1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên

12 762 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 30,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết phải có đạo đức nghề nghiệp trong kiểm toán Trong tất cả các ngành nghề nói chung, để có thể thực hiện công việc với chất lượng cao, tuân thủ pháp luật và phục vụ tốt nhất c

Trang 1

KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

NHÓM 4: ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA KIỂM TOÁN VIÊN

Thành viên:

Bố cục:

I Đạo đức nghề nghiệp

1 Sự cần thiết phải có đạo đức nghề nghiệp trong kiểm toán

2 Các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên

II Liên hệ với thực tiễn Việt Nam

1 Cơ quan ban hành chuẩn mực và thực hiện kiểm soát chất lượng kiểm toán, đạo đức nghề nghiệp kiểm toán

2 Các công cụ kiểm soát đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Việt Nam

3 Các trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp kiểm toán

BÀI LÀM

1 Sự cần thiết phải có đạo đức nghề nghiệp trong kiểm toán

Trong tất cả các ngành nghề nói chung, để có thể thực hiện công việc với chất lượng cao, tuân thủ pháp luật và phục vụ tốt nhất cho lợi ích của xã hội, các

Trang 2

cơ quan chức năng, luật pháp hay hội nghề nghiệp đều phải thiết lập các quy định cho người hành nghề

Kiểm toán là một nghề nghiệp mang tính chuyên nghiệp rất cao và được sự kỳ vọng của nhiều đối tượng quan tâm khác nhau trong xã hội, chính vì vậy càng cần phải chịu sự chi phối bởi các quy định có liên quan, trong đó có quy định về đạo đức nghề nghiệp

Đạo đức nghề nghiệp đó chính là những quy tắc để hướng dẫn cho các thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích chung của nghề nghiệp và xã hội.

Đạo đức nghề nghiệp yêu cầu mỗi KTV phải là những người có đạo đức, và mỗi tổ chức công ty kiểm toán đều phải là cộng đồng của những người có đạo đức Vì thế, điều lệ đạo đức nghề nghiệp phải được xác định rõ ràng, công bố và trở thành yêu cầu bắt buộc trong nghề kiểm toán, để một mặt sẽ giúp quản lý và giám sát chặt chẽ mọi KTV; mặt khác sẽ giúp cho công chúng hiểu biết về

“chúng”, để qua đó có quyền đòi hỏi và đánh giá về các hành vi đạo đức của KTV trong quá trình tác nghiệp

Nói cách khác, bên cạnh luật pháp và cùng với luật pháp, chính việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp cho các KTV luôn duy trì được một thái độ nghề nghiệp đúng đắn, giúp bảo vệ và nâng cao uy tín cho nghề kiểm toán trong xã hội, bởi vì nó tạo nên sự đảm bảo về chất lượng cao của dịch vụ cung cấp cho khách hàng

2 Các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên Độc lập: Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên hành

nghề và người hành nghề kế toán

Trong quá trình kiểm toán hoặc cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán viên hành nghề và người hành nghề kế toán phải thực sự không bị chi phối hoặc tác

Trang 3

động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình

- Độc lập về mặt kinh tế: Kiểm toán viên hành nghề và người hành nghề kế toán không được nhận làm kiểm toán hoặc làm kế toán cho các đơn vị mà mình

có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế như góp vốn, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng, hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng, hoặc có ký kết hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng hóa

- Độc lập về mặt tình cảm: Kiểm toán viên hành nghề và người hành nghề

kế toán không được nhận làm kiểm toán hoặc làm kế toán ở những đơn vị mà bản thân có quan hệ gia đình ruột thịt (như có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị,

em ruột) là người trong bộ máy quản lý diều hành (Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, kế toán trưởng, các trưởng, phó phòng và các cấp tương đương) trong đơn

vị khách hàng

- Độc lập về mặt chuyên môn: Kiểm toán viên hành nghề không được vừa làm dịch vụ kế toán, như ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, kiểm toán nội bộ, định giá tài sản, tư vấn quản lý, tư vấn tài chính, vừa làm dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng Ngược lại, người làm dịch vụ kế toán không được làm kiểm toán cho cùng một khách hàng

Trong quá trình kiểm toán hoặc cung cấp dịch vụ kế toán, nếu có sự hạn chế

về tính độc lập thì kiểm toán viên hành nghề, người hành nghề kế toán phải tìm mọi cách loại bỏ sự hạn chế này Nếu không thể loại bỏ được thì phải nêu rõ điều này trong Báo cáo kiểm toán hoặc Báo cáo dịch vụ kế toán

Chính trực: Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải thẳng thắn,

trung thực và có chính kiến rõ ràng

Khách quan: Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải công bằng,

tôn trọng sự thật và không được thành kiến, thiên vị

Trang 4

Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Người làm kế toán và người

làm kiểm toán phải thực hiện công việc kiểm toán, kế toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy trì, cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc

Duy trì kiến thức và nghiệp vụ chuyên môn đạt yêu cầu quy định đảm bảo cung cấp dịch vụ chuyên môn tốt nhất cho khách hàng hay chủ doanh nghiệp; Hành động đúng mực, phù hợp với các chuẩn mực về kỹ thuật và nghề nghiệp khi cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp

Tính bảo mật: Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải bảo mật các

thông tin có được trong quá trình kiểm toán; không được tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi chưa được phép của người có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình

Tư cách nghề nghiệp: Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải trau

dồi và bảo vệ uy tín nghề nghiệp, không được gây ra những hành vi làm giảm

uy tín nghề nghiệp

Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn: Người làm kế toán và người làm kiểm

toán phải thực hiện công việc kế toán, kiểm toán theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã quy định trong chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, quy định của Hội nghề nghiệp và các quy định pháp luật hiện hành

1 Cơ quan ban hành chuẩn mực và thực hiện kiểm soát chất lượng kiểm toán, đạo đức nghề nghiệp kiểm toán

Trang 5

Hiện nay ở Việt Nam việc kiểm soát đạo đức của KTV còn chưa được chú trọng triển khai một cách chặt chẽ và có sự kiểm soát chéo của nhiều đơn vị khác nhau mặc dù đã có những hướng dẫn và văn bản pháp lý ban hành liên quan đến việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp

Cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất đối với công tác kiểm soát đạo đức đó là Hiệp hội kế toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), Hiệp hội kế toán việt Nam (VAA) sau khi có văn bản chuyển giao của Bộ tài chính đối với nội dung công việc quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán (Quyết định 47.2005/QĐ-BTC ngày 14/07/2005)

Ngày 15/4/2005 Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã được thành lập tại Hà Nội và chính thức đi vào hoạt động từ 1/1/2006

Hội có tên: HỘI KIỂM TOÁN VIÊN HÀNH NGHỀ VIỆT NAM

Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Association of Certified Public Accountants

Tên viết tắt : VACPA

Nguyên tắc tổ chức:

Hội được tổ chức theo nguyên tắc tập trung từ Ban Chấp hành Trung ương trực tiếp đến từng Hội viên trong cả nước, gồm:

- Đại hội đại biểu toàn quốc 4-5 năm một lần;

- Ban Chấp hành;

- Ban Thường trực;

- Ban Kiểm tra;

- Các Ban chuyên môn gồm : Ban Đào tạo, Ban Tư vấn, Ban Kiếm soát chất lượng, Ban Đối ngoại, Ban Hội viên và Ban Chuẩn mực kiểm toán;

Trong thiết kế cơ cấu tổ chức của VACPA hiện tại có Ban kiểm soát chất lượng kiểm toán Tuy nhiên có thể thấy rằng Ban KSCL này trong những năm vừa qua chỉ chú trọng thực hiện việc kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán qua kiểm soát hồ sơ và kiểm soát kỹ thuật; trong khi đó việc kiểm soát đạo đức nghề nghiệp chưa có cơ chế và thủ tục, thời gian kiểm soát rõ ràng

Trang 6

Hầu như việc thực hiện công tác kiểm soát này được giao cho các công ty kiểm toán độc lập thực hiện việc nội kiểm qua việc ban hành các chính sách và quy định trong quá trình hành nghề do chính các công ty thực hiện dựa trên nền tảng quy định của Nghị định 105/2004/NĐ-CP và quyết định 87/2005/QĐ-BTC

2 Các công cụ kiểm soát đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Việt Nam

Ở Việt Nam văn bản đầu tiên quy định về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên phải kể đến đó là quy chế kiểm toán độc lập năm 1994 (điều 14) Đến năm 1999 vấn đề về đạo đức nghề nghiệp được quy định cụ thể hơn trong

Chuẩn mực kiểm toán số 200 (VSA 200) Tiếp theo sau đó các văn bản khác như VSA 320, Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 của Chính phủ… cũng có đề cập đến công tác kiểm soát đạo đức nghề nghiệp

Tuy nhiên vấn đề này chỉ được quy định đầy đủ và toàn diện nhất khi Bộ tài chính ban hành và công bố Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán theo quyết định số 87/2005/QĐ-BTC ngày 01/12/2005 Văn bản này được biên soạn trên cơ sở của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp do Liên đoàn quốc tế ban hành năm 2001 với 2 phần chính đó là : phần quy định chung và phần nội dung chuẩn mực Trong phần nội dung của chuẩn mực thì thiết kế gồm có 3 nội dung chính đó là :

+ Phần A (từ đoạn 45 đến đoạn 76) : Áp dụng cho tất cả người làm kế toán

và kiểm toán

+ Phần B (từ đoạn 77 đến đoạn 292) : Áp dụng cho KTV hành nghề, nhóm kiểm toán và công ty kiểm toán

+ Phần C (từ đoạn 293 đến đoạn 333) : Áp dụng cho người có chứng chỉ KTV hoặc chứng chỉ hành nghề kế toán đang làm việc trong các DN, tổ chức

Trang 7

Thời gian vừa qua, những văn bản này chính là cơ sở pháp lý và là công cụ kiểm soát đạo đức nghề nghiệp kiểm toán độc lập ở nước ta

Nhận thức được việc kiểm soát phải chuyển từ mô hình tự kiểm soát sang

mô hình có sự kiểm soát chặt chẽ hơn nữa của Nhà nước, Chính phủ và các hiệp hội thời gian gần đây đã có ban hành dự thảo về Luật kiểm toán độc lập Tại điều 12-chương 1 của dự thảo này có quy định rõ ràng và cụ thể hơn các điều cấm và không được thực hiện đối với các KTV trong quá trình thực hiện công việc tương tự như đối với đạo luật Sarbanes-Oxley ở Mỹ và luật Công ty ở Pháp

Thêm vào đó Chính phủ cũng vừa ban hành nghị định 85/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010 về xử lý hành chính đối với các vi phạm trong lĩnh vực chứng

khoán có nói đến xử phạt hành chính đối với hoạt động của tổ chức kiểm toán, KTV với mức từ 30-100 triệu tùy theo từng hành vi sai phạm

Qua nghiên cứu quá trình ban hành các công cụ phục vụ công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán nói chung và kiểm soát đạo đức nghề nghiệp nói riêng cho thấy ngành kiểm toán độc lập nước ta đang ra sức kế thừa kinh nghiệm và kết quả của các nước tiên tiến đi trước để hoàn thiện hơn công tác kiểm soát và chất lượng hoạt động của ngành, đáp ứng niềm tin của công chúng trong bối cảnh hội nhập

3 Các trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp kiểm toán

BÔNG BẠCH TUYẾT (BBT)

Vụ phá sản của công ty Bông Bạch Tuyết (BBT) năm 2008 là một ví dụ điển hình về vấn đề chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của KTV Cụ thể các sự kiện của công ty cổ phần BBT :

1 Năm 2004, báo cáo tài chính (BCTC) được kiểm toán cho thấy BBT lỗ: 2,121tỷ đồng

Trang 8

2 Năm 2005, BCTC do Công ty Kiểm toán A&C thực hiện cho thấy BBT

có lợi nhuận sau thuế là 982 triệu đồng Tuy nhiên, kiểm toán viên của A&C có nêu ý kiến loại trừ khoản mục như:

- Chưa trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

- Thay đổi chính sách khấu hao đã làm giảm chi phí khấu hao so với năm 2004 một con số ước tính là 1,253 tỷ đồng

- Sử dụng khoản lương dự phòng để nộp BHXH và BHYT số tiền 147 triệu đồng

- Ngoài ra, theo báo cáo kiểm toán năm 2006 thì trong năm 2005, BBT đã thực hiện chương trình quảng cáo sản phẩm mới nhưng không hạch toán chi phí vào năm đó, kiểm toán viên của A&C đã không lưu ý điều này trong báo cáo kiểm toán

3 Năm 2006, BCTC năm và các quý do BBT lập đều có lãi, nhưng ý kiến kiểm toán viên cuối năm ngoại trừ nhiều khoản mục trọng yếu BCTC năm 2006 đã được AISC không chấp nhận nhiều khoản chi phí chưa trích đủ:

- Chi phí khấu hao TSCĐ thiếu hơn 676 triệu đồng

- Giảm giá vốn hàng bán 3.540 triệu đồng

- Trích dự phòng phải thu khó đòi thiếu 284 triệu đồng

- Chi phí Hội đồng quản trị sử dụng sai nguồn 161 triệu đồng

- Chi phí lãi chậm nộp tiền bán cổ phần nhà nước 487 triệu đồng

- Ngày 31/12/2006 AISC không tham gia kiểm kê hàng tồn kho nên BCKT năm 2006 còn ngoại trừ ảnh hưởng của số dư hàng tồn kho

có liên quan đến doanh thu và kết quả kinh doanh năm 2006

- AISC đã phát hành báo cáo kiểm toán (BCKT) với ý kiến chấp nhận từng phần

Trang 9

4 Theo hợp đồng kiểm toán cho năm tài chính 2007,BBT đã yêu cầu kiểm toán lại một số khoản mục của năm 2006, kết quả kiểm toán đã loại trừ một số khoản, dẫn tới kết quả sau thuế năm 2006 bị lỗ 8,448 tỷ đồng Số liệu điều chỉnh này chỉ được công bố trong BCTC kiểm toán năm 2007 ở

số liệu đầu kỳ

5 Tháng 10/2007, HĐQT BBT đã phê chuẩn đề nghị của Ban giám đốc về việc thực hiện lập báo cáo tài chính quý III/2007 phản ánh chính xác, đầy

đủ, minh bạch tình hình tài chính của công ty Trong quý III/2007, BBT bắt đầu thực hiện một số bút toán điều chỉnh hồi tố đối với phần lợi nhuận để lại từ các năm trước Trong BCTC kiểm toán năm tài chính

2007, Công ty lỗ 6,809 tỷ đồng

6 Sáu tháng đầu năm 2008, BCTC do công ty lập lỗ 4,537 tỷ đồng Công

ty ngừng sản xuất hoàn toàn kể từ ngày 12/7

Như vậy, do sự nhập nhằng, không chính xác và thiếu trách nhiệm trong kiểm toán cty BBT, các KTV của 2 công ty A&C và AISC đã để các con số ảo trên BCTC của BBT làm ảnh hưởng các quyết định của các nhà đầu tư và gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế

Kết quả: Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C) và Công ty TNHH Kiểm

toán và Dịch vụ Tin học (AISC) đã bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

(UBCKNN) khiển trách do việc kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty Bông Bạch Tuyết (BBT) do hai công ty trên thực hiện có nhiều sai sót Đồng thời, UBCKNN cũng ra quyết định không chấp thuận tư cách kiểm toán viên được chấp thuận 2 năm (2009 và 2010) đối với các ông, bà: Nguyễn Thị Ngọc

Quỳnh, Lê Minh Tài (Công ty A&C); Nguyễn Quang Tuyên, Nguyễn Hữu Trí (Công ty AISC)

BỔ SUNG Các vi phạm về đạo đức ở ví dụ về Bông Bạch Tuyết (BBT)

Trang 10

1 Tính chính trực và tính khách quan.

Theo điều số 49 và 50 của chuẩn mực:

49.Tính chính trực không đơn thuần chỉ tính trung thực mà còn nhấn mạnh đến sự công bằng và sự tín nhiệm Nguyên tắc về tính khách quan nói đến nghĩa vụ của tất cả người làm

kế toán và người làm kiểm toán phải công bằng, trung thực trong tư tưởng và không có xung đột về lợi ích.

Người làm kế toán và người làm kiểm toán trong các lĩnh vực khác nhau cần thể hiện tính khách quan của họ trong các hoàn cảnh khác nhau Kiểm toán viên hành nghề tham gia vào các hợp đồng cung cấp dịch vụ đảm bảo, dịch vụ kê khai thuế và các dịch vụ tư vấn quản

lý khác Người làm kế toán và người làm kiểm toán khi chuẩn bị báo cáo tài chính, thực hiện kiểm toán nội bộ hoặc tham gia quản lý tài chính trong các doanh nghiệp và đơn vị kế toán Bất kể dịch vụ hay quyền hạn như thế nào, người làm kế toán và người làm kiểm toán cũng cần phải bảo vệ tính chính trực khi làm việc hoặc cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp và giữ tính khách quan trong những đánh giá của họ.

50 Khi lựa chọn và áp dụng các tiêu chuẩn về đạo đức có liên quan đến tính khách quan, cần có sự quan tâm đáng kể đối với các nhân tố sau:

a) Người làm kế toán và người làm kiểm toán, trong các trường hợp phải chịu áp lực mạnh, có thể dẫn đến việc vi phạm tính khách quan.

b) Do không thể định nghĩa và quy định được tất cả các trường hợp phải chịu áp lực nên phải quy định các tiêu chuẩn để xác định các mối quan hệ có khả năng dẫn đến việc vi phạm tính khách quan của người làm kế toán và người làm kiểm toán.

c) Cần tránh các mối quan hệ dẫn đến sự thành kiến, thiên vị hoặc bị ảnh hưởng của những người khác có thể dẫn đến vi phạm tính khách quan.

d) Người làm kế toán và người làm kiểm toán có nghĩa vụ đảm bảo tôn trọng tính khách quan đối với các quan hệ cá nhân liên quan đến dịch vụ chuyên nghiệp.

e) Người làm kế toán và người làm kiểm toán không nên nhận quà hoặc tặng quà, dự chiêu đãi hoặc mời chiêu đãi đến mức có thể làm ảnh hưởng đáng kể tới các đánh giá nghề nghiệp hoặc tới những người họ cùng làm việc Quà tặng hoặc chiêu đãi là quan hệ tình cảm

Ngày đăng: 30/06/2015, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w