1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đề cương tốt nghiệp(bản mới)-Hường

56 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 579,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” thật độc đáo, sâu sắc: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn” + Câu thơ gợi lên một tập tục đã ăn sâu vào truyền thống của dân tộc: tục ăn

Trang 1

Bài 1 TUYấN NGễN ĐỘC LẬP

(Hồ Chớ Minh)

I.Hoàn cảnh sỏng tỏc:

- Hoàn cảnh lớn:

HCM viết bản tuyờn ngụn khi đế quốc, thực dõn đang chuẩn bị chiếm lại nước ta:

+ Dưới danh nghĩa quõn đồng minh vào giải giỏp quõn đội Nhật, Quõn đội Quốc dõn Đảng TQ tiến vào phớa Bắc

+ Quõn Anh tiến vào phớa Nam

+ Thực dõn Phỏp theo chõn đồng minh tuyờn bố “ Đụng Dương thuộc quyền bảo hộ của Phỏp”

- Hoàn cảnh cụ thể:

Ngày 19 - 8 - 1945, chính quyền Hà Nội về tay nhân dân Ngày 26 - 8 - 1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu trở

về Hà Nội Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang - Hà Nội Ngời đã soạn bản Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 -9

- 1945, tại quảng trờng Ba Đình -Hà Nội , Ngời thay mặt chính phủ lâm thời của Nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập trớc đồng bào cả nớc và thế giới

II.Đối tượng và mục đớch:

+ Đối tượng: nhõn dõn VN, nhõn dõn Thế giới và bọn đế quốc Anh, Phỏp, Mỹ.

+ Mục đớch :

- Tuyờn bố và khẳng định quyền độc lập , tự do của dõn tộc VN

- Bỏc bỏ luận điệu của bọn xõm lược trước dư luận TG

- Đồng thời khẳng định ý chớ bảo vệ độc lập dõn tộc

III Cõu hỏi và đề văn:

1 Vỡ sao HCM lại chọn trớch dẫn 2 bản tuyờn ngụn của Phỏp và Mỹ để mở đầu cho bản tuyờn ngụn của mỡnh? ( “Tất cả mọi người đều sinh ra cú quyền bỡnh đẳng Tạo húa cho họ những quyền khụng ai cú

thể xõm phạm được; trong những quyến ấy, cú quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phỳc”- MĨ và “Người ta sinh ra tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi và phải luụn được tự do và bỡnh đẳng về quyền lợi”- PHÁP)

- Trớch dẫn từ 2 bản tuyờn ngụn của Mĩ ( 1776) và Phỏp (1791) để Làm cơ sở phỏp lớ cho bản tuyờn ngụn.

a TNĐL là một văn kiện lịch sử trọng đại:

+ Bản tuyên ngôn đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân ,

đánh đổ chế độ quân chủ lập hiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

+ Tuyên ngôn độc lập còn đập tan những luận điệu xảo trá của bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp về việc khai hóa ,

bảo hộ để nhằm tái chiếm Đông Dương

+ Tuyên ngôn độc lập vừa giải quyết được nhiệm vụ độc lập dân tộc, lại vừa giải quyết được nhiệm vụ dân chủ

cho nhân dân (Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ cộng hoà), tức là bên cạnh chữ Độc lập lại có thêm chữ Tự do, mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước: kỉ nguyên độc lập, tự

do Đó là tư tưởng lớn , chân lí của thời đại mà sau này Bác đã đúc kết trong câu nói nổi tiếng : “Không có gì quí hơn Độc lập, Tự do”

+ Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh và là kết quả của

bao nhiêu hi vọng của nhõn dõn VN

Trang 2

b TNĐL là áng văn chính luận mẫu mực thể hiện ở: lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, ngơn ngữ hùng hồn

vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của kẻ thù, ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước ta của các thế lực thù địch vừa bộc lộ tình cảm yêu nước thương dân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của tác giả và tồn dân tộc

* Trước hết, HCM xây dựng cơ sở pháp lí của chủ quyền dân tộc VN Cơ sở ấy là hai bản bản tuyên ngơn

của Pháp, Mĩ được tác giả trích dẫn nội dung cốt lõi (phần trích ở câu 1).Từ những nguyên tắc ấy, HCM suy rộng ra “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng cĩ quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” và khẳng định “đĩ là những lẽ phải khơng ai chối cãi được” àĐiều này cĩ ý nghĩa vơ cùng to lớn bởi Người đã:

- Đề cao truyền thống bình đẳng , tiến bộ của nhân dân Mĩ và Pháp nhằm ngăn chặn âm mưu của bọn xâm

lược àDùng chiến thuật “ gậy ơng đập lưng ơng”

- Đặt 3 cuộc CM của nhân loại ngang bằng nhau, CM VN cùng lúc thể hiện 2 nhiệm vụ của 2cuộc CM Pháp,

Mỹ àCM VN trở thành một bộ phận của CM thế giới

- Từ 2 bản tuyên ngơn này, HCM suy rộng ra “tất cả các dân tộc đều cĩ quyền hưởng tự do, độc lập” à thúc

đẩy phong trào giải phĩng dân tộc trên thế giới

*Tiếp đến, HCM đưa ra cơ sở thực tế của chủ quyền dân tộc VN:

Thực dân Pháp đã chiếm nước ta trên 80 năm và hiện đang lăm le tái chiếm Để dọn đường cho cuộc xâm lược mới, chung chuẩn bị dư luận, rêu rao về quyền của chúng ở VN nĩi riêng, ở Đơng Dương nĩi chung Bởi vậy, để khẳng định chủ quỳên của dân tộc, Người đã phủ nhận quyền của chúng đối với VN, bằng cách chứng minh ngược lại những lời rêu rao của chúng:

- Chúng kể cơng khai hĩa, bản TN vạch trần những hành động tội ác “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”

+ Về chính trị, chúng: thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ của ta; chia rẽ ba kì; tắm máu các phong trào yêu

nước và cách mạng; thi hành chính sách ngu dân; đầu độc dân ta bằng thuốc phiện, rượu cồn

+ Về kinh tế, chúng: bĩc lột và vơ vét đến tận xương tủy; cướp khơng ruộng đất, hầm mỏ, giữ độc quyền in

giấy bạc ; đặt ra hàng trăm thứ thuế vơ lí

- Chúng kể cơng “bảo hộ”, bản TN kể tội trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật (mùa thu

năm 1940, Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật; ngày 9.3.1945, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp, bọn chúng hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng )

kết quả là: gây ra nạn đĩi khủng khiếp làm hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đĩi

- Chúng tuyên bố Đơng Dương trong đĩ cĩ VN là thuộc địa và địi lại, bản TN vạch rõ: ĐD và VN trở thành thuộc địa của Nhật từ năm 1940 và nhân dân ta đã giành độc lập từ tay Nhật chứ khơng phải

từ tay Pháp.

- HCM khẳng định dân tộc VN cĩ quyền trên đất nước của mình:

+ Nếu P phản bội đồng minh, hai lần bán rẻ ĐD cho Nhật thì VN đã đứng lên chống Nhật giành chủ quyền.+ Nếu P đê hèn, tàn bạo,và phản động ở hành động “thẳng tay khủng bố Việt Minh, giết nốt số tù chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng thì ta khoan hồng, nhân đạo

à Từ những cơ sở pháp lí và thực tế hết sức đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, HCM đi đến tuyên bố độc lập Lời tuyên bố gồm:

- Thốt li hẳn quan hệ thực dân với P, xĩa bỏ hết những hiệp ước mà P đã kí về VN, xĩa bỏ mọi đặc quyền của P trên đất nước VN

- Kêu gọi tồn dân đồn kết một lịng chống lại âm mưu của P Khẳng định ý chí, quyết tâm mạnh mẽ của tồn dân tộc (tồn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do dộc lập ấy)

- Kêu gọi cộng đồng quốc tế cơng nhận quyền tự do, độc lập của dân tộc VN

Bài 2 “NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU-NGƠI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC”

(Phạm Văn Đồng)

1 Hồn cảnh sáng tác:

- Được viết nhân dịp ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu ( 3/7) , được in trên tạp chí văn học số 7/1963

Trang 3

- Viết vào thời điểm đất nước đang xảy ra những sự kiện quan trọng, đặc biệt trên quê hương Nguyễn Đình Chiểu.

2 Mục đích sáng tác:

+ Kỉ niệm ngày mất của NĐC , nhà văn tiêu biểu , người chiến sĩ yêu nước trên mặt trận văn hĩa và tư tưởng

+ Định hướng và đìêu chỉnh cách nhìn và chiếm lĩnh tác phẩm của NĐC

+ Thể hiện mối quan hệ giữa văn học và đời sống

+ Khơi dậy tinh thần yêu nước thương nòi của dân tộc

- Người ta chỉ biết NĐC là tác giả của ”Lục Vận Tiên” nhưng lại hiểu ”LVT” khá thiên lệch

- Ít người biết đến thơ văn yêu nước của NĐC , một khúc ca hùng tráng về phong trào yêu nước của nhân dân Nam Bộ

Bài 3 THƠNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHỊNG CHỐNG AIDS, 1-12-2003

(CƠ PHI AN NAN)

I Xuất xứ :

Văn bản là thơng điệp của Tổng thư kí Liên hợp quốc Cơ- phi An- nan gửi nhân dân thế giới nhân ngày thế giới phịng chống AIDS, 1-12-2003

II Tĩm tắt nội dung chính của bản thơng điệp :

1 Bản thơng điệp nêu lên tầm quan trọng và ý nghĩa cấp bách của việc phịng chống hiểm họa HIV

/AIDS: Chống lại HIV/AIDS là trách nhiệm lớn của mỗi nhà nước và mỗi người.

Tác giả cho rằng đĩ là vấn đề rất cần phải đặt lên “vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mỗi quốc gia và mỗi cá nhân là vì HIV/AIDS là một mối hiểu nguy lớn, một đại dịch đang hồnh hành đe dọa tồn nhân loại chúng ta”

2 Phần điểm tình hình đã qua tuy viết khơng dài nhưng tác giả nhìn chung vẫn đảm bảo được yêu cầu tồn diện tổng hợp và bao quát Ơng nêu đầy đủ cả mặt đã làm được và mặt cịn chưa làm tốt tại nhiều

khu vực khác nhau, với những hành động khơng chỉ của những quốc gia mà cịn của cả những tổ chức, cơng ty

và cả các nhĩm từ thiện và cộng đồng Phần điểm tình hình đĩ đã thể hiện một tầm nhìn rộng lớn của một con người trong cương vị lãnh đạo đứng đầu một tổ chức quốc tế lớn nhất, người đang đảm đương trọng trách tổng thư ký liên hợp quốc

Tồn diện, tổng hợp, bao quát nhưng khơng hề chung chung trừu tượng, văn kiện cịn cĩ khơng ít những số

Trang 4

liệu cụ thể đi kèm với tình hình cụ thể nắm rõ cả HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở giới nào và đang lan rộng nhanh nhất ở khu vực nào hay căn cứ vào đây để lo ngại “chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005”.

Điều này đủ để cho thấy tác giả là một quan chức rất quan tâm trước tình hình cụ thể của cuộc chiến chống AIDS đã và đang diễn ra trên toàn cầu Ông cũng là người có đầu óc phân tích, nhận xét thấu đáo và đặc biệt là

có cách thể hiện dễ gây ấn tượng đối với người đọc, người nghe

Chẳng hạn, thay vì nêu tổng số người bị nhiễm HIV trong một năm thì C.An-nan đã dùng cách nói gây ấn tượng mãnh liệt và tức thời đối với tâm trí mỗi người: “Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi,

có khoảng 10 người bị nhiễm HIV”

Những lời tổng kết tình hình vừa nói có trọng tâm dồn cả sức năng vào luận điểm: “Song hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế”

Người đọc, người nghe dường như đã nhận ra được cảm xúc chân thành của tác giả ở đoạn nói về dịch HIV/AIDS “có rất ít dấu hiệu suy giảm, do chúng ta “chưa hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay” (2003)

3 Sau khi giúp người đọc nắm vững tình hình, bản thông điệp nêu rõ nhiệm vụ của mỗi người Phần

nêu tình hình gắn bó chặt chẽ với phần xác định nhiệm vụ cũng là phần chủ yếu mục đích, của thông điệp này Câu cuối của phần trước: “Với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005 Còn đây là câu đầu của phần sau

Rõ ràng, Chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết”

Nhưng bản thông điệp không chỉ dừng lại ở những lời kêu gọi chung chung như thế: “Chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa” Tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo các thao tác so sánh và bác bỏ để nhấn mạnh là chúng ta không chỉ vì mục tiêu của cuộc cạnh tranh mà được phép quên cái thảm họa đang ngày một nhanh chóng cướp

đi cái đáng quý nhất là mạng sống và tuổi thọ của con người Ông còn tạo ra mối tương quan giữa một phía là

sự thờ ơ trước đại dịch HIV/AIDS và một phía là cái chết để cho quá đông cho thấy sự lên tiếng chống lại HIV/AIDS,với nhân loại vấn đề có ý nghĩa sinh tử, tồn vong”, sống hay không sống”

Cho đến khi kết thúc thông điệp C.An-nan vẫn còn nhắc nhở chúng ta không được quên nghĩa vụ khẩn cấp ấy: “Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính bạn

Đặc biệt là C.An-nan còn gắn nỗ lực chống HIV/AIDS với việc dỡ bỏ đi thái độ kì thị, phân biệt đối xử với những ai không may mắn mắc phải chứng bệnh thế kỉ này Ông nêu lên một luận điểm hơi bất ngờ đối với nhiều người “Chúng ta còn bị chậm hơn nữa nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đối với những người

bị HIV/AIDS Sau đó ông lại gộp chung sự im lặng cùng với sự chia rẽ và phân biệt đối xử vào chung “cái thành lũy” đang vây quanh bệnh dịch này, cái thành lũy mà ông kêu gọi, hô hào mọi người trên thế giới hãy sát cánh cùng ông chung tay giật đổ

4 Trong bản thông điệp này phần có giá trị hơn cả là phần cuối bài Ở phần này, tác giả sử dụng những

câu văn ngắn gọn với một cảm xúc kìm nén, không lớn tiếng khoa trương mà có một vẻ đẹp cô đúc, sâu sắc Theo hướng lời ít ý nhiều đó, có câu văn như một quy luật gọn ghẽ mà độc đáo bất ngờ: “Trong thế giới đó,

im lặng đồng nghĩa với cái chết” Cũng có câu cô đọng mà tạo hình ảnh gợi cảm xúc: “Hãy cùng tôi giật đổ các thành lũy của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử trong vây quanh bệnh dịch này” Lại còn có câu vừa gọn ghẽ độc đáo vừa dễ hình dung và gợi cảm: “Hãy dừng lại để một ai đó có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ” Trong thế giới AIDS khắc nghiệt này không có khái niệm chúng ta và họ

III “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ Trong thế giới đó, im

lặng đồng nghĩa với cái chết” Viết một văn bản nghị luận trình bày suy nghĩ của anh, chị về ý kiến trên.

Gợi ý:

1 MB:

Trang 5

- Nêu vắn tắt sự lan tràn với tốc độ khủng khiếp của đại dịch AIDS trên phạm vi toàn thế giới Chỉ rõ một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thức trạng này là thái độ bang quan, xa lánh của cộng đồng đối với những người bị nhiễm bệnh.

- Nêu ý kiến của Cô- phi An- nan

2 TB:

a Giải thích tư tưởng nêu trong lời thông điệp:

* “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ.”

- Tác giả gọi đó là “thế giới khốc liệt”:

+ Bởi theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới, cứ mỗi phút trôi qua có khoảng 10 người bị nhiễm HIV Bệnh đang lây lan ở những khu vực mà trước đây vẫn còn an toàn, nhất là ở Châu Á Đáng báo động là đối với phụ nữ bởi phụ nữ chiếm tới 50 % số người nhiễm bệnh

+ Còn theo thống kê của Bộ y tế VN, trên đất nước ta cứ 15phút trôi qua lại có thêm một người mắc bệnh, như vậy sau mỗi ngày, ta lại có thêm 96 người nhiễm HIV, mỗi tuần là 672 người, mỗi tháng là 2920 người

và sau mỗi năm là 35.040 người, bằng dân số của một huyện!

+ Bởi bệnh không từ một ai, từ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ đến cả những thai nhi còn nằm trong bụng mẹ! Từ giới thượng lưu, trí thức, dân lao động đến bọn trộm cắp, giang hồ….Nói tóm lại, ai cũng có nguy cơ mắc căn bệnh chết người này nếu không có hiểu biết về nó và không biết cách tự bảo vệ mình

- Nhưng tại sao lại “không có khái niêm chúng ta và họ”?

Cách nói “chúng ta và họ” thể hiện cái nhìn và cách ứng xử phân biệt, kì thị với những người bị lây nhiễm HIV/AIDS “chúng ta”- những người chưa bị lây nhiễm HIV/ AIDS, “họ”- những nạn nhân của căn bệnh này Nó thể hiện sự thiếu hiểu biết về HIV/AIDS Chính vì thế, con người dễ ảo tưởng, luôn nghĩ rằng mình được bảo vệ an toàn Nếu cứ giữ cách nhìn ấy, quan niệm ấy, cách ứng xử ấy trong cuộc đấu tranh chống lại AIDS thì rất nguy hiểm ( Nêu dẫn chứng cụ thể) Bởi “Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”

* “Im lặng” là gì? Và tại sao “im lặng đồng nghĩa với cái chết”?

Phải chăng im lặng chính là sự kì thị, xa lánh của người khỏe mạnh với người nhiễm bệnh? Từ đó đẩy họ vào tình thế cô lập, mặc cảm, tự ti, thậm chí có thái độ hận đời, giấu giếm bệnh của mình và đi “trả thù đời”

Và như thế, HIV/AIDS ngày càng lây lan nhanh hơn, cái chết sẽ có thể đến với bất kì ai…

- Khẳng định sự đúng đắn và sâu sắc trong lời kêu gọi đầy tâm huyết của Tổng thư kí liên hiệp quốc

- Mỗi chúng ta cần phải sống lành mạnh, tự bảo vệ mình, cần phải tích cực góp phần vào việc thay đổi thái

độ đối với những người nhiễm AIDS Bởi vì, đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với mục đích đẩy lùi đại dịch này!

IV Viết bài văn trình bày những hiểu biết của anh, chị về căn bệnh HIV/AIDS và kêu gọi làm

những việc cụ thể để góp phần phòng chống căn bệnh này?

Trang 6

+ Qua đường máu: truyền máu, tiêm chích, xăm mình, ghép tạng

+ Qua đường tình dục không an toàn

+ Mẹ bị nhiễm HIV có thể truyền qua thai nhi và truyền cho con qua sữa mẹ

– Các giai đoạn phát triển của bệnh HIV/AIDS:

+ Giai đoạn sơ nhiễm hay giai đoạn “cửa sổ”: kéo dài 2 tuần đến 3 tháng Triệu chứng bệnh thường không biểu hiện hoặc biểu hiện nhẹ

+ Giai đoạn không triệu chứng: kéo dài 1 - 10 năm Lúc này số lượng tế bào giảm dần

+ Giai đoạn biểu hiện triệu chứng AIDS: Các bệnh cơ hội xuất hiện: tiêu chảy, viêm da, sưng hạch, lao, ung thư Kapôsi, mất trí, sốt kéo dài, sút cân cuối cùng dẫn đến cái chết

– Hiện nay chưa có vacxin phòng HIV hữu hiệu, các thuốc hiện có chỉ có thể làm chậm tiến trình dẫn đến bệnh AIDS Do vậy, thực hiện lối sống lành mạnh, vệ sinh y tế, loại trừ tệ nạn xã hội là biện pháp tốt nhất để phòng HIV/AIDS

Bài 4 TÂY TIẾN – QUANG DŨNG

“Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành “Tây Tiến”

II Xuất xứ: “Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu nhất của Quang Dũng, thể hiện rõ phong cách nghệ thụât của nhà thơ- lãng mạn, tinh tế, phóng khoáng và tài hoa

III Đề văn và gợi ý:

1.Đề 1 Phân tích hình ảnh thiên nhiên miền Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến trong hoài niệm của tác giả qua đoạn thơ:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Trang 7

14 câu đầu bài thơ là nỗi nhớ đầy xúc động, bao trùm cả không gian, thời gian Nỗi nhớ dường như nén

chặt bỗng trào dâng, khiến kỉ niệm xôn xao hiện về:

a Hai câu mở đầu :

“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

- nỗi nhớ đơn vị cũ được cát lên thành lời, thành tiếng gọi vừa xao xuyến, bồi hồi vừa xen lẫn tiếc nuối:+ Sông Mã khơi nguồn cho nỗi nhớ vì đó là con sông từng chứng kiến vui buồn của người lính TT…

+ “Tây Tiến ơi” ba từ đơn giản nhưng thật tha thiết nghe như tiếng gọi nguời thương…ẩn chứa niềm bâng khuâng, thương nhớ

- Nỗi nhớ được nhân lên với nghệ thuật sử dụng điệp từ “nhớ”: “nhớ về… nhớ chơi vơi”

+ “nhớ về” gợi liên tưởng thời gian

+ “rừng núi” biểu tượng không gian

+ “Nhớ chơi vơi”- cách dùng từ độc đáo, như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hóa nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, rừng dày, vực thẳm

+Từ cảm “ơi” vần với từ láy “chơi vơi”, tạo âm hưởng mênh mang, da diết.

b 12 câu tiếp theo : Nhớ con đường hành quân của người lính qua núi rừng Tây Bắc:

* Điều kiện thời tiết khắc nghiệt: “Sài Khao… đêm hơi “

- Những hình ảnh :“sương lấp”, “đoàn quân mỏi”, “đêm hơi”+ liệt kê những địa danh lạ “Sài Khao”, “Mường Lát”…, gợi lên sự khắc nghiệt của thời tiết, vẽ nên con đường hành quân cụ thể mà rộng khắp Nhưng trong

“sương lấp”, “đêm hơi” đoàn hùng binh vẫn dũng cảm vượt qua những nẻo đường chiến đấu

* Địa hình hiểm trở, dữ dội: “Dốc lên…….xa khơi”

- Những từ láy: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút + những hình ảnh đối lập: “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm

thẳm”, “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

àNhững câu thơ giàu chất tạo hình vẽ ra cái thế gập ghềnh, cheo leo của dốc núi như thử thách ý chí can

trường của người lính Nhưng các anh vẫn phơi phới, lạc quan, yêu đời, vẫn hồn nhiên, tinh nghịch trong tư thế

“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”.

-Sự phối thanh, ngắt nhịp lịnh hoạt đã tạo nên âm điệu lạ:

+Những thanh trắc: nghe nhọc nhằn, vất vả, giống như con đường hành quân gian khổ mà người lính phải trải qua

+Những câu thơ phân nhịp bẻ đội, như hoạ lại con đường hành quân gian khổ ở độ cao, độ sâu chóng mặt

+Những thanh bằng: nghe êm ái, nhẹ nhàng, như tâm hồn lâng lâng của người lính khi đã chiếm lĩnh được những

độ cao tuyệt đối

* Thiên nhiên hoang dại, dữ dội chứa đầy bí mật:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét…

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

- Những âm thanh ghê rợn: tiếng thác “gầm thét”, tiếng cọp “ trêu người” + những từ láy đối ứng nhau “chiều chiều”, “đêm đêm”, gợi tả cái bí mật quyền uy ghê gớm của rừng thiêng, nước độc Nơi đây cái chết luôn rình rập, đe doạ mạng sống con người

* Nhưng thiên nhiên vùng Tây Bắc cũng mang nét thơ mộng, lãng mạn của đại ngàn:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Hay “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi’

* Trên chặng đường hành quân gian khổ, có những người lính đã hy sinh :

“ Anh bạn dãi dầu không bước nữa”

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”.

- Âm điệu câu thơ trĩu xuống như một tiếng khóc thầm Trong gian khổ, dãi dầu, có đồng đội đã không bước nữa, vĩnh biệt đoàn binh, nằm lại nơi chân đèo góc núi

- Những từ: “không bước nữa”, “Gục lên súng mũ” & “bỏ quên đời” được dùng thay thế cho cái chết nhằm

giảm đi nỗi đau đớn nhưng người đọc vẫn cảm nhận rất sâu sắc nỗi xót xa thương tiếc đồng đội như trào lên trong lòng nhà thơ

Trang 8

- Nhưng đây là những câu thơ được viết với cảm hứng bi tráng, nhằm ca ngợi cái chết đẹp của người chiến sĩ

Tây Tiến vốn xuất thân từ những trí thức tiểu tư sản

c.Hai câu cuối đoạn :

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Diễn tả những kỉ niệm ấm áp tình quân dân.Câu thơ chứa đựng hình ảnh đẹp, hương vị ngọt ngào, giọng điệu

êm nhẹ như xua tan không khí mệt mỏi, lạnh lẽo, chết chóc & tạo ra cảm giác êm ái, dễ chịu, ấm cả lòng người

.3 KB:

2.Đề 2: Cảm nhận của anh, chị về thiên nhiên miền Tây Bắc và tình quân dân qua đoạn thơ:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa.

a Bức tranh thứ nhất mở ra bằng đêm liên hoan lửa trại biên giới:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

- Những động từ mạnh: “bừng lên, khèn lên, về, xây” diễn tả buổi liên hoan tưng bừng, sôi động trong ánh lửa bập bùng, trong âm thanh rộn ràng cùng những màu sắc sặc sỡ của áo xiêm

- Dùng hô ngữ “kìa em” như cô gái trong thực tại chứ không phải trong hoài niệm Cái sống động của kí ức có tác dụng thực tại hóa, kéo quá khứ về thực tại Chữ “kìa” như là tiếng reo gợi sự ngạc nhiên, hào hứng trước cái

lạ của xứ lạ: trang phục lạ “xiêm áo”, vũ điệu lạ “man điệu”, cách giao tiếp “e ấp”

- Cái nồng ấm và tình tứ của các cô gái đã biến các chàng trai, những người lính Tây Tiến thành thi sĩ “xây hồn thơ”

àĐó là sức sống của một dân tộc, tình cảm và xúc cảm của những người lính lâu nay bị những cuộc hành quân gian khổ kìm hãm nay như được hồi sinh trước vẻ đẹp của cuộc sống

- Nghệ thuật chơi chữ “hội đuốc hoa” được sử dụng khéo léo, gợi nhiều ý nghĩa:

+ Nghĩa thực là đốt đuốc để thắp sáng trong đêm lửa trại

+ Nghĩa hàm ẩn: mĩ lệ hóa hình ảnh này, gợi nghi thức trong hôn lễ Cử chỉ “e ấp” vừa gợi thái độ thẹn thùng, e

lệ của cô gái miền sơn cước vừa gợi thái độ của cô dâu mới

+Nét nhạc chơi vơi cùng vũ điệu Lăm vông của các cô gái Lào làm say đắm các chàng trai Hà Nội

à Đoạn thơ có giọng điệu hiền hòa êm ái phù hợp với không khí ấm áp của bản làng và tình quân dân thắm thiết

b Bức tranh thứ hai diễn tả vẻ đẹp của con người và cảnh vật Tây Bắc trong cảnh hoàng hôn sông nước Châu Mộc:

“Ngươì đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

- Bao trùm khổ thơ là vẻ đẹp hài hòa giữa con người và thiên nhiên:

+ Cảnh vật như có linh hồn phảng phát trong gió, trong cây “hồn lau nẻo bến bờ” hài hòa với tâm hồn đa cảm của những người chiến binh

+ Dáng người lái thuyền với tay chèo uyển chuyển “dáng người trên độc mộc” hài hòa với dáng “hoa đong đưa”

- Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc: ba chữ “chiều sương ấy” gói trọn cả thời gian, không gian và ấn tượng khó quên đối với cảnh vật và con người Tây Bắc

Trang 9

- Điệp từ “có thấy, có nhớ” nhấn mạnh và khẳng định tình cảm tác giả

àNgòi bút tài hoa, lãng mạn của nhà thơ đã làm tiêu tan vẻ dữ dội của “dòng nước lũ”, tạo ra chất thơ cho cảnh vật

3 Đề 3: Phân tích những nét đặc sắc trong nghệ thụât khắc họa chân dung người lính Tây Tiến.

vẻ đẹp bi tráng- thần thái chung của bức tượng đài

- Bút pháp lãng mạn khiến chân dung người lính Tây Tiến ánh lên vẻ đẹp phi thường, khác lạ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

+ Ngoại hình: “ không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”àđầu trọc, da xanh vì gian khổ, thiếu thốn, vì bệnh sốt rét

hoành hành Nhưng tư thế khi xung trận thì “dữ oai hùm”, “mắt trừng”giận dữ khiến quân thù khiếp đảm

Ba nét vẽ chính xác, dựng lên bức chân dung về người lính với vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt Bằng cái nhìn lãng mạn thì cái bi đã trở thành cái hùng

+ Tâm hồn:vừa bản lĩnh, can trường vừa hào hoa, lãng mạn, tình tứ Trong chiến tranh ác liệt, người lính luôn

mang trong mình khát vọng lập công cháy bỏng hướng về tiền phương với giấc mộng chiến trường “gửi mộng qua biên giới” Đồng thời họ đã sưởi ấm tâm hồn mình bằng một thoáng mơ mộng về “dáng kiều thơm”- dáng đẹp của người con gái Hà Nội thanh lịch (Nếu người lính trong thơ Chính Hữu nhớ “gian nhà không”, ruộng nương”, ‘giếng nước”, “gốc đa”; người chiến sĩ trong “Nhớ” của Hồng Nguyên thương về “…người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya” thì người lính Tây Tiến có cách nhớ thương riêng đầy chất trẻ trung, hào hoa lãng mạn Đó là nét khám phá của Quang Dũng khi vẽ chân dung anh bộ đội cụ Hồ tiểu tư sản thời chống Pháp)

+ Tính cách : gan dạ, dũng cảm, sẵn sàng chấp nhận hi sinh Dù phải đối mặt thường nhật với cái chết “Rải rác

biên cương mồ viễn xứ” nhưng họ không lùi bước “Chiến trường đi chắng tiếc đời xanh” vì đã tâm niệm và ý thức sâu sắc về ý nghĩa của sự hy sinh “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng

- Sự mất mát, tổn thất của chiến tranh được Quang Dũng tiếp tục khai thác bằng bút pháp lãng mạn đậm màu sắc bi tráng :

“ Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Aó bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Cái bi thương, bi lụy được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tư tưởng lãng mạn:

+ Dùng nhiều từ Hán Việt: “đoàn binh”, “biên giới”, “biên cương”, “mồ viễn xứ”, “áo bào”, “khúc độc

hành”….gợi không khí trang trọng, cổ kính đồng thời giảm bớt đau thương

+ Cái bi thương bị mờ đi trước lí tưởng quên mình cho Tổ quốc “Chiến trường đi chắng tiếc đời xanh”, mang dáng dấp của những tráng sĩ xưa

+ Họ ra đi không có manh chiếu che thân nhưng lại được bọc trong những tấm “áo bào” sang trọng Cách nói trang trọng ấy đã giảm đi phần thê lương của cái chết

+ Tác giả không dùng từ “chết”, “hi sinh”, “anh ra đi” mà lại viết “anh về đất” đầy sáng tạo Họ không chết mà chỉ đi tiếp con đường của tổ tiên để giữ vững sơn hà xã tắc

+ Cái bi bị át đi trong tiếng gầm thét tiễn đưa của con sông Mã, cái chết của người lính đã động lòng cả đất trời, sông núi

Trang 10

àTrong âm hưởng vừa dữ dội vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hy sinh khơng hề bi thương mà thẫm đẫm tinh thần bi tráng.

àGiọng thơ trang trọng thể hiện tình cảm đau thương và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hy sinh của đồng đội

3 KB:

Bài 5 VIỆT BẮC (trích) - Tố Hữu

I Hồn cảnh sáng tác bài thơ “Việt Bắc”

- Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ – ne – vơ về Đơng Dương được kí kết Hồ bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phĩng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới Một trang sử mới của dân tộc được mở ra

- Tháng 10/1954,những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuơi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đơ Nhân sự kiện thời sự cĩ tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt

Bắc.

II Đề tham khảo:

Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau: “Ta về mình có nhớ ta

…Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

(Trích “Việt Bắc” - Tố Hữu)

- Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuơi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ đơ Nhân sự kiện thời sự cĩ tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc

2 Phân tích:

a Hai câu mở đầu đoạn:

“Ta về mình có nhớ ta.

Ta về ta nhớ những hoa cùng người”.

- Cả bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên của ca dao, dân ca Hai câu thơ này có chức năng là những lời đưa đẩy để nối liền các đề tài ở những câu tiếp theo Mở đầu là một lời ướm hỏi: “Ta về mình có nhớ ta” → Giọng hỏi tình tứ, với cách xưng hô mặn mà, quen thuộc: “ta – mình” Câu thơ bày tỏ sự bịn rịn, lưu luyến của người ra đi đồng thời bộc lộ sự hồn hậu của con người thơ Tố Hữu

- Nhà thơ khẳng định: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người” Đó là nỗi nhớ dành cho những gì đẹp nhất của Việt Bắc “hoa và người”

⇒ Hai câu thơ mở đầu đã giới thiệu chủ đề của đoạn thơ: hoa (thiên nhiên) và người (nhân dân) Việt Bắc

b Tám câu thơ tiếp theo: Bộ tranh tứ bình về thiên nhiên và con người Việt Bắc.

* Bức tranh thứ nhất (mùa đông):

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Trang 11

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.

- Việt Bắc hiện lên trong hai câu này có tính khái quát: một miền quê thật yên bình, êm ả Thiên nhiên xôn xao, tràn ngập màu sắc: Màu xanh mênh mông, trầm tĩnh của rừng già, màu “đỏ tươi” của hoa chuối trải dài khắp núi rừng khiến cảnh vật trở nên sống động, rạng rỡ

- Trên nền cảnh mênh mông, xanh ngắt của đại ngàn, hình ảnh con người xuất hiện với một tư thế vững chãi, tự tin của người làm chủ núi rừng: “Đèo cao ắng ánh dao gài thắt lưng”

* Bức tranh thứ hai (mùa xuân):

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

- Thiên nhiên được bao phủ bởi màu trắng tinh khiết và mỏng manh của hoa mơ rừng Hai chữ “trắng rừng” làm cho núi rừng như sáng bừng và trở nên dịu dàng, đằm thắm, quyến rũ lạ lùng

- Con người Việt Bắc hiện ra trong một công việc thầm lặng: “đan nón chuốt từng sợi giang”

+ Những từ ngữ: “đan, chuốt” gợi ra dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng, tài hoa của người lao động

+ Người đan nón không chỉ đang làm công việc đan nón đơn thuần mà như đang gửi vào từng sợi giang, từng chiếc nón biết bao nỗi niềm, bao mơ ước thầm kín

* Bức tranh thứ ba - bức tranh đặc sắc nhất (mùa hạ):

“Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô con gái hái măng một mình”.

- Bức tranh Việt Bắc vào hè có âm thanh rộn rã của tiếng nhạc ve Ve kêu gọi hè đến, hè đến làm cho rừng phách ngả sang màu vàng rực rỡ, nôn nao Chữ “đổ” cực kì tinh tế Nó vừa nhấn mạnh đến việc biến đổi màu sắc mau lẹ của rừng phách, vừa diễn tả được những trận mưa hoa phách mỗi khi có đợt gió ào thổi

- Hình ảnh lao động đầy kiên nhẫn của một cô gái Việt Bắc “Nhớ cô em gái hái măng một mình”, hình ảnh người phụ nữ Việt Bắc chịu thương, chịu khó, hay lam hay làm có phần âm thầm, lam lũ, nhọc nhằn

* Bức tranh thứ tư (mùa thu):

“Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

- Ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành một khung cảnh huyền ảo Không khí se lạnh của trời thu theo ánh trăng như bao phủ vạn vật, cỏ cây, ngấm vào nỗi nhớ của những con người đã gắn bó sâu nặng với Việt Bắc

- Câu kết đoạn khẳng định phẩm chất ân tình, thủy chung của người Việt Bắc Chữ “ai” là cách nói bóng gió, mơ hồ của dân gian khiến câu thơ trở nên tình tứ, thiết tha Cũng chính vì vậy mà nỗi nhớ của người ra

đi dành cho người ở lại cũng trở nên quyến luyến, quay quắt, cồn cào, …

⇒ Giai điệu quyến rũ đặc biệt của giọng thơ, nỗi niềm thủy chung ân tình rất đỗi đằm thắm của đoạn thơ trên nói riêng và của “Việt Bắc” nói chung, trở thành chất men say có sức ngấm sâu vào trái tim độc giả nhiều thế hệ Đó là sức sống của “Việt Bắc” và hồn thơ Tố Hữu

Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau đây: “Ta với mình, mình với ta

… Chày đêm, nên cối đều đều suối xa”.

(Trích “Việt Bắc” - Tố Hữu)

G

ỢI Ý

1 Khái quát: (Đề 1)

Trang 12

2 Phân tích cụ thể:

a Người ra đi khẳng định lòng chung thủy của mình:

“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”

- Ở đoạn đầu của bài thơ, người Việt Bắc trong nỗi niềm của người ở lại: Sợ người ra đi trở về thành thị sẽ quên mất mình (Sáng đèn có nhớ mảnh trăng giữa rừng) Niềm phấp phỏng ấy được diễn tả bằng một câu hỏi: “Mình về mình có nhớ …”, “Mình đi có nhớ … “ Vì vậy 4 câu thơ trên là câu trả lời, sự khẳng định của người ra đi

- Lời thơ dịu dàng, tình tứ với lối xưng hô thân mật, ngọt ngào của ca dao, dân ca “ta - mình” Nỗi nhớ của người cách mạng về quê hương Việt Bắc giống như nỗi nhớ của những đôi lứa yêu nhau Sự sắp xếp từ liền đôi, thành cặp trong câu đã có đảo trật tự từ “Ta với mình, mình với ta” vừa gợi ra sự bịn rịn, lưu luyến, quấn quýt không muốn rời xa của “ta” và “mình”, vừa khéo léo khẳng định tấm lòng của “ta” cũng giống như “mình”

- Những từ ngữ chỉ thời gian mãi mãi “sau, trước” chỉ tình cảm trước sau như một, không nhạt phai,hai t ừ

“đinh ninh”, “mặn mà” xuất hiện liên tiếp trong một câu thơ đã khẳng định một cách chắc chắn lòng son sắt của những người kháng chiến về xuôi

- Mượn cách so sánh, ví von quen thuộc của ca dao để giãi bày nỗi nhớ da diết, không vơi cạn:

“Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”

b

Nỗi nhớ Việt Bắc được diễn tả cụ thể:

(“Nhớ gì như nhớ người yêu

… Chày đêm nện cối đều đều suối xa”)

* Nỗi nhớ thiên nhiên Việt Bắc:

- Hàng loạt hình ảnh liệt kê, cụ thể, gần gũi, gợi cảm: trăng, núi, nắng, khói, sương, rừng nứa, bờ tre, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê … làm hiện lên một thiên nhiên thơ mộng, trữ tình và mang đậm nét đặc trưng của Việt Bắc

- Nỗi nhớ có hình ảnh, có thời gian và không gian Đó là một nỗi nhớ sâu đậm và quá đỗi chân thành

* Nỗi nhớ con người Việt Bắc:

- Nét đặc sắc cao quí của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo cực mà chân tình, rộng mở, son sắt, thủy chung với cách mạng:

“Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.

- Thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng, trầm tĩnh, thâm u, con người Việt Bắc giản dị, mộc mạc, dù cuộc sống lao động gian khổ nhưng họ lạc quan yêu đời

+ Hình ảnh người mẹ vất vả, nhọc nhằm nhưng ấm áp cảm động, địu con trên lưng dưới cái nắng cháy da để bẻ bắp nuôi bộ đội:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”.

Trang 13

+ Trong kí ức của Tố Hữu, Việt Bắc không chỉ kiên cường trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm mà còn nhẫn nại, cương quyết đương đầu với giặc dốt Đêm rừng Việt Bắc bập bùng đuốc sáng của những lớp học i tờ Niềm vui, sự lạc quan chiến thắng sự gian nan, người Việt Bắc vẫn ca vang núi đèo:

“Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sớm những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”.

- Việt Bắc trở thành quê hương của những người kháng chiến - tình yêu đã “làm đất lạ hóa quê hương (Chế Lan Viên) Cả những âm thanh của đời thường cũng đi vào nỗi nhớ của người ra đi: đó là tiếng mõ gọi trâu về làng, tiếng chày giã gạo đêm đêm:

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nên cối đều đều suối xa”.

- Nỗi nhớ dội vào nỗi nhớ, điệp từ “nhớ” và kiểu câu bắt đầu bằng “Nhớ sao” khiến nỗi nhớ như trải dài vô tận

Đề 3: Phân tích đoạn thơ sau:

“Mình đi, cĩ nhớ những ngàyMưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về cĩ nhớ chiến khuMiếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai

Mình về, rừng núi nhớ aiTrám bùi để rụng, măng mai để giàMình đi, cĩ nhớ những nhàHắt hiu lau xám, đậm đà lịng sonMình về, cĩ nhớ núi nonNhớ khi kháng Nhật, thuở cịn Việt MinhMình đi, mình cĩ nhớ mìnhTân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa…”

* Lời của Việt Bắc chỉ cĩ 12 câu lục bát nhưng tất cả đều xốy vào kỉ niệm khơng thể nào quên của những ngày

CM cịn trứng nước:

- Kỉ niệm của một thời vận động đấu tranh cách mạng gian nan và khổ cực Những từ ngữ, những hình ảnh chỉ cần nhắc cũng gợi ra nỗi nhớ cảm động:

“Mình đi, cĩ nhớ những ngày

Trang 14

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

-> Hình ảnh “mưa nguồn – suối lũ – mây mù” vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng cho những khó khăn, thử thách, khốn khó, cơ cực mà đồng bào và cán bộ đã phải chịu đựng và vượt qua

- Đó là những kỉ niệm thắm thiết nghĩa tình sâu nặng:

+ Cũng chính trong hoàn cảnh đó, Việt Bắc và con người VB càng “ đậm đà lòng son”, cưu mang cách mạng và những người con cách mạng Bốn chữ “đậm đà lòng son” cứ ấm nóng, tỏa sáng không chỉ trong bài thơ mà cả

ở trong lòng người

+ Câu thơ “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” tạo ra một tiểu đối vừa gợi sự gian khổ, vừa như cụ thể hóa mối thù của cách mạng: phát xít Nhật, thực dân Pháp và phong kiến tay sai Mối thù dân tộc như đè nặng lên vai của mọi người

- Kỉ niệm về những năm tháng vẻ vang, oanh liệt thời tiền khởi nghĩa

+“Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh” -> Với những người trong cuộc chỉ cần gợi nhớ như vậy là đủ Kết thúc giai đoạn lịch sử này là những ngày sôi động của Tổng khởi nghĩa CMT8

+ Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa…”

-> Những địa danh, những sự kiện lịch sử, mái đìng Hồng Thái, cây đa Tân Trào được nhắc đến đã tạo nên trong lòng mọi người niệm tự hào về những ngày tháng Tám mùa thu 1945, cách mạng bùng lên giành độc lập

b Đặc sắc nghệ thuật:

- Đoạn thơ ngắn 12 câu đã điệp 8 từ “mình” và 6 từ “nhớ, có nhớ” Những từ “mình” điệp ở đầu mỗi câu thơ đã tạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào Những từ “nhớ, có nhớ” gợi đến âm hưởng của

ca dao, dân ca, góp phần diễn tả một cách cảm động tràn đầy nỗi nhớ về cái nôi VB – quê hương cách mạng

- Bằng giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết của ca dao, dân ca, của điệu thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc,

Tố Hữu nhắn nhủ với chúng ta hãy nhớ mãi, hãy giữ lấy cái đạo lí ân tình thủy chung quý báu của cách mạng

Đề 4: Phân tích đoạn thơ sau: “Những đường Việt Bắc của ta….

… Vui lên việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”

( Trích Việt Bắc- Tố Hữu)

GỢI Ý

- Khung cảnh Việt Bắc chiến đấu và chiến thắng với không gian núi rừng rộng lớn, với những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức:

+ Những nẻo đường chiến khu Việt Bắc, đêm dêm những bước chân hành quân rầm rập, làm rung chuyển

cả đất trời: “Những đường….đất rung”

+ Đẹp nhất là hình ảnh quân đội nhân dân Việt Nam: hiện lên với sức mạnh hùng hậu (điệp điệp, trùng trùng) và vẻ đẹp lãng mạn( nhấp nhô đầu súng lấp lánh những ánh sao) Câu thơ vừa có giá trị tạo hình vừa

diễn tả khí thế, niềm vui của quân đội ta đang trên đà thắng lợi

+ Hình ảnh của Dân công với “Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay” Tác giả đã thần thoại hóa sức mạnh

của con người, bước chân của họ là bước chân của người khổng lồ, đội đá vá trời, rung chuyển càn khôn, bước chân của những con người đã làm nên chiến thắng kì diệu

- Mở ra viễn cảnh tương lai tươi sáng: “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

…… ……… đèo De, núi Hồng”

Trang 15

Câu thơ diển tả cảm hứng tự hào, lạc quan tin tưởng về một tương lai tươi sáng Dù hơm nay và cả nghìn đêm

đã qua, dân tọc ta đã chìm trong khĩi lửa đau thương, tăm tối, mịt mù của chiến tranh, của đĩi nghèo, nhưng ngày mai chúng ta sẽ chiến thắng, chúng ta sẽ được độc lập, tự do, no ấm…

- Nhà thơ nhắc đến những tên đất, tên làng, tên sơng, tên núi của trăm miền gắn với những chiến cơng lừng lẫy cuả Việt Bắc đã đi vào lịch sử của dân tộc( Hịa Bình, Tây Bắc, Điện Biên…)

- Nghệ thuật:

+ Đoạn đầu: âm điệu thơ êm ả ngọt ngào

+ Đoạn sau: giọng thơ trở nên mạnh mẽ, dồn dập như âm hưởng bước chân hành quân của quân và dân ta…

Bài 6 ĐẤT NƯỚC

(Trích) - Nguyễn Khoa Điềm

I Xuất xứ

- “Mặt đường khát vọng » là tập trường ca được Nguyễn Khoa Điềm hồn thành ở chiến khu Trị-Thiên năm

1971 Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiếm miền Nam, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hồ nhịp với cuộc chiến đấu của tồn dân tộc

- Đoạn " Đất Nước" trích phần đầu chương V của trường ca " Mặt đường khát vọng".

II Đề tham khảo :

Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã cĩ rồi …Làm nên Đất Nước muơn đời”

(Trích Chương V – Trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm)

- “Đất Nước” là một đoạn thơ trữ tình - chính luận Nguyễn Khoa Điềm trình bày những cảm xúc và suy tưởng về Đất Nước dưới dạng một lời tâm tình, trò chuyện đằm thắm giữa “anh” và “em” Từ tư tưởng cốt lõi “Đất Nước của Nhân dân” nhà thơ có những phát hiện mới mẻ, đặc sắc về Đất Nước

- Mỗi một thời đại có một cách hiểu, một quan niệm riêng về Đất Nước Thời trung đại, quan niệm Đất Nước gắn liền với công lao của các triều đại Còn ở thời hiện đại, chúng ta thấy rõ sức mạnh to lớn của nhân dân, thấy rằng Đất Nước là của nhân dân Điều này được các nhà văn Việt Nam ý thức sâu sắc hơn ai hết khi dân tộc ta tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại chống Mĩ cứu nước Tư tưởng xuyên suốt chương V của “Mặt đường khát vọng” chính là tư tưởng ấy:

“Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại”

Trang 16

2 Phân tích:

a Đất Nước là những gì gắn bó, gần gũi với đời sống của mỗi con người.

- Hình tượng thơ của Nguyễn Khoa Điềm óng ánh một màu sắc đặc biệt của chất liệu văn hóa dân gian Âm hưởng của những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, ca dao, dân ca đã tạo nên một “khí quyển” dân gian độc đáo, đầy quyến rũ của đoạn thơ Khí quyển ấy tạo nên một không gian nghệ thuật gần gũi đến bất ngờ:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”

+Đất Nước là một giá trị lâu bền, vĩnh hằng, được tạo dựng, bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ đời này qua đời khác Vì vậy: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”

+ Mỗi người sinh ra, ý niệm về Đất Nước đã thấm đẫm trong môi trường gia đình, qua thế giới tinh thần mà người đó sống Đất Nước có khi bắt đầu từ những câu chuyện kể của mẹ: “Ngày xửa ngày xưa …”, là nhịp điệu ngàn đời của lời kể cổ tích, có khả năng ngân vang trong tiềm thức của người Việt Người đọc lặng đi trước cách định nghĩa về Đất Nước thật bất ngờ của Nguyễn Khoa Điềm

- Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” thật độc đáo, sâu sắc:

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

+ Câu thơ gợi lên một tập tục đã ăn sâu vào truyền thống của dân tộc: tục ăn trầu; nó gợi ra câu thành ngữ quen thuộc: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”; nó gợi ra không gian tình nghĩa của sự tích “Trầu cau” …+ Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” còn là biểu tượng thiêng liêng: mỗi miếng trầu đều gánh trong nó một phần Đất Nước, mỗi miếng trầu bà ăn hôm nay đều có bốn ngàn năm tuổi Quá khứ luôn có mặt với hiện tại, lịch sử vẫn hiện diện với hôm nay Câu thơ là sự phát hiện bất ngờ của nhà thơ: Đất Nước được chắt chiu, giữ gìn trong cả những sự vật bình thường, nhỏ bé

- Sự nghiệp mở mang - gây dựng luôn gắn liền với sự nghiệp hi sinh và bảo vệ bờ cõi:

“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

- Đất Nước gắn bó, hiện diện trong những gì thân thuộc, bình dị của cuộc sống hàng ngày, trong mỗi gia đình:

“Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

+ Đó là hình ảnh người mẹ “tóc bới sau đầu, tần tảo, đảm đang” Đây là hình ảnh gợi lại cội nguồn của dân tộc, gợi đến một nét đặc thù của văn hóa Việt Nam – gắn với cách bới tóc thùy mị của người phụ nữ

+ Đất Nước được tạo dựng trên nền tảng thủy chung của tình chồng vợ: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Trong cay đắng, gian nan của cuộc sống vất vả, nhọc nhằn cha mẹ càng gắn bó, khăng khít chia ngọt sẻ bùi Ý thơ làm ta liên tưởng đến âm điệu tình nghĩa của bài ca dao:

“Ai ơi bưng bát cơm đầyDẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

b Đất Nước được cảm nhận theo chiều rộng của không gian, chiều dài của thời gian và chiều sâu của lịch sử:

- Đất Nước được cảm nhận theo chiều rộng của không gian:

Trang 17

+ Đất và Nước là hai yếu tố chỉ vật chất, hai yếu tố khởi nguyên của thế giới, tạo thành khái niệm chỉ Giang Sơn Tổ Quốc Đất Nước là không gian gần gũi gắn bó với anh và em (Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm); là không gian của tình yêu đôi lứa (“… là nơi ta hò hẹn, … là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”).+ Ở đâu trên đất nước cũng gắn với những câu chuyện kể, truyền thuyết, những câu ca đã đi vào thế giới tinh thần của con người: “Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc – Nước là nơi con cá ngư ông móng ước biển khơi”.

→ Đất Nước vừa mang ý nghĩa cụ thể, gắn bó, gần gũi với từng cá nhân, vừa mang ý nghĩa khái quát là lãnh thổ chủ, quyền của quốc gia

- Đất Nước được cảm nhận theo chiều dài của thời gian và chiều sâu của lịch sử:

+ Truyền thuyết Tiên - Rồng, Lạc Long Quân - Âu Cơ là truyền thuyết về cội nguồn của người Việt Trong truyền thuyết này cũng như trong lịch sử phát triển “đằng đẵng” và “mênh mông”, mở mang bờ cõi và “đoàn tụ” đã làm nên đặc trưng của dân tộc Việt

“Thời gian đằng đẵng Khơng gian mênh mơng Đất Nước là nơi dân mình đồn tụ Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

+ Mỗi con người Việt Nam, bằng máu xương, mồ hôi, công sức của mình, đã chiến đấu và lao động để mở mang và hoàn thiện đất nước, để truyền lại cho con cháu một Đất Nước trọn vẹn Những giá trị tinh thần bền vững của đất nước gắn liền với quá khứ và - hiện tại - tương lai được nuôi dưỡng qua các thế hệ, nên mỗi cá nhân phải có trách nhiệm giữ gìn và truyền lại cho con cháu mai sau những truyền thống tốt đẹp của cha ông:

“Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dị con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”

c Đất Nước là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và dân tộc:

- Đất Nước có trong mỗi chúng ta:

“Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước”

+ Xưng hô “anh - em” → Lời thơ trở thành một lời trò chuyện, tâm tình đằm thắm giữa Nguyễn Khoa Điềm và thanh niên đô thị miền Nam

Trang 18

+ Mỗi cá nhân sinh ra và lớn lên đều mang trong mình một phần Đất Nước Trong “anh và em” có dòng máu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, có truyền thống của “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc, có tình nghĩa thủy chung của cha và mẹ …”

⇒ Hai câu thơ vừa không lời nhắc nhở, vừa là sự khẳng định một cách trang trọng trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc

- Đất Nước là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung:

+ Đất Nước có trong tình yêu đôi lứa:

“Khi hai đứa cầm tay nhau Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”

→ Ngay từ những dòng thơ đầu tiên của bài “Đất Nước”, hình ảnh Đất Nước đã hòa quyện, gắn bó với hình ảnh gia đình thân thuộc: miếng trầu của bà; búi tóc, câu chuyện kể của mẹ … Trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, gia đình là những tế bào nhỏ bé làm nên sự gắn kết của cả một cộng đồng “Anh và em cầm tay nhau” – Đất Nước sẽ “hài hòa nồng thắm” trong tình yêu đôi lứa, trong hạnh phúc gia đình Hai câu thơ là sự phát hiện giản dị nhưng cảm động về sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa tình yêu đất nước và tình yêu dân tộc

- Đất Nước có trong tình yêu cộng đồng:

“Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất nước vẹn tròn to lớn”

+ Ý thơ mở rộng từ cái “tôi” đến cái “chúng ta”: từ hình ảnh “hai đứa cầm tay nhau” đến chúng ta cầm tay mọi người” – Đất Nước cũng từ “hài hòa nồng thắm” chuyển thành “vẹn tròn to lớn” Đó chính là sự gắn bó giữa cá nhân và cộng đồng

+ Tình yêu đôi lứa được mở rộng đến tình yêu đồng bào, làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, tạo nên thế đứng kiêu hùng của dân tộc trong suốt 4 ngàn năm lịch sử

- Hình ảnh Đất Nước trong tương lai:

“Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa.

Đến những ngày tháng mơ mộng”

→ Đất Nước sau bao biến động thăng trầm của lịch sử đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, đó là sự kế tục của các thế hệ nối tiếp nhau Cụm từ “tháng ngày mơ mộng” đã phác họa vẻ đẹp của Đất Nước trong tương lai Nhà thơ bộc lộ niềm tin vào thế hệ sau có đủ bản lĩnh và trí tuệ để đưa Đất Nước bay cao và bay xa

- Trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước:

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bĩ và san sẻ

Phải biết hĩa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…”

+ Lời thơ như thủ thỉ, tâm tình: “em ơi em” cũng là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu lắng về mối quan hệ giữa cá nhân và Đất Nước Đất Nước là “máu xương”, là sự hi sinh âm thầm của biết bao thế hệ đi trước, họ đã “sống và chết”, “giản dị và bình tâm” để làm nên Đất Nước

+ Hàng loạt những động từ “gắn bó”, “san sẻ”, “hóa thân” nhằm nhắn nhủ thế hệ trẻ phải gần gũi di sản của cha ông, phải cống hiến tâm huyết, tài năng và cả đời sống của bản thân để xây dựng đất nước Từ

“hóa thân” giàu ý nghĩa hơn từ “hi sinh”, biểu hiện sự dâng hiến, hòa nhập, sống còn cùng Đất Nước

Trang 19

Đề 2: Phân tích đoạn trích “Đất Nước” (Trích Chương V – Trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm) để làm rõ tư tưởng cốt lõi “Đất Nước của Nhân dân”.

GỢI Ý 1.Khái quát: (Đề 1)

2 Phân tích:

a Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được N.K.Đ thể hiện trước hết bằng một chất liệu phù hợp: chất liệu văn hĩa dân gian:

* Cả bài thơ đã được sáng tạo, tái tạo từ những gì quen thuộc nhất trong nền văn hĩa lâu đời của người VN

Hàng loạt các câu chuyện kể, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca; hàng loạt các phong tục tập quán, các địa danh xuất hiện trong các câu thơ

* Những chất liệu dân gian được nhào nặn bằng một cảm xúc mới, bằng ánh sáng của thời đại mới, những câu thơ vừa hiện đại vừa thấm đẫm chất dân gian truyền thống:

- Những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca đã hĩa thân thành các câu thơ của N.K.Đ:

+ “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

+ “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”

+ “ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

-> Chúng ta thấy ngay trong diện mạo của các câu thơ là câu thành ngữ: “Một nắng hai sương”, câu ca dao:

“Tay nâng đĩa muối chén gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” và bài ca dao nổi tiếng: “Khăn thương nhớ ai, khăn rơi xuống đất – Khăn thương nhớ ai, khăn vắt lên vai…”

- Cĩ những câu thơ rất giản dị nhưng được nhào nặn, tái tạo từ nhiều nguồn chất liệu khác nhau: “ĐN bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

+ Câu thơ gợi lên một tập tục đã ăn sâu vào truyền thống của dân tộc (tục ăn trầu), gợi lên câu thành ngữ quen thuộc “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, gợi khơng gian tình nghĩa của “Sự tích trầu cau”…

+ Hình ảnh “miếng trầu bây giờ bà ăn” cịn là một biểu tượng thiêng liêng: Mỗi miếng trầu đều gánh trong nĩ một phần ĐN; mỗi miếng trầu bà ăn hơm nay đều đã cĩ 4000 năm tuổi Quá khứ luơn cĩ mặt với hiện tại, lịch

sử vẫn hiện diện với hơm nay

-> ĐN được chắt chiu, gìn giữ trong cả những sự vật nhỏ bé, bình dị

=> Văn hĩa dân gian đã khơi dịng cảm hứng, chảy từ hình tượng đến từng câu chữ của đoạn trích “Đất Nước”

b

Đất nước được cảm nhận theo chiều rộng của khơng gian, chiều dài thời gian và chiều sâu của lịch sử:

* Đất nước được cảm nhận theo chiều rộng của khơng gian :

- Đất và Nước là 2 yếu tố chỉ vật chất, 2 yếu tố khởi nguyên của thế giới, tạo thành 1 khái niệm chỉ giang sơn tổ quốc ĐN là khơng gian gần gũi, gắn bĩ giữa anh và em, là khơng gian của tình yêu đơi lứa, tình yêu ĐN và tình yêu đơi lứa đã hài hịa làm một:

“ Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm

ĐN là nơi ta hị hẹn

ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

- Tư duy của N.K.Đ mở rộng để bao quát sự sinh thành, trưởng thành, mở mang bờ cõi:

“Đất là nơi “con chim phượng hồng bay về hịn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ơng mĩng nước biển khơi”

Thời gian đằng đẵng Khơng gian mênh mơng Đất Nước là nơi dân mình đồn tụ Đất là nơi Chim về

Trang 20

Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

-> Truyền thuyết Tiên – Rồng, Lạc Long Quân – Âu Cơ là truyền thuyết về cội nguồn của người Việt Nhắc đến truyền thuyết này, nhà thơ vừa thể hiện niềm tự hào về nguồn gốc cao quí của dân tộc, vừa gợi được hồn sông núi một cách thiêng liêng và trang trọng

- Song song với quá trình hình thành địa bàn cư trú của người Việt suốt mấy ngàn năm là sự sinh sôi của các địa danh Mỗi địa danh không phải là những dòng tên vô nghĩa Đằng sau mỗi tên đất, tên rừng, tên núi, tên sông là mỗi cuộc đời; mỗi cuộc đời là một huyền thoại… Điều đó có nghĩa chính nhân dân đã gây dựng, mở mang, gìn giữ nên đất nước này:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”

* ĐN được cảm nhân theo chiều dài lịch sử và bề dày văn hóa:

- Điểm về lịch sử, N.K.Đ không nhắc đến các triều đại nổi tiếng, những anh hùng đã lưu danh Nhà thơ thấy lịch

sử 4000 năm của dân tộc là một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của hàng ngàn thế hệ Họ là những người vô danh, là Nhân dân đã hóa thân mình cho “dáng hình xứ sở”:

“Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra ĐN”

- Nhân dân _ những con người “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ hồn Việt qua những việc cụ thể:

“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Để ĐN này là ĐN của Nhân dân

ĐN của Nhân dân, ĐN của ca dao thần thoại”

- Điểm hội tụ và đỉnh cao cuả cảm xúc trữ tình là tư tưởng “Đ/Nước của Nhân dân, Đ/N của ca dao thần thoại”-

nhà thơ khẳng định: chính nhân dân là người đã làm ra đất nước, và đồng thời sử dụng ý và hình ảnh để gợi nhớ

về ca dao để nói lên phẩm chất đẹp đẽ, anh hùng của nhân dân, đất nước mình

Trang 21

=> Bằng tấm lịng trân trọng tất ca những gì mà tổ tiên đã chắt chiu, gìn giữ, N.K.Đ đã sáng tạo những câu thơ làm rung động tâm hồn của người Việt Đĩ là sản phẩm của một tư duy sắc sảo, nhưng trước hết là sản phẩm của một trái tim yêu nước thiết tha.

c Nghệ thuật:

- Đây là đoạn thơ trữ tình – chính luận; kết hợp thành cơng xúc cảm và suy nghĩ, trữ tình – chính luận

- N.K.Đ đã sử dụng rộng rãi và sáng tạo các chất liệu của văn hĩa dân gian _ điều đĩ đã tạo ra cho đoạn thơ 1 khơng gian nghệ thuật đặc sắc: gợi mở 1 thế giới nghệ thuật quen thuộc, gần gũi mà bay bổng của văn hĩa dân gian, kết tinh tâm hồn và trí tuệ của nhân dân

- Hai chữ ĐN và Nhân dân được viết hoa trang trọng và diệp lại nhiều lần vang vọng khắp đoạn trích như một khúc nhạc thiêng về sự sinh thành và trường tồn của ĐN

- Hình tượng trung tâm, nổi trội, bao trùm cả bài thơ là hình tượng “sóng”:

+ Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của XQ cũng như mọi sáng tạo nghệ tuật của bài thơ đều gắn liền với hình tượng “sóng” Bài thơ là những con sóng tâm tình của người phụ nữ được khơi dậy khi đứng trước biển khơi mênh mông

+ Sóng là hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân của XQ “Sóng” và “em” vừa hòa nhập làm một, vừa phân đôi

để soi chiếu, cộng hưởng Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng

biểu hiện những trạng thái của lòng mình Với hình tượng “sóng”, XQ đã tìm được cách thể hiện thật xác

đáng tâm trạng của người phụ nữ đang yêu

- Hình tượng “sóng” được gợi ra trong bài thơ bằng cả âm điệu: bài thơ có một âm hưởng dạt dào, nhịp

nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc sâu lắng thì thầm… Âm hưởng ấy còn được tạo nên bởi khổ thơ 5 chữ, những câu thơ liền mạch như những đợt sóng miên man, vô tận, như một tâm trạng chất chứa những khát khao

2 Phân tích:

a Khổ 1 + 2: Trạng thái tâm lí đặc biệt của người phụ nữ đang yêu

- Khổ thơ mở đầu bằng một phát hiện về sĩng:

“Dữ dội và dịu êm

Trang 22

-> Hai câu thơ mở đầu là lời tự thú, tự bạch táo bạo mà êm đềm Táo bạo vì nó nhận ra sự mãnh liệt Êm đềm vì sau những “dữ dội”, “ồn ào” tình yêu của người phụ nữ vẫn nghiêng đổ về phía cuối câu thơ để dịu dàng và sâu lắng.

- Mỗi con sóng lại mang trong mình một khát vọng lớn Sóng luôn khao khát tự nhận thức, tự khám phá, tìm kiếm sự vô biên của tình yêu trong trái tim mình Vì thế sóng trở nên quyết liệt, khi “không hiểu nổi mình” …

“sóng tìm ra tận bể”, từ bỏ những nhỏ hẹp, chật chội để tìm đến với sự bao dung, rộng lớn

- Biển là hình ảnh của sự bất diệt Đối diện với biển, XQ liên tưởng tới sự bất diệt của khát vọng tình yêu Biển ngàn đời cồn cào, xáo động như tình yêu muôn đời vẫn “bồi hồi” vỗ sóng “trong ngực trẻ”

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

b Khổ 3 + 4: Nhu cầu phân tích, lí giải tình yêu

- Sóng từ đối tượng cảm nhận được chuyển thành đối tượng để suy tư Từ cái nền mênh mông của thiên nhiên

“muôn trùng sóng bể”, dòng suy tư của người phụ nữ cuộn lên như con sóng khôn cùng Những câu hỏi trở thành cuộc đối thoại lớn với vũ trụ về tình yêu:

“Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Tự nơi nào sóng lên”

- Xúc cảm tình yêu là xúc cảm mạnh nhất trong trái tim con người Vì vậy, bao đời nay tình yêu vẫn là câu hỏi lớn XQ muốn cắt nghĩa về nguồn gốc của sóng để tìm lời giải đáp cho câu hỏi về sự khởi nguồn của tình yêu trong trái tim mình

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

-> Thiên nhiên bí ẩn còn có thể lí giải, nhưng không thể dùng lí trí tỉnh táo để xác định thời điểm chính xác bắt đầu một mối tình Lời thú nhận của XQ thật hồn nhiên và chân thành, nó bộc lộ phần nữ tính mềm mại, đằm thắm trong trái tim người phụ nữ muốn sống và yêu nồng nhiệt, thiết tha

c Khổ 5 + 6: Nỗi nhớ tình yêu

- Tình yêu đi liền với nỗi nhớ Nỗi nhớ cũng chính là điểm da diết, khắc khoải nhất của tình yêu Tâm hồn người con gái đang yêu soi vào sóng, nhờ sóng diễn tả nỗi nhớ vô tận của lòng mình:

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nghĩ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

+ Khổ thơ khác biệt (6 câu) là ẩn dụ cho chiều dài mênh mang của nỗi nhớ

+ Hai cặp hình ảnh so sánh độc đáo: Sóng vỗ bờ cả ngày lẫn đêm, em nhớ anh cả lúc thức lẫn lúc ngủ

+ Thời gian sinh hoạt còn có giới hạn, thời gian tình yêu thống trị cả tiềm thức lẫn giấc mơ Chỉ có trái tim yêu chân thành, mãnh liệt mới khiến tình yêu chiếm lĩnh cả thời gian và không gian, cả ý thức và tiềm thức như thế

- Cuộc đời như đại dương mênh mông, vô cùng vô tận Con sóng thì nhỏ bé Nhưng giữa cái mênh mang của vũ trụ, sóng mới bộc lộ đầy đủ những khát khao cháy bỏng, những đam mê nồng nhiệt mà vẫn quá đỗi dịu dàng, đằm thắm Đất trời có bốn phương nam – bắc – tây – đông, nhưng trong vũ trụ tình yêu của người phụ nữ chỉ có một phương duy nhất “phương anh”

“Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

Trang 23

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa”

+ XQ mượn quy luật của sóng biển, mây trời để diễn tả qui luật của lòng người Là một phụ nữ nhạy cảm và đa đoan, XQ ý thức rất đời: cuộc sống là “dài, rộng”, là “muôn vời cách trở”

+ Càng thấp thỏm, lo âu, XQ càng cháy bỏng một niềm tin tha thiết, cảm động: tình yêu sẽ vượt qua mọi trở ngại để tới đích, như những con sóng “con nào chẳng tới bờ” và “mây vẫn bay về xa”

- Lời thơ cứ thế triền miên cùng sóng Cuối cùng sóng hiện ra trong khát khao hạnh phúc mãnh liệt nhất: khát khao tình yêu vĩnh hằng, bất tử:

“Làm sao được tan ra

Bài 8 ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA (Thanh Thảo)

I Hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ:

Bài thơ ĐGTCLC in trong tập “Khối vuông ru-bích” là một trong những sáng tác tiêu biểu cho lối viết giàu suy

tư, mãnh liệt, phóng túng và có màu sắc tượng trưng, siêu thực của TT

II Đề văn và gợi ý:

1 Đề 1: Cảm nhận của anh chị về hình tượng nhân vật Lor-ca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo

Gợi ý bài làm:

1 Giới thiệu tác giả,tác phẩm,cảm hứng chủ đạo của bài thơ

2 Nêu cảm nhận về hình tượng nhân vật Lor-ca:

- Lor-ca là nhà thơ,nhạc sĩ đấu tranh cho công lí, vì con người, ghét sự tàn bạo.Trong xã hội Tây Ban Nha đương thời,hành trình tìm cái đẹp,cái thiện của Lor-ca có phần đơn độc.Tâm trạng ấy được thanh Thảo thể hiện bằng những hình ảnh đầy ấn tượng: “TBN áo choàng đỏ gắt…trên yên ngựa mỏi mòn”

- Lor-ca là con người giàu lòng yêu thương.Chàng trai tây Ban Nha này gắn bó máu thịt với quê hương,xứ sở của mình.Tình yêu quê hương,tình yêu đôi lứa,tình người ngấm vào những nốt nhạc tài năng và tiếng đàn ghi ta huyền thoại (Dẫn chứng và phân tích,chú ý các hình ảnh chi tiết nghệ thuật: “bầu trời cô gái ấy”, “tiếng ghi ta nâu” , “tiếng ghi ta xanh” …)

Trang 24

- Lorca là con người có số phận đau thương.Cái chết của Lor-ca mang tính chất bi hùng.Lor-ca ngã xuống trước những thế lực bạo tàn,nhưng Lor-ca bất tử (Phân tích dẫn chứng.Chú ý các hình ảnh “tiếng đàn như cỏ mọc hoang”, và âm thanh của tiếng đàn được nhà thơ hình tượng hóa “li-la li-la li-la”.

2.Đề 2: Phân tích hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca để làm nổi rõ những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật thơ Thanh Thảo

Gợi ý làm bài

1.Giới thiệu tác giả,tác phẩm

- Thanh Thảo là nhà thơ có nhiều tìm tòi đổi mới theo hướng hiện đại

- bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca là một trong những bài thơ hay,thể hiện rõ nét đặc điểm của phong cách thơ Thanh Thảo

- Bài thơ được triển khai trên hình tượng trung tâm là tiếng đàn.Đây là một hình tượng có giá trị về cả nghệ thuật lẫn nội dung

2 Phân tích hình tựong tiếng đàn

a) Về nghệ thuật:

-Cấu trúc của bài thơ phụ thuộc hình tượng tiếng đàn.Hình tượng tiếng đàn lặp lại nhiều lần,dẫn dắt mạch thơ và liên kết các khổ thơ

- tiếng đàn lặp lại ở các câu thơ ,khổ thơ tạo độ luyến láy của một bài thơ tự do,tạo tính nhạc cao

- tiếng đàn với nhiều tầng nghĩa tạo chiều sâu của một bài thơ ngắn

b) Về nội dung ý nghĩa của hình tượng tiếng đàn:

- Tiếng đàn nói lên tình cảm gắn bó với quê hương của nhà thơ đa tài “tiếng ghi ta nâu”

- Tiếng đàn thể hiện tình yêu của một nhà thơ đa tình “tiếng ghi ta lá xanh” dành cho “cô gái ấy”

- Tiếng đàn lặp lại day dứt,ám ảnh về số phận mỏng manh của một con người “tiếng ghi ta tròn bọt nước,vỡ tan”

- Tiếng đàn gắn liền với cái chết bi thảm của Lor-ca “tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”

- Tiếng đàn nói lên sự bất tử của Lor-ca (Liên hệ câu di chúc của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”

và câu thơ của Thanh Thảo “không ai chôn cất tiếng đàn.Tiếng đàn như cỏ mọc hoang”

3 Đặc điểm phong cách thơ Thanh Thảo qua hình tượng tiếng đàn:

- Một lối thơ hiện đại với nhiều hình ảnh tượng trưng,siêu thực

- Bằng thể thơ tự do ,TT đã phá vỡ những ràng buộc của thi pháp truyền thống.Bài thơ không câu nệ vào vần điệu,dòng thơ.Sự trùng lặp hình tượng nghệ thuật “tiếng đàn” làm tăng độ hàm súc của bài thơ

- Nét đặc sắc của phong cách thơ TT thể hiện ở cách tổ chức ngôn ngữ thơ cô đúc, giàu hình tượng,đa nghĩa

3.Đề 3 Phân tích mối tương quan giữa hình tượng tiếng đàn ghi ta và hình ảnh nhân vật trữ tình Lor-ca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của TT

Gợi ý làm bài

1.Giới thiệu tác giả,tác phẩm

2.Phân tích hình tựong tiếng đàn và hình ảnh nhân vật trữ tình Lor-ca

a)Hình tượng tiếng đàn ghi ta

-Tiếng đàn xuất hiện trong tác phẩm với tần số cao,day dứt ám ảnh.Tiếng đàn xuất hiện ở nhan đề,lặp lại trong cấu trúc bài thơ

-Nghệ thuật trùng điệp nhưng không đơn điệu ,mỗi lần xuất hiện là tiếng đàn ghi ta lại mang một tầng nghĩa mới: “những tiếng đàn bọt nước ,tiếng đàn như cỏ mọc hoang ,tiếng ghi ta- nâu ,lá xanh ,tròn bọt nước,ròng ròng máu chảy”

b)Hình tượng nhân vật trữ tình Lor-ca :

- Vẻ đẹp của Lor-ca được khắc họa qua những hình ảnh ẩn dụ: “áo choàng đỏ gắt”, “vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn”, Tây Ban Nha hát nghêu ngao… áo choàng bê bết đỏ”; qua những tiếng đàn ghi ta”; có khi xuất hiện trực tiếp “Lor-ca bị điệu về bãi bắn,bơi sang ngang; hoặc qua ngôi thứ ba “chàng ném lá bùa cô gái Di-gan…” “chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt”

- Lor-ca là hiện thân của vẻ đẹp bi tráng.Cuộc đời đầy bi kịch của nhà thơ-nhạc sĩ tài năng TBN được TT tái hiện bằng những vần thơ cô đọng ,đầy sức ám ảnh và lấp lánh chất thơ

Trang 25

3.Ý nghĩa của mối tương quan giữa hình tượng tiếng đàn ghi ta và hình tượng nhân vật Lor-ca

- Suốt chiều dài tác phẩm, hai hình tượng này có lúc song hành, có lúc hòa quyện vào nhau Trong tiếng đàn có hình ảnh Lor-ca và ngược lại, qua Lor-ca, tiếng đàn thành bất tử.Có lúc qua tiếng đàn TT nói lên tâm trạng,bi kịch cuộc đời của Lor-ca “những tiếng đàn bọt nước”,tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy” Có lúc qua Lor-ca nhà thơ làm nổi rõ tiếng đàn “Lor-ca bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc”

-Mối tương quan chặt chẽ giữa hai hình tượng trung tâm của bài thơ càng làm nổi rõ số phận bi thảm của một con người vì công lí và vì cái đẹp đích thực của nghệ thuật

-Sự tương quan giữa hai hình tượng này biến bài thơ thành khúc ca bi tráng đậm chất nhân văn Câu nói của Lor-ca “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” đã bất tử với thời gian àBằng những vần thơ cô đúc,giàu hình tượng,TT đã tạc bằng thơ hìng tượng Lor-ca bất tử cùng tiếng đàn đã trở thành huyền thoại

Bài 9 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ- NGUYỄN TUÂN I.Hoàn cảnh sáng tác- xuất xứ:

NLĐSĐ là kết quả của nhiều dịp đến với Tây Bắc của Nguyễn Tuân, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 Đây là một trong số 15 bài tùy bút của NT in trong tập “Sông Đà” xuất bản năm 1960

II Đề văn và gợi ý:

1.Đề 1 Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà

a Ngoaị hình và cuộc đời ông lái đò.

- Một ông nhà đò nghèo khổ,hình hài lêu đêu,khuôn mặt in hằn dấu vết khắc nghiệt của công việc chèo thuyền, vượt thác gian nan nguy hiểm

- Là một người vô danh được tác giả gọi phiếm định là ông lái đò.Nhà văn không đặt tên cho nhân vật vì có lẽ người lái đò là đại diện tiêu biểu cho con người VN , âm thầm, cần mẫn trong lao động, không ngừng phải đối mặt với thiên nhiên nghiệt ngãđể trở thành lớn lao, kì vĩ

b Nhà văn khai thác vẻ đẹp và tính cách nghệ sĩ của người lái đò trong nghề nghiệp của mình.

+ Đó là người lái đò thành thục, lão luyện, một tay lái ra hoa, một nghệ sĩ trên lĩnh vực chèo đòvượt thác:

• Dấu ấn nghề nghiệp in trong vóc dáng, tư thế chèo đò

• Là con người của những cảm giác mạnh mẽ, nguy hiểm.Trên sông Đà, cuộc sống, lao động của người lái

đò thực sự là một cuộc chiến trên chiến trường sông nước,luôn luôn phải giành giật sự sống từ thiên nhiên.Đó là một nghề yêu cầu con người phải luôn mắt, luôn tai và cả tim nữa.Với người lái đò SĐ chỉ

có ý vị ở những đoạn lắm ghềnh, nhiều đá Ông than phiền đi trên những khúc sông không có thác thấy dại chân, dại tay và buồn ngủ Lúc ấy SĐ hình như cũng hết cả đậm đà với nhà đò

+ Là người có một trí nhớ dẻo dai, ông thuộc SĐ như một trường thiên anh hùng ca, thuộc cả những dấu chấm than chấm câu, xuống dòng

+ Vẻ đẹp, phẩm chất , tài hoa nghệ sĩ của người lái đò hiện lên trong cuộc chiến với SĐ

• Đó là cuôc chiến không cân sức giữa ngưới lái đò với SĐ hung bạo Nghệ thuật tương phản làm nổi bật ông lái đò trước thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội: một chiếc thuyền con én, một con ngươi nhỏ bé, mong manh, đơn độc, vật lộn với thác dữ

• Ngưới lái đò hiện lên như một võ sư nắm vững binh pháp của thần sông, thần đá,như một tướng trận chỉ huy thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước

* Ở lần vượt thác SĐ hiện lên vô cùng nham hiểm, xảo quyệt, đó là chân trời đá, chúng biết bày binh bố trận gồm năm cửa trận, trong đó có bốn cửa tử, một cửa sinh, chia làm ba tuyến: tiền, trung, hậu vệ đòi ăn chết con thuyền đơn độc nhưng ông lái vẫn nhớ mặt từng đứa

* Sự phối hợp của thác nước “như thể quân liều mạng đá trái, thúc gối vào bụng, vào hông thuyền, lại như đòi túm lấy thắt lưng ông đòmà lật ngửa đánh những đòn hiểm độc”

Trang 26

* Hình ảnh ông đò vẫn giữ chặt mái chèo để khỏi bị hất tung ra khỏi trận địa sóng “Ông cố nén vết thương, mặt méo bệch” nhưng vẫn kiên cường vượt qua cơn hỗn chiến.

• Là người lái đò tài hoa, dũng trí: Ông đà cùng chiếc thuyền cưỡi trên con SĐ như cưỡi trên lưng hổ, ông nắm chắc bờm sóng, ghì cương bám chắc vào dòng nước, phóng nhanh vào cửa sinh lái miết

• Là người nắm chắc qui luật của thần sông, thần đá, không hề nao núng, luôn tỉnh táo, sáng tạo, thay đổi chiến thuật, ứng phó kịp thời Mặc cho Đà giang hung dữ, hiểm ác, ông vẫn bám chặt dòng sông, bờm sóng, ghì cưông lái như bám chặt vào sự sống

• Trên chiến trường sông nước người lái đò còn vẹn nguyên tư thế một chiến sĩ quả cảm, tài bachiến đấu với tất cả sự bình tĩnh, tự tin và lòng dũng cảm

• Như đã bị thua ông lái đò ở hai lần giao tranh trước, ở trùng vi thứ ba nó càng trở nên điên cuồng, dữ dội hơn Ít cửa ra vào, bên phải, bên trái đều là cửa tử Cái luồng sống ở ngay giữa bọn đá hậu Với tài nghệ chèo đò vượt thác của mình, ông cứ phóng thẳng , chọc thủng, vút qua cổng đá để rồi chiến thắng vinh quang

• Vẻ đẹp của ông lái đò không chỉ thể hiện ở cảnh vượt thác xuống ghềnhmà còn ở vẻ đẹp tâm hồn Con

SĐ hung dữ là vậy nhưng ông chỉ coi nó như một chiếc lá thu, ông đến với nó như đến với một người bạn lắm chứng nhiều tật, ông hiểu nó, lắng nghe âm vang của nó, thuỷ chung với nó Qua mỗi lần chinh phục, mọi nguy hiểm lại tan biến “ Sóng thác xèo xèo tan ytong trí nhớ”.Họ lại đốt nướng cơm lam, bàn

về cá anh vũ, cá dầm xanh, như không hề có chuyện gì xảy ra.Đó là vẻ đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ

- Nhà văn đã thể hiện một cách tài hoa tất cả các tâm, trí lực, tất cả sự điêu luyện, tinh xảo nhà nghề của người lái đò

=> Qua hình tượng ông lái đò,Nguyễn tuân muốn ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động, những con ngươi bình thường,giảndị, nhưng luôn ánh lên chất “vàng mười” vô cùng quý giá.

Đề 2 Phân tích hình tượng con Sông Đà

-Tính chất hung bạo, hiểm ác, hùng vĩ của con SĐ

+ Cảnh đá bờ sông dựng vách thành,cảnh những ghềnh sông, những hút nước cực kì nguy hiểm “ xoáy tít đáy”tưởng dìm xuống và xé tan xát những bè gỗ,những con thuyền vô ý bị nó lôi tuột xuống

+Mặt sông quãng ấy lúc đứng ngọ mới thấy mặt trời “vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu, khoảng cách nhẹ tưởng chừng như đứng từ bờ này ném nhẹ hòn đá sang tới bờ bên kia, ngồi trong khang đò quãng ấy,mùa

hè cũng cảm thấy lạnh,nhà văn nói cái hẹp, cái tốicủa vách đá bờ sông để tôn lên sự hùng vĩ, hiểm trở của lòng sông Đà

+ Khi miêu tả ghềnh sông, Nguyễn Tuân sử dụng cấu trúc câu trùng điệp:nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như đòi nợ xuýt bất kì người lái đò nào tóm qua đây

+Đoạn miêu tả những hút nước trên sông được nhà văn tái hiện bằng những so sánh, thể nghiệm những cảm giác mạnh giành cho kĩ xảo điện ảnh tất cả chứng tỏ khả năng quan sát và sự hình dung, liên tưởng tuyệt vời của tác giả

+Âm thanh thác nước dữ dội, đầy những tiếng réo, gào Tiếng nước thác được ví như tiếng rống của “ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữ rừng vầu tre nứa, nổ lửa”

+ Hình ảnh “ sóng bọt trắng xoá cả một chân trời đá” cho thấy sự mịt mùng của sóng nước

+ Đá ở đây ngàn năm mai phục,khi con thuyền tới thì nhổm cả dậy,vồ lấy thuyền,mặt hòn nào cũng ngỗ

ngược,nhăn nhúm,méo mó đến dữ tợn ngay cả khi thua thì mặt các hòn đá cũng hết sức đáng sợ, cái mặt xanh lè

vì thất vọng

Trang 27

* Nghệ thuật: Bằng ngôn ngữ giàu chất tạo hình,gợi hình,những liên tưởng lì thú,táo bạo,khả năng vận dụng

kiến thức tổng hợp của nhiều nghành nghề,nhiều lĩnh vực, những câu văn có sức nén, sức dồn giúp Ng Tuân miêu tả một cách sinh động,ấn tượng về một con sông hung bạo nhưng có linh hồn

- Vẻ đẹp trữ tình của dòng sông

+ SĐ mang vẻ đẹp kiều diễm “ con SĐ tuôn dài như một áng tóc trữ tình,đầu tóc,chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo,tháng hai”Với lối so sánh độc đáo tác giả làm hiện lên trước mắt người đọc một con sông duyên dáng,dịu dàng,mềm mại,tha thướt như một nàng thiếu nữ

+ Nước SĐ thay đổi theo mùa,mùa xuân “ màu xanh ngọc bích”,mùa thu “lừ lừ chín đỏ” cách gọi tên chính xác,ấn tượng

+ Con SĐ gợi cảm:Con sông như một cố nhân,gần gũi,thân thiết,tri âm tự bao giờ

+Con sông gợi những niềm thơ:màu trắng tháng ba đường thi trong thơ Lí bạch

+ SĐ hiền hoà,êm đềm,thơ mộng,cảnh thuyền trôi từ từ trên sông,cảnh ven sông lặng tờ như cái êm đềm có tự ngàn xưanguyên sơ,thanh bình.tác giả như dẫn người đọc vào một thế giới cổ tích,như trở về với khoảnh khắc của thời tiền sử hoang dại,hồn nhiên

* Nghệ thuật: Những câu văn êm ả, lối viết linh hoạt, Sự lịch lãm về văn chương,hội hoạ,điện ảnhdồn tụ ở ngòi

bút NG Tuân

Tiểu kết: Từ cách nhìn nhiều chiều về con sôngNG Tuân đã tạo được một dấu ấn khó quên trong lòng người đọc về con sông, thể hiện một tình yêu thiên nhiêntha thiết với những phát hiện hết sức tinh tế và độc đáovề sông núi,đất nước làm đẹp thêm linh hồn bức tranh thiên nhiên của dân tộc.

Bài 10 AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG- Hoàng Phủ Ngọc Tường

-Nhân vật tôi trong tác phẩm là một trí thức gắn bó và yêu say đắm sông Hương với kinh thành Huế.Nhân vật

đã huy động vốn kiến thức tổng hợp về địa lí, lịch sử,văn hoá, trong và ngoài nước để miêu tả và cảm nhận những vẻ đẹp khác nhaucủa dòng sông

-Nhân vật tôi nhìn dòng sông từ nhiều điểm nhìn khác nhau hki miêu tà vẻ đẹp của SH:

+SH vùng thượng nguồn :

• SH như một bản trường ca của rừng già với nhiều tiết tấu hùng tráng,dữ dội Khi “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”,lúc “mãnh liệt vượt qua ghềnh thác”,khi “cuộn xoáy như cơn lốc”vào những đáy vực sâu”,lúc

“dịu dàng và say đắm giữa nhữngdặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”

• Với biện pháp nhân hoá,SH hiện ra “như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”,với ‘bản lĩnh gan dạ,một tâm hồn tự do và trong sáng”

• Khi ra khỏi rừng già,SH đã được chế ngự để nhanh chóngtrở thành người con gái mang sắc đẹp dịu dàngvà trí tuệ ,trở thành người mẹ phù sa của vùng văn hoà xứ sở

=>Dưới ngòi bút tài hoa của HPNT ,SH vùng thượng lưu toát lên vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại đầy cá tính.Nó sinh động như một cơ thể sống vô cùng hấp dẫn

+ SH với kinh thành Huế

• Đoạn tả SH chảy về đồng bằng và ngoại vi thành phố bộc lộ nét tài hoa,lịch lãm trong lối viết của tác giả.Người đọc khó cưỡng lại sức hấp dẫntoát ra từ thủ pháp nhân hoá,từ cách dùng hàng loạt các động từdiễn tả cái dòng chảy thật sống độngqua các địa danh khác nhau của xứ Huế

• Giữa cánh đồng châu hoá đầy hoang dại,SH như “cô gái đẹp ngủ mơ màng”

Trang 28

• Khi ra khòi vùng núi,SH như nàng tiên được đánh thức bừng lên sức trẻ và niềm khát khao của tuổi thanh xuântrong sự “chuyển dòng liên tục”và “trôi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”.

• Vừa mạnh mẽ,vừa dịu dàng,SH có lúc “mềm như tấm lụa”khi qua Vọng cảnh,Tam Thai,Lựu Bảo,có khi ánh lên những phản quang nhiều màu sắc “sớm xanh,trưa vàng,chiều tím”lúc qua dãy đồi phía tây nam thành phố,SH mang vẻ đẹp trầm mặc khi qua lăng tẩm,đền đài,SH mang niềm kieu hãnh âm u cua những vua chúa đang yên giấc ngủ ngàn thu được phong kín trong những rừng thông u tịch: “Bốn bề núi phủ mây phong- Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên”cho đến lúc bừng sáng ,tươi tắn và trẻ trung khi “găp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia”

=>Với hai bút pháp kể - tả được kết hợp nhuần nhuyễn trong đoạn văn, tác giả làm nổi bật một SH đẹp bởi

sự phối cảnh kì thú của thiên nhiên,tạo hoá

+ SH khi chảy vào TP thân yêu

• Như tìm thấy chính mình SH “vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”.Dòng sông “kéo một nét thẳng”theo hướng tây nam-đông bắcvà rồi nơi cuối đường “nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng in trên nền trời …như những vành trăng non”và “uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hếnkhiến dòng sông mềm hẳn đinhư một tiến vâng không nói ra của tình yêu”

• Khác với những dòng sông cũng chảy qua TP như sông Xen của Pa-ri, Sông Đa-nuýp của pu-đa-pét và sông Nê-va của Nga, SH khi qua TP lại trôi đi thật chậm, cơ hồ như chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh

• Điệu chảy của dòng sông như một điệu Slow bồng bềnh trên nghìn ánh hoa đăng hội rằm tháng bảy qua Huế bỗng ngập ngừng,vấn vương như một nỗi lòng muốn đi muốn ở

• Với cái nhìn say đắm của một trái tim đa tình,SH là người tình dịu dàng và thuỷ chung “Rời khỏi kinh thànhSH chếch về hướng chính bắc,ôm lấy cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói”những khúc quanh bất ngờ được tác giả cảm nhận thật khác lạ,tự nhiên dường như cũng giống như những con người

ở nơi đây, có cái gì “như vấn vương,cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” và còn giống như tình yêu của Thuý Kiều –Kim Trọng trong đêm tự tình ở ngã rẽnày để nói lời thề trước khi về vời biển cả

 Cách so sánh liên tưởng thật sâu sắc, uyê bác, cùng với ngôn từ chan chứa chất thơ, HPNT đã đem lai cho nhười đọc nhiều thú vị trong lối hành văn Ông phải là người am hiểu xứ Huế nhường nào mới có được những trang văn hay đến thế

+ SH với lịch sử dân tộc:

Mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu ấn những thế kỉ vinh quang.Từ thưở các vua Hùng dựng nước cho đến Dư địa chí của Nguyễn Trãi ,qua những thế kỉ trung đại “nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”.Từ thế kỉ XIX nó liên tiếp chứng kiến các cuộc kháng chiến chống Pháp

và mĩ oanh liệt của dân tộc.dòng sông của sử thi viết lên giữa màu cỏ lá xanh biếc,tự hiến đời mình làm nên những chiến công oanh liệt

+ SH và thi ca:

Dòng sông không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các thi nhân : “ Dòng sông trắng lá cây xanh trong mắt tản Đà”, “như kiếm dựng trời xanh đầy khí phách” trong thơ Cao Bá Quát, “mang nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ bà Huyện thanh Quan và mang một sức mạnh phục sinh của tâm hồn trong thơ tố Hữu

+ Dòng sông của đời thường

Sau những biến cố lịch sử “nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”

=>Bằng giọng văn thủ thỉ,tâm tình, say đắm mà tỉnh táo, tự tin nhưng không áp đặt,sắc sảo mà giàu cảm xúc HPNT đã cống hiến cho người đọc một văn bút tài hoa,khiến SH đẹp như một bức hoạ đồ,nhẹ nhàng êm ái như điệu slow,dịu dàng cuốn hút như mọt người tình trong mộng

Ngày đăng: 30/06/2015, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w