1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế việt nam

74 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng suất các nhân tố tổng hợp (viết tắt tiếng Anh là TFP) là một trong những chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn và lao động, là căn cứ quan trọng để phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ của mỗi ngành, mỗi địa phương hay một quốc gia. Chính vì vậy năng suất các nhân tố tổng hợp đã trở thành chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, đang được nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước thuộc Tổ chức Năng suất Châu Á (viết tắt trong tiếng Anh là APO) quan tâm nghiên cứu để áp dụng. Với lý do trên, em quyết định chọn đề tài “Đánh giá vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp đế góp phần làm rõ ảnh hưởng của năng suất nhân tố tổng hợp tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong thời gian qua.

Trang 1

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục hình

Chương I Cơ sở lý luận về năng suất nhân tố tổng hợp và

1.1.3 Các nhân tố đánh giá năng suất nhân tố tổng hợp 81.1.4 Phương pháp đo lường tốc độ gia tăng năng suất tổng hợp 9

1.2.2 Một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế 12

1.3Vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế 20

Chương II Thực trạng vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp

2.1Thực trạng tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 222.1.1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 232.1.2 So sánh tốc độ tăng GDP của Việt Nam với một số nước châu Á 28

2.1.4 GDP bình quân đầu người với một số nước châu Á 31

2.2Thực trạng vấn đề năng suất nhân tố tổng hợp tại Việt Nam 32

2.3Đánh giá vai trò của TFP vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam 38

2.4.1 Vấn đề năng suất lao động và cơ cấu lao động 42

2.4.3 Nhận thức của các nhà hoạch định chính sách cũng như các

doanh nghiệp về vai trò và tác dụng của TFP còn hạn chế 51

Trang 2

Chương III Kinh nghiệm thành công của một số nước và một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của TFP Trong thời gian tới 53

3.1Kinh nghiệm thành công của một số nước châu Á 533.1.1 Hàn Quốc tăng tỷ trọng TFP thông qua đầu tư vào

3.1.2 Xin-ga-po với chiến lược phát triển nguồn nhân lực

3.2Một số kiến nghị và chính sánh nhằm nâng cao tỷ trọng và tác dụng

3.2.1 Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 573.2.2 Nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp 59

3.2.5 Hình thành phong trào năng suất rộng khắp trong cả nước và

Trang 3

APO: Tổ chức Năng suất châu Á (Asian Productivity Organization)CMKT: Chuyên môn kỹ thuật

CN-XD: Công nghiệp – xây dựng

FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Invesment)GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

GNI: Tổng thu nhập quốc dân (Gross National Income)

GNP: Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product)

KHKT: Khoa học kỹ thuật

NLN, TS: Nông lâm nghiệp, thủy sản

ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức (Offical Development Assistance)R&D: Nghiên cứu và phát triển (Research and Development)

TFP: Năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity)

Trang 4

Bảng 2.1 GDP và tốc độ tăng GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 23

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn quốc và các khu vực giai đoạn 2006 – 2014 24

Bảng 2.3 GDP bình quân đầu người Việt nam giai đoạn 2006 – 2014 30

Bảng 2.4 Một số chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2006 – 2014 34

Bảng 2.5 Hệ số đóng góp của lao động và vốn giai đoạn 2006 – 2014 35

Bảng 2.6 Tốc độ tăng TFP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 36

Bảng 2.7 Tỷ trọng đóng góp của tăng các yếu tố vào GDP 39

Bảng 2.8 GDP bình quân một lao động theo khu vực kinh tế 2007-2013 42

Bảng 2.9 GDP bình quân một lao động theo thành phần kinh tế 2007-2013 43

Bảng 2.10 Năng suất lao động giai đoạn 2007-2013 (PPP2005) 44

Bảng 2.11 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo ngành 45

Bảng 2.12 Lao động đang làm việc chia theo nghề nghiệp và trình độ CMKT 48

Bảng 2.13 Tỷ lệ thừa và thiếu kỹ năng theo một số đặc điểm người lao động 50

Trang 5

Hình 2.1 Tốc độ tăng GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 23

Hình 2.2 Tốc độ tăng GDP của nền kinh tế và các khu vực 25

Hình 2.3 Cơ cấu GDP theo ngành năm 2014 (ước tính) 27

Hình 2.4 Tốc độ tăng GDP Việt Nam so với một số nước châu Á giai đoạn 2010 – 2013 28

Hình 2.5 GDP của Việt Nam và một số nước châu Á theo giá thực tế 29

Hình 2.6 GDP bình quân đầu người với một số nước châu Á năm 2013 31

Hình 2.7 GDP bình quân đầu người tính năm 2013 31

Hình 2.8 Tốc độ tăng TFP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 37

Hình 2.9 Tốc độ tăng GDP, vốn cố định, lao động và TFP 38

Hình 2.10 Tỷ trọng đóng góp bình quân giai đoạn 2006 – 2010 40

Hình 2.11 Đóng góp của tăng các yếu tố vào GDP giai đoạn 2006 – 2014 41

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Để tồn tại và phát triển, thì bất kỳ một quốc gia nào cũng phải dựa vào sựtăng trưởng của chính mình Muốn đạt được sự tăng trưởng thì cần phải tăngnăng suất bởi vì tăng trưởng và tăng năng suất có quan hệ chặt chẽ với nhau, do

đó tăng năng suất có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và phát triển bền vữngcủa mỗi xã hội

Từ xưa tới nay các nhà học giả kinh điển cũng như hiện đại đều coi năngsuất đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và sự tiến bộchung của toàn nhân loại Năng suất tác động một cách tổng hợp đến tất cả cáchoạt động sản xuất của xã hội, là yếu tố cần thiết để nâng cao cuộc sống của conngười Tăng năng suất đảm bảo sự phồn vinh của mỗi quốc gia và đối với sự tiến

bộ của xã hội loài người nói chung Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậccủa khoa học kỹ thuật, xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế, tự dohoá thương mại và sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò tăng năng suất có một tầmcao mới Nâng cao năng suất được coi là thúc đẩy nội lực của các hoạt động kinhtế, là nguồn gốc, nền tảng của sự phát triển bền vững của xã hội

Năng suất các nhân tố tổng hợp (viết tắt tiếng Anh là TFP) là một trongnhững chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn và laođộng, là căn cứ quan trọng để phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế đánh giátiến bộ khoa học công nghệ của mỗi ngành, mỗi địa phương hay một quốc gia.Chính vì vậy năng suất các nhân tố tổng hợp đã trở thành chỉ tiêu quan trọngtrong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, đang được nhiều nước trên thế giới, trong đó

có các nước thuộc Tổ chức Năng suất Châu Á (viết tắt trong tiếng Anh là APO)quan tâm nghiên cứu để áp dụng

Với lý do trên, em quyết định chọn đề tài “Đánh giá vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam” làm khóa luận tốt

nghiệp đế góp phần làm rõ ảnh hưởng của năng suất nhân tố tổng hợp tới tăngtrưởng kinh tế tại Việt Nam trong thời gian qua

Trang 7

2 Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian qua, không có nhiều tác giả quan tâm tới vấn đề ảnh hưởng củaTFP tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Tuy nhiên, họ cũng đưa ra nhữngphương pháp và công thức tính tác động của TFP tới tăng trưởng Tiêu biểu làcác công trình:

Phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp theo cách tiếp cận thống kê của Phó Giáo sư Tiến sĩ Tăng Văn Khiên đã đề cập đến quá

trình hình thành công thức tính tỷ lệ tăng lên của kết quả sản xuất do nâng caonăng suất các nhân tố tổng hợp chung

Viện Năng suất Việt Nam cũng đưa ra một số bài báo khoa học về kháiniệm và cách tính TFP Ngoài ra, báo cáo năng suất của Viện Năng suất cũng cókhái quát qua đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế tuy nhiên, báo cáo chưađược cập nhật số liệu mới nhất

Ngoài ra còn một số công trình nhưng chỉ đưa ra được ảnh hưởng TFP lêntừng ngành nhỏ cụ thể hoặc của một tỉnh, doanh nghiệp nào đó mà các dữ liệuvẫn chưa được cập nhật đến thời gian gần đây

Chính vì thế, khóa luận “Đánh giá vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam” sẽ đánh giá ảnh hưởng của TFP vào

tăng trưởng, đưa ra những khó khăn mà Việt Nam đang gặp phải và kết hợp cácbài học kinh nghiệm từ các nước để rút ra những kiến nghị góp phần nâng cao tỷtrọng và tác dụng của TFP

3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu, bài viết đề cập đến vai trò của năng suất nhân tố

tổng hợp ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và câu hỏi đặt

ra là liệu TFP có tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế hay không

Về phạm vi nghiên cứu, giới hạn về thời gian của khóa luận từ năm 2006

đến năm 2014 Giới hạn về không gian là địa bàn Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu

Về phương pháp nghiên cứu, khóa luận sử dụng phương pháp tổng hợp –

phân tích, đưa ra những đánh giá dựa trên dẫn chưng và chứng minh bằng sốliệu cụ thể kết hợp với lý luận và thực tiễn bên cạnh việc mô hình hóa

Trang 8

Về nguồn số liệu, đề tài sử dụng nguồn số liệu từ trang web của Tổng cục

Thống kê, trang web của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Lao động Quốc tế.Ngoài ra, đề tài còn sử dụng số liệu trong Niên giám Thống kê và Báo cáo Điềutra Lao động và Việc làm Việt Nam

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về năng suất nhân tố tổng hợp và tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Chương 3: Kinh nghiệm thành công của một số nước và một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của TFP trong thời gian tới.

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc Sĩ Lê ThảoHuyền, người đã tận tình hỗ trợ về kiến thức chuyên môn, giúp đỡ em rất nhiềutrong thời gian hoàn thành khóa luận

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới nhà trường, thầy cô đã tạo điều kiện thuậnlợi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tại trường ĐạiHọc Ngoại Thương Hà Nội

Lời cuối cùng, em muốn cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ, độngviên tinh thần để giúp em vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình thựchiện khóa luận tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2015

Sinh viênNguyễn Trần Cường

Trang 9

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT NHÂN TỐ TỔNG HỢP

VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

1.1 Cơ sở lý luận về năng suất nhân tố tổng hợp

1.1.1 Khái niệm về năng suất

Quá trình sản xuất xã hội đòi hỏi phải có đủ 3 yếu tố tham gia: lao động,đối tượng lao động và tư liệu lao động

Lao động (con người) sử dụng tư liệu lao động, công cụ lao động, tác độngvào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ nhằm đáp ứng yêucầu sản xuất và tiêu dùng của cá nhân cũng như xã hội

Mối tương quan - giữa một bên là lao động, đối tượng lao động và tư liệulao động được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh và một bên là sảnphẩm được tạo ra trong quá trình đó; được gọi là năng suất

Theo ngôn ngữ hiện đại, phần lao động + đối tượng lao động + tư liệu laođộng đã sử dụng trong quá trình sản xuất được gọi là “đầu vào” Còn sản phẩmkết quả sản xuất được tạo ra tương ứng với đầu vào đã được sử dụng gọi là “đầura” Năng suất chính là quan hệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào

Vậy năng suất hiểu một cách khái quát nhất chính là quan hệ so sánh giữađầu ra và đầu vào

Mối quan hệ tích số giữa đầu ra và đầu vào này được thể hiện dưới côngthức sau:

Đầu ra = Năng suất * Đầu vào

Từ xa xưa, loài người đã mong muốn làm việc “ngày một tốt hơn”, “hômnay tốt hơn hôm qua, ngày mai tốt hơn hôm nay” Đó là ước mơ tự nhiên, là ham

mê bản chất nhất của con người; đó là niềm tin, hy vọng, là động lực nội tâm củamỗi con người, thôi thúc con người tìm mọi cách để làm việc sao cho đạt kết quảnhiều hơn, có năng suất cao hơn, với chất lượng tốt hơn, thúc đẩy sự phát triểnvà tiến bộ không ngừng của nhân loại

Trang 10

Tuy nhiên, khái niệm về năng suất được hình thành muộn hơn và cũng cóquá trình phát triển lịch sử của nó, từ thấp lên cao, từ giản đơn đến phức tạp vàđược hoàn chỉnh dần.

Khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu (khoảng cuối thế kỷthứ 18), cuộc cách mạng trong kỹ thuật sản xuất thay thế lao động thủ công bằnglao động cơ giới, chuyển từ công trường thủ công sang công xưởng sản xuất, vàcũng chính từ đó xuất hiện nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, mở rộng phâncông lao động xã hội, thì nền công nghiệp đã có những bước tiến nhảy vọt, “khảnăng, hiệu quả” của sản xuất đạt trình độ cao hơn hẳn trước đó, thì thuật ngữnăng suất cũng được bắt đầu xuất hiện Và cũng phải trải qua một thế kỷ mớihình thành rõ nét với ý nghĩa thông thường lúc đó như là một “khả năng sản xuấtcủa con người” - năng suất chỉ có giới hạn chủ yếu và đồng nhất với năng suấtlao động

Hiện nay, định nghĩa về năng suất được coi là có cơ sở khoa học và hoànchỉnh nhất là định nghĩa do Uỷ ban Năng suất thuộc Hội đồng Năng suất chinhánh châu Âu họp tại Roma năm 1959 đưa ra; định nghĩa này đã được các nước

thừa nhận và áp dụng; theo đó, năng suất là phong cách nhằm tìm kiếm sự cải

thiện không ngừng những gì đang tồn tại; đó là sự khẳng định rằng người ta có thể làm cho hôm nay tốt hơn hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay; hơn thế nữa, nó đòi hỏi những nỗ lực không ngừng để thích ứng các hoạt động kinh tế với những điều kiện luôn luôn thay đổi và việc áp dụng các lý thuyết và phương pháp mới.

Khái niệm mới về năng suất bao hàm nội dung trong khi coi trọng sử dụnghợp lý các yếu tố đầu vào với suất tiêu hao lao động và nguyên vật liệu thấp vàhàm lượng trí tuệ - khoa học công nghệ ngày càng cao Nói tới năng suất, người

ta chú trọng hơn yêu cầu tổng số đầu ra phải tăng lên, tăng nhanh hơn tổng sốđầu vào, để có ngày càng nhiều sản phẩm, nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng củadân cư, tạo thêm việc làm cho người lao động Theo một cách khác, tăng năngsuất không chỉ tăng thêm kết quả sản xuất của một đơn vị đầu vào mà còn phảităng thêm ngày càng nhiều số đơn vị có mức năng suất cao Điều đó có nghĩa là

Trang 11

tăng năng suất không được phép rút bớt việc làm, mà ngược lại tăng năng suấtphải gắn liền với tăng việc làm cho người lao động.

Cơ sở khoa học và thực tiễn của định nghĩa mới này xuất phát từ một sốnguyên nhân Thứ nhất, do cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ có bướcphát triển mới, nhanh chóng, vượt bậc, nên các quốc gia, các dân tộc có điềukiện xích lại gần nhau đã thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo xuhướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, tự do thương mại, với sự cạnh tranh gay gắt đểgiành và giữ ưu thế về chất lượng, thời gian và chi phí Như vậy, để tránh mọirủi ro và nguy cơ tụt hậu, các nhà sản xuất, kinh doanh và quản lý phải tính đếnhiệu quả tổng thể của sản xuất và quản lý để phát triển kinh tế, đồng thời phảihướng vào giải quyết được các vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường, nâng caochất lượng cuộc sống Thứ hai, ý nghĩa thực tiễn của năng suất theo định nghĩamới là nó luôn hướng con người tới cái mới, cái hoàn thiện bằng trí tuệ và ócsáng tạo với quyết tâm cao, với khát vọng mạnh mẽ, không tự mãn với những gì

đã có và luôn hướng tới và chấp nhận sự thay đổi

Năng suất theo cách tiếp cận mới phản ánh đồng thời tính hiệu quả, hiệulực, chất lượng, đổi mới của quá trình sản xuất và chất lượng cuộc sống ở mọicấp độ khác nhau Năng suất như vậy được hình thành với sự đóng góp của tất cảcác hoạt động trong một chuỗi các giai đoạn liên quan từ nghiên cứu, khảo sát,thiết kế, tiếp thị, sản xuất, cung ứng cho người tiêu dùng, … Với những nội hàmmới như vậy, năng suất đã trở thành công cụ quản lý, một thước đo của sự pháttriển

1.1.2 Khái niệm năng suất nhân tố tổng hợp

Khi đo lường năng suất có thể xem xét năng suất cho từng nhân tố, nhómhay toàn bộ các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất Việc đo lường năng suấtcho từng nhân tố thì đơn giản hơn nhưng sử dụng để phân tích thì rất khó khăn.Ví dụ nhờ đầu tư rất nhiều vào máy móc, còn lao động giữ nguyên về lượng lẫnchất thì năng suất lao động (NSLĐ) vẫn tăng Khi nghiên cứu các số liệu thống

kê, các nhà phân tích kinh tế đã phát hiện ra rằng, tại các nước có trình độ pháttriển cao, trong tốc độ tăng lên của kết quả sản xuất, sau khi loại trừ phần đónggóp do các yếu tố đầu tư thêm lao động và vốn, đất đai, tài nguyên, … thì vẫn

Trang 12

còn lại một phần dư đáng kể; và phần dư này tùy thuộc vào quá trình áp dụngngày càng nhiều hơn các tiến bộ khoa học, công nghệ, tri thức quản lý hiện đại.Hiểu một cách khái quát, thì phần “dôi ra” này chính là năng suất các nhân tốtổng hợp (TFP- Total Factor Productivity) Thuật ngữ tiếng Anh “Total FactorProductivity” được dịch ra tiếng Việt theo nhiều cách, có tài liệu dịch là “Tổngnăng suất nhân tố” hay như trong Báo cáo chỉ tiêu năng suất Việt Nam 2006-

2007 của Trung tâm Năng suất Việt Nam (2009), TFP được dịch là “Năng suấtcác yếu tố tổng hợp” Tuy nhiên, dưới góc độ của người viết, thuật ngữ này nênđược dịch là “Năng suất nhân tố tổng hợp”, căn cứ vào bản chất của vấn đề nàycũng như cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh của nó

Trong Báo cáo chỉ tiêu năng suất Việt Nam 2006-2007 của Trung tâm Năngsuất Việt Nam (2009): TFP là phản ánh sự đóng góp của các yếu tố vô hình nhưkiến thức - kinh nghiệm - kỹ năng lao động, cơ cấu lại nền kinh tế hay hàng hoá -dịch vụ, chất lượng vốn đầu tư mà chủ yếu là chất lượng thiết bị công nghệ, kỹnăng quản lý Tác động của nó không trực tiếp như năng suất bộ phận mà phảithông qua sự biến đổi của các yếu tố hữu hình, đặc biệt là lao động và vốn

Nói tóm lại, TFP là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng caohiệu quả sử dụng vốn và lao động, nhờ vào tác động của các nhân tố đổi mớicông nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động.Theo đó, chúng ta có thể chia kết quả sản xuất thành ba phần: (i) phần do vốn tạo

ra, (ii) phần do lao động tạo ra; (iii) và phần do nhân tố tổng hợp tạo ra Nhưvậy, không nhất thiết lúc nào cũng phải tăng lao động hoặc vốn để tăng đầu ra,mà có thể có đầu ra lớn hơn bằng cách sử dụng tối ưu nguồn lao động và vốn, cảitiến quá trình công nghệ, trình độ quản lý, trong đó các nhân tố đầu vào đượcphối hợp sử dụng tốt nhất Do đó, tăng TFP là chỉ tiêu phản ánh đích thực kháiquát về hiệu quả sử dụng vốn và lao động, là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chấtlượng tăng trưởng cũng như sự phát triển bền vững của nền kinh tế và là căn cứđể phân tích hiệu quả kinh tế vĩ mô và đánh giá sự tiến bộ khoa học và côngnghệ của mỗi ngành, mỗi địa phương và mỗi quốc gia TFP có thể thay đổi domột số nguyên nhân chủ yếu như thay đổi chất lượng nguồn lực lao động, thayđổi cơ cấu vốn, thay đổi công nghệ, phân bố lại nguồn lực và trình độ quản lý

Trang 13

Chỉ tiêu tốc độ tăng TFP phản ánh toàn diện về chiều sâu của quá trình sảnxuất, kinh doanh Chỉ có tăng trưởng kinh tế nhờ vào tăng TFP mới là sự tăngtrưởng có tính chất ổn định và bền vững Chỉ tiêu tốc độ tăng TFP cũng chính là

sự phản ánh sự tiến bộ về khoa học và công nghệ, thể hiện kết quả của việc cảitiến tổ chức sản xuất, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật,nâng cao chất lượng lao động Áp dụng chỉ tiêu TFP để đánh giá hoạt động sảnxuất của một đơn vị, một ngành hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân, không chỉkhuyến khích người sản xuất nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động để tăngTFP, mà còn có tác dụng động viên họ duy trì và mở rộng quy mô sản xuất Đâychính là một trong những đặc điểm quan trọng của việc áp dụng chỉ tiêu năngsuất theo cách tiếp cận mới với mục đích cuối cùng của nâng cao năng suất làtăng thêm nhiều sản phẩm vật chất và dịch vụ cho xã hội, và tạo thêm nhiều việclàm cho người lao động Chính vì vậy, TFP đã trở thành chỉ tiêu đặc biệt quantrọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, đang được nhiều nước trên thế giớiquan tâm nghiên cứu áp dụng

1.1.3 Các nhân tố đánh giá năng suất nhân tố tổng hợp

Thúc đẩy tăng TFP là một chiến lượng phát triển kinh tế bền vững đặc biệtquan trọng trong môi trường kinh tế toàn cầu hiện nay Chiến lược đòi hỏi sự đầu

tư liên tục vào giáo dục đào tạo và cơ cấu vốn với việc tái cơ cấu nền kinh tế.Hơn nữa sự tăng cường nhu cầu và sự cải tiến về công nghệ cũng rất cần thiếtcho chiến lượng phát triển kinh tế dựa trên TFP

Các nhân tố đánh giá năng suất nhân tố tổng hợp:

Giáo dục và đào tạo: Đầu tư vào nguồn nhân lực làm tăng năng lực cho lực

lượng lao động Nói một cách tổng quát, những công nhân được đào tạo tốt hơn

sẽ làm việc năng suất hơn và tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ có chất lượnghơn Đó là lực lượng chủ đạo trong tăng TFP

Cơ cấu vốn: Trong thị trường toàn cầu hiện nay, sự cạnh tranh dựa trên việc

tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao với giá cả hợp lý Để có được lợi thếcạnh tranh, các ngành công nghiệp cần cải tiến và trang bị cho các quá trình sảnxuất các công nghệ mới Đầu tư vào máy móc và thiết bị hiện đại sẽ làm giảmchi phí sản xuất và làm tăng TFP

Trang 14

Cơ cấu lại kinh tế: Cơ cấu lại nền kinh tế là việc chuyển các nguồn lực từ

các ngành và thành phần kinh tế kém năng suất sang ngành và thành phần kinh tế

có năng suất cao Việc phân bổ lại các nguồn lực để có được các ngành và thànhphần kinh tế có năng suất cao hơn sẽ dẫn đến sử dụng có hiệu suất và hiệu quảcác nguồn lực và dẫn đến TFP tăng cao

Tăng nhu cầu: việc tăng nhu cầu trong nước và nước ngoài đối với sản

phẩm và dịch vụ sẽ dẫn đến tỷ lệ sử dụng sản phẩm tiềm năng cao hơn Từ đókích thích sản xuất và sáng tạo Báo cáo chỉ tiêu năng suất Việt Nam 2006 –2007

Tiến bộ công nghệ: điều này chỉ ra tính hiệu lực và việc sử dụng có hiệu

quả công nghệ thích hợp, sự đổi mới, nghiên cứu và triển khai, thái độ làm việctích cực, hệ thống quản lý và tổ chức tốt, quản lý chuỗi cung ứng và sử dụng cácphương pháp thực hành tốt nhất Với trình độ công nghệ cao, người lao độngđược khuyến khích và hệ thống quản lý hiệu quả, nền kinh tế sẽ có khả năng sảnxuất ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng

1.1.4 Phương pháp đo lường tốc độ gia tăng năng suất tổng hợp

Năng suất các nhân tố tổng hợp suy cho cùng là kết quả sản xuất mang lại

do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vàotác động của các nhân tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất,cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân, v.v (gọi chung làcác nhân tố tổng hợp)

Do TFP là một phạm trù tương đối trừu tượng, việc tính toán TFP và cácchỉ tiêu liên quan đến TFP không hề đơn giản Cho đến nay, vẫn chưa có mộtcông thức tính TFP thống nhất cho tất cả các nước trên thế giới Tùy theo điềukiện từng nước cũng như hệ thống số liệu thống kê sẵn có mà người ta tính toánchỉ tiêu này theo các công thức và phương pháp khác nhau Ở khắp các nước, sựchính xác trong tính toán TFP chỉ là tương đối, chưa ở đâu loại bỏ được sai số vàcũng chưa nước nào, chưa phương pháp bào tính được TFP thật chính xác Tuynhiên, bài viết đề cập tới hai phương pháp phổ biến nhất, đó là cách tính toán tốc

độ tăng TFP theo phương pháp hạch toán và phương pháp dùng hàm sản xuấtCobb-Douglas

Trang 15

1.1.4.1 Tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp theo phương pháp hạch toán

Công thức tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp ( ) Theophương pháp hạch toán do Tổ chức Năng suất Châu Á đưa vào áp dụng có dạng:

= – (α + β )Trong đó:

là tốc độ tăng giá trị tăng thêm hoặc tốc độ tăng GDP;

là tốc độ tăng của vốn hoặc tài sản cố định;

là tốc độ tăng của lao động;

 là hệ số đóng góp của vốn hoặc tài sản cố định

β là hệ số đóng góp của lao động

K là vốn cố định;

L lao động làm việc;

Trang 16

α hệ số đóng góp của vốn hoặc tài sản cố định;

β hệ số đóng góp của lao động với α + β = 1

Tham số P và các hệ số α, β có thể tính được nhờ vào hệ phương trìnhchuẩn tắc và quá trình tính toán các tham số đó được tiến hành như sau:

Đưa hàm số Y = A Kα.Lβ về dạng tuyến tính bằng cách lốc hoá hai vế:lnY = lnA + α.lnK + β.lnL

Khi đó:

lnA = lnY – (α.lnK + β.lnL)

Ta sẽ tính được mức năng suất nhân tố tổng hợp và tính được tốc độ tăng năngsuất nhân tố tổng hợp

1.2 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế

1.2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu tạimỗi quốc gia trong quá trình phát triển, nhất là ở giai đoạn đầu của quá trìnhphát triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề này ngày càng hoàn thiệnhơn

Nếu tiếp cận trong ngắn hạn thì tăng trưởng kinh tế có các khái niệm sau:

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong

một khoảng thời gian nhất định

Thứ hai, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng quốc gia hoặc sản

lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người trong một thời gian nhất định.Nếu tiếp cận trong dài hạn, thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng quy môsản lượng hay sự mở rộng sản lượng của một nền kinh tế qua các năm Như vậy,bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế

Ngày nay, để đo lường sản lượng hay thu nhập của nền kinh tế người tathường dùng các chỉ tiêu sau:

Tổng giá trị sản xuất (GO – Gross Output) là tổng giá trị sản phẩm cật chất

và dịch vụ được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳnhất định (thường là một năm)

Trang 17

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product) là tổng giá trị

của những hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổcủa một quốc gia trong một thời kỳ nhất định

Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross National Income) là tổng giá trị của

những hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi yếu tố sản xuất của mộtnước trong một khoảng thời gian nhất định

1.2.2 Một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế

1.2.2.1 Quan điểm cổ điển về tăng trưởng kinh tế

Quan điểm cổ điển về tăng trưởng kinh tế được xây dựng bởi William Petty(1623 – 1687), Adam Smith (1723 – 1790) và David Ricardo (1772 – 1823).Theo đó, quan điểm này có những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, họ cho rằng nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó

yếu tố căn bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn Trong từngngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố này kết hợp vớinhau theo một tỷ lệ cố định Trong ba yếu tố trên thì đất đai là quan trọng nhấtvà chính là giới hạn của sự tăng trưởng

Thứ hai, họ chia xã hội ra thành ba nhóm người: địa chủ, tư bản và công

nhân Sự phân phối thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền sở hữu củahọ đối với các yếu tố sản xuất Địa chủ có đất thì nhận địa tô, tư bản có vốn thìnhận lợi nhuận, công nhân có lao động thì nhận tiền công và họ cho rằng cáchphân phối này là hợp lý Trong ba nhóm người này, thì nhà tư bản giữ vai tròquan trọng cả trong sản xuất, tích lũy và phân phối Họ đứng ra tổ chức sản xuất,giành lại một phần lợi nhuận để tích lũy và họ chủ động trong quá trình phânphối

Thứ ba, hoạt động của các chủ thể kinh tế bị chi phối bởi “Bàn tay vô hình”

dẫn dắt để gắn lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội Việc bãi bỏ sự điều tiết củachính phủ đối với các hoạt động sản xuất và thị trường không chỉ góp phần làmtăng thu nhập của tần lớp chủ tư bản, qua đó, làm tăng tỷ lệ tích lũy của xã hộimà còn góp phần mở rộng thị trường Mặc dù ủng hộ mạnh mẽ cho tự do cạnhtranh, nhưng Adam Smith vẫn nhận thức được tầm quan trọng của việc cung ứnghàng hóa công cộng nhằm phục vụ cho cơ chế thị trường, bao gồm quốc phòng,

Trang 18

cảnh sát, hệ thống luật pháp, tòa án, xây dựng cơ sở hạ tầng và giáo dục Tuynhiên, ông cho rằng việc cung ứng hàng hóa công cộng cần được tư nhân hóacàng nhiều càng tốt.

1.2.2.2 Quan điểm của Karrl Marx về tăng trưởng kinh tế

Karl Marx (Các Mác) (1818 - 1883) không những là nhà chính trị học, nhàtriết học mà còn được xem là nhà kinh tế xuất sắc Sự xuất hiện lý thuyết phêphán tăng trưởng kinh tế tư bản chủ nghĩa của Mác vào giữa thế kỷ XIX thực sựlà một sự kiện lớn Quan điểm cơ bản nhất của Mác về tăng trưởng kinh tế baogồm những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, về con đường phát triển Mác đã chỉ ra quy luật chung của mọi

thời đại, mọi phương thức sản xuất, đó là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệsản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất Mác viết: “Trong sự sản xuất xã hội

ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳthuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phùhợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ.Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội” Nhưvậy, theo Mác lực lượng sản xuất phát triển đến đâu thì quan hệ sản xuất pháttriển tương ứng tới đó Sự phát triển vượt trước hay tụt hậu của quan hệ sản xuất

so với sự phát triển của lực lượng sản xuất đều làm cản trở sự phát triển của sứcsản xuất xã hội Do đó, không thể xoá bỏ một hình thức quan hệ sản xuất nào đókhi mà lực lượng sản xuất tương ứng với nó đang còn sức sống, đang còn là mộttất yếu kinh tế đối với sự phát triển của xã hội Các Mác đã viết: “Không mộthình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hìnhthái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho sự phát triển, vẫn chưa phát triển, và nhữngquan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi nhữngđiều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bảnthân xã hội cũ”

Thứ hai, về các yếu tố của tăng trưởng kinh tế Nếu như các nhà kinh tế học

cổ điển xem đất đai, lao động và vốn là ba yếu tố cơ bản của tăng trưởng, trong

đó đất đai là yếu tố quan trọng nhất, thì Mác cho rằng các yếu tố tác động đếntăng trưởng kinh tế không chỉ là đất đai, lao động, vốn mà còn có yếu khoa học

Trang 19

kỹ thuật Về vai trò khoa học kỹ thuật trong tăng trưởng kinh tế, Mác viết: “Khoahọc kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp” Mác đã đề cao vai trò của khoa học

kỹ thuật trong sản xuất khi cho rằng mục đích của nhà tư bản là tìm mọi cách đểtăng giá trị thặng dư, cho nên họ tìm cách tăng thời gian làm việc, tăng cường độlàm việc của công nhân, giảm tiền công của công nhân, hoặc nâng cao năng suấtbằng cách cải tiến kỹ thuật Việc cải tiến kỹ thuật sẽ làm tăng số máy móc, thiết

bị và dụng cụ lao động giành cho công nhân, nghĩa là cấu tạo hữu cơ của tư bản

có xu hướng ngày càng tăng Do đó, các nhà tư bản cần nhiều vốn hơn để đầu tưmáy móc thiết bị kỹ thuật, tăng năng suất lao động Vì vậy, trong tổng số giá trịthặng dư thu được nhà tư bản chỉ dùng một phần để tiêu dùng cá nhân, phần cònlại để tích luỹ phát triển sản xuất Đây chính là nguyên lý tích luỹ của chủ nghĩa

tư bản Trong các yếu tố sản xuất, Mác đặc biệt quan tâm đến vai trò của laođộng trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư Theo Mác sức lao động là một hànghoá đặc biệt, cũng như hàng hoá khác, nó được nhà tư bản mua bán trên thịtrường và tiêu dùng trong quá trình sản xuất Nhưng trong quá trình tiêu dùng,giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động không giống với giá trị sử dụng củacác hàng hoá khác Trong quá trình sản xuất (tiêu dùng sức lao động) bằng laođộng trừu tượng của mình người công nhân tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trịcủa sức lao động, phần dư ra đó chính là giá trị thặng dư cho nhà tư bản

Thứ ba, về tái sản xuất mở rộng Mác cho rằng muốn tái sản xuất mở rộng

thì phải tích lũy tư bản (tư bản hóa giá trị thặng dư), tức phải biến một phần giátrị thặng dư thành tư bản bất biến phụ thêm và tư bản khả biến phụ thêm Nhưngcác bộ phận giá trị phụ thêm đó phải tìm được những tư liệu sản xuất và tư liệusinh hoạt phụ thêm dưới những hình thái vật chất tưng ứng với nhu cầu của nó.Điều này đòi hỏi cơ cấu sản xuất xã hội phải có những thay đổi so với tái sảnxuất giản đơn

Nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội khi chưa xét tới ảnh hưởng của tiến

bộ kỹ thuật, chưa tính đến thay đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản, Mác đã thấy vaitrò ưu tiên của việc sản xuất tư liệu sản xuất Tổng cung về tư liệu sản xuất phảiđủ không những để bù đắp tư liệu sản xuất đã tiêu dùng mà còn để mở rộng sảnxuất; quy mô tái sản xuất mở rộng của khu vực I quyết định quy mô tái sản xuất

Trang 20

mở rộng của khu vực II Khi tính tới ảnh hưởng của tiến bộ kỹ thuật làm cho cấutạo hữu cơ của tư bản không ngừng tăng lên trong quá trình tái sản xuất mở rộng,V.I Lênin đã phát hiện ra quy luật: sản xuất ra tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệusản xuất tăng nhanh nhất, sau đến là sản xuất ra tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệutiêu dùng và chậm nhất là sự phát triển của tư liệu tiêu dùng Đó là quy luật ưutiên phát triển sản xuất tư liệu sản xuất, một quy luật kinh tế quan trọng của nềnkinh tế hiện đại Cho đến nay, lý thuyết của Mác về tăng trưởng kinh tế vẫn có ýnghĩa thực tiễn rất lớn, nhất là trong việc giải thích vấn đề mà các nước đangphát triển gặp phải ngày nay.

1.2.2.3 Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế

Cuối thế kỷ XIX là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học

kỹ thuật Hàng loạt các phát minh khoa học và các nguồn tài nguyên được khaithác phục vụ cho quá trình sản xuất Sự phát triển này hình thành một trườngphái kinh tế mới – trường phái tân cổ điển

Trong mô hình tân cổ điển, các nhà kinh tế học bác bỏ quan điểm cổ điểncho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định vềlao động và vốn, họ cho rằng vốn có thể thay thế được nhân công, và trong quátrình sản xuất có thể có nhiều cách khác nhau trong việc kết hợp các yếu tố đầuvào Các nhà kinh tế học tân cổ điển còn cho rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố thúcđẩy sự tăng trưởng kinh tế Đồng thời xu hướng thay đổi trong kỹ thuật là đa sốcác sáng chế đều có khuynh hướng dùng vốn để tiết kiệm nhân công.Các nhà kinh tế học tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăngtrưởng kinh tế thông qua hàm sản xuất Hàm số này nói lên mối quan hệ giữa sựtăng lên của đầu ra với sự tăng lên của yếu tố đầu vào là vốn, lao động, tàinguyên và khoa học kỹ thuật

Y = f (K, L, R, T….)Trong đó:

Y: đầu ra (GDP, GNI)

K: vốn sản xuất

L: số lượng lao động

R: nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 21

T: khoa học kỹ thuật

Theo trường phái tân cổ điển, có thể có nhiều nhân tố khác tham gia vàoquá trình sản xuất nên hàm sản xuất có dấu chấm lững Lý thuyết tăng trưởngcủa trường phái này đề cao vai trò của các yếu tố sản xuất Mỗi sự gia tăng củayếu tố sản xuất sẽ làm gia tăng thêm sản lượng đầu ra Họ cho rằng, mỗi nhân tốđều có vai trò nhất định đối với tăng trưởng sản xuất và giữa chúng có quan hệlẫn nhau Trong đó, tư bản được quan tâm nhất bởi vì nó đi liền với tiến bộ khoahọc và công nghệ Lao động được coi là nguồn vốn ban đầu thiết yếu nhất củatăng trưởng

1.2.2.4 Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế

Học thuyết kinh tế của John Maynar Keynes ra đời trong hoàn cảnh cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới (1929 -1933) đã làm phá sản học thuyết “bàn tay vôhình, thăng bằng tổng quát” của trường phái cổ điển và tân cổ điển Ngoài ra,những năm 30 của thế kỷ XX, lực lượng sản xuất xã hội đã phát triển mạnh mẽ,

xã hội hóa ngày càng cao hơn so với thời kỳ trước đòi hỏi phải có sự điều chỉnhtác động của nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội trong xã hội tưbản

Theo Keynes, một nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ bản: tổngcung - tức toàn bộ số hàng hóa bán trên thị trường và tổng cầu - tức toàn thể sốhàng hóa mà người ta muốn mua Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng vàviệc làm trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu Tổngcung giữ vai trò thụ động, nó chịu sự tác động của tổng cầu Đến lượt mình, tổngcầu phụ thuộc vào các yếu tố: mức chi tiêu cá nhân của mỗi gia đình, mức chitiêu đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu của nước ngoài đối với hànghóa sản xuất trong nước (xuất khẩu ròng) Trong quá trình vận động của nềnkinh tế, tổng cầu thường không theo kịp tổng cung Điều đó ảnh hưởng đến tìnhhình sản xuất, thu hẹp đầu tư và gây ra nạn thất nghiệp Để giải quyết tình trạngnày phải tăng tổng cầu, tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư do đó

sẽ gia tăng việc làm và gia tăng thu nhập Cuối cùng sản lượng quốc gia sẽ tăng.Trong logic phân tích của mình, Keynes cho rằng để thoát khỏi khủnghoàng và thất nghiệp cần có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để tăng

Trang 22

tổng cầu, gia tăng việc làm và thu nhập Trước hết, ông đề nghị sử dụng ngânsách nhà nước để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của Nhà nước vàtrợ cấp vốn cho doanh nghiệp Để kích thích đầu tư phải có các biện pháp tănglợi nhuận và giảm lãi suất, muốn vậy phải tăng khối lượng tiền tệ trong lưuthông Keynes đề nghị thực hiện lạm phát có mức độ Ông đánh giá cao vai tròcủa hệ thống thuế khóa, công trái nhà nước, qua đó để bổ sung ngân sách nhànước Ông đề nghị giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư và đánh thuếthu nhập cá nhân lũy tiến làm cho phân phối thu nhập trở nên công bằng hơn, do

đó sẽ tăng tổng thu nhập mà nhân dân dùng cho tiêu dùng Ông tán thành đầu tưcủa Chính phủ vào các công trình công cộng

1.2.2.5 Mô hình của Harrod – Domar về tăng trưởng kinh tế

Mô hình này do hai nhà kinh tế học Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở

Mỹ đưa ra vào thập niên 40 của thế kỷ XX và được các nước đang phát triển banđầu ứng dụng Mô hình này cho rằng, đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, dù làmột công ty, một ngành, hay toàn bộ nền kinh tế đều phụ thuộc vào tổng vốn đầu

tư cho đơn vị đó:

Nếu gọi Y là đầu ra (GDP, GNI) g là tốc độ tăng trưởng của đầu ra, thì:

g = Nếu gọi S là mức tích luỹ của nền kinh tế, s là tỷ lệ tích luỹ, thì:

s = => St = s.Y

Vì tiết kiệm (tích luỹ) là nguồn đầu tư, nên S = I

Vì vậy, ta có thể viết:

s = Mà mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất (K) nên: I = Δ K (4)

Trang 23

Nếu gọi k là tỷ số giữa gia tăng đầu tư với gia tăng sản lượng Hay còn gọilà hệ số ICOR – hệ số gia tăng vốn đầu ra, ta có:

Nếu như mô hình của Harrod – Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuấtthông qua tiết kiệm và đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, thì mô hình Solow đãđưa nhân tố lao động và tiến bộ kỹ thuật vào phương trình tăng trưởng và theoSolow tiến bộ kỹ thuật là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế kể cả trongngắn hạn và trong dài hạn

1.2.2.6 Quan điểm của kinh tế học hiện đại về tăng trưởng kinh tế

Kinh tế học hiện đại ngày này quan niệm về sự cân bằng kinh tế dựa theo

mô hình của J.M Keynes, nghĩa là sự cân bằng của nền kinh tế không nhất thiếttại mức sản lượng tiềm năng, mà thường là dưới mức sản lượng tiềm năng, trongđiều kiện hoạt động bình thường, nền kinh tế vẫn có thất nghiệp và lạm phát

Trang 24

Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và mức lạm phát có thể chấpnhận được Sự cân bằng này của nền kinh tế được xác định tại giao điểm củatổng cung và tổng cầu.

Hiện nay, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tốtài nguyên, đất đai với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế, họ chorằng đất đai là yếu tố cố định còn vai trò của tài nguyên có xu hướng giảm sút.Những yếu tố tài nguyên, đất đai đang sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu tốvốn sản xuất: K

Ba yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng: Vốn, lao động và yếu tố năngsuất tổng hợp

Vốn và lao động được xem là yếu tố vật chất có thể lượng hóa được tácđộng của nó đến tăng trưởng và được xem là nhân tố tăng trưởng theo chiềurộng TFP là thể hiện hiệu quả của yếu tố khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý haycách đánh giá tác động của KHKT đến tăng trưởng kinh tế TFP được coi là yếutố chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu Lý thuyết tăngtrưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là yếu tố cơ bản điều tiết hoạt độngcủa nền kinh tế Sự tác động qua lại giữa mức tổng cung và mức tổng cầu tạo ramức thu nhập thực tế, việc làm, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, đó là cơ sở đểgiải quyết ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế Theo quan điểm hiện đại thì việc mởrộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tếkhông chỉ vì thị trường có những khuyết tật, mà còn vì xã hội đặt ra những mụctiêu mà thị trường không thể đáp ứng tốt được

Như vậy, qua phân tích lịch sử phát triển các quan điểm về tăng trưởng kinhtế, có thể thấy quá trình chuyển biến nhận thức từ mô hình tăng trưởng theochiều rộng chủ yếu vào tài nguyên, lao động sang mô hình tăng trưởng theochiều sâu chủ yếu dựa vào khoa học công nghệ

1.2.3 Phương pháp đo lường tốc độ tăng trưởng

Để đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế, ta có thể dùng mức tăng trưởngtuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng nămtrong một giai đoạn

Trang 25

Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳcần so sánh.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy môkinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳtrước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:

y = dY/Y × 100(%),Trong đó:

Y là qui mô của nền kinh tế

y là tốc độ tăng trưởng

Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc

độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đobằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thựctế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêudanh nghĩa

1.3 Vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế

Chúng ta đều đã quen thuộc với khái niệm năng suất lao động Ta đem sảnlượng của một nhà máy chia cho số công nhân và có kết quả sản lượng bao nhiêutấn trên mỗi công nhân mỗi năm Đôi khi năng suất được tính trên mỗi giờ làmviệc, hoặc tử số được tính ở mức giá không đổi cho nhiều loại sản lượng khácnhau Ví dụ, một nhà máy sản xuất nhiều loại hình dạng thép khác nhau khôngnên dùng sản lượng bao nhiêu tấn trên mỗi công nhân, mà nên dùng một giá trịkhông đổi, hay giá trị gia tăng, trên mỗi công nhân để có thể ước tính chính xácvề sản lượng trên mỗi công nhân

Năng suất lao động là một khái niệm hữu ích nhưng chưa đầy đủ Thôngthường, chúng ta muốn biết tất cả các nhập lượng tính gộp chung có hiệu quảnhư thế nào, chứ không chỉ riêng một nhập lượng Ví dụ, nếu công nhân có rất ítvốn hay có công nghệ rất thấp, họ có thể rất lành nghề và làm việc rất siêng năngnhưng vẫn có năng suất lao động thấp Để giải quyết vấn đề này, người ta đã đưa

ra một khái niệm mở rộng năng suất lao động sang vốn (đôi khi có thể thêm vàonhững nhập lượng khác, nhưng đây là hai nhập lượng quan trọng nhất) Về căn

Trang 26

bản, khái niệm tổng TFP là một cách đo lường năng suất của cả vốn lẫn lao độngcùng lúc trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế.

Chính vì thế mà TFP có vai trò rất quan trọng trong vấn đề tăng trưởng vàphát triển kinh tế hiện nay Hầu hết các quốc gia nhận thấy rằng tỉ lệ tăng trưởngdân số và lực lượng lao động chậm lại sau một thời gian, và có giới hạn đối vớilượng vốn có thể đầu tư mà không phải vay mượn nhiều khi có hại Việc tái phânbổ lao động cho những công việc có năng suất thấp có thể tiếp diễn trong mộtthời gian, nhưng ngay cả điều ấy cũng kết thúc sau một vài thập niên Vì vậy,nếu một nền kinh tế biết cách khai thác được ngày càng nhiều hơn từ mỗi chiếcmáy hay mỗi công nhân tăng thêm thông qua công nghệ tốt hơn hay nhữngphương tiện khác, thì sản lượng và thu nhập sẽ cao hơn mà không cần phải đầu

tư nhiều hơn về vốn

Ngoài ra, TFP có thể tăng vì nhiều lý do Chất lượng của lao động có thểtăng lên, giúp cho một giờ làm việc đem lại nhiều sản lượng hơn Có thể có thayđổi về thành phần hay chất lượng của vốn, khiến cho vốn có hiệu quả cao hơn.(Những nhà máy thép mới hơn cần ít vốn, lao động và năng lượng hơn để sảnxuất ra một tấn thép) Liên quan đến điều này, có thể có tiến bộ công nghệ Điềunày có thể xuất phát từ công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nước, vaymượn từ tri thức toàn cầu, hay chỉ đơn giản là rút kinh nghiệm từ thực tế làmviệc Cũng có thể có tái phân bổ nguồn lực Một người lao động chuyển từ mộtcông việc đồng áng có năng suất thấp sang một công việc có năng suất cao trongnhà máy sẽ trở nên có hiệu quả hơn, dù trình độ học vấn không thay đổi Nhữngthay đổi ngắn hạn về cầu cũng có thể làm thay đổi TFP

Nhiều nhà phân tích cũng chỉ ra rằng TFP thực ra là một số đo về sự kémhiểu biết của chúng ta Tức là, nó xét đến sản lượng trên mỗi công nhân đượcgiải thích bằng tăng cường vốn – và bất cứ phần nào khác là TFP Nhiều yếu tố,bao gồm nhưng không chỉ riêng công nghệ, có thể thúc đẩy nó Mức độ cạnhtranh nhiều hơn, lợi ích kinh tế nhờ quy mô, việc tái phân bổ (nguồn lực), chínhsách kinh tế tốt hơn v.v… đều giúp TFP tăng trưởng Sản lượng nông nghiệptăng lên sau Đổi Mới là một ví dụ

Trang 27

Hầu hết các quốc gia châu Á tăng trưởng nhanh đều có tỉ lệ tăng trưởngTFP ít nhất 2%/năm, và một số ước tính cho thấy con số của Trung Quốc thậmchí còn cao hơn 4% Ngoài Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan và Thái Landường như cũng đạt kết quả khá tốt (ít nhất 2%/năm) trong khi Hàn Quốc(1,5%), Indonesia (khoảng 1%), và Philippines (tăng trưởng âm!) có kết quả kémhơn Ở các nước giàu, TFP thường tăng trưởng ở mức 1-2%/năm trong nhữnggiai đoạn dài Tại Mỹ, TFP tăng trưởng nhanh hơn mức đó (2,2%) trong thờigian từ 1948 đến 1973, tăng trưởng chậm (gần 0%) trong thời gian 1973-89, vàlại tăng trưởng nhanh hơn kể từ 1990 Các nước châu Mỹ La tinh có tỉ lệ tăngtrưởng TFP rất khác biệt nhau, đôi khi âm nhưng ít khi cao hơn 1,5%/năm kể từ1960.

Trang 28

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NĂNG SUẤT NHÂN TỐ TỔNG HỢP ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VIỆT NAM

2.1 Thực trạng tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Kinh tế - xã hội nước ta năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giớiphục hồi chậm sau suy thoái toàn cầu Các nền kinh tế lớn phát triển theo hướngđẩy nhanh tăng trưởng nhưng có nhiều yếu tố rủi ro trong việc điều chỉnh chínhsách tiền tệ Trong khi đó, nhiều nền kinh tế mới nổi gặp trở ngại từ việc thựchiện chính sách thắt chặt để giảm áp lực tiền tệ Bên cạnh đó, khu vực đồngEURO bị ảnh hưởng mạnh bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế giữa các nướctrong khu vực do tình hình chính trị bất ổn tại một số quốc gia, nhất là khu vựcchâu Âu Dự báo tăng trưởng năm 2014 và 2015 của hầu hết các nền kinh tếĐông Nam Á cũng được điều chỉnh giảm Điểm nổi bật trong những tháng cuốinăm là giá dầu mỏ trên thị trường thế giới giảm sâu và vẫn đang tiếp tục giảm.Đối với các quốc gia nhập khẩu dầu, giá dầu giảm giúp thúc đẩy tiêu dùng vàđầu tư tư nhân cũng như cải thiện cán cân thanh toán Tuy nhiên, đối với cácnước sản xuất dầu, thực trạng thị trường giá dầu mỏ giảm sẽ tác động mạnh đếnkinh tế theo chiều hướng thuận lợi và khó khăn đan xen

Ở trong nước, sản xuất kinh doanh chịu áp lực từ những bất ổn về kinh tếvà chính trị của thị trường thế giới, cùng với những khó khăn từ những nămtrước chưa được giải quyết triệt để như áp lực về khả năng hấp thụ vốn của nềnkinh tế chưa cao; sức ép nợ xấu còn nặng nề; hàng hóa trong nước tiêu thụ chậm;năng lực quản lý và cạnh tranh của doanh nghiệp thấp Trước bối cảnh đó,Chính phủ, Thủ tướng chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết địnhnhằm tiếp tục ổn định vĩ mô, tháo gỡ khó khăn và cải thiện môi trường kinhdoanh, tạo đà tăng trưởng, bảo đảm công tác an sinh xã hội cho toàn dân

Được sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Quốc hội và Chính phủ,cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và các địa phương nên kinh

Trang 29

tế - xã hội nước ta năm 2014 có nhiều chuyển biến tích cực Kết quả cụ thể củatừng ngành, lĩnh vực như sau:

2.1.1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP)

Tổng sản phẩm trong nước là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh quy mô,thực trạng và sức mạnh nền kinh tế, là căn cứ để quản lý, điều hành vĩ mô và cânđối, tính toán nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội quan trọng khác Bảng 2.1 trình bày sốliệu về GDP và tốc độ tăng GDP của Việt Nam từ năm 2006 đến 2014

Bảng 2.1 GDP và tốc độ tăng GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014

Năm GDP giá thực tế

(tỷ đồng)

GDP giá so sánh2010(tỷ đồng)

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Hình 2.1 Tốc độ tăng GDP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014

Đơn vị: %

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trang 30

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 ước tính tăng 5,98% so vớinăm 2013, trong đó quý I tăng 5,06%; quý II tăng 5,34%; quý III tăng 6,07%;quý IV tăng 6,96% Mức tăng trưởng năm nay cao hơn mức tăng 5,25% của năm

2012 và mức tăng 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinhtế

Ngoài ra, theo Tổng cục Thống kê, trong mức tăng 5,98% của toàn nềnkinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,49%, cao hơn mức 2,64%của năm 2013, đóng góp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vựccông nghiệp và xây dựng tăng 7,14%, cao hơn nhiều mức tăng 5,43% của nămtrước, đóng góp 2,75 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,96%, đóng góp2,62 điểm phần trăm

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn quốc và các khu vực giai đoạn

Trang 31

Hình 2.2 Tốc độ tăng GDP của nền kinh tế và các khu vực

giai đoạn 2006 – 2014

Đơn vị: %

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê

Nhìn tổng thể từ năm 2006 đến nay, dịch vụ là khu vực có tốc độ tăngtrưởng nhanh nhất trong khi khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản tăng trưởng kháchậm Tuy nhiên, năm 2014 công nghiệp – xây dựng có tốc độ tăng trưởng caohơn các khu vực khác

Theo Tổng cục Thống kê, trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản,ngành lâm nghiệp có mức tăng cao nhất với 6,85%, nhưng do chiếm tỷ trọngthấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành nôngnghiệp mặc dù tăng thấp ở mức 2,60% nhưng quy mô trong khu vực lớn nhất(khoảng 74%) nên đóng góp 0,35 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 6,53%,đóng góp 0,21 điểm phần trăm

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,15% sovới năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo có chuyển biến khá tíchcực với mức tăng cao là 8,45%, cao hơn nhiều so với mức tăng của một số nămtrước (Năm 2012 tăng 5,80%; năm 2013 tăng 7,44%), đóng góp đáng kể vào tốc

độ tăng của khu vực II và góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung.Trong ngành chế biến, chế tạo, các ngành sản xuất đồ uống; dệt; sản xuất trangphục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy; sản xuất sảnphẩm từ kim loại đúc sẵn (Trừ máy móc thiết bị); sản phẩm điện tử máy tính; sản

Trang 32

xuất xe có động cơ là những ngành có đóng góp lớn vào tăng trưởng với chỉ sốsản xuất tăng khá cao ở mức trên 10% Ngành khai khoáng tăng 2,40%, có đónggóp của dầu thô và khí đốt tự nhiên Ngành xây dựng đã có dấu hiệu phục hồivới mức tăng 7,07%, tăng cao so với mức 5,87% của năm 2013, chủ yếu do đónggóp của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với giá trị sản xuất xâydựng khu vực này tăng mạnh ở mức 58%.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mứctăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mứctăng 6,62% so với năm 2013, đóng góp 0,91 điểm phần trăm vào mức tăngtrưởng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,88%; hoạtđộng kinh doanh bất động sản được cải thiện hơn với mức tăng 2,85%, cao hơnmức tăng 2,17% của năm trước với nhiều tín hiệu tốt trong hỗ trợ thị trường bấtđộng sản nói chung và phân khúc nhà chung cư giá trung bình và giá rẻ nóiriêng, trong đó giá trị tăng thêm của khấu hao nhà ở dân cư tăng 2,93%

Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục theo hướng tích cực Khu vực nông,lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xâydựng chiếm 38,50%; khu vực dịch vụ chiếm 43,38% (Cơ cấu tương ứng của năm

2013 là: 18,38%; 38,31%; 43,31%) Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2014, tiêudùng cuối cùng tăng 6,20% so với năm 2013, đóng góp 4,72 điểm phần trăm vàomức tăng chung (Tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 6,12%, cao hơn mức tăng5,18% của năm trước); tích lũy tài sản tăng 8,90%, đóng góp 2,90 điểm phầntrăm

Trang 33

Hình 2.3 Cơ cấu GDP theo ngành năm 2014 (ước tính)

Đơn vị: %

Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê

Trang 34

Hình 2.3 trình bày cơ cấu GDP của nền kinh tế theo ngành năm 2014 theoước tính của Tổng cục Thống kê, theo đó, ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo,ngành Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khácvà ngành Nông Lâm nghiệp và Thủy sản có tỷ trọng đóng góp vào GDP caonhất Ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp khoảng 17,46% vào GDP,ngành Nông Lâm nghiệp và Thủy sản đóng góp 18,12% và ngành Bán buôn vàbán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đóng góp 13,57 %.

2.1.2 So sánh tốc độ tăng GDP của Việt Nam với một số nước châu Á

Hình 2.4 Tốc độ tăng GDP Việt Nam so với một số nước châu Á giai đoạn

2010 – 2013

Đơn vị: %

Nguồn: Số liệu Ngân hàng Thế giới

Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức khá so với mộtsố nước châu Á và tương đối ổn định Hiện nay, Ấn Độ, Lào và Trung Quốc cótốc độ phát triển nhanh trong khi những nước đã phát triển như Nhật Bản hayHàn Quốc có tốc tăng tăng GDP chậm lại, mặt khác do cuộc khủng hoảng kéodài ảnh hưởng khá nặng nề lên các nền kinh tế phát triển

Trang 35

Hình 2.5 GDP của Việt Nam và một số nước châu Á theo giá thực tế

giai đoạn 2010 – 2013

Đơn vị: tỷ USD

Nguồn: Số liệu Ngân hàng Thế giới

Hình 5 so sánh GDP của Việt Nam và các nước tính theo USD Xét về quy

mô kinh tế, những nước phát triển như Nhật Bản hay nền kinh tế như TrungQuốc có mức GDP rất cao GDP của Việt Nam thấp hơn hầu hết các nước được

so sánh, ngoại trừ Lào

2.1.3 GDP bình quân đầu người

Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người là chỉ tiêu quan trọng dùngđể so sánh, đánh giá trình độ phát triển kinh tế và mức sống dân cư giữa cácquốc gia hoặc giữa các vùng, các tỉnh, thành phố trong cả nước Đây cũng là mộttrong những căn cứ để tính chỉ số phát triển con người

Trang 36

Bảng 2.3 GDP bình quân đầu người Việt nam giai đoạn 2006 – 2014

Năm

GDP bình quân đầungười theo giá thựctế (triệu đồng)

GDP bình quân đầungười theo giá so sánh

2010 (triệu đồng)

Tốc độ tăngGDP (%)

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê

GDP bình quân đầu người của Việt Nam từ năm 2006 đến nay nhìn chungđều tăng lên với mức tăng bình quân khoảng 5%/năm và đến những năm 2013 –

2014 đạt khoảng 41 triệu đồng một người Năm 2014, GDP bình quân đầu ngườicủa Việt Nam đã đạt được gần gấp rưỡi so với những năm 2006

Trang 37

2.1.4 GDP bình quân đầu người với một số nước châu Á

Hình 2.6 GDP bình quân đầu người với một số nước châu Á năm 2013

Đơn vị: USD

Nguồn: Số liệu Ngân hàng Thế giới

Nếu quy đổi bằng tỉ giá hối đoái tính theo USD, năm 2013 GDP bình quânđầu người của Việt Nam đạt mức 1.911 Đô-la Trong số các nước Châu Á được

so sánh, các nước phát triển như Xin-ga-po, Nhật Bản, Hàn Quốc đạt mức rấtcao Trong số đó, cao nhất là Xin-ga-po với mức đạt được là trên 55.000 USDtrên một đầu người GDP trên đầu người của Việt Nam ở mức thấp hơn hầu hếtcác nước, chỉ trên Lào và Ấn Độ

Hình 2.7 GDP bình quân đầu người tính năm 2013

Đơn vị: USD

Nguồn: Số liệu Ngân hàng Thế giới

Ngày đăng: 30/06/2015, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Công, 2008, Bài giảng và thựa hành lý thuyết kinh tế vĩ mô, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng và thựa hành lý thuyết kinh tế vĩ "mô
Nhà XB: NXB Lao động
2. Mai Ngọc Cường, 1999, Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết kinh tế
Nhà XB: NXB Thống kê
3. Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008, Vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2000- 2004, NXB Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2000-2004
Nhà XB: NXB Kinh tế Quốc dân
4. Trần Thọ Đạt, Tổng quan về chất lượng tăng trưởng và đánh giá về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam , Hội thảo “Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, tháng 1/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về chất lượng tăng trưởng và đánh giá về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam", Hội thảo “Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam
5. Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung, Vai trò của năng suất tổng hợp nhân tố trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam , Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 169, tháng 7/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của năng suất tổng hợp nhân tố trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
6. Trần Thọ Đạt, Vai trò của TFP trong chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Bài trình bài tại Diễn đàn Năng suất Chất lượng lần thứ 16 tại Hà Nội, tháng 2/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của TFP trong chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
8. Tăng Văn Khiên, Phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp theo cách tiếp cận thống kê , Tạp chí Khoa học Thống kê, Số 4/2002, trang 5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp theo cách tiếp cận thống kê
9. Trịnh Minh Tâm, Phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, Chi cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng Thành phốHồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp
10.Trần Bình Trọng, 2009, Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết kinh tế
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
12.Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, 2010, Nâng cao tỷ trọng và tác dụng của năng suất nhân tố tổng hợp , Hà Nội.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao tỷ trọng và tác dụng của năng suất nhân tố tổng hợp
1. Bao Dinh Ho, 2012, Total factor productivity in Vietnamese agriculture and its determinants , Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Total factor productivity in Vietnamese agriculture and its determinants
2. ILSSA-Manpower, 2014, Nhu cầu kỹ năng lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu kỹ năng lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
3. World Bank, 2012, Putting higher education to work, skill and research for growth in East Asia, Regional Report, Washington DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Putting higher education to work, skill and research for growth in East Asia, Regional Report
4. World Bank, 2013, Vietnam Development Report 2014, Skilling up Vietnam: Preparing the workforce for a modern market economy , Hanoi.WEBSITE Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Development Report 2014, Skilling up Vietnam: Preparing the workforce for a modern market economy
1. Website của Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Thành phố Hồ Chí Minh, http://www.chicuctdc.gov.vn/index.php Link
2. Website của Ngân hàng Thế giới, https://www.worldbank.org 3. Website của Tổng cục Thống kê, http://www.gso.gov.vn/ Link
4. Website của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. http://www.vass.gov.vn/Pages/Index.aspx Link
5. Website của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, http://www.ciem.org.vn/home.aspx Link
7. Tăng Văn Khiên, Tốc độ tăng năng xuất các nhân tố tổng hợp của công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1991 – 2003 Khác
11.Tổng cục Thống kê, 2014, Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3 trình bày cơ cấu GDP của nền kinh tế theo ngành năm 2014 theo  ước tính của Tổng cục Thống kê, theo đó, ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo,  ngành Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác - Đánh giá vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế việt nam
Hình 2.3 trình bày cơ cấu GDP của nền kinh tế theo ngành năm 2014 theo ước tính của Tổng cục Thống kê, theo đó, ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác (Trang 34)
Hình 5 so sánh GDP của Việt Nam và các nước tính theo USD. Xét về quy - Đánh giá vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp đối với tăng trưởng kinh tế việt nam
Hình 5 so sánh GDP của Việt Nam và các nước tính theo USD. Xét về quy (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w