho thấy nhu cầu về vốn kinh doanhtăng lên trong khi vốn huy động bị giảm sút vào năm 2009 Từ đó, vốn điềuchuyển phải tăng lên để đảm bảo yêu cầu kinh doanh Chi phí cho vốn điều chuyển
Trang 390,73%) Chính vì các chi phí tăng lên quá nhiều mà nguồn thu lại không đủ bù đắpnên mới dẫn đến tình trạng lợi nhuận giảm Tất nhiên, việc sụt giảm về lợi nhuận
có thể do nhiều yếu tố tác động từ môi trường kinh doanh bên ngoài mà ngân hàngkhông thể kiểm soát Thế nhưng, trách nhiệm của những nhà quản lý là cần phải cónhững giải pháp chiến lược nhằm kiềm chế sự tác động đó
Trong 3 năm vừa qua, tại Thái Nguyên đã xuất hiện ngày càng nhiều nhữngngân hàng cạnh tranh, giá cả thị trường biến động mạnh mẽ… đã khiến cho môitrường kinh doanh của ABBANK-Thái Nguyên trở nên khắc nghiệt hơn Ta cũng
có thể nhận thấy sự thu hẹp quy mô hoạt động qua việc phân tích nguồn vốn củangân hàng ở trên Đây cũng là một nguyên nhân tác động khá mạnh vào hiệu quảkinh doanh của ngân hàng Chúng ta có thể kể đến như: sự cạnh tranh giữa cácngân hàng về lãi suất huy động đã khiến cho chi phí lãi huy động tăng cao, làmtăng chi phí kinh doanh, giảm lợi nhuận Đây là một bất lợi mà đối với bất kỳ ngânhàng nào cũng phải chấp nhận
Nhìn chung, đối với ABBANK-Thái Nguyên, việc duy trì được lợi nhuận quacác năm đã là một nỗ lực lớn Để làm được điểu này, chúng ta cần phải kể đến vaitrò quản lý điều hành của Hội sở chính nói chung và ban giám đốc ABBANK-TháiNguyên nói riêng Khả năng quản lý của họ đã giúp ABBANK-Thái Nguyên cónhững chính sách và hướng đi phù hợp trong điều kiện kinh doanh khó khăn
Ngoài ra, sự quản lý tốt sẽ giúp ngân hàng nâng cao được uy tín của mình trênthị trường Nó giúp cho hệ thống ABBANK-Thái Nguyên tạo được niềm tin ởkhách hàng cũng như các đối tác nhờ vào những chiến lược kinh doanh thu hútkhách hàng Hiện nay, ABBANK-Thái Nguyên có mối quan hệ tín dụng tốt với rấtnhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước được thể hiện qua doanh số cho vayqua các năm đều rất cao
Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
Trang 40nhất Và để đo lường được chỉ tiêu lợi nhuận thì chúng ta có thể sử dụng các chỉ sốnhư: hệ số thu nhập lãi, tỷ suất lãi gộp, tỷ suất doanh lợi, ROA, ROE…
Bảng 2.5 Các chỉ số tài chính đánh giá mức sinh lời
(Phòng tài chính – kế toán ABBANK Thái Nguyên)
Tỷ suất doanh lợi.
Chỉ số tài chính này giúp ta đánh giá mức thu nhập ngân hàng có được từ doanhthu Chỉ số này đã giảm dần qua các năm hoạt động kinh doanh của ABBANK-Thái Nguyên Năm 2008, chỉ số này còn khá cao 16,32% nhưng đã hạ thấp còn7,45% vào năm 2010 Những con số giảm xuống đã cho thấy thu nhập ròng củangân hàng đã giảm xuống khá nhiều Điều này có thể giải thích bằng nguyên nhânchi phí tăng lên nhiều so với thu nhập, làm cho thu nhập ròng giảm xuống nhanh.Thật vậy, dựa vào số liệu của ABBANK-Thái Nguyên, ta thấy năm 2009 so vớinăm 2008 thì tốc độ tăng của thu nhập thấp hơn so với tốc độ tăng của chi phí, cònnăm 2010 thì tốc độ giảm của thu nhập lại nhanh hơn của chi phí Vì thế mà thunhập ròng càng giảm qua các năm, dẫn đến tỷ suất này giảm xuống
Hệ số sử dụng tài sản.
Hoạt động của một NHTM là đem nguồn vốn có được đầu tư vào những loại tàisản khác nhau nhằm sinh lời Và hệ số sử dụng tài sản sẽ cho ta biết hiệu quả củaviệc đầu tư này Hệ số này của ABBANK-Thái Nguyên tiến triển rất khả quan quacác năm, tăng từ 7,83% lên đến 8,76% Con số này có thể hiểu là với 1 đồng tài sảntrong hoạt động kinh doanh của ABBANK-Thái Nguyên đem về mức doanh thu8,76% Thế nhưng sự tăng lên này đã không được giữ vững khi sang năm 2010, chỉ