1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp của hiệu trưởng nhằm duy trì sĩ số-chống bỏ học ở trường THCS Phan Chu Trinh - Krông Bông - Đắk Lắk trong những năm học qua

18 3,3K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Của Hiệu Trưởng Nhằm Duy Trì Sĩ Số-Chống Bỏ Học Ở Trường THCS Phan Chu Trinh - Krông Bông - Đắk Lắk Trong Những Năm Học Qua
Trường học Trường THCS Phan Chu Trinh
Thể loại bài viết
Thành phố Krông Bông
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 251 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về Một số biện pháp của hiệu trưởng nhằm duy trì sĩ số-chống bỏ học ở trường THCS Phan Chu Trinh - Krông Bông - Đắk Lắk trong những năm học qua

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Nhiệm vụ của ngành Giáo dục và Đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH và

hội nhập quốc tế vô cùng quan trọng, đó là “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực

và bồi dưỡng nhân tài” Vì vậy, học sinh được xác định là đối tượng đặc biệt

quan trọng trong hoạt động dạy - học, và vấn đề lưu giữ học sinh là vấn đề quan trọng được đặt ra không chỉ đối với nhà trường, với ngành giáo dục mà là vấn đề cần được sự quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là cha mẹ các em và đội ngũ nhà giáo

Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ của ngành Giáo dục

như Chỉ thị 61/CT-TW đã nêu: “Bước vào thế kỷ XXI, chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định trong việc phát huy nội lực, phát triển đất nước, hợp tác và cạnh tranh, hội nhập khu vực và quốc tế Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao học vấn người lao động Vì vậy, việc thực hiện phổ cập giáo dục trung

cơ sở giai đoạn 2001 – 2010 có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhàm góp phần phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ưng yêu của sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mục tiêu phổ cập trung học cơ sở là nâng cao mặt bằng dân trí một cách toàn diện, làm cho hầu hết công dân đến 18 tuổi đều tốt nghiệp Trung học cơ sở, kết hợp phân luồng sau cấp học này, tạo cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…”.

Thực hiện theo chương trình hành động của Ban thường vụ tỉnh Ủy Đắk

Lắk về phổ cập trung học cơ sở 10 năm 2001-2010

Thực hiện nghị quyết của số 08 /2002/NQ-HD ngày 31tháng 01 năm 2002 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk khóa VI kỳ họp thứ V Nghị quyết về

“chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở tỉnh Đắk Lắk giai đoạn

2001-2010 “

Thực hiện chương trình số 04 CTr/H.U ngày 23 tháng 7 năm 2001 của huyện Ủy Krông Bông về chương trình hành động của ban thường vụ huyện Ủy

về “ phổ cập giáo dục trung học cơ sở 10 năm ( 2001-2010 ).

Thực hiện theo kế hoạch phát triển giáo dục của huyện Krông Bông cũng như kế hoạch của phòng giáo dục –Đào tạo krông Bông

Thực hiện chương trình hành động của Đảng Ủy , Ủy Ban nhân dân xã Khuê Ngọc Điền huyện Krông Bông và nhiệm vụ kế hoạch năm học 2008-2009 của nhà trường về công tác duy trì sĩ số học sinh và chống bỏ học

Vấn đề tình hình học sinh bỏ học đang là một bài toán khó cho các nhà quản lý giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung đặc biệt là ở huyện Krông Bông là một huyện vùng III của tỉnh Đắk Lắk

Trang 2

Nhằm thực hiện có hiệu quả Luật Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở, yếu

tố vô cùng quan trọng, then chốt là phải đảm bảo duy trì sĩ số học sinh, chống bỏ học Trong thực tế không ít trường học chỉ quan tâm, tập trung phấn đấu đạt tỉ lệ kết quả việc xét Tốt nghiệp Trung học cơ sở, kết quả lên lớp thẳng mà quên đi hiệu quả đào tạo Mà hiệu quả này phải được xem xét cả một bậc học, phải căn

cứ số học sinh tuyển vào và số học sinh tốt nghiệp cuối khóa, số học sinh lưu ban, số học sinh bỏ học giữa chừng và số học sinh theo học Trung học phổ thông và các trường nghề sau khi tốt nghiệp Trung học cơ sở

Trường THCS Phan Chu Trinh nơi mà bản thân tôi đang công tác là một trường thuộc một xã vùng II, số lượng học sinh người dân tộc thiểu số là chiếm

tỷ lệ thấp so với các trường khác trong huyện, nhưng tình trạng vắng, bỏ học của học sinh diễn ra thường xuyên ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục và việc Phổ cấp giáo dục Trung học cơ sở của địa phương Vì vậy qua quá trình làm công tác quản lý nói chung và đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy , duy trì

sĩ số chống học sinh bỏ học là một vấn đề cấp thiết của nhà trường đề ra Với

những lý do đó tôi xin phép đưa ra một số kinh nghiệm về “Một số biện pháp của hiệu trưởng nhằm duy trì sĩ số-chống bỏ học ở trường THCS Phan Chu Trinh - Krông Bông - Đắk Lắk trong những năm học qua ” với mục đích chia

sẽ những những giải pháp, những kinh nghiệm, phù hợp với tình hình thực tế tại trường học nơi bản thân tôi đang công tác nhằm hạn chế tối đa tình trạng bỏ học

để giữ sĩ số nhằm đạt chuẩn Phổ cập Trung học cơ sở của huyện vào tháng 12 năm 2008, nhằm từng bước nâng cao dân trí và tạo nguồn nhân lực cho địa phương , góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo của huyện Krông Bông nói chung và trường THCS Phan Chu Trinh nói riêng

II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Căn cứ theo kết quả duy trì sĩ số - chống học sinh bỏ học của nhà trường trong những năm học 2005-2006; 2006-2007 chưa đạt hiệu quả so với kế hoạch

đề ra vào đầu năm học , thực tế cho thấy tỷ lệ học bỏ học còn cao trên 4 %

Trong hững năm học 2007-2008 và năm học 2008-2009 chúng tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và áp dụng các biện pháp chỉ đạo phối hợp các giả cho trường THCS Phan Chu Trinh xã Khuê Ngọc Điền -Krông Bông - Đắk Lắk khắc phục tình trạng duy trì sĩ số - học sinh bỏ học

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ:

1 Một số khái niệm:

* Biện pháp: là “Cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể”.

* Theo từ điển tiếng Việt – Ngôn ngữ học việt nam -Nguyễn Dương

Chi-Nhà xuất bản Đồng Nai thì Duy trì là “Có giữ gìn tình trạng cũ”.

* Sĩ số học sinh: là “Số học sinh của trường hay của lớp”.

Vì vậy: Biện pháp duy trì sĩ số là “Cách thức quản lý của Hiệu trưởng nhằm giữ vững số học sinh đã có trong suốt một năm học, suốt một cấp học”

* Xác định học sinh bỏ học: Một trẻ em được xác định bỏ học là khi trẻ

em đó trong độ tuổi giáo dục học đường bắt buộc (phổ cập giáo dục) mà không

thể đến trường: “ Học sinh rời trường sớm trước khi kết thúc năm cuối của giai đoạn giáo dục mà học sinh đó được tuyển vào” (theo các nhà giáo dục Quốc tế

và các chuyên gia UNESCO)

2 Cơ sở pháp lý:

- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có ghi: “Chính sách bảo vệ chăm sóc trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho mọi trẻ

em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hoà về thể chất trí tuệ, tinh thần và đạo đức, trẻ em mồ côi bị khuyết tật sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có cơ hội học tập và vui chơi”.

Nhà trường, đặc biệt là trường có cấp học THCS là nơi tạo ra những nền tảng kiến thức cơ bản, là nơi trang bị kiến thức cho các em bước vào trường THPT, các trường dạy nghề, cho các em có những kiến thức cơ bản để các em vào đời Đây cũng chính là nơi tạo ra nguồn lực để đáp ứng cho việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, góp phần thực hiện nhiệm vụ của ngành giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra Điều này trong văn kiện Đại hội Đại

biểu toàn quốc lần thứ IX: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.

Theo Luật Giáo dục thì vai trò vô cùng quan trọng của Giáo dục đã được

Đảng và Nhà nước ta xác định: “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đàu nhằm nầng cao dân trí đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài “ ( Điều 9 - luật giáo dục năm 2005 )

Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng giáo dục ở bậc học THCS trong

nhiệm vụ “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Đây là bậc

học có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước, vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã xác định mục tiêu đến năm 2010 nước ta đạt chuẩn Phổ cập THCS

Trang 4

trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các các thành viên của gia đình trong

độ tuổi quy định được học tập để đạt trình độ phổ cập (theo Điều 11 - Luật giáo

dục 2005)

Đảng ta đã có quan điểm chỉ đạo tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần

thứ IX: “Tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được họp tập thường xuyên, suốt đời” Điều này nhằm ngăn chặn học sinh bỏ học, duy trì sĩ số học

sinh ở suốt cấp học THCS

Vì vậy, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 329/QĐ-BGD&ĐT ngày 31/3/1990 đã khẳng định điều quan trọng cần làm

trong công tác duy trì sĩ số học sinh: “Duy trì sĩ số học sinh đang học, hạn chế đến mức thấp nhất tỉ lệ học sinh đang học tại lớp và bỏ học”.

Hiện nay đang bước vào giai đoạn gấp rút của kế hoạch 2000 – 2010 về việc đạt chuẩn quốc gia nên việc đảm bảo sĩ số và chất lượng học sinh là rất

quan trọng: “Tỉ lệ học sinh bỏ học hàng năm không quá 1%, học sinh lưu ban không quá 5%” (điều 7 – chương II – quy chế công nhận trường trung học đạt

chuẩn quốc gia)

Vì vậy, công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học trong nhà trường là nhiệm vụ cần thiết của mọi cấp, mọi ngành, đặc biệt là của ngành giáo dục Còn trong cơ

sở giáo dục thì đây là một nhiệm vụ cần được đưa lên hàng đầu của người cán

bộ quản lý nhằm góp phần làm tăng hiệu lực các văn bản đã được liệt kê ở trên

và nhằm đưa hiệu quả đào tạo của nhà trường ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội

3 Cơ sở lý luận:

Công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học trong trường THCS có ý nghĩa quan trọng, đây là giải pháp tích cực để đáp ứng yêu cầu của xã hội về nguồn nhân lực mới Quan điểm của Đảng “ coi trọng việc bồi dưỡng nâng cao dân trí , đẩy mạnh việc phổ cập giáo dục các cấp nhằm tạo nguồn phục vụ kịp thời việc đạo tạo nhan lực thuộc trình độ ở mọi vùng , mọi khu vực kinh tế “ để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần thắng lợi trong công tác phổ cập Giáo dục THCS theo kế hoạch đối với địa phương và cả nước

- Hiệu trưởng phải nắm chắc các nghiệp vụ quản lý, các văn bản chỉ của Đảng và Nhà nước, của Bộ và ngành Giáo dục về công tác duy trì sĩ số học sinh Hiệu trưởng cần tổ chức các chuyên đề về duy trì sĩ số ở; tiếp thu, lắng nghe ý kiến của cha mẹ học sinh, các đề nghị của đội ngũ CB – GV trong nhà trường, đặc biệt là các GVCN của các khối lớp về các vấn đề liên quan đến sĩ số của học sinh

- Thông qua Hội Nghị Cán bộ Giáo Viên - Viên Chức , các cuộc họp của Hội đồng sư phạm, sinh hoạt chuyên môn, tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, giao ban hàng tuần, hàng tháng, Hiệu trưởng cần quán triệt rõ về ý nghĩa - tầm quan

Trang 5

trọng của công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học trong đơn vị trao đổi những kinh nghiệm hay, những giải pháp thích hợp nhằm duy trì sĩ số học sinh có hiệu quả cao

- Thông qua các cuộc họp giao ban tại xã, đặc biệt qua các cuộc họp Hội cha mẹ học sinh trong năm học, Hiệu trường cần đề nghị, tuyên truyền và nêu rõ cho các cấp, các ban ngành đoàn thể biết và nắm rõ tầm quan trọng về vấn đề duy trì sĩ số hiện nay không chỉ là trách nhiệm của các thầy cô giáo trong nhà trường mà còn là trách nhiệm của mọi người, mọi cấp, của toàn xã hội, từ đó mọi người, mọi ban ngành đoàn thể cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ trong việc ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học giúp các em có điều kiện tiếp tục theo học, hoàn thành cấp học THCS và có được những kiến thức cơ sở, những kỹ năng cơ bản

để bước vào cuộc sống sau này và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng tươi đẹp

II/KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ TRƯỜNG

1 Địa bàn, dân cư :

Trường THCS Phan Chu Trinh, xã Khuê Ngọc Điền, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk được thành lập vào tháng 8 năm 2004 Là một trường nằm trên một xã vùng II của huyện Krông Bông có đường tỉnh lộ 12 chạy qua, xã Khuê Ngọc Điền gồm có 10 thôn Trước đây, xã Khuê Ngọc Điền chưa tách còn chúng với thị trấn Krông Kmar Hiện nay địa bàn xã bị chia cắt bởi con sông Krông Kmar 5 thôn ở nữa bền này và 5 thôn ở nửa bên kia, giao thông đi lại đã xuống cấp luôn ách tắc giao thông cho nên các em đi học đã gặp không ít khó khăn Tổng số dân toàn xã là 6578 nhân khẩu và có 1431 hộ, , trong đó dân tộc thiểu số là 353 hộ với 2685 khẩu , chiếm tỉ lệ 40.8 % ; có hộ nghèo 678 hộ, chiếm 47.3% Nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống còn nhiều khó khăn Mặt bằng dân trí thấp, nhận thức của nhiều phụ huynh đối với việc học tập của con em còn nhiều hạn chế, còn một số hủ tục lạc hậu, địa bàn dân cư trải rộng, đi lại khó khăn nhất là vào mùa mưa Đây là các yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập, phấn đấu của học sinh của nhà trường

2 Tình hình đội ngũ:

Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên toàn trường: 27 người

Trong đó:

Cán bộ quản lý: 02 gồm 01 Hiệu trưởng, 01 Phó Hiệu trưởng

Tổng phụ trách: 01

Bán chuyên trách đội : 01

Giáo viên đứng lớp: 21

Công nhân viên: 04 ( kế toán : 01, thư viện: 01 văn thư : 01 và 01 bảo vệ)

Cơ cấu các tổ: 05 tổ : Tổ Chuyên môn : 04 và tổ Văn phòng : 01

Đội ngũ còn thiếu 02 nhân viên :01 nhân viên y tế học đường, và 01 cán bộ phụ trách thiết bị

Trang 6

Đội ngũ hiện có đều đạt chuẩn về trình độ đào tạo, tương đối nhiệt tình trong hoạt động giảng dạy và các hoạt động, có ý thức nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ Tuy nhiên toàn bộ CB-GV-CNV của trường đều là người khác xã, thậm chí huyện khác nên đôi khi chưa an tâm công tác, GV chỉ coi đây là chỗ trú chân, nếu có điều kiện sẽ thuyên chuyển đi nơi khác nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác

3 Về cơ sở vật chất, trường lớp:

Diện tích khuôn viên trường 7600 m2,

- Phòng học : 11 phòng trong đó bán kiên cố : 07 phòng , phòng cấp 4 : 04 phòng

Nhà trường sử dụng 07 phòng học văn hoá, 01 phòng làm Văn phòng và 01 phòng làm việc của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng cùng các đoàn thể, 01 phòng làm nơi để thiết bị dạy học, 01 phòng thí nghiệm Hoá học

Trường có 01 phòng nội trú cho 05 giáo viên, nhân viên Trường có 01 khu vệ sinh dùng chung cho giáo viên và học sinh

Còn thiếu CSVC như : Công trình nước sạch , nhà xe giáo viên, cổng trường tường rào còn tạm bợ, phòng chức năng, phòng làm việc của ban giám hiệu, phòng bộ môn, phòng thực hành , phòng truyền thống, phòng máy tính, phòng lab

Hệ thống sân chơi, bãi tập chưa đạt yêu cầu, chưa đảm bảo, cây xanh bóng mát cho học sinh vui chơi, học tập chưa đạt yêu cầu

Thiết bị dạy học còn thiếu như : Đèn chiếu, máy vi tính đầu đĩa phục vụ giảng dạy và sinh hoạt…

4 Tình hình học sinh đầu năm học 2008 – 2009:

Tổng số học sinh toàn trường: 376 Trong đó: học sinh dân tộc thiểu số : 06 Tổng số lớp: 11Chia ra :Lớp 6: 03 ;Lớp 7: 03;Lớp 8: 03;Lớp 9: 02

III THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DUY TRÌ SĨ SỐ TẠI TRƯỜNG THCS PHAN CHU TRINH

1 Số lượng học sinh Phan Chu Trinh ra lớp qua các năm (từ tháng 12/2004 đến năm học 2007 – 2008

Năm

Khối

* Một số nhận xét công tác phát triển số lượng học sinh tại trường THCS Phan Chu Trinh trong thời gian qua

Trang 7

2 Số lượng học sinh lưu ban bỏ học qua các năm: :( Không tính học sinh

chuyển đi và đến )

2008-2009 Ghi chú

Nhận xét về tình hình bỏ học của học sinh:

Qua bảng phâm tích cho ta thấy tỷ lệ học bỏ học ở khối lơp6 chiểm nhiều nhất là 9.6 % lên đến lớp 9 tỷ lệ học sinh bỏ học thấp hơn, nhưng từ năm học 2007-2008 và năm học 2008- 2009 chúng tôi đã áp dụng một số biện pháp phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp, Đoàn đội, GV bọ môn và phói kết hợp với địa phương do đó kết quả duy trì sĩ số đã đạt được kết quả tương đối tốt

3 Tỉ lệ duy trì sĩ số của trường THCS Phan Chu Trinh qua các năm vừa qua:

Năm học

bỏ học

Ghi chú Khối

Đánh giá về công tác duy trì sĩ số, chống lưu ban bỏ học tại trường THCS Phan Chu Trinh :

Qua phân tích số liệu chúng ta thấy công tác duy trì sĩ số chống bỏ học ở trường THCS Phan Chu Trinh trong khóa học tỷ lệ bỏ học chiếm 22.3% ; như vậy tỷ lệ học sinh lưa ban bỏ học còn cao do vậy công tác duy trì sĩ số - chống

bỏ học là một vấn đề đặt ra rất cấp bách đối với nhà trường và các cấp các ban ngành của xã Khuê Ngọc Điền để duy trì tỷ lệ đạt phổ cập THCS và tầng bước phổ cập học sinh đúng độ tuổi

Trang 8

IV NGUYÊN NHÂN VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG:

1 Tìm hiểu nguyên nhân:

Để tìm hiểu nguyên nhân bỏ học, tôi đã tiến hành trao đổi, khảo sát đối với các đối tượng sau:

1.1 Học sinh bỏ học và cha mẹ học sinh có con em bỏ học:

- Do bị hỏng kiến thức cơ bản 27%

- Hoàn cảnh gia đình khó khăn , bố mẹ ly dị sống với người thân 30%

- Không có phong trào học tập ,thường bị những bạn nghỉ học lôi kéo nghỉ học 15%

- Nhà ở xa trường 20%

- Lưu ban nhiều năm 35%

1.2 Giáo viên chủ nhiệm lớp:

- Gia đình không quan tâm đến học tập của con em 75%

- Học sinh ham chơi, không tập trung học tập 80%

- Không làm bài tập ở nhà và chuẩn bị bài trước khi đi học

1.3 Ban giám hiệu:

-Đời sống, thu nhập kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn 45%

Học sinh bị mất kiến thức căn bản từ những lớp dưới 65% Đua đòi đi làm ăn xa ở các khu công nghiệp 60%

Cơ sở vật chất còn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh 30%

1.4 Chính quyền địa phương:

- Công tác phối hợp với các ban ngành của địa phương với nhà trường còn nhiều hạn chế 65% Ban chỉ đạo phổ cập hoạt động chưa có hiệu quả 35%

2 Phân tích nguyên nhân:

Ta nhận thấy vấn đề học sinh bỏ học ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của nhà trường, của xã hội Tình hình học sinh bỏ học của các năm qua chủ yếu tập trung vào các nguyên nhân sau:

2.1 Nhà trường:

Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch đầu năm chưa khả thi về công tác duy trì sĩ số học sinh - chống học sinh bỏ học , kế hoạch còn mang tính chung chung

Hiệu trưởng chưa chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm lớp chưa sát sao và chưa đưa công tác duy trì sĩ số học sinh vào công tác thi đua

Công tác phối hợp của BGH với công tác đội TNTP Hồ Chí Minh chưa tốt Đội thiếu niên chưa tổ chức tốt các phong trao vui chơi thiết thực, tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp … để thu hút học sinh đến trường

Cơ sở vật chất , thiết bị của nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học ; các phòng thiết bị, phòng bộ môn, thư viện, phòng truyền thống …sân chơi bãi tập, cây xanh bóng mát chưa đạt yêu cầu nhằm gây hứng thú học tập cho

Trang 9

học sinh Khuôn viên nhà trường chưa tách biệt khỏi dân cư, còn có đường người dân đi qua trong trường đã làm ảnh hưởng đến công tác an ninh trong nhà trường

2.2Về công tác chủ nhiệm : Còn mang tính chất hành chính sự vụ, nội dung

sinh hoạt lớp còn mang tính đối phó, tháo quát những học sinh vi phạm các lỗi thông thường Giáo viên chủ nhiệm chưa phối kết hợp chặt chẽ với tổ chức đoàn

TN, Đội thiếu niên, Giáo viên bộ môn và ban đại diện cha mẹ học sinh, phụ huynh học sinh kịp thời

Chưa nắm bắt kịp thời tình hình học tập cũng như học sinh nghỉ học trong ngày, trong tuần của học sinh lớp mình phụ trách

Hầu như giáo viên chủ nhiệm lớp được thay đổi hàng năm cho nên việc năm bắt tình hình điều kiện hoàn cảnh của học sinh không kịp thời

Nguy cơ học sinh bỏ học nhiều là phần lớp giáo viên là không phải người ở địa phương cho nên gặp khó khăn trong khi vận động học sinh đi học cũng như động viên thăm hỏi gia đình học sinh, khi học sinh quyết định bỏ học mới đến vận động thì kết quả không cao

2.3 Về giáo viên bộ môn : phân lớn chỉ chú ý đến chất lượng bộ môn nhưng ít

hiểu được tâm lý, hoàn cảnh gia đình của từng học sinh và một số giáo viên không có thiện cảm với những học sinh có học lực yếu, kém về học tập và những em có đạo đức chưa tốt, chưa ngoan cho nên đôi khi giáo viên cư xử còn thiếu tế nhị làm xúc phạm đến lòng tự ái của học sinh và cũng không ít giáo viên chưa tạo cơ hội cho học sinh làm lại những lỗi mà các em đã vấp phải trong học tập

Cũng có trường hợp xử lý tình huống sư phạm không tốt đã vô tình làm cho học sinh dẫn đến chán học môn đó và có thái độ bất hợp tác với giáo viên trong học tập cúng như trong các hoạt động khác

2.4 Học sinh:

Phần lớn học sinh đi học không đúng độ tuổi ( 13,14 tuổi vào học lớp 6 )

Một số học sinh mất kiến thức cơ bản ở lớp dưới và không đủ khả năng tiếp thu kiến thức của lớp mới

Phần lớn thái độ động cơ học tập của học sinh chưa đúng đắn, chưa hiểu hết học

để làm gì

Một số học sinh nghĩ rằng học đến lớp 7,8 là đủ nên nghỉ để đi làm ăn xa ở các thành phố lớn và các khu công nghiệp

Một số học sinh nghỉ học do thường xuyên bị điểm kém thường bị phê bình nhắc nhở trước lớp và trước giờ chào cờ đầu tuần

Một số em bỏ học vì học lực kém thường vi phạm nội qui qui định của nhà trường

Nguyên nhân bỏ học nữa là do chất lượng tuyển sinh đầu cấp thấp công tác phổ cập tiểu học, xóa mù ở bậc tiểu học cho nên khi lên lớp 6 cấp trung học cơ sở học sinh không theo kịp chương trình hoc

Trang 10

2.5 Gia đình, cha mẹ học sinh:

Không ít gia đình quan niệm chỉ học cho biết đọc, biết viết là đủ để làm công

nhân lao động phổ thông , như trong gia đình có người anh chỉ học hết lớp 8 đi làm công nhân và hàng tháng hoặc tết gửi tiền về cho gia đình thế là họ thầy vậy là tốt cho nên chỉ học vậy là đủ.

Cũng không it gia đình phụ huynh học sinh thiếu quan tâm đến việc học tập của con em mà khoán trắng cho nhà trường họ nghĩ rằng việc dạy học là nhiệm vụ của nhà trường và việc học là của con em không học được thì nghĩ, họ chỉ tập trung lo làm ăn kiếm tiền

Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện học tập cho con em về

đồ dùng học tập cũng như quỹ thời gian dành cho học ở nhà ,môi trường học tập gốc học tập

Một số gia đình cưng chiều con cái quá mức khi nào cũng cho con mình là ngoan, giỏi cho nên dẫn đến thiếu phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội

Có gia đình đồng ý cho con mình nghỉ học để làm kinh tế phụ giúp gia đình Có gia đình quan tâm đến học tập con cái mình nhưng do trình độ hiểu biết thấp cho nên hạn chế về phương pháp kèm cặp, hướng dẫn về việc học tập của con em cũng như đôn đốc kiểm tra việc họa tập của con em

2.6 Cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương , các đoàn thể :

Về việc lãnh đạo của Đảng ủy đối với các ban ngành trong xã về công tác giáo dục có quan tâm nhưng về mảng công tác phổ cập cũng như duy trì sĩ số chống học học sinh bỏ học còn nhiều hạn chế ớCha đưa ra những chuyên đề phối kết hợp với các ban ngành trong xã

Đối với Chính quyền địa phương xem như đây là việc của nhà trường còn

họ chỉ biết chăm lo cơ sở vật chất nhà trường một phần nào đó Chưa có sự chỉ đạo chặt chẽ việc phối kết hợp giữa gia đình – nhà trường và xã hội

Ban chỉ đạo phổ cập, hội khuyến học xã chưa cùng nhà trường để phát huy đúng vai trò chức nặng nhiệm vụ của tổ chức để khuyến khích động viên kịp thời con em đi học đồng thời khi có học sinh nghỉ học, học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn

Bên cạnh đó còn có những ảnh hưởng xấu tác động ngoài xã hội đến nhìn nhậnvà nhận thức của học sinh như : Ngay cạnh trường học có quán bida , quán Net, trò chơi điện tử và hàng quán còn bày bán trước cổng trường …cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh cũng như đạo đức của học sinh

Phần lớn một số em học sinh học hết cấp trung học cơ sở thậm chí hết cấp trung học phổ thông cũng ở nhà làm ruộng, làm rẩy vì thi ngành nghề không đậu

ở nhà địa phương cũng không sử dụng nguyên nhân đó cũng làm cho việc thúc đẩy động lực học sinh đi học cũng gặp khó khăn ở vùng sâu vùng xa như ở

Ngày đăng: 11/04/2013, 08:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w