Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Trang 1VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TRUNG TÂM TƯ VẤN CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP
-
Dự án CARD 030/06 VIE: Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: Trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NGÀNH THỨC ĂN CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM PHẦN II: Sử dụng thức ăn của hộ chăn nuôi lợn và gà
Phạm Thi Liên Phương 1 , Nguyễn Thị Thịnh 1 , Donna Brennan 2 , Sally Marsh 2 , Bùi Hải Nguyên 1
1 Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Hà Nội
2 Khoa Kinh tế Nông nghiệp và Tài nguyên, Đại học Tây Úc
Hà Nội, tháng 4 năm 2010
Trang 2TÓM TẮT TỔNG QUAN
Cuộc điều tra 300 hộ chăn nuôi lợn và gà được thực hiện trong khuôn khổ dự án CARD 030/06 VIE: “Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: Trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi” Nghiên cứu này bổ sung cho cuộc điều tra trước đó về doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, và nhằm thu thập một bức tranh tổng quan về hoạt động chăn nuôi và việc sử dụng thức ăn chăn nuôi Cuộc điều tra hộ chăn nuôi được thực hiện trong tháng 11
và tháng 12 năm 2008 tại 6 trong tổng số 7 tỉnh đã tiến hành cuộc điều tra doanh nghiệp trước đó, bao gồm: Hà Nội và Hưng Yên ở miền Bắc, Bình Dương, Đồng Nai, Long An
và Tiền Giang ở miền Nam
Nghiên cứu này xem xét 2 hệ thống chăn nuôi gà và lợn, điều tra chi phí, việc sử dụng thức ăn và và hiệu quả tương ứng với từng hệ thống Trong báo cáo này, chúng tôi sẽ trình bày kết quả về các hình thức chăn nuôi và bán sản phẩm, đặc điểm của hộ chăn nuôi,
và quan trọng nhất là việc sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn thô theo quy mô chăn nuôi và vùng Một đóng góp quan trọng của nghiên cứu này là các công việc được thực hiện gần như đã đi sâu phân tích việc sử dụng thức ăn chăn nuôi của hộ Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCRs), và chi phí thức ăn trên 1 kg tăng trọng được tính toán cho việc sử dụng các loại thức ăn khác nhau của hộ chăn nuôi theo các quy mô khác nhau Báo cáo này không chỉ đưa ra số liệu về tình hình chăn nuôi nói chung ở Việt Nam và hiệu quả sử dụng thức ăn, mà còn cung cấp số liệu liên kết các nhà cung cấp thức ăn (doanh nghiệp)
và người sử dụng thức ăn (hộ chăn nuôi)
Các kết quả từ báo cáo phân tích chỉ ra rằng, ở các lĩnh vực sau đây, các chỉ tiêu sản xuất của hộ chăn nuôi quy mô nhỏ thể hiện họ có khả năng cạnh tranh với hộ chăn nuôi lớn
• Chênh lệch giữa giá bán trung bình trên 1 kg sản phẩm và chi phí trung bình trên 1 kg sản phẩm mang giá trị dương đối với cả hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn ở tất cả các quy mô
• Hộ chăn nuôi nhỏ có xu hướng đa dạng hóa hơn trong hoạt động chăn nuôi, ngược lại các hộ chăn nuôi lớn lại có xu hướng chuyên môn hóa vào một loại sản phẩm chăn nuôi chính Đa dạng hóa có thể là một chiến lược hạn chế rủi ro đối với hộ chăn nuôi nhỏ
• Đối với chăn nuôi gà, kết quả điều tra không tìm thấy sự khác biệt về chi phí con giống giữa các quy mô Đối với chăn nuôi lợn, giá mua con giống thấp hơn ở các hộ chăn nuôi nhỏ (các hộ chăn nuôi quy mô lớn hơn có xu hướng nuôi giống lợn ngoại
• Các hộ chăn nuôi nhỏ sử dụng nhiều ăn thức ăn trộn hơn, và chúng tôi cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy đối với chăn nuôi lợn, chi phí thức ăn trên 1kg tăng trọng ở hình
Trang 3thức cho ăn thức ăn trộn thấp hơn về mặt thống kê so với hình thức cho ăn toàn thức
ăn hỗn hợp Tuy nhiên, kết luận này không đúng trong trường hợp chăn nuôi gà Cuộc điều tra cũng xác định một số vấn đề liên quan đến hoạt động chăn nuôi quy mô nhỏ
• Hộ chăn nuôi nhỏ có cơ sở hạ tầng chăn nuôi kém hơn và nhiều hộ trong số họ gặp phải dịch bệnh trong 12 tháng qua Điều này có thể liên quan tới cơ sở hạ tầng nghèo nàn cũng như thiếu các biện pháp thú y/ chăm sóc sức khỏe vật nuôi
• Các hộ chăn nuôi nhỏ cũng có xu hướng ít vay vốn để chăn nuôi, và họ thường vay từ các nguồn tư nhân hơn là từ ngân hàng hoặc các tổ chức thương mại khác
• Tỷ trọng chi phí thức ăn trong tổng chi phí chăn nuôi có xu hướng cao hơn ở các hộ quy mô nhỏ Điều này khiến cho các hộ quy mô nhỏ gặp rất nhiều khó khăn trước sự tăng giá của thức ăn chăn nuôi
• Hộ chăn nuôi nhỏ ít tham gia vào hình thức hợp đồng cung cấp thức ăn chăn nuôi và/ hoặc bán sản phẩm chăn nuôi Một trường hợp ngoại lệ là các hộ chăn nuôi nhỏ có hợp đồng cung cấp trứng và chăn nuôi lợn thịt
Một số phát hiện từ cuộc điều tra hộ chăn nuôi đưa ra những gợi ý cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi nội địa quy mô vừa và nhỏ
• Rất ít hộ chăn nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp của các công ty nội địa Các hộ chăn nuôi lợn và gà đều ưa chuộng các nhãn hiệu nước ngoài hơn Lý do chính của sự lựa chọn này là các nhãn hiệu nước ngoài được coi là có chất lượng cao hơn và cho năng suất chăn nuôi tốt hơn Nghiên cứu không cho thấy có sự khác biệt về mặt thống kê giữa giá thức ăn nhãn hiệu nước ngoài và nhãn hiệu nội địa
• Chúng tôi đã tiến hành so sánh tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) của các hộ chăn nuôi
sử dụng thức ăn hỗn hợp nước ngoài và nội địa Đối với hộ chăn nuôi gà thịt, FCR thấp hơn về mặt thống kê ở các hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp nhãn hiệu nước ngoài Đối với chăn nuôi lợn, FCR không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các hộ sử dụng nhãn hiệu nước ngoài hay nội địa Các kết quả này chỉ ra rằng có thể có sự khác biệt về chất lượng giữa thức ăn hỗn hợp cho gà nhãn hiệu nước ngoài và nội địa, trong khi đó không có bằng chứng về sự khác biệt trong trường hợp thức ăn hỗn hợp cho lợn Tuy nhiên, các hộ chăn nuôi nhận thức được sự khác biệt về chất lượng, và yếu tố này là đủ để ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn thức ăn công nghiệp nhãn hiệu nước ngoài Phát hiện này ủng hộ cho các kết quả từ cuộc điều tra doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi (phần I) đề xuất rằng cải tiến kiểm soát chất lượng là vấn đề chính đối với các doanh nghiệp nội địa
• Các hộ chăn nuôi quy mô lớn hơn có xu hướng tham gia nhiều hơn vào hình thức hợp đồng cung cấp thức ăn chăn nuôi Do phần lớn các hộ sử dụng thức ăn công nghiệp nhãn hiệu nước ngoài, chúng ta có thể giả định họ có hợp đồng cung cấp thức ăn từ các doanh nghiệp nước ngoài Khi quy mô chăn nuôi ở Việt Nam tăng lên, và cùng với nó là khả năng tham gia vào hình thức hợp đồng cung cấp thức ăn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi sẽ ngày càng bị đẩy ra khỏi thị trường cung cấp thức ăn
• Cuộc điều tra điều tra doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đưa ra bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ trọng doanh thu từ sản xuất thức ăn đậm đặc trong tổng doanh thu cao hơn các doanh nghiệp lớn – nơi chủ yếu tập trung vào sản xuất thức ăn hỗn hợp Các kết quả của chúng tôi cho thấy hình thức sử dụng thức
Trang 4ăn kết hợp (có sử dụng thức ăn đậm đặc và được áp dụng phổ biến hơn ở những hộ chăn nuôi quy mô nhỏ) đem lại hiệu quả tốt khi xét về chi phí thức ăn trên 1 kg tăng trọng đối với chăn nuôi lợn Các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi vừa và nhỏ cần tìm hiểu thêm về việc sử dụng hiệu quả thức ăn đậm đặc trong khẩu phần thức ăn trộn cho chăn nuôi lợn, thông qua các mối liên kết trực tiếp với các hộ chăn nuôi nhỏ và/hoặc các hợp tác xã nông nghiệp
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn chương trình CARD của Cơ quan Hỗ trợ Phát triển
Úc AusAID đã hỗ trợ kinh phí cho Dự án 030/06 VIE: Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi
Nhóm tác giả chân thành cảm ơn những đóng góp cho dự án nghiên cứu này của các cán
bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp: Phạm Tuyết Mai, Trần Công Thắng, Nguyễn Ngọc Quế, Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Nguyễn Anh Phong và Nguyễn
Lệ Hoa
Chúng tôi cũng xin ghi nhận những ý kiến đóng góp hữu ích của ông Lê Bá Lịch (Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam), ông Trần Công Xuân (Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam), bà Bùi Thị Oanh (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và ông Lã Văn Kính (Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam Việt Nam) cũng như các đại biểu tham gia hai cuộc hội thảo lấy ý kiến các bên liên quan tổ chức vào tháng 12/2009 tại Hà Nội và tháng 1/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh Ngoài những góp ý về các vấn đề kỹ thuật của các chuyên gia Việt Nam nói trên, chúng tôi cũng nhận được ý kiến đóng góp của TS Johanna Pluske (chuyên gia tư vấn kinh tế chăn nuôi) và GS John Pluske (chuyên gia dinh dưỡng động vật) của Trường ĐH Murdoch, Tây Úc Chúng tôi cũng xin cảm ơn những nhận xét hữu ích cho bản thảo của báo này của TS Johanna Pluske
Chúng tôi cũng xin ghi nhận và gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ Sở Nông nghiệp
& Phát triển Nông thôn của 6 tỉnh về sự hỗ trợ cho nhóm nghiên cứu tiến hành cuộc điều tra hộ chăn nuôi trên địa bàn các tỉnh Chúng tôi cũng đánh giá cao nỗ lực của nhóm điều tra viên, và cuối cùng, xin cảm ơn 300 hộ chăn nuôi gà và lợn đã dành thời gian và sẵn lòng hỗ trợ công tác điều tra, cung cấp những thông tin chi tiết liên quan đến hoạt động chăn nuôi của hộ
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
ANOVA Phân tích phương sai
CAP Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
CARD Chương trình Hợp tác Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn
DARD Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
FCR Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn
IAE Viện Kinh tế Nông nghiệp
IAS Viện Khoa học Nông nghiệp
IFPRI Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế
MARD Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
NSD Không có sự khác biệt về mặt thống kê
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
VAFA Hiệp hội Thức ăn Chăn nuôi Việt Nam
VHLSS Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam
VPA Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam
VND Việt Nam đồng
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT i
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
1. Giới thiệu 2
1.1 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.2 Tiến hành điều tra 3
1.2.1 Phân loại hộ chăn nuôi gà 4
1.2.2 Phân loại hộ chăn nuôi lợn 5
2 Các đặc điểm nhân khẩu học 6
3 Các hệ thống chăn nuôi gà 8
3.1 Các hộ tự ấp con giống 8
3.2 Các hộ nuôi gà thịt có mua con giống 8
3.3 Các hộ nuôi gà đẻ có mua con giống 10
3.4 Tóm tắt các hệ thống chăn nuôi gà 12
4 Các hệ thống chăn nuôi lợn 13
4.1 Các hoạt động chăn nuôi 13
4.2 Chăn nuôi lợn thịt 14
4.3 Tóm tắt các hệ thống chăn nuôi lợn 15
5 Sử dụng thức ăn chăn nuôi của hộ 17
5.1 Sử dụng thức ăn cho gà 17
5.2 Sử dụng thức ăn cho lợn 24
6 Các kênh thị trường 32
6.1 Khả năng và việc tham gia các hình thức hợp đồng 32
6.2 Các đối tượng cung cấp thức ăn chăn nuôi 33
6.3 Thị trường đầu ra 36
7 Cơ sở hạ tầng và các đặc điểm khác của hoạt động chăn nuôi 38
7.1 Cơ sở hạ tầng chăn nuôi 38
7.2 Dịch bệnh và các biện pháp phòng chống 43
7.3 Tiếp cận với các đầu vào chăn nuôi 45
8 Chi phí chăn nuôi và lợi nhuận 50
8.1 Chi phí chăn nuôi 50
8.2 Chăn nuôi và đóng góp của chăn nuôi trong tổng doanh thu từ nông nghiệp 53
9 Tóm tắt các phát hiện chính và các gợi ý đối với các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ và các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi 55
9.1 Các hệ thống chăn nuôi 55
9.1.1 Loại giống nuôi 55
9.1.2 Sự đa dạng hóa 55
9.1.3 Hệ thống chăn nuôi 56
9.1.4 Chi phí và giá bán trong chăn nuôi 56
9.2 Các đầu vào chăn nuôi, các kênh cung cấp và phân phối 56
9.2.1 Giá thức ăn chăn nuôi 56
9.2.2 Lựa chọn thức ăn chăn nuôi công nghiệp 56
9.2.3 Tiếp cận và sử dụng tín dụng 57
9.2.4 Cung cấp thức ăn chăn nuôi công nghiệp 57
9.2.5 Phân phối sản phẩm 57
9.2.6 Sử dụng các hình thức hợp đồng 57
9.3 Chi phí chăn nuôi và doanh thu 58
9.3.1 Tỷ lệ của chi phí thức ăn trong tổng chi phí 58
Trang 79.3.2 Đóng góp của doanh thu từ chăn nuôi trong tổng doanh thu từ nông nghiệp
9.4 Sử dụng thức ăn chăn nuôi 59
9.4.1 Sử dụng thức ăn cho chăn nuôi gà 59
9.4.2 Sử dụng thức ăn cho chăn nuôi lợn 59
9.4.3 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) 60
9.5 Khả năng cạnh tranh của các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ 62
9.6 Các gợi ý đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất thức ăn chăn nuôi 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1 Phân bổ mẫu theo vùng và quy mô của gà thịt và gà đẻ, số lượng hộ 4
Bảng 3 Các đặc điểm nhân khẩu học của các hộ theo loại vật nuôi chính, theo vùng và quy mô 6
Bảng 4 Tỷ lệ chủ hộ với các trình độ giáo dục cụ thể theo loại hình chăn nuôi, theo vùng và quy mô .7
Bảng 5 Các hộ chăn nuôi gà tự ấp con giống a (cũng có thể mua con giống) 8
Bảng 6 Các loại giống nuôi đối với gà thịt và số lượng lứa một năm 9
Bảng 7 Đặc điểm của chăn nuôi gà thịt đối với những hộ mua con giống 10
Bảng 8 Các loại giống nuôi đối với gà đẻ 10
Bảng 9 Các đặc điểm của chăn nuôi gà đẻ đối với những hộ mua con giống 11
Bảng 10 Cơ cấu hộ chăn nuôi lợn, % từng loại 13
Bảng 11 Nguồn lợn con để nuôi vỗ béo (tự túc hoặc mua), theo vùng, quy mô và loại hệ thống - số con/hộ/năm 14
Bảng 12 Phân bố số hộ mua lợn con để nuôi vỗ béo theo loại giống lợn (%) 14
Bảng 13 Các chỉ tiêu về sản xuất đối với chăn nuôi lợn thịt (sử dụng lợn con giống từ tất cả các nguồn) 15
Bảng 14 Tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp trong từng giai đoạn, chia theo vùng, quy mô và loại giống 17
Bảng 15 Tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn đậm đặc theo từng giai đoạn, chia theo vùng, quy mô và loại giống 18
Bảng 16 Cách thức cho ăn của các hộ chăn nuôi gà, tỷ lệ hộ sử dụng các loại thức ăn khác nhau: chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp, kết hợp thức ăn hỗn hợp với thức ăn trộn, chỉ sử dụng thức ăn trộn 19
Bảng 17 Lượng thức ăn trung bình một ngày cho gà thịt theo từng cách thức cho ăn, chi a theo vùng, quy mô và loại giống 20
Bảng 18 Các thành phần trong khẩu phần ăn được sử dụng bởi các hộ cho ăn kết hợp ăn thức ăn trộn và thức ăn hỗn hợp 21
Table 19 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn đối với gà thịt chia theo vùng, quy mô, loại giống và cách thức cho ăn 22
Bảng 20 Hiệu quả của nhãn hiệu thức ăn được sử dụng đến tỷ lệ FCR đối với khẩu phần ăn chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp, cho các hộ chăn nuôi quy mô lớn và trung bình 22
Bảng 21 Chi phí thức ăn trên 1 ngày và trên 1 kg thịt tăng trọng, chia theo vùng, quy mô, loại giống và cách thức cho ăn 23
Bảng 22 Giá thức ăn công nghiệp trung bình theo loại thức ăn, vùng, quy mô và nhãn hiệu: ‘000 đồng trên 1 kg 24
Bảng 23 Quy mô mẫu và tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp cho chăn nuôi lợn nái và lợn thịt: theo giai đoạn chăn nuôi, vùng và quy mô 25
Bảng 24 Phân bố hộ chăn nuôi (%) và số kg thức ăn cho ăn một ngày theo cách thức cho ăn (chỉ thức ăn hỗn hợp hay kết hợp với thức ăn trộn), phân theo vùng, quy mô và loại lợn .26
Bảng 25 Tỷ lệ các thành phần trong khẩu phần ăn đối với lợn thịt cho ăn theo cách thức kết hợp 28
Bảng 26 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn đối với lợn thịt, chia theo cách thức cho ăn, vùng và quy mô 28
Bảng 27 Ảnh hưởng của nhãn hiệu thức ăn chăn nuôi đến tỷ lệ FCR trong trường hợp chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp 29
Trang 9Bảng 28 Chi phí thức ăn cho 1 ngày và cho 1kg thịt lợn tăng trọng, chia theo vùng, quy mô và cách thức cho ăn 29
Bảng 29 Giá trung bình của thức ăn công nghiệp theo loại thức ăn, vùng, quy mô và nhãn hiệu (000đồng/kg) 30
Bảng 30 Giá trung bình của một số loại thức ăn thô phân theo vùng và quy mô 31
Bảng 31 Tỷ lệ hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn tham gia vào hợp đồng nông sản,
và bản chất của hợp đồng 32
Bảng 32 Tỷ lệ thức ăn chăn nuôi mua từ các đối tượng cung cấp khác nhau 34
Bảng 33 Sở thích của hộ chăn nuôi đối với thức ăn chăn nuôi được sản xuất bởi các doanh nghiệp nước ngoài và nội địa (% hộ sử dụng) 35
Bảng 34: Tỷ lệ doanh thu từ việc bán sản phẩm cho các từng đối tượng khách hàng 36
Bảng 35 Tỷ lệ hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn theo các loại vật liệu khác nhau
sử dụng để làm nền và mái cho nơi nuôi nhốt 39
Bảng 36 Tỷ lệ hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn theo các loại vật liệu khác nhau được sử dụng để làm tường cho nơi nuôi nhốt 40
Bảng 37 Một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng chăn nuôi (% hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn sử dụng) 41
Bảng 38 Các loại hệ thống làm mát và hệ thống sưởi (% hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn sử dụng) 42
Bảng 39 Kinh nghiệm về các đợt bùng phát dịch bệnh và các loại dịch bệnh đối với các hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn (% hộ có xảy ra dịch bệnh) 43
Bảng 40 Các biện pháp phòng chống dịch bệnh (% hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn sử dụng) 44
Bảng 41 Các đối tượng chính cung cấp dịch vụ thú y trong 12 tháng qua (% hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn) 45
Bảng 42 Các đối tượng chính cung cấp dịch vụ khuyến nông trong 12 tháng qua (%
hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn) 46
Bảng 43 Tỷ lệ hộ có vay vốn để chăn nuôi và nguồn các nguồn vay chính trong 12 tháng qua 47
Bảng 44 Các lý do chính đối với việc không vay vốn trong 12 tháng qua (% hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn) 49
Bảng 45 Tỷ lệ trong tổng chi phí chăn nuôi của từng hạng mục chi phí đối với các hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn 51
Bảng 46 Chi phí chăn nuôi trên 1 kg sản phẩm đầu ra, so sánh với giá bán trung bình trên 1 kg 52
Bảng 47 Doanh thu từ các sản phẩm chăn nuôi chính và tầm quan trọng của nó trong tổng doanh thu của hộ 53
Bảng 488 Tóm tắt việc sử dụng thức ăn chăn nuôi của các hộ chăn nuôi gà thịt 60
Bảng 499 Tóm tắt việc sử dụng thức ăn của các hộ chăn nuôi lợn 61
Trang 101 Giới thiệu
Ngành chăn nuôi ở Việt Nam từ lâu đã được coi là ngành sản xuất quy mô nhỏ, chủ yếu
sử dụng thức ăn dư thừa và lao động gia đình Năm 2006, tỷ lệ sử dụng thức ăn công nghiệp trong ngành chăn nuôi là 41,6%1, thấp hơn mức trung bình của thế giới là 48,2% (1994) và đặc biệt thấp hơn các nước có ngành chăn nuôi phát triển như Thụy Điển, Na
Uy, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc với tỷ lệ sử dụng thức ăn công nghiệp trên 80% (Bộ NN & PTNT, 2007)
Thức ăn chăn nuôi chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng chi phí chăn nuôi, dao động trong khoảng 75-78,2%, tùy thuộc vào quy mô chăn nuôi của hộ (IFRI – Bộ NN & PTNT, 2001) Do đó, các hộ nông dân chỉ thu được một khoản lợi nhuận hạn chế từ hoạt động chăn nuôi: khoảng 1.000 đồng/1 kg thịt lợn (IAE, 2005) và 3.000 đồng/1 kg thịt gà (Đinh Xuân Tùng, 2001) Chi phí chăn nuôi cao là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới khả năng cạnh tranh thấp của ngành chăn nuôi Việt Nam (IAE, 2005) Thêm vào đó, các hộ chăn nuôi trong những năm gần đây phải đối mặt với rất nhiều rủi ro trong sản xuất, thường xuất phát từ các đợt bùng phát dịch bệnh cũng như thị trường không ổn định
Có nhiều ý kiến khác nhau về việc sử dụng thức ăn dư thừa và thức ăn chăn nuôi chất lượng thấp tương ứng với hệ thống sản xuất quy mô nhỏ và phân tán Một số người ủng
hộ việc sử dụng các loại thức ăn này vì cho rằng sẽ giúp giảm chi phí sản xuất và có thể tận dụng được các phụ phẩm của địa phương và lao động nhàn rỗi trong hộ Tuy nhiên, nhiều ý kiến ủng hộ chăn nuôi quy mô lớn, chỉ trích rằng chăn nuôi quy mô nhỏ sẽ đem lại hiệu quả thấp, chất lượng thịt thấp và nguy cơ nhiễm bệnh cao Có ý kiến lo ngại rằng chất lượng thức ăn chăn nuôi sử dụng trong các hộ quy mô nhỏ là không ổn định, đặc biệt
là khi có những hạn chế trong việc quản lý và kiểm soát chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp
Nghiên cứu này nhằm xem xét 2 hệ thống quy mô chăn nuôi, và chi phí và năng suất gắn với từng hệ thống Nếu các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ có năng suất tương đương với chăn nuôi quy mô lớn, thì điều này sẽ ủng hộ cho quan điểm duy trì và hỗ trợ cho hệ thống này, vì chăn nuôi là nguồn sinh kế chính của các hộ quy mô nhỏ ở nông thôn, bên cạnh việc hỗ trợ cho chăn nuôi quy mô lớn
Cuộc điều tra các hộ chăn nuôi gà và lợn là một phần của dự án lớn với mục tiêu thu thập bức tranh tổng quan về các hệ thống chăn nuôi và việc sử dụng thức ăn chăn nuôi Cuộc điều tra được tiến hành trong tháng 11 và tháng 12 năm 2008 tại sáu trên tổng số bảy tỉnh tiến hành điều tranh doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi: đó là Hà Nội và Hưng Yên
ở miền Bắc, Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Tiền Giang ở miền Nam Thông tin thu được, cùng với các kết quả điều tra doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, sẽ là cơ sở
để đưa ra các nhận định về khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong ngành chăn nuôi tại Việt Nam
Trong khi cuộc điều tra doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi tập trung xem xét việc cung cấp thức ăn chăn nuôi công nghiệp, thì cuộc điều tra này xem xét nhu cầu đối với thức ăn chăn nuôi Các kết quả về các hình thức chăn nuôi và bán sản phẩm, đặc điểm của các hộ chăn nuôi và đặc biệt là việc sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn thô của hộ sẽ được phân tích riêng rẽ theo quy mô chăn nuôi và vùng Thông tin này không chỉ cung cấp số liệu về tình hình chăn nuôi nói chung tại Việt Nam mà còn giúp thiết lập mối liên
Trang 11hệ giữa các nhà cung cấp thức ăn chăn nuôi (doanh nghiệp) và người sử dụng thức ăn (hộ chăn nuôi) Qua đó, chúng ta có cơ sở để đưa ra các khuyến nghị chính sách cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vừa và nhỏ trong việc định hướng hoạt động với
cả hộ chăn nuôi quy mô nhỏ - trung bình và các hộ chăn nuôi lớn
1.1 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích chính của cuộc điều tra hộ chăn nuôi là thu thập thông tin tổng quan về đặc điểm của các hộ chăn nuôi và quan trọng hơn là thông tin chi tiết về việc sử dụng thức ăn chăn nuôi Chúng tôi lựa chọn điều tra các hộ chăn nuôi lợn và gà là vì đây là 2 loại vật nuôi quan trọng nhất ở Việt Nam xét về sản lượng thịt
Trong suốt các hoạt động thuộc phạm vi của dự án nghiên cứu này, có một điều rõ ràng là các hộ chăn nuôi nhỏ thường là đối tượng sử dụng thức ăn thô kết hợp, sử dụng nguyên liệu có hàm lượng đạm thấp (một số có chất gây ô nhiễm), thiếu các biện pháp quản lý chất lượng đầy đủ và có cơ sở hạ tầng yếu Ngược lại, các hộ quy mô lớn thường được cho là chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp cho chăn nuôi Rất khó để kết luận được phương thức cho ăn nào là kinh tế hơn đối với hộ, vì chi phí cho thức ăn công nghiệp đắt tiền hơn có thể hoặc không được bù đắp bởi việc giảm thời gian nuôi (nghĩa là, hiệu quả
sử dụng thức ăn cao hơn)
Do đó, trong nghiên cứu này, mục tiêu chung là hiểu sâu hơn việc sử dụng thức ăn chăn nuôi của các loại hộ khác nhau chia theo quy mô, vùng và giống nuôi Chúng tôi hi vọng những thông tin này sẽ cung cấp một số gợi ý hữu ích cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thức ăn chăn nuôi để có thể tồn tại được trên thị trường thức ăn cạnh tranh gay gắt hiện nay
Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:
• Hệ thống chăn nuôi và cơ sở hạ tầng chăn nuôi khác nhau như thế nào giữa các
hộ khi phân chia theo quy mô và vùng?
• Các kênh marketing thu mua nguyên liệu đầu vào và phân phối sản phẩm đầu ra khác nhau như thế nào giữa các loại hộ?
• Các hộ chăn nuôi khác nhau như thế nào trong việc sử dụng thức ăn chăn nuôi: thức ăn công nghiệp so với thức ăn thô/kết hợp, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn, chi phí thức ăn trên 1kg tăng trọng?
• Chi phí sản xuất và lợi nhuận khác nhau thế nào giữa các nhóm hộ?
• Có cơ hội nào cho các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ và vừa tiếp cận trực tiếp với các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ không?
1.2 Thực hiện điều tra
Cuộc điều tra hộ chăn nuôi được thực hiện trên phạm vi 6 trong tổng số 7 tỉnh đã tiến hành cuộc điều tra doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trước đó, bao gồm: Hà Nội
và Hưng Yên ở miền Bắc, Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Tiền Giang ở miền Nam Chúng tôi đã điều tra tổng cộng 300 hộ chăn nuôi, trong đó mỗi tỉnh điều tra 50 hộ và phân chia tương đối đều giữa hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn
Trang 12Việc thiết kế mẫu điều tra 300 hộ chăn nuôi dựa trên dàn mẫu của cuộc Khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) năm 2006, vì vậy có thể đại diện cho tình hình chăn nuôi nói chung của cả nước Ở mỗi tỉnh, mục tiêu đưa ra là phỏng vấn 25 hộ chăn nuôi lợn và 25 hộ chăn nuôi gà Với sự tư vấn của các cán bộ phòng Chăn nuôi của các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh (DARD), chúng tôi lựa chọn 1 trong những huyện chăn nuôi lớn nhất của mỗi tỉnh Từ huyện đó, việc lựa chọn được thu hẹp lại trong 4 xã có trong danh sách VHLSS năm 2006 và có số lượng lớn các hộ chăn nuôi gà và lợn Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chúng tôi không thể tìm đủ số hộ có tên trong danh sách VHLSS năm
2006, vì một số hộ ở thời điểm điều tra không còn chăn nuôi, hoặc hộ ở quá xa để tiếp cận phỏng vấn trong bối cảnh hạn chế về thời gian cũng như kinh phí điều tra Thay vào đó, các hộ bổ sung được lựa chọn điều tra ngẫu nhiên, với điều kiện họ có những điểm tương đồng với các hộ chăn nuôi khác trong các địa bàn điều tra
Báo cáo chủ yếu tập trung xem xét sự khác biệt giữa các hộ chăn nuôi gà và lợn theo quy
mô và vùng, trong đó phân tích sâu hơn việc sử dụng thức ăn công nghiệp so với thức ăn thô, và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCRs) trong chăn nuôi Các bằng chứng về chuỗi marketing và cung cấp cũng như cơ sở hạ tầng chăn nuôi cũng được xem xét
1.2.1 Phân loại hộ chăn nuôi gà
Tổng số mẫu điều tra hộ chăn nuôi gà là 153, và các hộ này tham gia chăn nuôi các chủng loại gà khác nhau bao gồm gà thịt, gà đẻ, gà con, gà mái và gà trống Chúng tôi thấy rằng
hộ có quy mô càng lớn, càng có xu hướng tập trung chăn nuôi một loại sản phẩm chính, trong khi đó các hộ quy mô nhỏ hơn lại có xu hướng nuôi nhiều hơn một loại gà Do có nhiều loại gà được chăn nuôi nên chúng tôi chia các hộ thành 2 loại chính là: hộ chăn nuôi gà thịt và gà đẻ, tùy thuộc loại nào có doanh thu lớn nhất Chúng tôi tiếp tục phân chia các hộ này theo quy mô chăn nuôi dựa trên sản lượng trong 12 tháng qua từ tháng 11/2007 đến tháng 10/2008, theo các cách phân chia của ngành và yêu cầu phân bố mẫu khá đồng đều giữa ba quy mô Đối với chăn nuôi gà thịt, các nhóm quy mô bao gồm: quy
mô nhỏ (<=500 con); quy mô trung bình (>500 và <=3000 con); và quy mô lớn (>3000 con) Đối với chăn nuôi gà đẻ, chúng tôi chia ra 3 quy mô như sau: quy mô nhỏ (<=1000 con); quy mô trung bình (>1000 và <=4000 con); và quy mô lớn (>4000 con) Phân bổ các hộ điều tra theo loại hình chăn nuôi và quy mô được trình bày ở Bảng 1, chia theo miền Bắc, miền Nam và tổng số
Từ Bảng 1 có thể thấy rằng nhìn chung có nhiều hộ tham gia chăn nuôi gà thịt hơn là chăn nuôi gà đẻ Các hộ nuôi gà thịt ở miền Nam có xu hướng thuộc quy mô lớn nhiều hơn so với miền Bắc Không có hộ nào chăn nuôi gà đẻ nào ở miền Bắc thuộc quy mô trung bình
Bảng 1 Phân bổ mẫu theo vùng và quy mô chăn nuôi gà thịt và gà đẻ, số lượng hộ
Trang 131.2.2 Phân loại hộ chăn nuôi lợn
Tổng mẫu điều tra là 149 hộ chăn nuôi lợn trên phạm vi 6 tỉnh Tương tự như trường hợp của gà, chúng tôi phân chia quy mô các hộ nuôi lợn ra thành 3 loại: nhỏ, trung bình và lớn dựa trên số lượng lợn con được nuôi trong vòng một năm từ tháng 11/2007 đến tháng 10/2008 Đối với hộ chăn nuôi lợn, quy mô nhỏ là hộ có dưới 49 con, quy mô trung bình
có từ 49-120 con, và quy mô lớn có trên 120 con nuôi trong vòng 1 năm Số lượng hộ ở từng vùng và từng quy mô được trình bày ở Bảng 2 Số lượng hộ ở miền Bắc thuộc quy
mô nhỏ nhiều hơn trong khi số lượng hộ quy mô lớn lại có xu hướng ít hơn so với ở miền Nam
Bảng 2: Phân bố mẫu theo vùng và quy mô dựa trên số lượng lợn con nuôi, số lượng
a Quy mô nhỏ có dưới 49 con
b Quy mô trung bình có từ 49-120 con
c Quy mô lớn có trên 120 con
Trang 142 Các đặc điểm về nhân khẩu học
Các đặc điểm về nhân khẩu học của các hộ điều tra bao gồm quy mô trung bình của hộ,
giới tính, và phân bổ lao động được thể hiện ở Bảng 3 Số liệu được phân tích theo loại
vật nuôi, theo vùng và quy mô Các hộ chăn nuôi lợn có xu hướng có chủ hộ là nam giới,
và tương tự đối với các hộ ở miền Bắc có chủ hộ là nam nhiều hơn Tất cả các hộ điều tra
đều là người dân tộc Kinh
Số lượng thành viên hộ làm nông nghiệp cao hơn nhiều so với số lượng thành viên tham
gia vào các hoạt động phi nông nghiệp (cao hơn gần 3 lần) Các hộ nuôi gà quy mô nhỏ
hơn có xu hướng có ít lao động làm nông nghiệp hơn, và sự khác biệt này là có ý nghĩa
thống kê ở mức 5% khi so sánh giữa nhóm quy mô nhỏ và quy mô lớn Không có sự khác
biệt về mặt thống kê giữa các quy mô trong số lượng thành viên hộ tham gia làm nông
nghiệp đối với các hộ chăn nuôi lợn
Chúng tôi đã hỏi thông tin về thời gian dành cho hoạt động phi nông nghiệp đối với thành
viên có trình độ giáo dục cao nhất của hộ Nhìn chung, trên 70% thời gian của người có
trình độ cao nhất dành cho công việc phi nông nghiệp Thành viên có trình độ giáo dục
cao nhất trong hộ có xu hướng dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động phi nông nghiệp
trong trường hợp đó là các hộ chăn nuôi lợn
Bảng 2 Các đặc điểm nhân khẩu học của hộ theo loại vật nuôi chính, theo vùng và
quy mô
Giới tính của chủ hộ Quy mô hộ chung bình
Làm nông nghiệp
Làm phi nông nghiệp
% thời gian làm phi nông nghiệp của thành viên có trình độ giáo dục cao nhất của hộ
Ghi chú: Chỉ có lao động làm nông nghiệp (đối với trường hợp hộ chăn nuôi gà) có khác biệt về mặt thống
kê ở mức ý nghĩa 5% khi so sánh giữa quy mô nhỏ và quy mô lớn
Trình độ giáo dục của chủ hộ được trình bày ở Bảng 4 Hơn một nửa số chủ hộ có trình
độ trung học cơ sở Tỷ lệ chủ hộ ở miền Nam chỉ tốt nghiệp tiểu học có xu hướng cao
Trang 15hơn, và điều này đúng cho cả hộ chăn nuôi gà và hộ chăn nuôi lợn Đối với các hộ chăn
nuôi gà, nhóm quy mô nhỏ nhất có tỷ lệ chủ hộ tốt nghiệp tiểu học thấp hơn và tỷ lệ tốt
nghiệp trung học cơ sở cao hơn so với 2 nhóm còn lại Kết quả này nhất quán với trường
hợp các hộ quy mô lớn hơn ở miền Nam, nơi các hộ có với trình độ giáo dục thấp hơn so
với miền Bắc Chỉ có một tỷ lệ nhỏ các hộ có trình độ cao như dạy nghề hay đại học/sau
đại học, và không có sự khác biệt lớn giữa các hộ chăn nuôi lợn và hộ chăn nuôi gà
Bảng 3 Tỷ lệ chủ hộ với các trình độ giáo dục theo loại hình chăn nuôi, theo vùng và
quy mô
Không có bằng cấp/ Tiểu học
Trung học cơ sở/
Trung học phổ thông
Trung cấp/ Dạy nghề Đại học/ Sau đại học
Trang 163 Các hệ thống chăn nuôi gà
Chương này mô tả hai hệ thống chăn nuôi gà: gà thịt và gà đẻ Do rất khó kết hợp những
hộ tự ấp và không tự ấp con giống vào một bảng và để phân tích, nên phần đầu tiên chỉ thảo luận những thông tin về hệ thống chăn nuôi của những hộ tự ấp con giống, mặc dù chỉ có rất ít hộ áp dụng cách thức này Phần 2 và 3 sẽ xem xét những hộ chỉ mua con giống và chia ra 2 trường hợp gà thịt và gà đẻ Cuối cùng, chúng tôi sẽ đưa ra một phần tóm tắt ngắn về hệ thống chăn nuôi gà
3.1 Trường hợp hộ tự ấp con giống
Chỉ có 13 trên tổng số 108 hộ chăn nuôi gà thịt tự ấp con giống, và có hai hộ chăn nuôi gà
đẻ trên tổng số 45 hộ (những hộ này cũng có thể mua con giống) Việc tự ấp con giống phổ biến hơn ở miền nam đối với gà thịt Có 2 hộ nuôi gà đẻ tự ấp con giống là ở miền Bắc Chỉ có các hộ quy mô nhỏ, và một số hộ quy mô trung bình là tự ấp con giống Các
hộ nuôi gà thịt ở miền Nam cũng có xu hướng mua con giống, với số lượng con mua trung bình tương đương với số lượng con ấp Trọng lượng gà khi bán ở miền Bắc cao hơn
về mặt thống kê so với miền Nam, khoảng 2,3 kg so với 1,7 kg Giá bán gà ở miền Nam dường như cao hơn một chút so với miền Bắc, tuy nhiên kết quả kiểm tra không cho thấy
sự khác biệt này là có ý nghĩa về mặt thống kê
Bảng 4 Các hộ nuôi gà tự ấp con giống a (cũng có thể mua con giống)
Số lượng hộ
Gà thịt Gà đẻ
Số con ấp trung bình (đầu con)
(độ lệch chuân
ở trong ngoặc)
Số lượng gà thịt mua trong 1 năm (đầu con) (độ lệch chuẩn
ở trong ngoặc)
Số lượng
gà thịt bán (đầu con)
Trọng lượng bán (kg)
Giá bán (‘000đồng /kg)
Theo vùng
Miền Bắc 3 2 290,0 (185,2) - 350 2,3* 65,0 Miền Nam 10 181,3 (155,7) 217,0 (87,8) 153 1,7 66,4
* Lớn hơn về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 5%
3.2 Trường hợp hộ nuôi gà thịt có mua con giống
Phần lớn các hộ chăn nuôi gà thịt có mua con giống, và việc thu thập số liệu từ nhóm hộ này đơn giản hơn và bao gồm số liệu về loại giống chính được sử dụng và số lượng lứa
Trang 17trong một năm Các kết quả được trình bày ở Bảng 6 Nhìn chung, một nửa số hộ có nuôi
gà giống địa phương Các hộ ở miền Bắc có xu hướng nuôi gà giống lai (46,2%), trong khi đó ở miền Nam, giống gà ngoại2 cũng là loại giống được nuôi phổ biến (36,4%) Loại giống nuôi cũng chịu ảnh hưởng bởi quy mô chăn nuôi, trong đó các hộ quy mô lớn thường có xu hướng nuôi gà giống ngoại (51,5%) trong khi các hộ quy mô nhỏ chủ yếu nuôi giống địa phương (66,7%)
Số lượng lứa nuôi một năm đối với giống địa phương thấp hơn về mặt thống kê, ở toàn bộ mẫu nói chung cũng như trong từng nhóm trừ trường hợp hộ quy mô nhỏ Không có sự khác biệt về mặt thống kê trong số lượng lứa nuôi một năm giữa các loại giống nuôi đối với hộ nuôi gà thịt quy mô nhỏ Những hộ quy mô lớn sử dụng giống lai có số lượng lứa nuôi một năm nhiều hơn về mặt thống kê so với những hộ nuôi giống ngoại (gần 6 lứa so với 4 lứa một năm)
Bảng 5 Các loại giống nuôi đối với gà thịt và số lượng lứa một năm
Số lượng mẫu
Tỷ lệ hộ theo loại giống chính (%)
Số lượng lứa nuôi một năm theo loại giống
chính
n phương Địa Ngoại Lai phương Địa Ngoại Lai
Kết quả Anova
Chung 94 51,1 23,4 25,5 2,5 4 4,1 Địa phương < Ngoại, Lai (1%)
Theo vùng
Theo quy mô gà thịt
Nhỏ 27 66,7 7,4 25,9 2,4 3,5 2,7 nsd
Lớn 33 33,3 51,5 15,2 3,1 4 5,8 Địa phương < Ngoại<Lai (5%)
Kết quả thống kê sản lượng được trình bày ở Bảng 7 đối với những hộ nuôi gà thịt mua con giống Các kết quả phân tích Anova so sánh giá trị trung bình giữa các nhóm được trình bày ở phần chú thích dưới bảng Quy mô trung bình một lứa xét chung cho toàn bộ mẫu là 2.131 con, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi xét theo cấp độ vùng, trong đó các hộ miền Nam có quy mô lớn hơn nhiều Kết luận này nhất quán với kết quả khi chia theo loại giống, trong đó các hộ nuôi giống ngoại thường là hộ thuộc quy mô lớn và phổ biến hơn ở miền Nam Không có sự khác biệt về mặt thống kê trong giá mua con giống khi so sánh giữa bất kỳ nhóm nào Độ dài lứa nuôi trung bình là 98 ngày, và không có sự khác biệt về mặt thống kê khi xét theo cấp độ vùng Các hộ quy mô lớn có độ dài lứa nuôi trung bình là 77 ngày, thấp hơn về mặt thống kê so với các hộ thuộc 2 quy mô còn lại, và giống gà địa phương có chu kỳ nuôi dài hơn (125 ngày) so với các giống cải tiến (65 ngày đối với giống ngoại và 73 ngày đối với giống lai) Tổng số đầu con bán ra trung bình một năm là 4.511 con khi xét chung cho toàn mẫu, với số lượng trung bình lớn hơn về mặt thống kê đối với những hộ ở miền Nam Số lượng trung bình bán ra thấp hơn về mặt thống kê ở những hộ nuôi gà giống địa phương (1.907 con) so với hơn 7.000 con đối với các giống khác
2 Giống ngoại là những giống có nguồn gốc từ nước ngoài
Trang 18Giá bán trung bình đưa ra trong bảng theo đơn vị nghìn đồng trên 1 kg Gà giống địa phương có giá bán cao hơn về mặt thống kê ở mức 54,5 nghìn đồng so với giá trung bình
là 44,1 nghìn đồng, và giá bán trung bình của các giống cải tiến (giống ngoại và giống lai) vào khoảng 35 nghìn đồng Giá bán của các hộ quy mô nhỏ cao hơn về mặt thống kê, phản ánh nhóm này nuôi chủ yếu là giống gà địa phương, và giá bán ở miền Nam thấp hơn ở miền Bắc (41,5 nghìn đồng so với 47,5 nghìn đồng)
Bảng 6 Đặc điểm của chăn nuôi gà thịt ở các hộ mua con giống
Quy mô trung bình
một lứa (số con) a
Chi phí con giống (000đồng/
con) b
Độ dài trung bình một lứa (số ngày) c
Trọng lượng trung bình khi bán (kg) d
Số lượng bán (số con) e
Giá bán (000đồng/ kg) f
Chung 2131 10,1 98 2,2 4511 44,1
Theo vùng
Miền Bắc 218 10,6 104 2,5 690 47,5 Miền Nam 3488 9,6 93 1,9 7491 41,5
Theo quy mô gà thịt
a Vùng: Bắc<Nam (15); Quy mô: Nhỏ,TB<Lớn (1%); Giống: Ngoại > Địa phương, Lai (10%)
b Giá trị trung bình không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm
c Vùng: không có sự khác biệt về mặt thống kê; Quy mô: Nhỏ,TB>Lớn (1%); Giống: Địa phương>Ngoại, Lai (1%)
d Vùng: Bắc>Nam (1%); Quy mô: không có sự khác biệt về mặt thống kê; Giống: Địa phương<Ngoại, Lai (1%)
e Vùng: Bắc <Nam (1%); Quy mô: Nhỏ, TB<Lớn (1%); Giống: không có sự khác biệt về mặt thống kê
f Vùng: Bắc>Nam (10%) ; Quy mô: Nhỏ>TB>Lớn (10%); Giống: Địa phương>Ngoại, Lai (1%)
3.3 Trường hợp hộ nuôi gà đẻ có mua con giống
Các loại giống nuôi đối với gà đẻ được trình bày ở Bảng 8 Khoảng 74% trong tổng số hộ nuôi gà đẻ (có mua con giống) sử dụng các giống gà ngoại Các hộ ở miền Bắc và các hộ quy mô nhỏ hơn có xu hướng nuôi gà giống lai nhiều hơn Rất thú vị là có khoảng 21%
hộ quy mô lớn có giống gà đẻ địa phương là giống nuôi chính, cao hơn tỷ lệ ở nhóm hộ quy mô nhỏ (12,5%), và không có hộ nào thuộc quy mô trung bình nuôi gà đẻ giống địa phương
Bảng 7 Các loại giống nuôi đối với gà đẻ
Tỷ lệ hộ theo loại giống chính(%)
Số lượng
hộ nuôi (n) Địa phương Ngoại Lai
Trang 19có ý nghĩa thống kê khi phân tích theo các loại giống nuôi
Bảng 8 Đặc điểm của chăn nuôi gà đẻ đối với những hộ mua con giống
Quy mô
trung bình một
lứa (số con) a
Chi phí con giống (000đồng/
con) b
Độ dài trung bình một lứa (ngày) c
Số lượng trứng trên
1 con gà
đẻ d
Số lượng trứng bán ('000 quả) e
Doanh thu
từ trứng (triệu đồng) f Chung 3323 43,9 442.0 228 709 792
a Vùng: Nam<Bắc (5%); Quy mô: Nhỏ<TB<Lớn (10%); Giống: không có ý nghĩa về mặt thống k
b Giá trị trung bình không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm
c Vùng: Bắc<Nam (5%); Quy mô, Giống: không có sự khác biệt về mặt thống kê
d Vùng: không có sự khác biệt về mặt thống kê; Quy mô: Nhỏ<Lớn (5%); Giống: Địa phương<Ngoại (10%)
e Vùng: Bắc>Nam (5%); Quy mô: Lớn>Nhỏ, TB (1%); Giống: không có sự khác biệt về mặt thống kê
Trang 20f Vùng: Bắc>Nam (5%); Quy mô: Lớn>Nhỏ, TB (1%); Giống: không có sự khác biệt về mặt thống kê
3.4 Tóm tắt các hệ thống chăn nuôi gà
Các hộ chăn nuôi gà thịt ở miền Nam có quy mô chăn nuôi lớn hơn so với các hộ ở miền Bắc Kết quả này nhất quán với kết quả khi chia theo loại giống, khi các hộ nuôi giống gà ngoại/lai có xu hướng có quy mô lớn hơn và phổ biến hơn ở miền Nam (36,4% hộ nuôi) Tuy nhiên, đối với chăn nuôi gà thịt, các giống gà địa phương nhìn chung vẫn là loại phổ biến nhất (trên 50% hộ lựa chọn) trong khi giống gà ngoại là loại được nuôi chủ yếu trong các hộ chăn nuôi gà đẻ (74%) Loại giống nuôi cũng chịu ảnh hưởng bởi quy mô, với các
hộ quy mô lớn thường nuôi các giống gà ngoại đối với trường hợp nuôi gà thịt (51,5%) trong khi các hộ quy mô nhỏ chủ yếu nuôi giống gà địa phương (66,7%)
Nhìn chung, các hộ nuôi gà giống địa phương có số lứa nuôi một năm thấp hơn về mặt thống kê do thời gian nuôi một lứa dài hơn nhiều so với 2 loại giống còn lại Không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa tất cả các quy mô khi phân tích chi phí mua con giống, tuy nhiên giá bán sản phẩm thì lại có sự khác biệt thống kê Gà giống địa phương được bán với giá cao hơn về mặt thống kê ở mức 54,5 nghìn đồng/kg, so với giá trung bình của tổng mẫu là 44,1 nghìn đồng, và giá bán gà giống lai và giống ngoại ở mức khoảng 35 nghìn đồng Giá bán của các hộ quy mô nhỏ cao hơn về mặt thống kê, do nhóm này nuôi chủ yếu là giống gà địa phương, và giá ở miền Nam (41,5 nghìn đồng) thấp hơn so với miền Bắc (47,5 nghìn đồng)
Không giống trường hợp gà thịt, các hộ nuôi gà đẻ ở miền Bắc có quy mô nuôi lớn hơn về mặt thống kê so với các hộ ở miền Nam, phản ánh thông qua số lượng trứng bán ra cũng như doanh thu từ trứng lớn hơn Năng suất trứng trên 1 con gà đẻ không có sự khác biệt
về mặt thống kê giữa các vùng, tuy nhiên chỉ tiêu này cao hơn về mặt thống kê ở những
hộ quy mô lớn và những hộ nuôi gà giống ngoại Thời gian nuôi trung bình một lứa lớn hơn về mặt thống kê ở miền Nam so với miền Bắc (466 ngày so với 351 ngày), phản ánh các hộ ở miền Nam chủ yếu nuôi giống gà ngoại cho năng suất cao hơn so với giống gà địa phương và giống lai
Trang 214 Các hệ thống chăn nuôi lợn
4.1 Các hoạt động chăn nuôi
Cuộc điều tra đã xác định được 3 hệ thống chăn nuôi lợn chính:
1 Nuôi lợn từ khi sinh đến khi cai sữa
2 Nuôi lợn từ khi sinh đến khi giết mổ
3 Mua lợn con để nuôi vỗ béo (nuôi lợn từ khi cai sữa cho đến khi giết mổ)
Các hộ chăn nuôi lợn có thể tham gia vào ít nhất một hình thức chăn nuôi trên Những hộ tham gia vào hình thức (1) hoặc (2) phải có nuôi lợn nái, nhưng họ cũng có thể mua thêm lợn con để nuôi vỗ béo Những hộ không nuôi lợn nái chỉ có thể tham gia vào hình thức chăn nuôi (3) Phân bổ các hộ chia theo tiêu chí hộ tự sản xuất lợn con từ lợn nái, mua lợn con, hay kết hợp cả hai hình thức trên được trình bày ở Bảng 10 Khoảng 13% hộ có nuôi lợn nái đồng thời vẫn mua thêm lợn con, tuy nhiên tỷ lệ hộ tham gia vào cả hai hình thức này ở miền Bắc nhiều hơn ở miền Nam Phần lớn các hộ nuôi lợn được điều tra có nuôi lợn nái (83%), và hình thức này ở miền Nam phổ biến hơn ở miền Bắc (85% so với 75%)
Tỷ lệ hộ có nuôi lợn nái tăng theo quy mô chăn nuôi, dao động từ 67% ở nhóm nhỏ đến 94% ở nhóm quy mô lớn Nhìn chung, khoảng 29% số hộ có mua lợn con để nuôi Hình thức mua lợn con phổ biến hơn ở miền Bắc, với 48% hộ tham gia nuôi lợn vỗ béo, so với chỉ 19% ở miền Nam Có 13% hộ điều tra tham gia cả hai hình thức: nuôi lợn từ khi sinh đến khi giết mổ và nuôi lợn vỗ béo, tức là mua lợn con bên ngoài cùng với lợn con tự túc được Hình thức kết hợp này xuất hiện nhiều nhất ở các hộ chăn nuôi quy mô trung bình
và các hộ ở miền Bắc
Bảng 9 Cơ cấu hộ chăn nuôi lợn, % từng loại
Số lượng hộ (n) Hộ có lợn nái % Hộ mua lợn con vỗ béo
%
Hộ có cả lợn nái và mua lợn con vỗ béo
ở quy mô lớn Những hộ kết hợp cả hai hình thức tự túc giống và mua lợn con có xu hướng có số lượng tự túc ít hơn, loại trừ trường hợp của nhóm hộ quy mô nhỏ trong đó số lượng lợn con sinh ra tương đương với số lượng mua Nhìn chung, những hộ kết hợp 2 hình thức chăn nuôi có xu hướng mua ít lợn con hơn so với những hộ chỉ đơn thuần mua lợn con để vỗ béo
Trang 22Bảng 10 Nguồn lợn con để nuôi vỗ béo (từ nguồn tự túc hoặc mua), theo vùng, quy
mô và loại hệ thống - số con/hộ/năm
Có lợn nái
tự túc giống hoàn toàn
Tự túc + Mua Hoàn toàn mua
giống
n Số con
được sinh ra
n Số con được sinh ra
Số con mua % số con
được sinh ra
Bảng 11 Phân bố lợn con mua để vỗ béo theo loại giống lợn (%), % hộ mua lợn con
Địa phương Ngoại Lai
mô nhỏ nuôi 9 con lợn thịt một lứa trong khi các hộ quy mô lớn có trên 100 con một lứa Trọng lượng trung bình của lợn con mua vỗ béo dao động từ 16 đến 20 kg, tuy nhiên không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm Giá mua lợn con trung bình là 58.000 đồng/kg, và cao hơn về mặt thống kê ở nhóm hộ quy mô lớn (77.000 đồng/kg) -
Trang 23những hộ có xu hướng nuôi nhiều giống ngoại Thời gian lứa nuôi trung bình ở các hộ
điều tra ở miền Bắc dài hơn so với những hộ ở miền Nam (114 ngày so với 89 ngày) và
trọng lượng lợn thịt khi bán ở các hộ miền Bắc nhiều hơn 5 kg so với miền Nam Giá bán
lợn thịt ở miền Nam (34.000 đồng/kg) cao hơn về mặt thống kê so với giá bán ở miền Bắc
(30.000 đồng/kg) Tuy nhiên, không có sự khác biệt về mặt thống kê trong độ dài lứa
nuôi, trọng lượng khi bán và giá bán giữa các quy mô chăn nuôi khác nhau
Bảng 12 Các chỉ tiêu trong chăn nuôi lợn thịt (đối với cả hộ tự túc và mua giống)
trung bình 1 lứa a (số con)
Trọng lượng trung bình khi mua b (kg)
Giá mua con giống c (000 đồng/kg)
Độ dài trung bình 1 lứa nuôi d (số ngày)
Trọng lượng trung bình khi bán e (kg)
Giá bán f (000 đồng/kg)
a Lứa nuôi: Vùng: Nam>Bắc (1%), Quy mô: Nhỏ< Lớn (1%);
b Trọng lượng mua: không có sự khác biệt về mặt thống kê
c Giá mua: Vùng: không có sự khác biệt về mặt thống kê, Quy mô: Nhỏ<Lớn (1%)
d Số ngày : Vùng: Bắc>Nam (1%), Quy mô: không có sự khác biệt về mặt thống kê
e Trọng lượng bán: Vùng: Bắc>Nam (5%), Quy mô: không có sự khác biệt về mặt thống kê
f Giá bán: Bắc<Nam (1%), Quy mô: không có sự khác biệt về mặt thống kê
4.3 Tóm tắt các hệ thống chăn nuôi lợn
Phần lớn các hộ chăn nuôi lợn được điều tra (83%) có nuôi lợn nái, tuy nhiên phổ biến
hơn ở miền Nam và nhóm hộ quy mô lớn, chứng tỏ những hộ này có khả năng tự sản xuất
con giống cao hơn Tuy nhiên, các hộ ở miền Bắc có xu hướng tham gia vào hình thức
chăn nuôi kết hợp (có nuôi lợn nái đồng thời cũng mua lợn con để nuôi) nhiều hơn so với
ở miền Nam (26% so với chỉ 6%)
Có bằng chứng rõ ràng về sự tồn tại của chăn nuôi công nghiệp ở các hộ miền Nam so với
miền Bắc: họ có quy mô đầu con trung bình một lứa lớn hơn (70 con so với 23 con) đồng
thời số lượng lợn tự túc của một hộ cũng nhiều hơn (vì họ có nhiều lợn nái hơn) Sự khác
biệt thậm chí còn lớn hơn khi so sánh các hộ theo quy mô chăn nuôi, trong đó hộ chăn
nuôi nhỏ chỉ có 9 con lợn thịt một lứa so với trên 100 con ở những hộ quy mô lớn
Giống lai là giống phổ biến nhất với trên 55% hộ lựa chọn nuôi, tiếp theo là giống ngoại
(31%) Các giống địa phương không còn được nuôi nhiều như trước kia Tuy nhiên, các
hộ quy mô lớn có xu hướng nuôi giống ngoại nhiều hơn (56%) trong khi các hộ quy mô
vừa và nhỏ lại có xu hướng nuôi giống lai nhiều hơn (với tỷ lệ 60% và 71% tương ứng)
Rất thú vị là các giống lợn địa phương được nuôi nhiều hơn ở miền nam nơi có chăn nuôi
công nghiệp tồn tại, trong khi các giống lai được nuôi nhiều hơn ở miền Bắc (70%)
Thời gian nuôi một lứa tương đối dài hơn ở miền Bắc (114 ngày) so với ở miền Nam (89
ngày) và trọng lượng lợn khi bán ở miền Bắc cao hơn 5 kg so với miền Nam Thời gian
Trang 24nuôi rút ngắn cũng có thể được coi là một bằng chứng khác của chăn nuôi công nghiệp ở các hộ miền Nam
Giá mua con giống trung bình là 58.000 đồng/kg, nhưng giá mua cao hơn về mặt thống kê
ở các hộ chăn nuôi lớn (77.000 đồng/kg) - những hộ này có xu hướng nuôi giống ngoại nhiều hơn Giá bán trên 1 kg lợn thịt không có sự khác biệt về mặt thống kê khi so sánh giữa các quy mô, nhưng khi so sánh theo vùng thì kết quả cho thấy giá bán ở miền Nam (34.000 đồng/kg) cao hơn ở miền Bắc (30.000 đồng/kg)
Trang 255 Sử dụng thức ăn chăn nuôi của hộ
5.1 Sử dụng thức ăn cho chăn nuôi gà
Chúng tôi đã thu thập thông tin về tình hình sử dụng thức ăn ở các giai đoạn chăn nuôi
khác nhau, và trình bày về mức độ sử dụng thức ăn công nghiệp theo các giai đoạn ở
Bảng 14 và Bảng 15 Bảng 14 trình bày việc sử dụng thức ăn hỗn hợp cho chăn nuôi gà
thịt và gà đẻ Nhìn chung các hộ chăn nuôi có xu hướng sử dụng thức ăn hỗn hợp cho
chăn nuôi gà thịt ở giai đoạn đầu (có độ dài khoảng 29 ngày) nhiều hơn Xét trên toàn bộ
mẫu điều tra, 90% hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp ở giai đoạn đầu, tuy nhiên tỷ lệ này giảm
dần ở giai đoạn 2 và giai đoạn 3 Ở miền Bắc, việc sử dụng thức ăn hỗn hợp giữa các giai
đoạn có sự khác biệt lớn hơn nhiều, với tỷ lệ hộ sử dụng ở giai đoạn 2 giảm một nửa so
với giai đoạn 1, và tỷ lệ ở giai đoạn 3 lại tiếp tục giảm gần một nửa so với giai đoạn 2
Các hộ ở miền Nam có xu hướng tiếp tục sử dụng thức ăn hỗn hợp trong suốt chu kỳ chăn
nuôi Việc sử dụng thức ăn hỗn hợp đối với chăn nuôi gà thịt chịu ảnh hưởng bởi quy mô
chăn nuôi, trong đó các hộ quy mô nhỏ ít sử dụng hơn, đặc biệt là ở các giai đoạn sau Gà
giống địa phương ít được cho ăn thức ăn hỗn hợp ở giai đoạn đầu, gà giống lai và giống
ngoại ít được cho ăn thức ăn hỗn hợp hơn ở các giai đoạn sau Chúng tôi cũng chia nhóm
gà giống địa phương thành 2 nhóm nhỏ là gà nuôi thả rông và gà nuôi nhốt, với quy mô
mẫu được phân chia tương đối đồng đều giữa 2 nhóm này Gà nuôi thả rông ít được cho
ăn thức ăn hỗn hợp hơn, đặc biệt là ở các giai đoạn sau
Mặc dù gà đẻ ít được cho ăn thức ăn hỗn hợp hơn ở giai đoạn đầu so với gà thịt, song xu
hướng dùng thức ăn hỗn hợp lại cao hơn ở các giai đoạn sau Ở miền Bắc, 100% hộ nuôi
gà đẻ sử dụng thức ăn hỗn hợp ở tất cả các giai đoạn
Bảng 13 Tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp trong từng giai đoạn, chia theo vùng, quy
mô và loại giống
Gà thịt
Giai đoạn 1 (29 ngày)
Giai đoạn 2 (48 ngày)
Giai đoạn 3 (40 ngày)
Số lượng mẫu
Giai đoạn 1 (94 ngày)
Giai đoạn 2 (172 ngày)
Giai đoạn 3 (250 ngày)
Số lượng mẫu
Trang 26Bảng 15 trình bày việc sử dụng thức ăn đậm đặc trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ Việc sử
dụng thức ăn đậm đặc theo các giai đoạn phù hợp với các kết quả về sử dụng thức ăn hỗn
hợp, khi 2 loại thức ăn này là thay thế lẫn nhau Các hộ chăn nuôi gà thịt ít cho ăn thức ăn
đậm đặc ở giai đoạn đầu khi thức ăn hỗn hợp được dùng phổ biến Ở các giai đoạn sau,
đặc biệt là ở miền Bắc và các hộ quy mô nhỏ khi thức ăn hỗn hợp được dùng ít hơn, tỷ lệ
hộ sử dụng thức ăn đậm đặc có xu hướng tăng lên Các kết quả về việc sử dụng thức ăn
đậm đặc cho gà đẻ cũng ngược lại với việc sử dụng thức ăn hỗn hợp
Bảng 14 Tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn đậm đặc theo từng giai đoạn, chia theo vùng, quy
mô và loại giống
Giai đoạn 1 (29 ngày)
Giai đoạn 2 (48 ngày)
Giai đoạn 3 (40 ngày)
Số lượng mẫu
Giai đoạn 1 (94 ngày)
Giai đoạn 2 (172 ngày)
Giai đoạn 3 (250 ngày)
Số lượng mẫu
Phần còn lại của phân tích này chúng tôi tập trung xem xét các cách thức cho ăn trong
toàn bộ chu kỳ chăn nuôi Trong bảng 16, phân bổ các hộ chăn nuôi gà thịt và gà đẻ được
trình bày theo các cách kết hợp thức ăn trong toàn bộ chu kỳ chăn nuôi Những hộ sử
dụng cả thức ăn hỗn hợp và thức ăn trộn (có thể bao gồm thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ
sung, ngô, gạo/tấm, cám, rau…) luôn sử dụng thức ăn hỗn hợp cho các giai đoạn đầu và
sau đó chuyển sang dùng thức ăn trộn, mặc dù chỉ có một số ít trường hợp trả lời rằng họ
có cho thêm thức ăn hỗn hợp vào thức ăn trộn Xét chung trên toàn bộ mẫu, có 9% hộ
nuôi gà thịt chỉ sử dụng thức ăn trộn, và 53% chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp Hình thức cho
ăn kết hợp cả thức ăn hỗn hợp và thức ăn trộn là cách thức cho ăn phổ biến nhất đối với
các hộ nuôi gà thịt ở miền Bắc, trong khi ở miền Nam cách thức cho ăn phổ biến nhất là
chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp Các hộ nuôi gà thịt quy mô nhỏ chủ yếu cho ăn kết hợp cả
thức ăn hỗn hợp và thức ăn trộn, còn các hộ quy mô lớn chủ yếu chỉ cho ăn thức ăn hỗn
hợp Gà thịt giống ngoại thường được cho ăn theo cách thức chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp
trong khi gà giống địa phương chủ yếu cho ăn thức ăn kết hợp Trong nhóm hộ nuôi gà
giống địa phương, cách thức cho ăn chỉ dùng thức ăn hỗn hợp phổ biến hơn đối với các
hộ có hình thức nuôi nhốt với tỷ lệ khoảng 50% hộ trong số này áp dụng
Trang 27Xét một cách tổng thể, các hộ nuôi gà đẻ có xu hướng áp dụng hình thức chỉ cho ăn thức
ăn hỗn hợp nhiều hơn, với tỷ lệ khoảng 64% hộ sử dụng so với tỷ lệ 53% hộ ở trường hợp
gà thịt Điều này phản ánh xu hướng duy trì cho ăn thức ăn hỗn hợp trong tất cả các giai
đoạn chăn nuôi đối với gà đẻ Tuy nhiên, trong từng nhóm không có quy luật nhất định
giữa 2 hệ thống chăn nuôi gà thịt và chăn nuôi gà đẻ Các hộ chăn nuôi gà đẻ quy mô nhỏ
và trung bình có xu hướng chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp nhiều hơn so với hộ chăn nuôi gà
thịt ở nhóm quy mô tương tự; ngược lại đối với các hộ quy mô lớn, tỷ lệ chỉ sử dụng thức
ăn hỗn hợp thấp hơn ở trường hợp nuôi gà đẻ so với nuôi gà thịt
Bảng 15 Phương thức cho ăn của các hộ chăn nuôi gà, tỷ lệ hộ sử dụng các loại thức
ăn khác nhau: chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp, kết hợp thức ăn hỗn hợp với thức ăn
Thức ăn hỗn hợp &
thức ăn trộn
Chỉ thức
ăn trộn
Chỉ thức ăn hỗn hợp
Thức ăn hỗn hợp & thức
ăn trộn
Chỉ thức ăn trộn
Chúng tôi đã sử dụng số liệu từ các hộ chăn nuôi gà thịt để đánh giá hiệu quả tương đối
của các phương thức cho ăn khác nhau, sử dụng tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCRs) và một
số chỉ tiêu khác Chỉ số FCRs tính toán được không phải là “chỉ tiêu kỹ thuật”đối với các
loại thức ăn khác nhau: trong nghiên cứu này chỉ số FCRs được tính toán dựa trên thông
tin của các hộ chăn nuôi được điều tra Khối lượng thức ăn trung bình 1 ngày cho 1 con
gà thịt được thể hiện ở Bảng 17 Nhìn chung, khối lượng thức ăn theo khẩu phần chỉ sử
dụng thức hỗn hợp bằng khoảng một nửa so với khối lượng theo khẩu phần kết hợp cả
thức ăn hỗn hợp và thức ăn trộn (0,73 kg một ngày so với 1,5 kg) Sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê ở mức 5% Ngoài ra, sự khác biệt về khối lượng giữa các loại thức ăn
cũng có ý nghĩa về mặt thống kê đối với các hộ ở miền Nam, nhưng không có ý nghĩa ở
trường hợp của các hộ ở miền Bắc Trong nhóm chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp, giữa các
nhóm nhỏ không có sự khác biệt về mặt thống kê, mặc dù giá trị trung bình tính toán cao
hơn ở các hộ quy mô lớn hơn, hộ nuôi các giống cải tiến và ở miền Bắc So sánh giữa các
cách thức cho ăn theo quy mô, kết quả cho thấy chỉ có ở nhóm quy mô nhỏ, lượng thức ăn
hàng ngày nếu chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp nhỏ hơn về mặt thống kê so cách thức cho ăn
kết hợp thức ăn hỗn hợp và thức ăn trộn Bảng 17 cũng trình bày quy mô mẫu đối với
Trang 28từng nhóm phân loại và rõ ràng là, số mẫu quan sát đối với trường hợp hộ chỉ sử dụng
thức ăn trộn là rất nhỏ Vì vậy, chúng tôi đã gộp nhóm này với nhóm “sử dụng kết hợp
thức ăn hỗn hợp và thức ăn trộn” khi tiến hành phân tích thống kê về tỷ lệ chuyển đổi
thức ăn (trình bày trong Bảng 19)
Bảng 16 Lượng thức ăn trung bình một ngày cho gà thịt theo từng cách thức cho ăn:
theo vùng, quy mô và loại giống, 100 gram/ngày
Tổng khối lượng cho ăn
Chỉ thức
ăn hỗn hợp a
Thức ăn hỗn hợp
và thức
ăn trộn
Chỉ thức ăn trộn
a Giá trị trung bình không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các nhóm
b Vùng: Bắc>Nam (1%); Quy mô: không có khác biệt về mặt thống kê; Giống: Địa phương>Ngoại, Lai
(1%); nuôi thả rông: không có sự khác biệt về mặt thống kê
c Chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 5%
d Không có khác biệt về mặt thống kê giữa các cách thức cho ăn
e Chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 5%
f Chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt thống kê đối với nhóm quy mô nhỏ; không có ý nghĩa về
măt thống kê đối với các nhóm quy mô khác
g Chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt thống kê đối với gà giống địa phương ở mức ý nghĩa 10%;
các nhóm khác không có khác biệt về mặt thống kê giữa các cách thức cho ăn
Khẩu phần thức ăn của những hộ cho ăn kết hợp cả thức ăn hỗn hợp và thức ăn trộn được
trình bày trong Bảng 18 Số liệu được tính trung bình cho cả chu kỳ chăn nuôi Nhìn
chung, chỉ có 89% lượng thức ăn sử dụng thực sự là thức ăn trộn, còn lại 11% là thức ăn
hỗn hợp (được sử dụng nhiều nhất trong các giai đoạn đầu như trong Bảng 14) Các thành
phần nguyên liệu trong hỗn hợp thức ăn trộn thay đổi theo vùng, trong đó các hộ ở miền
Nam có tỷ trọng thức ăn đậm đặc lớn hơn rất nhiều so với miền Bắc (33% so với 19%)
Ngược lại, ngô được sử dụng với tỷ lệ nhiều hơn trong khẩu phần trộn ở miền Bắc (66%)
so với miền Nam (48%) Gạo là thành phần quan trọng hơn ở miền Nam Việc sử dụng
gạo trong khẩu phần thức ăn trộn có xu hướng lớn hơn ở các hộ quy mô lớn, phần nhiều
trong số đó là nằm ở miền Nam
Trang 29Bảng 17 Khẩu phần thức ăn của các hộ cho ăn kết hợp thức ăn trộn và thức ăn hỗn
hợp
Thành phần trong thức ăn trộn
Tỷ lệ thức
ăn hỗn hợp trong khẩu phần ăn
Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR), tức là khối lượng thức ăn tính theo kg trên 1 kg thịt tăng
trọng, được trình bày trong Bảng 19 Chỉ tiêu FCR càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng
thức ăn càng thấp xét về phương diện khối lượng thức ăn sử dụng Cột đầu tiên là tỷ lệ
chuyển đổi thức ăn trung bình cho từng nhóm được sắp xếp theo các hàng của bảng Tỷ lệ
FCR trung bình cho cả mẫu là 3,16, trong đó ở miền Bắc là 3,54, và miền Nam là 2,88,
tuy nhiên những giá trị này không có sự khác biệt về mặt thống kê Các hộ quy mô nhỏ có
tỷ lệ FCR là 4,0 cao hơn về mặt thống kê so với các hộ quy mô lớn Tỷ lệ FCR đối với
các hộ nuôi gà giống địa phương là 3,94 và cao hơn về mặt thống kê so với các giống còn
lại
Phần số liệu thứ 2 trong bảng là tỷ lệ FCR đối với 2 cách thức cho ăn khác nhau và các
kết quả kiểm tra mức ý nghĩa của sự khác biệt về giá trị trung bình cũng được trình bày
Xét chung cả mẫu, tỷ lệ FCR là 2,66 đối với những hộ chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp so với
tỷ lệ 3,65 ở những hộ sử dụng kết hợp thức ăn trộn và thức ăn hỗn hợp, và sự khác biệt
này là có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Phương thức chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp cũng cho
kết quả FCR thấp hơn khi số liệu được phân chia theo vùng là miền Nam và miền Bắc,
tuy nhiên sự khác biệt này chỉ có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Các giá trị FCR trung bình
cũng thấp hơn đối với trường hợp chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp khi phân chia theo nhóm
quy mô, tuy nhiên không có sự khác biệt về mặt thống kê trong cả 3 nhóm quy mô Đối
với giống gà địa phương, phương thức cho ăn chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp có tỷ lệ FCR
nhỏ hơn về mặt thống kê so với phương thức kết hợp thức ăn trộn - thức ăn hỗn hợp, và
tương tự sự khác biệt này cũng có ý nghĩa thống kê trong trường hợp các giống gà lai
Trang 30Bảng 18 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn ở các hộ nuôi gà thịt chia theo vùng, quy mô, loại giống và phương thức cho ăn
Tất cả các
hộ
n Chỉ thức
ăn hỗn hợp
n Thức ăn hỗn hợp
và thức
ăn trộn
n Kết
quả Anova
a Theo vùng không có sự khác biệt về mặt thống kê
b FCR của nhóm hộ quy mô nhỏ cao hơn về mặt thống kê so với nhóm quy mô lớn ở mức ý nghĩa 5%
c FCR của gà giống địa phương cao hơn về mặt thống kê so với các nhóm khác ở mức ý nghĩa 5%
d FCR ở gà giống địa phương nuôi thả rông không có sự khác biệt về mặt thống kê so với gà nuôi nhốt
Chúng tôi tiếp tục chia mẫu điều tra thành các hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp nhãn hiệu nước ngoài và nội địa Để đảm bảo tính đồng nhất về nhóm khi kiểm tra giữa các nhãn hiệu thức ăn, chúng tôi lựa chọn phân tích những hộ chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp ở quy mô trung bình và lớn (không có sự khác biệt về mặt thống kê với nhau) và so sánh tỷ lệ FCR theo loại nhãn hiệu thức ăn sử dụng Những hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp nhãn hiệu nước ngoài có tỷ lệ FCR là 2,94 trong khi những hộ sử dụng thức ăn nhãn hiệu nội địa có tỷ lệ FCR là 4,18 và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (Bảng 20) Mặc dù FCR
có sự khác biệt về mặt thống kê, song kết quả này cần được lý giải thận trọng do quy mô mẫu nhỏ ở nhóm doanh nghiệp nội địa
Bảng 19 Ảnh hưởng của nhãn hiệu thức ăn đến chỉ tiêu FCR của các hộ chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp ở nhóm quy mô trung bình và lớn
Giới chuyên môn và ngành chăn nuôi thường sử dụng tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCRs) là một chỉ tiêu chuẩn để đo lường năng suất Tuy nhiên, nếu thức ăn có hiệu quả hơn nhưng chi phí cho một kg thịt tăng trọng tốn kém hơn, sẽ là hợp lý để nông dân xem xét sử dụng loại thức ăn rẻ hơn có tỷ lệ FCR cao hơn nhưng chi phí trên một kg thịt tăng trọng thấp hơn Bảng 21 trình bày chi phí thức ăn cho một ngày đối với 2 phương thức cho ăn khác nhau và chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng Hai cột đầu tiên thể hiện chi phí thức ăn
Trang 31cho một đầu con trong một ngày Chi phí trung bình là 640 đồng/ngày đối với trường hợp
hộ chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp, và 540 đồng khi sử dụng kết hợp cả thức ăn trộn và thức
ăn hỗn hợp Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 10% Khi so sánh giữa các vùng, chi phí thức ăn một ngày cao hơn ở miền Bắc trong trường hợp chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp, trong khi đó chi phí trong trường hợp kết hợp thức ăn trộn và thức ăn hỗn hợp thì không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa hai vùng Các hộ quy mô càng nhỏ có chi phí thức ăn chăn nuôi một ngày càng thấp, nhận định này cũng đúng với trường hợp các hộ nuôi giống gà địa phương
Bảng 20 Chi phí thức ăn trên 1 ngày và trên 1 kg thịt tăng trọng, chia theo vùng,
quy mô, loại giống và cách thức cho ăn
Chi phí thức ăn cho
ăn hỗn hợp
Thức ăn hỗn hợp
và thức
ăn trộn
Chỉ thức
ăn hỗn hợp
Thức ăn hỗn hợp
& thức
ăn trộn
Phân tích ANOVA (Chi phí thức ăn/kg giữa các cách thức cho ăn
a Chi phí thức ăn/ ngày giữa các cách thức cho ăn xét trên toàn mẫu có ý nghĩa thống kê ở mức 10 %
b.Chi phí thức ăn/ ngày đối với hộ chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp cao hơn về mặt thống kê ở miền Bắc; không
có ý nghĩa thống kê đối với hình thức kết hợp thức ăn hỗn hợp - thức ăn trộn; chi phí trên 1kg thịt tăng
trọng cao hơn về mặt thống kê ở miền Nam đối với trường hợp sử dụng thức ăn kết hợp nhưng không có ý
nghĩa thống kê với trường hợp chỉ dùng thức ăn hỗn hợp
c Chi phí thức ăn/ngày không có ý nghĩ về mặt thống kê giữa các quy mô ở cả hai hình thức cho ăn; chi phí trên 1kg thịt tăng trọng không có ý nghĩ về mặt thống kê theo quy mô trong trường hợp chỉ dùng thức ăn
hỗn hợp, đối với trường hợp cho ăn kết hợp chi phí này cao hơn về mặt thống kê ở những hộ quy mô lớn
d Chi phí thức ăn/ngày trong trường hợp chỉ dùng thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt thống kê ở hộ nuôi
giống địa phương với mức ý nghĩa 10%, không có sự khác biệt về mặt thống kê theo giống nuôi đối với hộ
nuôi theo hình thức kết hợp; chi phí trên 1kg thịt tăng trọng cao hơn về mặt thống kê ở hộ nuôi giống địa
phương ở cả hai cách thức cho ăn Chi phí trên 1 kg tăng trọng đối với hộ nuôi gà địa phương không có sự
khác biệt về mặt thống kê giữa hình thức nuôi thả rông và nuôi nhốt
Mặc dù chi phí thức ăn một ngày cao hơn ở những hộ chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp nhưng nếu xét đến chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng thì những hộ này lại tiết kiệm hơn Chi phí thức ăn trên 1 kg thịt tăng trọng là 22,69 nghìn đồng đối với các hộ chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp và 27,89 nghìn đồng đối với hộ kết hợp thức ăn trộn và thức ăn hỗn hợp,
Trang 32và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 10% Chi phí theo loại thức ăn sử dụng không có sự khác biệt về mặt thống kê khi chia theo quy mô và loại giống, trừ trường hợp
hộ nuôi giống lai Chúng tôi cũng đã kiểm tra ảnh hưởng của nhãn hiệu thức ăn đối với chi phí trên 1 kg thịt tăng trọng, tuy nhiên kết quả cho thấy các giá trị trung bình không có
sự khác biệt về mặt thống kê Vì vậy, mặc dù FCR thấp hơn ở nhóm hộ sử dụng thức ăn nhãn hiệu nước ngoài, song giá loại thức ăn này cao hơn đã làm hạn chế những lợi ích kinh tế so với thức ăn nhãn hiệu nội địa, với chi phí trên 1 kg thịt tăng trọng tương đương với nhóm thức ăn nhãn hiệu nước ngoài Chi phí trên 1 kg tăng trọng là 22,9 nghìn đồng đối với hộ sử dụng thức ăn nhãn hiệu nước ngoài và 25,3 nghìn đồng đối với hộ sử dụng thức ăn nhãn hiệu nội địa, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Giá mua thức ăn công nghiệp của các hộ chăn nuôi gà được trình bày trong Bảng 22 Giá mua trung bình của hộ nuôi gà thịt cao hơn gà đẻ Nhìn chung, giá thức ăn ở miền Bắc cao hơn, với sự khác biệt về mặt thống kê trong giá thức ăn hỗn hợp cho gà thịt và cả 2 loại thức ăn cho gà đẻ Quy mô chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến giá mua thức ăn hỗn hợp, trong đó các hộ quy mô lớn mua giá thấp hơn Không có sự khác biệt về mặt thống kê trong giá mua thức ăn đậm đặc theo quy mô Giá thức ăn hỗn hợp cho gà thịt nhãn hiệu nước ngoài là 8,96 nghìn/kg so với 8,02 nghìn/kg thức ăn cùng loại nhãn hiệu nội địa, và các mức giá trung bình này có sự khác biệt về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 1% Trong khi
đó giá thức ăn hỗn hợp cho gà đẻ không có sự khác biệt về mặt thống kê xét theo loại thức ăn nước ngoài và nội địa
Bảng 21 Giá thức ăn công nghiệp trung bình theo loại thức ăn, vùng, quy mô chăn
b Giá mua của hộ lớn < rung bình, nhỏ (1%) đối với thức ăn hỗn hợp cho gà thịt, lớn < nhỏ (5%) đối với thức ăn hỗn hợp cho gà đẻ; không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các quy mô trong giá thức ăn đậm đặc
c Giá thức ăn nhãn hiệu nước ngoài > nội địa đối với thức ăn hỗn hợp cho gà thịt (1%), không có ý nghĩa thống kê đối với trường hợp gà đẻ Số lượng quan sát không đủ để phân tích cho trường hợp hộ sử dụng thức ăn đậm đặc nhãn hiệu nội địa
5.2 Sử dụng thức ăn cho lợn
Trang 33Việc sử dụng thức ăn hỗn hợp của các hộ chăn nuôi lợn được trình bày trong Bảng 23 Nhìn chung, có nhiều hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp để nuôi lợn thịt hơn so với nuôi lợn nái Đối với chăn nuôi lợn nái, tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp là cao nhất ở giai đoạn cho con bú với mức 65% Đối với chăn nuôi lợn thịt, tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp ở giai đoạn lợn con (85%) cao hơn so với các giai đoạn sau Theo vùng, các hộ ở miền Nam
có xu hướng cho lợn ăn thức ăn hỗn hợp nhiều hơn so với miền Bắc Theo quy mô chăn nuôi, nhìn chung có nhiều hộ thuộc nhóm quy mô lớn và trung bình sử dụng thức ăn hỗn hợp ở các giai đoạn khác nhau của chăn nuôi lợn thịt và lợn nái so với nhóm quy mô nhỏ
Bảng 22 Quy mô mẫu và tỷ lệ hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp cho chăn nuôi lợn nái và lợn thịt: theo giai đoạn chăn nuôi, vùng và quy mô
a Chăn nuôi lợn nái
Lợn nái – cai sữa Lợn nái có bầu giai đoạn 1 Lợn nái có bầu giai đoạn 2 Lợn nái đang cho con bú
Trang 34biến hơn ở các hộ ở miền Nam, với 86% hộ sử dụng Đối với chăn nuôi lợn thịt, hình thức chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp cũng được áp dụng nhiều hơn ở miền Nam (65% số hộ) so với miền Bắc (11%) Không có gì ngạc nhiên khi tỷ lệ hộ chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp tăng lên theo quy mô đối với cả 3 loại hình chăn nuôi lợn, và do đó tỷ lệ hộ cho ăn theo cách thức kết hợp có xu hướng biến động ngược chiều với quy mô
Bảng 23 Phân bố hộ chăn nuôi (%) và khối lượng thức ăn cho ăn một ngày theo cách thức cho ăn (chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp so với hình thức kết hợp), phân theo vùng, quy mô và loại chăn nuôi
(kg/ngày/con)
Chỉ thức
ăn hỗn hợp
Kết hợp thức ăn hỗn hợp
& trộn
Chỉ thức
ăn hỗn hợp
Kết hợp thức ăn hỗn hợp
& trộn
Phân tích Anova (kg/ngày giữa các cách thức cho ăn)
Thời gian nuôi (số ngày)
So sánh tổng lượng thức ăn một ngày, chia theo vùng và quy mô
a Chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp - không so sánh; Bắc>Nam đối với hình thức cho ăn kết hợp (5%); không có
sự khác biệt về mặt thống kê giữa các quy mô trong lượng thức ăn hỗn hợp cho ăn 1 ngày; Nhỏ > Lớn (5%) đối với hình thức cho ăn kết hợp
Trang 35b Lợn con thường được nuôi trong khoảng 60 ngày Chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp: Bắc<Nam (1%), Thức ăn kết hợp giữa hỗn hợp - trộn: Bắc<Nam (5%); không có sự khác biệt về mặt thống kê trong khối lượng thức
ăn cho ăn 1 ngày giữa các quy mô đối với cả 2 cách thức cho ăn
c Hình thức chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp: Bắc<Nam (1%), không có sự khác biệt về mặt thống kê khi so sánh theo các tiêu chí phân loại còn lại
Ba cột tiếp theo trong Bảng 24 thể hiện khối lượng thức ăn trung bình sử dụng cho một con trong 1 ngày Đối với lợn nái, khối lượng này thấp hơn về mặt thống kê (ở mức ý nghĩa 1%) ở các hộ chỉ dùng ăn thức ăn hỗn hợp: trung bình 2,64 kg một ngày so với mức 3,34 kg ở các hộ cho ăn kết hợp Xét theo quy mô, sự khác biệt giữa các loại thức ăn chỉ
có ý nghĩa thống kê đối với trường hợp các hộ quy mô nhỏ, với khối lượng thức ăn thấp hơn ở hình thức chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp Không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các quy mô trong khối lượng cho ăn một ngày ở khẩu phần chỉ dùng thức ăn hỗn hợp Tuy nhiên, đối với những hộ cho ăn theo cách thức kết hợp, nhóm hộ quy mô nhỏ cho ăn nhiều hơn so với nhóm quy mô lớn (3,90 kg so với 2,77 kg/ngày), và các hộ ở miền Bắc cho ăn nhiều hơn các hộ miền Nam (3,77 kg một ngày so với 2,85 kg một ngày), và cả hai trường hợp này đều có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5%
Đối với chăn nuôi lợn con với thời gian nuôi thường kéo dài trong khoảng 60 ngày, tổng khối lượng thức ăn một ngày cho một đầu con nếu chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp là 0,55 kg
ở miền Bắc và 0,82 kg ở miền Nam, và sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Khối lượng cho ăn một ngày đối với lợn con theo cách thức kết hợp cũng lớn hơn ở các hộ miền Bắc Khi so sánh giữa 2 cách thức cho ăn, trong tất cả các trường hợp (đối với cả theo vùng và theo quy mô, trừ trường hợp các hộ quy mô lớn), khối lượng cho ăn theo hình thức chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp thấp hơn về mặt thống kê so với trường hợp cho ăn theo cách thức kết hợp
Đối với chăn nuôi lợn thịt trong thời gian trung bình là 98 ngày, chúng tôi nhận thấy khối lượng cho ăn ở các hộ chỉ dùng thức ăn hỗn hợp luôn thấp hơn so với trường hợp cho ăn kết hợp, và tất cả các trường hợp (trừ nhóm hộ quy mô lớn) sự khác biệt đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% hoặc 5% Khối lượng thức ăn cho lợn thịt ở các hộ chỉ sử dụng thức
ăn hỗn hợp ở miền Bắc (1,53 kg) thấp hơn về mặt thống kê so với các hộ miền Nam (2,25 kg), trong khi đối với cách thức cho ăn kết hợp, không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa 2 vùng So sánh giữa các hộ ở các quy mô chăn nuôi khác nhau, kết quả cho thấy không có bất kỳ sự khác biệt nào có ý nghĩa về mặt thống kê ở cả hai hình thức cho ăn Các thành phần có trong thức ăn trộn được trình bày ở Bảng 25 Tất cả các hộ cho ăn theo hình thức này đều sử dụng thức ăn hỗn hợp ở một giai đoạn nào đó trong thời gian nuôi lợn thịt Tỷ lệ trung bình của thức ăn hỗn hợp trong khẩu phần trộn cho lợn thịt là 12%, với tỷ lệ cao hơn tương đối ở các hộ miền Nam Các thành phần trộn có sự khác biệt đáng
kể theo vùng và theo quy mô Tỷ lệ của thức ăn đậm đặc, gạo và cám cao hơn tương đối ở các hộ miền Nam trong khi ở miền Bắc các hộ sử dụng nhiều ngô hơn Bã bia/bã rượu cũng được sử dụng phổ biến hơn ở miền Bắc Xét theo quy mô, thức ăn đậm đặc được sử dụng tương đối nhiều hơn ở các hộ có quy mô lớn hơn
Trang 36Bảng 24 Tỷ lệ thành phần nguyên liệu trộn trong khẩu phần ăn cho lợn thịt theo
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Chỉ tiêu FCR của hộ nếu chỉ cho ăn thức
ăn hỗn hợp cũng thấp hơn so với hộ nuôi cho ăn kết hợp khi xem xét theo vùng và quy
mô Đối với hộ chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp, FCR không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các vùng Tuy nhiên, đối với những hộ cho ăn kết hợp, FCR là 3,52 ở miền Nam và 4,43 ở miền Bắc, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 10% Đối với hình thức chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp, nhóm hộ quy mô nhỏ có FCR trung bình thấp nhất (2,08) so với nhóm hộ quy mô lớn (2,92), và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Kết quả này vượt ngoài dự đoán, và chỉ ra rằng các hộ chăn nuôi lợn quy mô nhỏ cho ăn thức
ăn hỗn hợp có hiệu quả chuyển đổi thức ăn tương đương với các hộ quy mô lớn hơn Đối với trường hợp hộ áp dụng cách thức cho ăn kết hợp, không có sự khác biệt về mặt thống
kê trong tỷ lệ FCR theo quy mô
Bảng 25 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn của hộ nuôi lợn thịt, chia theo cách thức cho ăn, vùng và quy mô
Chỉ sử dụng thức ăn hỗn hợp Kết hợp thức ăn hỗn hợp & trộn Phân tích Anova a
a.Phân tích Anova so sánh số liệu theo hàng – FCR của hộ chỉ dùng thức ăn hỗn hợp và hộ kết hợp
b.Chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp: FCR không có sự khác biệt về mặt thống kê theo vùng; Thức ăn kết hợp
trộn: FCR Nam<Bắc (10%)
c Chỉ cho ăn thức ăn hỗn hợp: FCR theo quy mô Nhỏ<Lớn (5%); Thức ăn kết hợp trộn: không có sự khác biệt về mặt thống kê