- Trong tác phẩm, hai ông trình bày quan niệm duy vật lịch sử của mình và đấu tranh với triết họcduy tâm về lịch sử của Ludwig Feuerbach, Bauer, Xtiêc-nơ và những nhà Xã h
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA -
HOÀNG NGỌC VĨNH
GIÁO TRÌNH
GIỚI THIỆU CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN TRIẾT HỌC
Nhà xuất bản Đà Nẵng
ĐẠI HỌC HUẾ
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
THS GVC HOÀNG NGỌC VĨNH
Trang 2GIÁO TRÌNH GIỚI THỆU CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN TRIẾT HỌC
NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG -2005
GIỚI THIỆU CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN TRIẾT HỌC
THS.GVC HOÀNG NGỌC VĨNH
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám đốc: VÕ VĂN ĐÁNGTổng biên tập: NGUYỄN ĐỨC HÙNG
Trang 3Biên tập: NGUYỄN KIM HUY Bìa và trình bày: TIẾN LINH
In 1.000 cuốn, khổ 16x24 cm tại Công ty cổ phần in Thừa Thiên Huế – 57 Bà Triệu-Huế Theo TNKH số 135/1834/XB – QLXB Cục xuất bản cấp ngày 17 tháng 12 năm 2004 Giấy trích ngang XB số: 174-XB, của NXB Đà Nẵng cấp ngày 23/3/2005 In xong nộp lưu chiểu tháng 5 năm 2005
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN 5
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” CỦA CÁC MÁC VÀ PHRI-ĐRÍCH ĂNG-GHEN 19
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “LUDWIG FEUER BACH - SỰ CÁO CHUNG CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC” CỦA F.ENGHEN 33
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH (ĐIIH RING)” CỦA F.ENGHEN (Ông Đuy Rinh làm đảo lộn khoa học) 49
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” CỦA V I LÊNIN 67
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA F.ENGHEN 84
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “BÚT KÝ TRIẾT HỌC” CỦA V.I.LÊNIN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU -***-
Trong khi chờ đợi giáo trình có tầm cỡ quốc gia, chúng tôi biên soạn cuốn sách “Giới thiệu các tác phẩm kinh điển triết học” nhằm phục vụ cho việc học tập của sinh viên Trung tâm Đào tạo Từ xa Đại học Huế cùng những bạn đọc quan tâm đến nội dung cuốn sách
Nội dung cuốn sách được hoàn thành dựa trên nội dung cuốn “Bài giảng các tác phẩm kinh điển triết học” mà chúng tôi đã biên soạn phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên Triết học Đại học Khoa học Huế theo sự phân công của Bộ môn Triết học - Khoa Mác-Lênin - Trường Đại học Khoa học Huế tháng 02 năm 2000 và có sử dụng một số tư liệu của cuốn “Giới thiệu và hướng dẫn nghiên cứu các tác phẩm và chuyên đề Triết học Mác - Lênin - Bộ môn Triết đại học kinh tế quốc dân 1991”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng biên soạn theo quyết định số 3244/ GD - ĐT ngày 12/ 09/ 1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, song cuốn sách cũng không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, đọc giả xa gần để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 10 năm 2002
Th.s Hoàng Ngọc Vĩnh
Trang 5GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C.MÁC VÀ F.ENGHEN
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.
Vào những năm 1845-1846, Tây Âu đang tiến nhanh đến một cuộc cách mạng mới Phong tràocông nhân phát triển mạnh và rộng rãi khắp châu Âu nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hộikhông tưởng
Lúc này C.Mác và F.Enghen đã đi sâu vào hoạt động chính trị, hai ông nhận thấy cần phải xây dựngmột lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học để phân ranh giới rõ ràng giữa hệ tư tưởng của giai cấp vô sản vớihệ tư tưởng của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, vạch con đường đi đến chủ nghĩa cộng sản một cách hiện thựcmà giai cấp vô sản đang đi vào một cách tự phát
Theo F.Enghen, lúc này (mùa xuân 1845) quan niệm duy vật ở C.Mác đã hình thành đầy đủ Haiông nhất trí lấy quan niệm đó để phê phán toàn bộ nền móng triết học cổ điển Đức sau Heghen
Phê phán “Hệ tư tưởng Đức” là mục đích của tác phẩm: ”Muốn đánh giá đúng cái bịp bợm triết học
đó, nó thậm chí làm thức tỉnh trong lòng người thị dân Đức trung thực một tình cảm dân tộc dễ chịu, muốnhiểu rõ tính nhỏ nhen, tính thiển cận địa phương của toàn bộ phong trào của phái Hêghen trẻ đó, và đặc biệtmuốn hiểu rõ sự trái ngược vừa bi đát vừa buồn cười giữa những chiến công hiện thực của các vị anh hùng
đó, với những ảo tưởng của họ về chính những chiến công ấy thì cần phải xem xét tất cả sự ầm ĩ đó theomột quan điểm ở bên ngoài nước Đức”1
“Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm viết chung của C.Mác và F.Enghen vào cuối giai đoạn hình thànhchủ nghĩa Mác: Lúc mà hai ông đã khắc phục chủ nghĩa duy tâm trong lĩnh vực xã hội và xây dựng nhữngnguyên lý của chủ nghĩa duy vật, đặt nền móng triết học cho lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác phẩm này viết từ tháng 08/1845 đến tháng 05/1846 Nó gồm hai tập, nhưng nội dung quantrọng nhất của tác phẩm là ở chương 1 của tập I
- Trong tác phẩm, hai ông trình bày quan niệm duy vật lịch sử của mình và đấu tranh với triết họcduy tâm về lịch sử của Ludwig Feuerbach, Bauer, Xtiêc-nơ và những nhà Xã hội chủ nghĩa “chân chính”
- Nội dung của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” rất phong phú Trong đó, C.Mác và F.Enghen đã trìnhbày một cách rõ ràng, hoàn chỉnh những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch sử “Hệ tư tưởngĐức” thực sự là tác phẩm lớn nhất của thời kỳ hình thành chủ nghĩa Mác (1842 - 1848)
- Thời C.Mác, tác phẩm này không được xuất bản vì bị kiểm duyệt nghiêm ngặt Nó được xuất bảnlần đầu tiên tại Matxcơva năm 1932 Tại Việt Nam nó đã được tái bản bốn lần:
Lần 1 có tựa đề “Hệ tư tưởng Đức - Phần thứ nhất: Phơ bách
Lần thứ hai và ba có tựa đề “Ludwig Feuerbach - Sự đối lập giữa quan điểm duy vật chủ nghĩa vàquan điểm duy tâm chủ nghĩa” (Chương 1 Hệ tư tưởng Đức)
Lần thứ tư, trước khi bước vào thời kỳ đổi mới, tác phẩm được xuất bản vào tháng 10 / 1986, doNhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội ấn hành - có tựa đề “Hệ tư tưởng Đức - Chương 1 Ludwig Feuerbach sựđối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm”, đúng như trong C.Mác và F.Enghen tuyển tập -Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1980 - Tập 1 - Trang 259 đến 369
1 C.Mác - F.Enghen -Hệ tư tưởng Đức - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1987 - Trang 9.
Trang 6- Tất cả các lần xuất bản thành tác phẩm riêng bằng tiếng Việt và cả trong C.Mác và F.Enghentuyển tập - Tập 1 nói trên, đều chỉ là Chương 1 trong tập I của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” của C.Mác vàF.Enghen
II Bố cục của tác phẩm (Tái bản 10 / 1986).
- I Phơ bách Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và duy tâm Trang 7 -9 (261 - 263)
- Phơ bách A Hệ tư tưởng nói chung, hệ tư tưởng Đức nói riêng Trang 10 -13 (264 - 267)
- [1] Hệ tư tưởng Đức nói chung, triết học Đức nói riêng Trang 13 - 26 (267 - 279)
- [2] Trang 26 - 64 (279 - 314)
- [3] Trang 64 - 70 (314 - 321)
- [4] Trang 71 - 114 (321 - 362)
- Quan hệ của nhà nước và pháp quyền với sở hữu Trang 114 - 120 (363 - 369)
III NHỮNG NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA TÁC PHẨM.
Tác phẩm có hai nội dung chính: Phê phán triết học Đức sau Hêghen và Hệ thống quan niệm duy
vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mác và F.Enghen
1 Phê phán triết học Đức sau Heghen.
- Trong tác phẩm hai ông đã chỉ rõ: Phái Heghen trẻ om sòm tự xưng là cách mạng, nhưng trên thựctế họ không vượt qua chủ nghĩa duy tâm của Heghen Họ “tin rằng, tôn giáo, khái niệm, cái phổ biến thốngtrị trong thế giới hiện tại” Họ phê phán ý thức hiện nay - cái mà họ cho là sai lầm - đòi thay thế nó bằng ýthức phê phán - những quan niệm của chính họ, nhưng trên thực tế họ là những kẻ bảo thủ, chỉ cách mạngbằng lời lẽ mà thôi: “Mặc dù họ đã dùng những lời lẽ khoa trương dường như làm đảo lộn thế giới, các nhà
tư tưởng của phái Hêghen trẻ vẫn là những kẻ đại bảo thủ Những người trẻ nhất trong bọn họ đã tìm đượcnhững từ ngữ chính xác để chỉ hoạt động của họ, khi họ tuyên bố rằng họ chỉ đấu tranh chống lại “nhữngcâu nói” Không một người nào trong những nhà triết học đó có ý nghĩ tự hỏi xem mối liên hệ giữa triếthọc Đức với hiện thực Đức là như thế nào, mối liên hệ giữa sự phê phán của họ với hoàn cảnh vật chất củachính bản thân họ là như thế nào”2
Trong lĩnh vực lịch sử, hai ông chỉ rõ phái Heghen trẻ cũng như chủ nghĩa duy tâm không biết đến
cơ sở hiện thực của lịch sử Theo hai ông, họ chỉ coi mỗi thời đại lịch sử là thể hiện của một tư tưởng, mộtquan niệm nào đó Chính thế, khi phân tích một thời đại lịch sử nào đó ở họ suy cho cùng chỉ là sự “tánđồng ảo tưởng của thời đại đó”
Hai ông hoàn thành việc phê phán phái Heghen trẻ bằng cách phân tích và chỉ ra nguồn gốc xã hộicủa họ Theo hai ông, họ thuộc giai cấp thị dân Đức, một giai cấp trung gian của một nước Đức chưa từngthực hiện một cuộc cách mạng tư sản triệt để “Triết học Đức là hậu quả của những quan hệ tiểu tư sản”.Tính nghèo nàn, bất lực của tư tưởng Đức phản ánh chính tính nghèo nàn, thảm hại của hiện thực Đức Mộtnước Đức phong kiến bảo thủ tồn tại bên cạnh một nước Pháp tư sản triệt để của một xã hội phương Tâysục sôi cách mạng tư sản
- Như nhan đề của chương 1 đã chỉ rõ, hai ông dành phần quan trọng để phê phán LudwigFeuerbach, vạch rõ tính duy tâm về xã hội của triết học ấy Hai ông viết “Feuerbach không bao giờ hiểuđược rằng thế giới cảm giác được là tổng số những hoạt động sống và cảm giác được của những cá nhânhợp thành thế giới ấy, vì vậy ông không nhìn thấy chẳng hạn một đám người đói, còi cọc, kiệt quệ vì laođộng và ho lao, chứ không phải những người khoẻ mạnh thì ông buộc phải lẩn trốn vào trong “quan niệmcao hơn” và trong “sự bù trừ” lý tưởng “trong loài” nghĩa là ông lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm, đúng ở chỗmà người duy vật cộng sản chủ nghĩa nhìn thấy cả sự tất yếu lẫn điều kiện của một sự cải tạo cả nền công
2 Sách đã dẫn - Trang 13.
Trang 7nghiệp lẫn cơ cấu xã hội Khi Ludwig Feuerbach là nhà duy vật thì ông không bao giờ vận dụng đến lịch
sử, còn khi ông tính đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật Ở Feuerbach, lịch sử và chủ nghĩa duyvật hoàn toàn tách rời nhau, điều này đã được nói rõ ở bên trên”3
+ Hai ông chỉ rõ, Ludwig Feuerbach duy tâm ở chỗ ông ta thừa nhận con người là đối tượng cảmtính, một thực thể có cảm giác và tình cảm (ở điểm này ông hơn các nhà triết học duy vật máy móc), nhưngông ta không thấy giữa người với người một mối quan hệ nào khác ngoài tình bạn, tình yêu Thậm chí ông
ta coi tình bạn, tình yêu là động lực quan trọng nhất của lịch sử Cái nơi cần giữ lập trường duy vật nhất thìông ta lại duy tâm sa lầy trong cái trừu tượng về con người và không bao giờ đi tới được con người hiệnthực, con người xã hội: “Đành rằng so với những nhà duy vật thuần tuý thì Feuerbach có ưu điểm lớn làông thấy rằng con người cũng là một “đối tượng của cảm giác”; nhưng hãy gạt bỏ việc ông coi con ngườichỉ là “đối tượng của cảm giác” chứ không phải là “hoạt động cảm giác được”, vì cả ở đây nữa, ông vẫncòn bám vào lý luận và không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong nhữngđiều kiện sinh hoạt nhất định của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như họđang tồn tại, thì Feuerbach cũng không bao giờ đi tới được những con người đang tồn tại và hành độngthực sự, mà ông vẫn cứ dừng lại một sự trừu tượng: “Con người” và có thể nhận ra con người ”hiện thực,cá thể, bằng xương bằng thịt” chỉ trong tình cảm thôi, nghĩa là ông không biết đến những “quan hệ conngười”, “giữa người với người” nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn, hơn nữa là tình yêu và tình bạn được
lý tưởng hoá Ông không phê phán những điều kiện hiện tại”4
+ Hai ông cũng chỉ rõ, thái độ tĩnh quan của Ludwig Feuerbach đã dẫn ông ta đến tự nhiên chủnghĩa về lịch sử xã hội, coi con người là sản phẩm của tự nhiên, phục tùng những quy luật của tự nhiên,những quy luật sinh học Ông ta chỉ thấy cái tự nhiên mà không thấy cái xã hội ở con người Ông ta đã táchrời tự nhiên với xã hội, không thấy mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên với xã hội
Thật ra, con người không chỉ là đối tượng cảm tính mà còn hoạt động cảm tính Dĩ nhiên là từ tựnhiên tách ra con người, nhưng con người lại cải tạo tự nhiên “Bao giờ con người cũng đứng trước mộtgiới tự nhiên lịch sử và một lịch sử tự nhiên” Tự nhiên có vị trí ưu tiên của nó, song không thể xem nó làcái chủ yếu, bất biến, không thay đổi Chính cái xã hội mới là cái cơ sở, cái tự nhiên phát triển, thành cái xãhội, trở thành cái xã hội, không biến mất mà chỉ thay đổi hình thức của mình
- Quan điểm tự nhiên chủ nghĩa về lịch sử chỉ thừa nhận quy luật tự nhiên, quy luật sinh học tácđộng trong xã hội Quan niệm ấy luôn luôn gặp các mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa tính quy luậtkhách quan và hoạt động có ý thức của con người; hoặc quy luật tự nhiên quyết định lịch sử hay ý thức conngười quyết định lịch sử; hoặc hoàn cảnh quyết định con người hay con người quyết định hoàn cảnh của
họ Về điểm này, hai ông chỉ ra Ludwig Feuerbach duy tâm khi ông ta cho rằng, bản thân con người sángtạo ra lịch sử của mình mà chỉ đóng khung con người trong phạm vi thể chất, tình cảm - tức ông ta chỉ thấycái chủ quan mà không thấy cái khách quan, không thấy cái đặc thù của cái khách quan trong lĩnh vực xãhội, không thấy cái đặc thù của quy luật xã hội (Triết học duy vật biện chứng coi con người sáng tạo rahoàn cảnh lịch sử trong chừng mực nào, thì hoàn cảnh lịch sử cũng tạo ra con người trong chừng mực ấy)
Ở đây, Ludwig Feuerbach đã thụt lùi hơn so với Heghen Heghen cho rằng, kết quả hoạt động có mục đíchcủa con người không phụ thuộc vào bản thân hoạt động ấy, tức kết quả ấy là cái khách quan Tuy nhiên,Heghen đã giải thích tính khách quan ấy một cách tư biện (Quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về conngười và bản chất con người là: Con người là một chỉnh thể thống nhất của ba hệ thống các quy luật: Hệthống các quy luật sinh học tạo nên phương diện sinh học ở con người; Ý thức con người hình thành vàhoạt động trên cơ sở nền tảng sinh học của con người; Hệ thống các quy luật xã hội tạo nên cái xã hội củacon người, nó quy định mối quan hệ giữa người với người Trong đời sống hiện thực ba quy luật đó khôngtách rời nhau mà đan quyện hoà vào nhau, tạo nên bản chất con người với tư cách là cái đồng nhất của cái
tự nhiên sinh học và cái xã hội Con người trước hết là một động vật bậc cao Nhưng con vật chỉ tái sảnxuất ra chính mình, còn con người thì còn tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên Nhu cầu tự nhiên của con
3 Sđd - Trang 33.
4 Sđd - Trang 32-33.
Trang 8người được biểu hiện ở các mặt: nhu cầu ăn, ở, mặc ; nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần, nhu cầu tái sảnxuất xã hội; nhu cầu tình cảm và nhu cầu hiểu biết Để đáp ứng những nhu cầu đó con người cần phải laođộng Trong lao động con người quan hệ với nhau, hình thành nên những quan hệ khác trong lĩnh vực đờisống tinh thần Chính thế C.Mác khẳng định “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoàcác quan hệ xã hội” Bản chất con người không là cái bẩm sinh cũng không là cái chỉ sinh ra một lần làxong, mà nó là một quá trình được trải qua hoạt động thực tiễn Trong quá trình đó con người vừa là sảnphẩm của hoàn cảnh vừa cải biến hoàn cảnh Con người vừa là sản phẩm của lịch sử vừa là chủ thể sángtạo ra lịch sử của mình.).
+ Hai ông chỉ rõ “toàn bộ suy diễn của Ludwig Feuerbach về quan hệ giữa người với người chỉnhằm chứng minh người ta cần có nhau và bao giờ cũng cần có nhau Cũng như những nhà duy lý khác,Ludwig Feuerbach không phải là một nhà cách mạng, mà là một nhà bảo thủ Lý luận của LudwigFeuerbach chỉ là sự ca tụng tuyệt diệu cái đang tồn tại Ông ta viết “Bản chất của tôi như thế nào thì tồn tạicủa tôi như thế ấy” Cái đang tồn tại mà Ludwig Feuerbach ca ngợi chính là trật tự tư sản Là người có tấmlòng nhân đạo, Ludwig Feuerbach không thể thờ ơ với cảnh khổ của người lao động Nhưng là nhà dân chủ
tư sản ông ta không thể nhìn thấy được nguyên nhân của tình cảnh ấy và lối thoát hợp quy luật khỏi tìnhcảnh đó Ông ta không có ý thức bênh vực trật tự dân chủ tư sản, mà chính do hạn chế bản chất giai cấp của
tư tưởng của ông ta tạo ra Ludwig Feuerbach không phủ định mà thừa nhận sự tồn tại của cáí đang tồn tại.Mà cái đang tồn tại không là cái gì khác ngoài hơn là trật tự dân chủ tư sản
- Như vậy, hai ông đã tiến hành hai bước làm cơ sở để xây dựng quan niệm duy vật về lịch sử củamình là: Thứ nhất là phê phán chủ nghĩa duy tâm về lịch sử của các nhà triết học duy tâm như Heghen vàphái Heghen trẻ Thứ hai là phê phán chủ nghĩa duy tâm về lịch sử của các nhà triết học duy vật cũ mà đỉnhcao là Ludwig Feuerbach Đây là điểm mới trong xây dựng chủ nghĩa duy vật về lịch sử của Mác vàĂngghen
2 Hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử tương đối hoàn chỉnh của C.Mác và F.Enghen trong tác
phẩm.
Quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen có hai nội dung chính là Tiền đề và bản chất
của quan niệm duy vật lịch sử; Quan niệm duy vật về lịch sử
a) Tiền đề và bản chất của quan niệm duy vật lịch sử của C.Mác và F Enghen (Có năm
tiền đề)
Theo C.Mác và F.Enghen, tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử là sự tồn tại của những cá nhân con
người “người ta phải có khả năng sống để rồi mới có khả năng làm ra lịch sử” Con người muốn tồn tại ít
nhất phải ăn, ở và mặc Muốn vậy con người phải sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Trong sản xuất
vật chất thì sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt là tiền đề cơ bản của mọi lịch sử, nó là sự thực lịch sử đầu tiên, là quan hệ lịch sử đầu tiên Hai ông viết “có thể phân biệt con người với loài vật bằng ý thức, tôn
giáo, nói chung bằng cái gì cũng được Còn chính con người thì bắt đầu tự phân biệt với loài vật khi conngười bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình Khi sản xuất ra những tư liệu sinhhoạt cần thiết cho mình con người gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của bản thân mình” “Người
ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải
có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sảnxuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất, và đó làmột hành vi lịch sử, một điều cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước người
ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ chỉ nhằm để duy trì đời sống con người”5 Như vậy tiền đề đầu tiên
của mọi lịch sử suy cho cùng là việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt.
Hai ông chỉ ra quan hệ lịch sử thứ hai là sự thoả mãn nhu cầu đầu tiên đưa tới những nhu cầu mới.
Và sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên Nhưng muốn thỏa mãn nhu cầu thì
5 S đ d Trang 34.
Trang 9phải sản xuất, nhưng chính sản xuất lại tạo ra những nhu cầu mới Đến lượt nó, những nhu cầu mới lại trở
thành nguyên nhân của sự phát triển sản xuất “Bản thân nhu cầu đầu tiên được thoả mãn - khi đã có được hành động được thoả mãn ấy và công cụ đạt được để thoả mãn nhu cầu ấy - đưa tới những nhu cầu mới”,
chính là tiền đề quan hệ lịch sử thứ hai, trong xây dựng quan niệm duy vật lịch sử của hai ông
Quan hệ lịch sử thứ ba là trong tái sản xuất ra đời sống vật chất của chính bản thân mình, thì con người cũng tái sản xuất ra con người thông qua quan hệ gia đình Tức là, trong khi tái sản xuất ra đời sống
của chính mình, thì con người cũng sản xuất ra những con người khác, con người luôn sinh sôi nảy nở Khinhững nhu cầu đã tăng lên sinh ra những nhu cầu mới thì quan hệ gia đình cũng là một quan hệ phụ thuộc.Gia đình lúc đầu là quan hệ xã hội duy nhất, về sau trở thành một quan hệ phụ thuộc khi mà những nhu cầu
đã tăng lên đẻ ra những quan hệ xã hội mới và dân số đã tăng lên đẻ ra những nhu cầu mới Ba mặt đó củahoạt động xã hội là ba mặt hay ba yếu tố tồn tại đồng thời với nhau ngay từ buổi đầu của lịch sử, từ khi conngười đầu tiên xuất hiện, và chúng còn biểu hiện ra trong lịch sử
Thứ tư là sự sản xuất ra bản thân đời sống (vật chất) là một quan hệ hai mặt: Một mặt là quan hệ
tự nhiên, một mặt là quan hệ xã hội Quan hệ tự nhiên với ý nghĩa là hoạt động sản xuất để tái sản xuất ra
đời sống vật chất Quan hệ xã hội với ý nghĩa là hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân bất kể trong điều kiệnnào, theo cách nào và nhằm mục đích gì Một phương thức sản xuất nhất định hay một giai đoạn côngnghiệp nhất định bao giờ cũng thống nhất với một phương thức hoạt động kết hợp nhất định, một giai đoạn
xã hội nhất định Tức trong sản xuất ra đời sống, hai mặt quan hệ này là cái thống nhất với nhau trong mộtphương thức sản xuất Nói cách khác, tổng hợp những sức sản xuất mà con người đã đạt được quyết định
trạng thái xã hội Quan hệ giữa sức sản xuất (hay giai đoạn công nghiệp) với giai đoạn xã hội, trạng thái
xã hội là quan hệ lịch sử thứ tư (phương thức sản xuất) “Người ta phải luôn nghiên cứu và viết lịch sử loài
người gắn liền với lịch sử của công nghiệp và trao đổi Ngay từ đầu đã có một hệ thống những mối liên hệvật chất giữa người với người, một hệ thống quy định bởi những nhu cầu và phương thức sản xuất và cũnglâu đời như bản thân loài người”6
Sau khi xem xét bốn nhân tố, bốn mặt của những quan hệ lịch sử đầu tiên ấy mới thấy con người
còn có cả ý thức nữa - “Con người có một lịch sử, vì họ phải sản xuất ra đời sống của họ và hơn nữa lại
phải sản xuất như vậy theo một phương thức nhất định, đó là do tổ chức thể xác của họ quy định, ý thứccủa họ cũng bị quy định giống như vậy”7 Bởi ý thức và ngôn ngữ “chỉ sinh ra từ nhu cầu, từ sự cần thiếtthực sự phải giao dịch giữa người với người” Ngay từ đầu, ý thức (dù chỉ là ý thức cá nhân) đã là một sảnphẩm của xã hội, là ý thức về hoàn cảnh gần gủi nhất có thể cảm giác được Ý thức này ban đầu còn mangtính hạn chế động vật (do quan hệ giữa người với tự nhiên, quan hệ giữa người với người còn mang tínhhạn chế động vật), ý thức phát triển lên nhờ sự phát triển của sản xuất, sự phân công của lao động Đặc biệtkhi xuất hiện sự phân công lao động vật chất với lao động tinh thần thì từ đó ý thức thực sự có thể tưởngtượng rằng nó là một cái gì khác chứ không phải là ý thức về thực tiễn hiện có Phân tích mối quan hệ giữa
ý thức với thực tiễn, đặc biệt từ sau khi có sự phân công lao động vật chất với lao động tinh thần, C.Mác vàF.Enghen khẳng định: ý thức (lý luận) chỉ mâu thuẫn với những quan hệ hiện có khi những quan hệ xã hộihiện có mâu thuẫn với sức sản xuất hiện có Hoạt động tinh thần không tách rời với hoạt động vật chất Ý
thức không độc lập với đời sống vật chất, mà trái lại phải phụ thuộc vào nó Như vậy, quan hệ lịch sử thứ
năm mà C.Mác và F.Enghen xét đến là quan hệ giữa hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần; giữa đời sống vật chất và ý thức (hoạt động tinh thần, ý thức đã tách mình ra không thống nhất với hoạt động vật chất, đời sống vật chất) Ý thức ở con người ban đầu dù chỉ là ý thức về giới tự nhiên thì tự nó tất yếu phải
quan hệ với những người xung quanh nó phải là một ý thức xã hội Bước đầu dù mang tính động vật thìcon người khác với động vật ở chỗ trong con người ý thức thay thế bản năng hoặc bản năng của con ngườilà bản năng được ý thức Phân công lao động chỉ trở thành phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sựphân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần
6 S đ d Trang 36.
7 S đ d Trang 37.
Trang 10C.Mac và F.Enghen đã hoàn thành việc xây dựng năm tiền đề cho quan niệm duy vật về lịch sử củamình bằng cách: Từ sản xuất mà giải thích giao dịch vật chất và giao dịch tinh thần, từ giai đoạn côngnghiệp mà giải thích giai đoạn xã hội và giai đoạn tư tưởng Chính phương thức sản xuất vật chất quyếtđịnh hình thức giao dịch (xã hội công dân, cơ sở của toàn bộ lịch sử), trên cơ sở đó xây dựng nên chế độnhà nước và mọi hình thái ý thức
C.Mac và F.Enghen tom tắt “quan niệm đó về lịch sử là ở chỗ: xuất phát từ chính ngay sự sản xuấtvật chất ra đời sống trực tiếp mà xem xét quá trình hiện thực của sản xuất và lý giải hình thức giao dịch -tức là xã hội công dân trong các giai đoạn khác nhau của nó - gắn liền với phương thức sản xuất nhất địnhvà do phương thức sản xuất ấy sinh ra, coi như là cơ sở của toàn bộ lịch sử Sau đó, phải hình dung hoạtđộng của xã hội công dân trong lĩnh vực đời sống nhà nước Đồng thời phải từ đó phải giải thích mọi sảnphẩm lý luận khác nhau và mọi hình thái ý thức, tôn giáo, triết học, đạo đức, v.v và theo dõi quá trình hìnhthành của chúng trên cơ sở đó Nhờ vậy mà tất nhiên có thể hình dung được toàn bộ quá trình trong tínhhoàn chỉnh của nó.” “Quan niệm đó về lịch sử không đi tìm một phạm trù nào đó trong mỗi thời đại nhưquan niệm duy tâm về lịch sử đã làm mà luôn luôn đứng trên miếng đất hiện thực của lịch sử; nó không căn
cứ vào tư tưởng để giải thích thực tiễn; nó giải thích sự hình thành của tư tưởng căn cứ vào thực tiễn vậtchất; và do đó nó đi tới kết luận rằng không thể đập tan được mọi hình thái và sản phẩm của ý thức bằng sựphê phán tinh thần, bằng việc quy chúng thành tự ý thức hay biến chúng thành những “u hồn”, “bóng ma”,
“tính kỳ quặc” v.v mà chỉ bằng việc lật đổ một cách thực tiễn những quan hệ xã hội hiện thực đã sinh ra tấtcả những điều nhảm nhí duy tâm đó; Rằng không phải sự phê phán mà cách mạng mới là động lực của lịch
sử, của tôn giáo, của triết học và của mọi lý luận khác”8
Bản chất của quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen là không xuất phát từ tư tưởng đểgiải thích thực tiễn, mà giải thích sự hình thành của tư tưởng từ thực tiễn vật chất Tư tưởng phụ thuộc vàohoạt động vật chất và hoạt động giao dịch vật chất Ý thức không là cái gì khác hơn cái tồn tại được ý thức(tồn tại của con người là quá trình hiện thực đời sống của con người) Ý thức là phản ánh, là tiếng vọng vềmặt tư tưởng của quá trình sinh hoạt Chính đời sống con người quyết định ý thức của họ chứ không phảingược lại “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, nói mộtcách khác giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị.Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinhthần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bịgiai cấp thống trị đó chi phối Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác, mà chỉ là sự biểu hiệntinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiệndưới hình thức tư tưởng; Do đó là sự biểu hiện của chính ngay những quan hệ làm cho một giai cấp trởthành giai cấp thống trị; nói cách khác đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy.”9
b) Quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mac và F.Enghen
1- C.Mac và F.Enghen xuất phát từ sản xuất vật chất mà lý giải “hình thức giao dịch” Hai ông đãphân tích quá trình sản xuất vật chất từ chiếm hữu nô lệ đến tư bản chủ nghĩa rồi phát hiện ra: Trình độphát triển của sức sản xuất biểu hiện trong trình độ phát triển của phân công lao động, mà mỗi giai đoạncủa phân công lao động cũng quyết định những quan hệ cá nhân với nhau phù hợp với những quan hệ của
họ đối với tư liệu, công cụ và sản phẩm lao động Hai ông kết luận: Sức sản xuất (lực lượng sản xuất) quyếtđịnh hình thức giao dịch (quan hệ sản xuất) Cốt lõi của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu Hai ông đã rút
ra từ trong mối quan hệ xã hội muôn màu muôn vẻ cái cơ bản nhất quyết định mối quan hệ giữa người vớingười trong quá trình sản xuất là quan hệ sản xuất (quan hệ sản xuất được hai ông gọi là hình thức giaodịch, hay quan hệ giao dịch, hay phương thức giao dịch, hay quan hệ sản xuất và giao dịch) Quan hệ sảnxuất là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất bởi lẽ nó trực tiếp quyết định toàn bộ kết cấu bên trongcủa một dân tộc Tức là, hai ông đã quy toàn bộ quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người trên cả haibình diện vật chất và tinh thần) về sự quyết định của quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong
8 S đ d Trang 55
9 S đ d Trang 64 - 65.
Trang 11quá trình sản xuất vật chất), và khẳng định quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định toàn bộ kết cấu của đờisống xã hội.
2- C.Mac và F.Enghen cũng khẳng định, hình thức giao dịch (quan hệ sản xuất) - mà cốt lõi là hìnhthức sở hữu (quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất) - quyết định kết cấu bên trong của xã hội Đó là kếtcấu giai cấp trong xã hội có giai cấp Hai ông viết: “Cho đến nay, xã hội bao giờ cũng phát triển trongkhuôn khổ đối lập, thời cổ đại là sự đối lập giữa công dân tự do và nô lệ, thời trung cổ là sự đối lập giữaquý tộc và nông nô, thời đại mới là giữa tư sản và vô sản.”
3- Theo hai ông, sự đối lập giai cấp tạo nên cơ sở thực tế của nhà nước Nhà nước là hình thức màcác cá nhân thuộc giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình thức trong đó toàn bộ
xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung Nhà nước là con đẻ của chế độ tư hữu.Pháp luật cũng là con đẻ của chế độ tư hữu Tức các ông đã khẳng định chế độ tư hữu tư nhân đối với tưliệu sản xuất là nguồn gốc thực sự của Nhà nước
- Các tiền bối trước C.Mac và F.Enghen đã thấy nhà nước và pháp luật là những công cụ bạo lực,cần thiết cho lợi ích chung, thể hiện ý chí chung của toàn xã hội (ví như Tômát Hốpxơ (1588-1679) chẳnghạn) Hai ông gạt bỏ quan niệm chung chung ấy của giai cấp tư sản về nhà nước và pháp luật mà chỉ rõ bảnchất giai cấp của nó Nhà nước chỉ là cái vẻ bề ngoài là hình thức tập thể Nó là tập thể giả tạo, trong đó “tự
do cá nhân chỉ tồn tại đối với những cá nhân đã phát triển trong khuôn khổ của giai cấp thống trị và trongchừng mực họ là những cá nhân của giai cấp ấy , đối với giai cấp bị trị nó không những là tập thể hoàntoàn ảo tưởng mà còn là những xiềng xích” C.Mac và F.Enghen rút ra kết luận cực kỳ quan trọng: giai cấpnào muốn nắm quyền thống trị thì trước tiên giai cấp ấy phải nắm lấy chính quyền để có thể nêu ra lợi íchcủa bản thân mình như là lợi ích phổ biến
- Vạch ra bản chất giai cấp của nhà nước, C.Mac và F.Enghen cũng vạch rõ bản chất giai cấp các hệ
tư tưởng, chỉ rõ sự khác biệt giữa hệ tư tưởng của giai cấp thống trị với hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng
“Tư tưởng của giai cấp thống trị là tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại” Điều đó có nghĩa là giai cấp nàolà lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì đồng thời là lực lượng thống trị tinh thần trong xã hội Hệ tưtưởng của mỗi giai cấp là phản ánh tồn tại xã hội của giai cấp đó vào ý thức chủ quan của nó, là biểu hiệnchủ quan của tồn tại khách quan của nó Sự tồn tại của những tư tưởng cách mạng trong mỗi thời đại nhấtđịnh phải đã có sự tồn tại của giai cấp cách mạng làm tiền đề
4- C.Mac và F.Enghen đã nêu ra và chứng minh rằng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
- Quan niệm duy tâm cho rằng dường như mỗi giai đoạn lịch sử có những tư tưởng nào đó thống trị
xã hội vì nó chính xác hơn, hợp lý hơn
- Hai ông bác bỏ quan niệm đó và chỉ ra rằng, mỗi giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị cũ,bao giờ cũng buộc phải nêu lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của toàn xã hội Nói một cáchtrừu tượng là làm cho những tư tưởng của bản thân mình mang hình thức phổ biến, nêu nó thành tư tưởngduy nhất hợp lý, có ý nghĩa phổ biến Sở dĩ như thế là vì, ban đầu lợi ích của nó gắn liền với lợi ích của cácgiai cấp bị trị chưa phát triển thành lợi ích riêng biệt của một giai cấp riêng biệt được
5- Xuất phát từ sự phát triển sức sản xuất biểu hiện trong trình độ của phân công lao động, C.Macvà F.Enghen chỉ ra các hình thức sở hữu trong lịch sử rằng: “Những giai đoạn khác nhau của phân công laođộng đồng thời cũng là những hình thức khác nhau của sở hữu” Tức tương ứng với những giai đoạn khácnhau của phân công lao động là những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau ứng với nó
- Hình thức sở hữu đầu tiên là sở hữu thị tộc Đây là hình thức sở hữu tập thể (công xã) phù hợp vớigiai đoạn chưa phát triển sản xuất, con người còn sống nhờ săn bắn, chăn nuôi và nhiều lắm là trồng trọt.Chế độ nô lệ gắn liền với gia đình phụ quyền đã nảy sinh trong lòng nó hình thức sở hữu tư nhân dưới hìnhthức che dấu
Trang 12- Hình thức sở hữu thứ hai là hình thức sở hữu công xã - nhà nước cổ đại Trong nó, bên cạnh sởhữu công xã đã phát triển sở hữu tư nhân về động sản và sau nữa là bất động sản Tùy theo sự phát triểncủa sở hữu tư nhân mà quan hệ giai cấp trong xã hội nô lệ phát triển đến hoàn bị.
- Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp là sở hữu ruộng đất đối lậpgiữa quý tộc và nông nô trên địa bàn nông thôn Phù hợp với hình thức sở hữu này là chế độ phường hội ởthành thị trong công nghiệp thủ công
- Hai ông đã chỉ ra một cách sâu sắc những đặc điểm cơ bản của ba loại quan hệ sản xuất trước tưbản chủ nghĩa và dành nhiều trang để phân tích sự ra đời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: Sự pháttriển của thương nghiệp sinh ra tư bản lưu thông khác với tư bản tự nhiên phường hội; Các thành thị đượcchuyên môn hóa sản xuất làm nảy sinh công trường thủ công: quan hệ hàng tiền thay thế cho quan hệ giatrưởng giữa thợ cả và thợ bạn; Máy móc xuất hiện làm nảy sinh thị trường thế giới; Công nghiệp lớn ra đờisinh ra tư bản hiện đại tạo ra ở khắp nơi những quan hệ giống nhau là sự đối lập giữa tư sản và vô sản
Nhờ sự phân tích “kể từ thời trung cổ, sở hữu thị tộc trải qua nhiều giai đoạn khác nhau - sở hữuruộng đất phong kiến sở hữu động sản phường hội, tư bản công trường thủ công - trước khi chuyển hoáthành tư bản hiện đại thành sở hữu tư nhân thuần tuý”, hai ông là người đầu tiên đã vạch rõ rằng: Lịch sửlà lịch sử nối tiếp những hình thức sở hữu - tức là những quan hệ sản xuất - khác nhau, những quan hệ nàyphụ thuộc vào những phương thức tiến hành lao động nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp (giatrưởng, đẳng cấp nô lệ, giai cấp) Khi phân tích xã hội tư bản, hai ông đã chỉ ra mâu thuẫn giữa lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất ngày càng quyết liệt dẫn đến nổ ra các cuộc cách mạng thay thế quan hệ sảnxuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đang phát triểnlà động lực sâu xa nhất - động lực kinh tế - của những biến đổi trong lịch sử, là nguồn gốc cơ bản của lịch
sử (sự phát triển của lực lượng sản xuất là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi quan hệ sản xuất, nó là độnglực kinh tế, là nguồn gốc cơ bản của lịch sử)
6- C.Mac và F.Enghen chỉ ra những đặc điểm của phân công lao động trong xã hội có giai cấp:
- Phân công lao động luôn gắn liền với chế độ tư hữu Là sự phân công lao động ngay từ đầu đã baohàm sự phân chia không đồng đều về những điều kiện của lao động, là sự tách rời giữa lao động tích lũy vàlao động thực tại, do vậy cũng bao hàm luôn cả sự phân phối không đồng đều những sản phẩm của quátrình lao động tạo ra Theo nghĩa đó, phân công lao động chỉ trở thành phân công lao động thực sự khi hoạtđộng tinh thần và hoạt động vật chất, hưởng thụ và lao động, sản xuất và tiêu dùng được chia phần cho
những cá nhân khác nhau Tư hữu như vậy là hậu quả của phân công lao động Tư hữu chính là quyền chi
phối sức lao động của người khác (Nhưng tư hữu không phải là sở hữu cá nhân Bộ áo quần của cá nhân là
sở hữu tư nhân chứ không là tư hữu, bởi bộ áo quần cá nhân không cho cá nhân khả năng sử dụng bất kỳmột lực lượng lao động nào dù là nhỏ nhất của kẻ khác Ở đây cũng cần phải lưu ý phân biệt và không baogiờ được nhầm lẫn rằng: xoá bỏ tư hữu cũng là xoá bỏ sở hữu tư nhân Chúng ta đang dần xóa bỏ tư hữuđối với tư liệu sản xuất, nhưng không xóa bỏ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất Bởi lẽ, người laođộng nếu không được sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất thì không thể tiến hành sản xuất vật chấtđược.)
- Chính phân công lao động đã hình thành sự giao dịch giữa lợi ích cá nhân với lợi ích chung.C.Mac và F.Enghen chỉ ra trong xã hội có giai cấp, lợi ích chung dưới dạng nhà nước chỉ là một hình thứccộng đồng ảo tưởng, vì nó là công cụ bảo vệ lợi ích chỉ cho giai cấp thống trị Chính vậy, nhà nước - cái
“xa lạ không phụ thuộc” vào cá nhân - trở nên cần thiết để trấn áp những lợi ích riêng biệt luôn luôn thực
sự chống lại những lợi ích chung và chung một cách ảo tưởng
- Phân công lao động trong xã hội có giai cấp đẻ ra tình hình: hành động của con người trở nên mộtlực lượng xa lạ, chống đối chính con người, nô dịch con người chứ không phải con người thống trị nó Conngười bị cột chặt vào một nghề lao động bó buộc Ở đây con người cũng phụ thuộc vào giai cấp, tư cách cánhân của mỗi con người bị ràng buộc bởi tư cách cá nhân giai cấp (cái hoàn toàn ngẫu nhiên ở bên ngoài ýmuốn con người) Quan hệ giữa người và người trong xã hội lẽ ra chỉ là hoạt động kết hợp của họ lại với
Trang 13nhau và không phụ thuộc vào ý chí của họ, thì phân công lao động trong xã hội có giai cấp lực lượng xã hội
do họ tạo ra đã trở thành lực lượng xa lạ ở bên ngoài và thống trị lại chính con người Đó là sự tha hóa củahoạt động xã hội
- C.Mac và F.Enghen kết luận: Sự phân công lao động không xảy ra một cách tự nguyện mà xảy ramột cách tự phát đã dẫn đến hậu quả các hoạt động của con người bị tha hóa Nguyên nhân của sự tha hóa
đó chính là sự phân công lao động gắn liền với tư hữu Muốn khắc phục tình trạng tha hóa đó phải tiếnhành cách mạng vô sản, xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu thực hiện chủ nghĩa xã hội, chủnghĩa cộng sản
- Chủ nghĩa cộng sản xoá bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu, buộc lực lượng vật chất dolao động tạo ra chịu sự kiểm soát của con người, phục tùng con người Chủ nghĩa cộng sản xoá bỏ sự đốilập giữa cá nhân và tập thể, nó là tập thể thực sự Trong đó mỗi cá nhân có khả năng phát triển toàn diệnnhững năng khiếu của mình, ở đây các cá nhân đạt đến tự do đồng thời với sự kết hợp của họ, và nhờ vào
sự kết hợp ấy Chủ nghĩa cộng sản loại bỏ tính tự phát của quá trình tiến hoá lịch sử mà nhảy vọt từ thế giớitất yếu sang thế giới tự do Dưới chủ nghĩa cộng sản mọi tư liệu sản xuất đều thuộc công hữu của xã hội,mọi tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đều bị xoá bỏ
7- Cuối cùng hai ông chỉ ra tính tất yếu của cách mạng Xã hội chủ nghĩa:
- Theo hai ông, cách mạng Xã hội chủ nghĩa có hai tiền đề thực tiễn: Một là, đông đảo quần chúngtrở thành những người không có sở hữu đối lập với cái thế giới đương thời đầy của cải và học thức (sự thahóa đã trở thành một lực lượng không thể chịu đựng được, một lực lượng mà người ta phải làm cách mạngđể chống lại nó) Tức, về xã hội là mâu thuẫn đối kháng ngày càng quyết liệt giữa giai cấp tư sản với giaicấp công nhân và nhân dân lao động; Hai là, sự phát triển của sức sản xuất làm cho sản xuất và giao dịch
có tính chất thế giới, lịch sử biến thành lịch sử thế giới Tức, sự phát triển của đại công nghiệp đã tạo ramột lực lượng sản xuất có tính chất thế giới thì tất yếu với nó phải là một quan hệ sở hữu đối với tư liệu sảnxuất mang tính công cộng
Theo C.Mac và F.Enghen cả hai tiền đề này đều đã có cùng với sự phân công lao động rộng nhất(đại công nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản) Ở đó, một mặt sức sản xuất vật thể hóa (tư hữu) với những ngườilao động bị tách rời khỏi sức sản xuất ấy là rất sâu sắc Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã xóa
bỏ những hàng rào dân tộc, tạo ra thị trường thế giới, nền sản xuất thế giới, sự phụ thuộc toàn diện của cáccá nhân vào lực lượng tự phát có khả năng biến thành sự kiểm soát toàn diện và sự thống trị có ý thức đốivới các lực lượng tự phát ấy Chính ở đây, chủ nghĩa xã hội không còn là một tình trạng cần thiết lập,không là một lý tưởng mà là một tình trạng hiện thực phải khuôn theo
- Hai ông cũng phân biệt sự khác nhau về nguyên tắc giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với chủ nghĩa
xã hội không tưởng về việc xóa bỏ tình trạng hiện thực hiện nay Người không tưởng lên án chủ nghĩa tưbản như là một xã hội không có đạo đức đồng thời lên án cả đấu tranh giai cấp (tức lên án phong trào đấutranh của giai cấp công nhân), tưởng tượng và miêu tả rất tỷ mỷ về chủ nghĩa cộng sản C.Mac vàF.Enghen chỉ vạch ra những nét cơ bản về chủ nghĩa cộng sản và chứng minh rằng tiền đề vật chất (giai cấpcông nhân và nền sản xuất đại công nghiệp) của những nét cơ bản đó đã hình thành trong lòng xã hội tưbản Chủ nghĩa cộng sản là khuynh hướng phát triển hiện thực của lịch sử thế giới
8- Từ toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử đó, C.Mac và F.Enghen đưa ra bốn kết luận:
1 Lực lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ, mà quan hệ sản xuất bắt đầu kìm hãm sự pháttriển đó, gắn liền với nó giai cấp vô sản ra đời và phát triển đối lập quyết liệt với trật tự hiện có và có ýthức về cuộc cách mạng cơ bản, ý thức cộng sản
2 Cho đến nay, lực lượng sản xuất vận động trong điều kiện thống trị của một giai cấp nhất định,biểu hiện trong hình thức nhà nước nên bất cứ cuộc cách mạng nào cũng nhằm chống lại giai cấp thống trịcũ
Trang 143 Cách mạng Xã hội chủ nghĩa khác về chất so với các cuộc cách mạng khác trong lịch sử trướcnó: nó xóa bỏ tư hữu và xóa bỏ giai cấp.
4 Cách mạng Xã hội chủ nghĩa không chỉ xóa bỏ quan hệ kinh tế cũ, quan hệ chính trị cũ mà còncải tạo đông đảo quần chúng kể cả giai cấp vô sản Do đó cách mạng là cần thiết không chỉ vì chỉ có cáchmạng mới lật đổ được giai cấp thống trị cũ, mà còn vì chỉ có cách mạng giai cấp lật đổ mới có thể dứt bỏkhỏi bản thân mình mọi sự thối nát cũ và trở thành có năng lực tạo ra cơ sở mới của xã hội
Với bốn kết luận đó, hai ông đã chứng minh rằng: quan niệm duy vật về lịch sử tất nhiên dẫn đếnkết luận cộng sản chủ nghĩa Kết luận cộng sản chủ nghĩa là hệ quả đương nhiên của quan niệm duy vật vềlịch sử
Bác lại luận điểm của Stiếcne đòi giai cấp vô sản phải tự cải tạo mình trước khi cải tạo xã hội,C.Mac và F.Enghen cho rằng: chỉ có tiến hành cải tạo xã hội thì giai cấp vô sản mới có thể cải tạo mìnhmột cách triệt để Chỉ trong những hoàn cảnh biến đổi thì người vô sản mới không còn như cũ và đầy quyếttâm làm biến đổi hoàn cảnh ngay khi nào có khả năng đầu tiên Trong hoạt động cách mạng, sự biến đổibản thân mình trùng với sự cải tạo hoàn cảnh Quan điểm cách mạng triệt để này, đối lập với mọi quanđiểm tiểu tư sản sẵn sàng điều hoà giai cấp hoặc lẩn tránh cách mạng
KẾT LUẬN:
“Hệ tư tưởng Đức” có nội dung rất phong phú, nó thực sự là tác phẩm lớn nhất của thời ký hìnhthành chủ nghĩa Mác Tác phẩm được hoàn thành vào năm 1846 là lúc quan niệm duy vật về lịch sử củaC.Mac đã hình thành đầy đủ Trong tiến hành phê phán toàn bộ nền triết học Đức, hai ông đã xây dựngnhững nguyên lý của chủ nghĩa duy vật về lịch sử, đặt nền móng triết học cho lý luận chủ nghĩa xã hộikhoa học
Câu hỏi ôn tập:
1- Những nội dung triết học cơ bản của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”?
2- Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mac và F.Enghen đã phê phán những hạn chế củaphái Hêghen trẻ như thế nào?
3- Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mac và F.Enghen đã chỉ rõ chủ nghĩa duy tâm củaPhơ Bách biểu hiện ở những mặt nào?
4- Những tiền đề xuất phát của quan niệm duy vật lịch sử của C.Mac và F.Enghen trong tácphẩm “Hệ tư tưởng Đức” là gì?
5- Những nội dung cơ bản của quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mac và F.Enghen trong tácphẩm “Hệ tư tưởng Đức” là gì?
6- Nêu và phân tích bốn kết luận quan trọng của C.Mac và F.Enghen về chủ nghĩa cộng sảntrong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”?
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” CỦA CÁC MÁC VÀ
PHRI-ĐRÍCH ĂNG-GHEN
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong kho tàng của lý luận chủ nghĩaMác-Lênin Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này, đánh dấu sự thành công về cơ bản lý luận của chủ nghĩaMác bao gồm ba bộ phận hợp thành là Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa Cộng sản khoa học
Trang 15Tác phẩm này không chỉ là tác phẩm quan trọng trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,mà còn là cương lĩnh chính trị của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Nó tập trung luận giải vai tròlịch sử của giai cấp vô sản, tính tất yếu và những điều kiện giải phóng giai cấp vô sản Nó là kim chỉ namcho hành động của toàn bộ phong trào công nhân và cộng sản quốc tế Là ngon cờ dẫn dắt giai cấp côngnhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghiã tư bản, giải phóng loàingười vĩnh viễn thoát khỏi mọi ách áp bức bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người thực sự sống trong tự
do, hoà bình, hạnh phúc
VÀ NHỮNG Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM.
Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ khá cao Cùng với sự phát triển củanền đại công nghiệp ở các nước tư bản châu Âu, giai cấp công nhân hiện đại đã ra đời và sớm bước lên vũđài chính trị đấu tranh chống lại giai cấp tư sản Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thànhphố Li-ông (Pháp) năm 1831, vùng Xi-li-di (Đức) năm 1834 và phong trào có quy mô toàn nước Anh kéodài 10 năm từ 1838 - 1848 Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh của phong trào công nhân đến cuối giữa thế kỷXIX vẫn luôn thất bại trước sự đàn áp của giai cấp tư sản
Thực tế đó, chứng tỏ sự lớn mạnh của phong trào công nhân đòi hỏi bức thiết phải có một lý luậnsoi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng thực sự khoa học vàcách mạng
Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1847, Đại hội lần thứ hai của ‘Đồng minh những người cộng sản’
đã thảo luận và thông qua những nguyên lý của CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN do C.Mác và Ph.Ăngghen trìnhbày, bảo vệ; đồng thời đã uỷ thác cho C.Mác và Ph.Ăngghen viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Tácphẩm được ra mắt đầu tiên vào ngày 18 tháng 3 năm 1848 (trùng ngày nổ ra các cuộc cách mạng ở Mi-Lanvà Béc-Linh)
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời không những là sản phẩm của trình độ chín muồi củanhững điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội đương thời mà còn là sự kết tinh những tinh hoa trí tuệ loàingười, là công lao sáng tạo của C.Mác và Ph.Ăngghen Sự ra đời của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”đánh dấu một bước chuyển lịch sử của phong trào công nhân quốc tế: Kể từ đây, giai cấp công nhân với tưcách là một lực lượng xã hội độc lập, giai cấp vô sản hiện đại tiến hành cuộc đấu tranh tự giải phóng, đồngthời giải phóng cho nhân loại vĩnh viễn thoát khỏi tình trạng áp bức và bóc lột giai cấp
Hiện nay có một số ý kiến của giai cấp tư sản và những người phi mác-xít nhằm phủ nhận giá trịcủa “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, nhưng từ khi ra đời cho đến nay đã trãi qua hơn 156 năm, nó vẫncòn nguyên giá trị lịch sử và cách mạng của nó:
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là văn kiện mang tính cương lĩnh của phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế, nó đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa Mác-Lênin Tuy chỉ là một tập sách nhỏ chưa đầy
100 trang, nhưng chứa đựng tri thức đồ sộ bằng nhiều bộ sách Khi nghiên cứu “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” cần phải nghiên cứu những lời tựa C.Mác và Ph.Ăngghen viết cho những lần xuất bản sau 1848
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” có những giá trị lâu dài sau: Lần đầu tiên trong lịch sử tưtưởng, triết học, sử học xuất hiện một quan niệm khoa học và có hệ thống về lịch sử phát triển của xã hộiloài người, về những động lực của phát triển lịch sử Hai ông đã xuất phát từ sự vận động của đời sốngkinh tế-xã hội mà phân tích xã hội và xuất phát từ kinh tế-xã hội mà phân tích chính trị và văn hoá Tuyênngôn đã chỉ ra những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng áp dụng triệt để trong lĩnh vựclịch sử, từ đó chỉ ra quy luật chung của sự phát triển của xã hội loài người Đây là cơ sở lý luận, phương
Trang 16pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin Học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế-xã hội đến nay vẫn giữnguyên giá trị.
+ Bằng thế giới quan khoa học, bằng phương pháp luận duy vật biện chứng, hai ông đi sâu phântích những quy luật vận động của xã hội tư bản, vạch ra quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản là quyluật giá trị thặng dư, cũng tức là vạch ra bản chất của chủ nghĩa tư bản “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”khẳng định tính tất yếu về mặt lịch sử của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời vạch
ra những mâu thuẫn nội tại của chủ nghiã tư bản, phân tích những cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản vàgiai cấp tư sản, khẳng định cuộc đấu tranh này sẽ dẫn đến kết quả: Xã hội tư bản sẽ bị thay thế bằng một xãhội khác tiến bộ hơn, phát triển hơn, đó là xã hội cộng sản
+ Hạt nhân chủ đạo của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là: Phương thức chủ yếu của sản xuấtkinh tế và trao đổi cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định đã cấu thành cơ sở cho lịch sửchính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại Do đó toàn bộ lịch sử của nhân loại cógiai cấp là lịch sử của đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp bóc lột và những giai cấp bị bóclột, giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị áp bức Giai cấp vô sản không thể tự giải phóng mình, nếu khôngđồng thời giải phóng toàn xã hội, giải phóng con người khỏi ách bóc lột, áp bức, khỏi tình trạng phân chiagiai cấp và áp bức giai cấp Tức giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại đồng thời đềulà sứ mệnh của giai cấp công nhân
+ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” chủ trương xây dựng một xã hội Cộng sản thay thế xã hội Tưbản, đó là một xã hội công bằng, nhân đạo, không còn tình trạng người áp bức, bóc lột người Xã hội Cộngsản là một liên hợp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọingười Mục đích đó của CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN không phải là mong muốn chủ quan mà là chiều hướngkhách quan của sự phát triển của lịch sử Một xã hội phát triển cao như vậy không thể được hình thành mộtcách dễ dàng, tự phát, mà phải trải qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa: Lật đổ sự thống trị của giai cấp tưsản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải dành được chính quyền, xây dựng và sáng tạo ra xã hộimới cao hơn, tiến bộ hơn xã hội tư bản về mọi phương diện
+ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” và các tác phẩm khác của hai ông đề ra các vấn đề chiến lược,sách lược chủ yếu về hình thức, phương pháp, về con đường quá độ từ xã hội cũ lên xã hội mới Hai ôngchỉ rõ thái độ khoa học, phương pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên cứu, vận dụng các tư tưởng,luận điểm, kết luận trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
Một là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định hai nguyên lý của chủ nghĩa Mác: Phươngthức sản xuất và trao đổi kinh tế cùng với cơ cấu xã hội của phương thức đó quyết định sự sự hợp thànhnền tảng của xã hội; Lịch sử phát triển của xã hội có giai cấp là lịch sử của đấu tranh giai cấp
Hai là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định giai cấp vô sản chỉ có thể tự giải phóng khỏitình trạng bị áp bức bóc lột, nếu đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn bộ xã hội khỏi tình trạng bị áp bứcbóc lột, phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp
Ba là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” công khai trình bày trước toàn bộ thế giới về chiến lược,sách lược của Đảng Cộng sản và đập tan những hư truyền về “bóng ma cộng sản” mà các thế lực chính trịphản động đang loan truyền ở châu Âu lúc bấy giờ
Bốn là, Từ khi ra đời cho đến nay đã trên 156 năm, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” luôn là nềntảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân thế giới, nó soi sángcon đường tiến lên của cách mạng thế giới Đồng thời, mỗi thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động thế giới lại càng khẳng định tính chất khoa học và cách mạng, và làmphong phú thêm những tư tưởng thiên tài của C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu trong “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản”
Trang 17II BỐ CỤC CỦA TÁC PHẨM (cuốn tái bản năm 1976).
“Các lời tựa 1872, 1882, 1883, 1888, 1890, 1892, 1893” Trang 7 đến trang 42
“Tư sản và vô sản” trang 42 đến 66
“Những người vô sản và những người cộng sản” trang 66 đến trang 81
“Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghiã” trang 81 đến trang 99
“Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập” trang 99 đến trang 102
III NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CÁC CHƯƠNG, MỤC CỦA TÁC PHẨM.
Các lời tựa của C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến hai nội dung chính:
Một là, hai ông khẳng định “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là Cương lĩnh của ‘Đồng minhnhững người Cộng sản’ công bố công khai với toàn thế giới những nguyên lý của Đảng Cộng sản BảnCương lĩnh này gọi là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” mà không gọi là “Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa”là để phân biệt tính chất giai cấp của phong trào cộng sản với các trào lưu xã hội chủ nghĩa đương thời
Hai là, với tư cách là một cương lĩnh của Đảng Cộng sản, về mặt lý luận “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” trình bày thế giới quan của giai cấp vô sản về đấu tranh giai cấp, cách mạng vô sản và chuyênchính vô sản; thuyết minh sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, vai trò của giai cấp vô sản; phân địnhranh giới giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với các trào lưu xã hội chủ nghĩa khác (chủ nghĩa xã hội khôngtưởng)
Về mặt chỉ đạo thực tiễn, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nêu lên những nhiệm vụ và những biệnpháp cụ thể để thực hiện bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; những nguyên lý sách lượcvà thái độ của Đảng Cộng sản đối với các Đảng Xã hội-Dân chủ Nhiệm vụ của “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” là tuyên bố sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản cũng tất yếu như sự thắng lợi của chủ nghĩa xãhội, giai cấp vô sản hiện đại là người có sứ mệnh đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mặc đầuhoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong mười lăm năm qua, nhưng cho đến nay, xét về đại thể, những nguyên lýtổng quát trình bày trong Tuyên ngôn này vẫn còn hoàn toàn đúng Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết cần phảixem lại Chính ngay Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụngnhững nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá câu nệnhững biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II Và cũng hiển nhiên là những nhận định về thái độcủa người cộng sản đối với các đảng đối lập (chương IV) nếu cho đến nay vẫn còn đúng trên những nét cơbản thì trong chi tiết, những nhận định ấy đã cũ rồi, vì tình hình chính trị đã hoàn toàn thay đổi và sự tiếntriển lịch sử đã làm tiêu tan phần lớn những đảng được kể ra trong đó.”10
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Nga xuất bản năm 1882 C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra, nếuTuyên ngôn được xuất bản bằng tiếng Nga vào đầu những năm 60 giỏi lắm chỉ là một của lạ về văn chươngmà thôi, thì tình hình ngày nay không còn như thế nữa Bởi lẽ, “Trong cuộc cách mạng 1848-1849, bọn vuachúa ở châu Âu cũng hệt như giai cấp tư sản châu Âu, đều coi sự can thiệp của nước Nga là phương tiệnduy nhất để cứu thoát chúng thoát khỏi tay giai cấp vô sản vừa mới bắt đầu giác ngộ về lực lượng củamình Chúng tôn Nga Hoàng làm trùm phe phản động châu Âu Hiện nay Nga Hoàng, ở Ga-tsi-na, đã là tù
10 C.Mác và F.Enghen - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội 1976 - trang 8, 9.
Trang 18binh của cách mạng, và nước Nga đang đi tiên phong trong phong trào cách mạng châu Âu”11 “Tuyênngôn của Đảng Cộng sản” ngày nay ở Nga có nhiệm vụ tuyên bố diệt vong không tránh khỏi và sắp xảy racủa chế độ sở hữu tư sản
Sau khi phân tích những thay đổi cơ bản của xã hội Nga, C.Mác và Ph.Ăngghen tiên đoán tài tìnhrằng “nếu cách mạng Nga báo hiệu một cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cáchmạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độ ruộng đất công cộng ở Nga hiện nay sẽ có thể là khởi điểm của một
sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa.”12
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1883, Ph.Ăngghen chỉ ra, do C.Mác đã mất nênkhông thể nói đến việc sửa lai hay bổ sung Tuyên ngôn nữa Ph.Ăngghen khẳng định: “Tư tưởng cơ bản vàchủ đạo của Tuyên ngôn là: trong mỗi thời đại lịch sử sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếuphải do sản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó cấu thành cơ cấu của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng củathời đại ấy: do đó (từ khi chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy tan rã), toàn bộ lịch sử là lịch sử các cuộcđấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp bị bóc lột và những giai cấp đi bóc lột, giữa những giaicấp bị trị và những giai cấp thống trị, qua các giai đoạn của sự phát triển xã hội của họ; nhưng cuộc đấutranh ấy hiện nay đã đến một giai đoạn mà giai cấp bị bóc lột và giai cấp bị áp bức (tức giai cấp vô sản)không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tức giai cấp tư sản) được nữa, nếukhông đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bức và khỏi những cuộcđấu tranh giai cấp - Tư tưởng chủ chốt ấy hoàn toàn và tuyệt đối là của C.Mác”13
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, sau khi chỉ ra sự ra đời và sức sống củaTuyên ngôn trên thế giới, Ph.Ăngghen giải thích, sở dĩ tên gọi của Tuyên ngôn là “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” mà không gọi là “Tuyên ngôn xã hội chủ nghĩa” là để phân biệt đây là tuyên ngôn của giai cấp
vô sản giác ngộ chứ không là khát vọng không tưởng của giai cấp tư sản và tiểu tư sản về xã hội chủ nghĩa.Ông cũng lại khẳng định, tuy Tuyên ngôn là tác phẩm viết chung, nhưng luận điểm chủ yếu làm hạt nhâncho sách là của C.Mác
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1890, Ph.Ăngghen viết: “Vô sản tất cả các nướcdoàn kết lại!” Chỉ có một vài tiếng đáp lại chúng tôi, khi chúng tôi tung lời kêu gọi ấy với thế giới, cáchđây bốn mươi hai năm, ngay trước ngày cuộc cách mạng đầu tiên nổ ra ở Pa Ri, trong đó giai cấp vô sản đãxuất hiện với những yêu sách của chính mình Nhưng ngày 28 tháng 9 năm1864, những người vô sản trongphần lớn các nước Tây Âu đã liên hợp lại để lập ra Hiệp hội lao động quốc tế, một hội mà tên tuổi vẻ vangđược ghi nhớ mãi mãi Thật ra bản thân Quốc tế chỉ sống có Chín năm Nhưng sự đoàn kết bất diệt doQuốc tế đã xây dựng được giữa những người vô sản tất cả các nước vẫn tồn tại và càng mạnh hơn bao giờhết Bởi vì ngày hôm nay, khi tôi viết những dòng này, giai cấp vô sản châu Âu và châu Mỹ đang điểm lạilực lượng chiến đấu của mình, lực lượng lần đầu tiên được huy động thành một đạo quân duy nhất, dướicùng một ngọn cờ và nhằm cùng một mục đích trước mắt là đòi pháp luật quy định ngày làm việc bìnhthường là tám giờ, yêu sách đã được tuyên bố từ 1866 tại Đại hội của Quốc tế ở Giơ-ne-vơ và sau này lạiđược tuyên bố lần nữa tại Đại hội công nhân ở Pa ri năm 1889 Cảnh tượng ngày hôm nay sẽ chỉ cho bọn tưbản và bọn địa chủ tất cả các nước thấy rằng những người vô sản tất cả các nước đã thật sự đoàn kết vớinhau.”14
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Ba Lan xuất bản năm 1892, Ph.Ăngghen chỉ ra ảnh hưởng to lớn vàrộng rãi của Tuyên ngôn trong công nhân châu Âu và sự in mới của Tuyên ngôn bằng tiếng Ba lan là bằngchứng chứng tỏ yêu cầu ngày càng tăng sự phổ biến về Tuyên ngôn trong công nhân công nghiệp Ba lan.Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ: “Chỉ có thể có được sự hợp tác quốc tế thành thực giữa các dân tộc châu Âu khi
11 S đ d trang 11, 12.
12 S đ d trang 12.
13 S đ d trang 13, 14.
14 S đ d trang 31, 32.
Trang 19nào mỗi dân tộc đó là người chủ tuyệt đối trong nhà mình Chỉ có giai cấp vô sản Ba Lan trẻ tuổi mới cóthể giành được nền độc lập đó, và nắm trong tay họ, nền độc lập đó sẽ được bảo vệ chắc chắn.”15
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Ý xuất bản năm 1893, Ph.Ăngghen viết: “nếu cách mạng 1848không phải là một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thì ít ra nó cũng dọn đường, chuẩn bị địa bàn cho cáchmạng xã hội chủ nghĩa Chế độ tư sản đã làm cho đại công nghiệp phát triển ở tất cả các nước thì đồng thờicũng tạo ra ở khắp nơi, trong bốn mươi lăm năm gần đây, một giai cấp vô sản đông đảo, đoàn kết chặt chẽvà mạnh; do đó nó đã sinh ra, như Tuyên ngôn đã nói, những người đào huyệt chôn nó Tuyên ngôn hoàntoàn thừa nhận vai trò cách mạng mà chủ nghĩa tư bản đã đóng trong quá khứ Hiện nay, cũng như năm
1300, đang mở ra một kỷ nguyên lịch sử mới Để đời đời truyền tụng sự nảy sinh của kỷ nguyên mới này,
kỷ nguyên vô sản, liệu nước Ý có cung cấp được cho chúng ta một Đan-tơ mới chăng?”16
Chỉ với 26 dòng, lời mở đầu đã thể hiện tính khoa học và tính chiến đấu của “Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản” “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN đa được tất ca cácthế lực Giáo hoàng, Nga hoàng, bọn cấp tiến Pháp, bọn cảnh sát Đức ở châu Âu thừa nhận là một thế lực,chứ không còn là một bóng ma đang ám ảnh châu Âu Do đó đã đến lúc những người cộng sản phải côngkhai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích và ý đồ của mình để đập lại câu chuyệnhoang đường về bóng ma cộng sản
Trong chương này, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nêu lên sự đối lập giữa giai cấp tư sản và giaicấp vô sản - hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản; sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản cùng với giaicấp tư sản Hai ông đã làm rõ:
- Lịch sử xã hội loài người từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã cho đến nay là lịch sử đấutranh giai cấp giữa giai cấp bị áp bức, bóc lột với giai cấp bóc lột, thống trị Cuộc đấu tranh ấy diễn rakhông ngừng và kết thúc bằng một cuộc cách mạng xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của cả hai giai cấp đấutranh với nhau Trong xã hội tư sản hiện đại, cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản hiện đại với giai cấp tưsản dẫn đến sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã làm rõ vai trò lịch sử của hai giai cấp tư sản và vô sản hiệnđại
Giai cấp tư sản là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của một loạt các cuộc cách mạng
trong phương thức sản xuất và trao đổi Khi mới ra đời giai cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạngtrong lịch sử Nó đại diện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất đang lên, đánh đổ sự thống trị của giaicấp phong kiến, thiết lập nền chuyên chính tư sản thực hiện những tiến bộ xã hội “Chưa đầy một thế kỷ,giai cấp tư sản thống trị đã tạo ra được một lực lượng sản xuất nhiều và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất củatất cả các thế hệ trước kia gộp lại” Đại diện cho lực lượng sản xuất mới, giai cấp tư sản đã đập tan xiềngxích của chế độ phong kiến, thay vào đó là chế độ tự do cạnh tranh thích hợp với sự thống trị về chính trịcủa giai cấp tư sản Là một giai cấp tư hữu bóc lột, nên vai trò của giai cấp tư sản bị hạn chế ngay từ đầu,đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản nổ ra ngay từ khi chủ nghĩa tư bản mới ra đời Giai cấp tưsản không những đã rèn vũ khí để giết mình, mà còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy để đánh đổchính bản thân giai cấp tư sản: “Những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thìngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũkhí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiện đại, những người vôsản”17
15 S d d trang 34, 35.
16 Sdd trang 37, 38.
17 S dd trang 54.
Trang 20Giai cấp vô sản hiên đại là người có sứ mệnh đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và và sáng tạo ra
một xã hội mới tốt đẹp hơn Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản do vị trí kinh tế - xã hội của giaicấp vô sản trong lịch sử quy định Giai cấp vô sản hoàn toàn có khả năng hoàn thành sứ mệnh lịch sử thếgiới của mình, do họ là giai cấp tiên tiến gắn liền với nền đại công nghiệp, lớn lên cùng nền đại côngnghiệp; là sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại biểu cho xu hướng tiến lên của đại công nghiêp Họ làgiai cấp thực sự cách mạng, dưới chủ nghĩa tư bản những người vô sản bị tước hết mọi tư liệu sản xuất nên
họ chẳng có gì là của riêng mình để bảo vệ cả Muốn giải phóng, họ phải phá huỷ hết thảy những gì từtrước đến nay vẫn bảo đảm và bảo vệ chế độ tư hữu
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, trước hết là phải thanh toán xong giai cấp tư sảntrong nước mình, đánh đổ toàn bộ sự thống trị của giai cấp tư sản cả về kinh tế, chính trị, đạo đức, phápluật mưu lợi ích cho tuyệt đại đa số nhân dân, sau đó tiến lên hoàn thành sự nghiệp giải phóng thế giớikhỏi ách áp bức bóc lột giai cấp
- Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản diễn ra ngay tư khi giai cấp vô sản mới
ra đời và phát triển đi từ thấp đến cao, từ tự phát lên tự giác Thắng lợi của giai cấp vô sản trong cuộc đấutranh chống lại giai cấp tư sản là tất yếu Cuộc đấu tranh này sẽ dẫn đến bùng nổ cách mạng công khai, giaicấp vô sản thiết lập sự thống trị của mình bằng cách dùng bạo lực cách mạng lật đổ giai cấp tư sản “Sự sụpđổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau”18 Kết luận này của hai ôngtrong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” không những vững vàng và khoa học mà còn sâu sắc về chính trị
4 Chương 2: Những người vô sản và những người cộng sản.
Trong chương này hai ông tập trung trình bày về tính giai cấp của Đảng Cộng sản, mối quan hệgiữa Đảng và giai cấp, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học, một số nguyên lý chiếnlược và sách lược cách mạng của cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Tính chất giai cấp của Đảng Cộng sản và quan hệ giữa Đảng với giai cấp: Đảng là đội quân tiênphong, bộ phận giác ngộ nhất của giai cấp vô sản
Về mặt lý luận Đảng có ưu thế hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ có nhận thức sáng suốt
về điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản
Về mặt thực tiễn, Đảng là bộ phận kiên quyết nhất bao giờ cũng cổ vũ phong trào vô sản tiến lên
giành thắng lợi; Đảng là bộ phận không tách rời giai cấp, luôn bảo vệ lợi ích của giai cấp và đại biểu cholợi ích của toàn bộ phong trào vô sản Phải có Đảng lãnh đạo giai cấp vô sản mới là tròn sứ mệnh lịch sửcủa mình Nhiệm vụ của Đảng trước hết là tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trịcủa giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền
Tóm lại, Đảng là bộ phận gắn liền với giai cấp vô sản, là bộ phận tiên tiến nhất và kiên quyết cách
mạng nhất của giai cấp vô sản, Có sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp vô sản mới hoàn thành được sứ mệnhlịch sử thế giới của mình
- Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học:
Về sở hữu: hai ông cho rằng, tư bản vận động được là nhờ sự hoạt động chung của xã hội Do đó
việc biến tư bản thành sở hữu chung chỉ có nghĩa là thay đổi tính chất giai cấp của nó - giải phóng lựclượng sản xuất có trình độ xã hội hoá cao Hai ông tuyên bố xoá bỏ mọi chế độ tư hữu và thiết lập chế độcông hữu về tư liệu sản xuất
Về vấn đề tự do cá nhân, hai ông tuyên bố phải xoá bỏ cá tính tư sản, tính độc lập tư sản và tự do tư
sản, thứ tự do buôn bán và bóc lột sức lao động của người khác
Về vấn đề gia đình, hai ông khẳng định những người cộng sản chủ trương xoá bỏ gia đình tư sản,
bởi lẽ quan hệ gia đình tư sản dựa trên tư bản, lợi nhuận cá nhân nhà tư sản, người phụ nữ bị coi như là một
18 S dd trang 65.
Trang 21công cụ sản xuất, cha mẹ bóc lột con cái, cộng thê, mãi dâm chính thức và không chính thức Chưa thỏamãn với việc phá hoại hạnh phúc của những người vô sản, họ còn lấy việc cắm sừng lẫn nhau làm thú vuiđặc biệt.
Về vấn đề giáo dục: Người cộng sản không bịa ra tác động của xã hội đối với giáo dục, vì nó là cái
vốn sẵn có, mà chỉ thay đổi tính chất của sự tác động ấy và kéo giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp tưsản mà thôi
Về vấn đề dân tộc, tổ quốc và quốc tế: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định dưới chủ
nghĩa tư bản giai cấp vô sản và nhân dân lao động không có tổ quốc, bởi mọi quyền đại diện tổ quốc, dântộc và tất cả các lợi ích khác đều do giai cấp tư sản nắm giữ Chính thế, giai cấp vô sản mỗi nước trước hếtphải tự mình thành giai cấp dân tộc, phải tự mình thành dân tộc nhưng không phải theo kiểu như giai cấp tưsản hiểu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cũng khẳng định: “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấptrong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo” Không cóđộc lập, thống nhất cho từng dân tộc thì không thể thực hiện được sự liên hợp quốc tế của giai cấp vô sản
Về vấn đề tôn giáo, triết học và những quan điểm ý thức tư tưởng nói chung, “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản” quan niệm đó là công cụ thống trị về tinh thần của các giai cấp bóc lột thống trị, dưới chủnghĩa tư bản nó nói lên thời kỳ thống trị của cạnh tranh tự do trong lĩnh vực tri thức mà thôi “Cách mạngcộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền, không có gì đáng lấy làm lạkhi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng cổtruyền”
- Những nguyên lý chiến lược và sách lược cách mạng:
Cách mạng CSCN phải trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1, Phải xây dựng giai cấp vô sản thành
giai cấp thống trị Sau khi nắm được chính quyền giai cấp vô sản phải dùng thế lực chính trị của mình tậptrung phát triển lực lượng sản xuất đồng thời với việc phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục “Tuyênngôn của Đảng Cộng sản” cũng đã nêu ra 10 biện pháp cụ thể19 mà C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng có thểáp dụng ở những nước tư bản phát triển nhất lúc bấy giờ nhằm cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới.Trong đó, sáu biện pháp đầu nói về cách mạng quan hệ sản xuất như tước đoạt sở hữu ruộng đất, đánh thuếluỹ tiến, xoá bỏ quyền thừa kế, tập trung tín dụng vào ngân hàng nhà nước, tập trung phương tiện vận tảiquan trọng vào tay nhà nước Ba biện pháp tiếp theo nói về phát triển lực lượng sản xuất như tăng cườngcác xí nghiệp quốc doanh, tiến hành khai hoang cải tạo ruộng đất, thi hành nghĩa vụ lao động, kết hợp laođộng nông nghiệp với lao động công nghiệp, xoá dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn Biệnpháp thứ mười nói về giáo dục công cộng và kết hợp giáo dục với sản xuất Trong mười biện pháp trên,cho đến nay nhiều biện pháp còn mang đầy đủ tính hiện thực phổ biến của nó đối với con đường lên chủnghĩa xã hội ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam
Giai đoạn 2, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã phác hoạ ra xã hội Cộng sản trong tương lai Ở
đó không còn giai cấp và không còn đấu tranh giai cấp Nhà nước với tư cách là bộ máy thống trị giai cấpcũng không còn nữa Một thế liên hợp của người lao động phát triển toàn diện xuất hiện, trong đó “sự pháttriển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”
Về Cách mạng phát triển không ngừng: Điều này có liên quan đến lời tựa hai ông viết năm 1882
“Nếu cách mạng Nga báo hiệu một cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấybổ sung cho nhau thì chế độ ruộng đất công cộng ở Nga hiện nay sẽ có thể là khởi điểm của một sự tiếntriển cộng sản chủ nghĩa”
Về vấn đề chính quyền nhà nước “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” coi nó là vấn đề cơ bản của mọi
cuộc cách mạng Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, hai ông chưa dùng đến thuật ngữ chuyên chính
vô sản, nhưng tư tưởng về chuyên chính vô sản đã được diễn đạt một cách rõ ràng qua các thuật ngữ “Giaicấp vô sản nắm chính quyền”, “giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị” Sau này, trong thư
19 Xem sdd trang 79, 80.
Trang 22gửi Vây-ơ-đờ-mây-e ngày 5/3/1852 C.Mác đã sử dụng khái niệm “chuyên chính vô sản” - một trong nhữngnguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa cộng sản khoa học.
5 Chương 3: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Trong chương này, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” tập trung phân tích, phê phán những trào lưu
xã hội chủ nghĩa phi vô sản nhằm bảo đảm thắng lợi cho việc truyền bá học thuyết chủ nghĩa cộng sảnkhoa học vào phong trào công nhân Tinh thần, thái độ, phương pháp phân tích, phê phán của hai ông đốivới các trào lưu văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa phi mac-xít luôn là cơ sở khoa học giúpchúng ta phân biệt ranh giới giữa chủ nghĩa cộng sản khoa học với các trào lưu xã hội chủ nghĩa phảnđộng, phản bội, cải lương, xét lại, không tưởng hiện nay
- Hai ông vạch rõ tính chất phản động kéo lùi lịch sử, chống lại phong trào cộng sản của các tràolưu xã hội chủ nghĩa phong kiến và tiểu tư sản:
Chủ nghĩa xã hội phong kiến là thứ văn học của bọn quý tộc phong kiến bị gạt khỏi địa vị thống trị
bởi giai cấp tư sản Bọn này một mặt giơ cái bị ăn mày lên làm cớ để lôi kéo nhân dân, mặt khác lại “không
bỏ qua cơ hội để lượm lấy những quả táo bằng vàng và đem lòng trung thành, tình yêu và danh dự mà đổilấy việc buôn bán len, củ cải đường và rượi mạnh.”20
Chủ nghĩa xã hội của Cơ đốc giáo là thứ chủ nghĩa xã hội đi sát với chủ nghĩa xã hội phong kiến,
nó là thứ nước thánh mà bọn thầy tu dùng để xức cho nỗi giận hờn của bọn quý tộc phong kiến và phủ lênchủ nghĩa khổ hạnh một lớp sơn xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản tuy phân tích sâu những mâu thuẫn của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa,
nhưng nó có tính chất không tưởng và có tính chất phản động Tính chất phản động tiêu biểu của nó làmuốn đem nền sản xuất đại công nghiệp đặt vào trong chiếc áo chật hẹp của chủ nghĩa phường hội, và vềsau trào lưu này chỉ còn là những lời oán thán hèn nhát
Chủ nghĩa xã hội chân chính Đức chỉ là sự cưỡng hôn giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa Pháp với
Triết học Đức Nó là loại văn học bẩn thỉu và khó chịu Một mặt nó là thứ ngáo ộp mà giai cấp tiểu tư sảnhằng mơ ước để dọa lại giai cấp tư sản Mặt khác nó là thứ vũ khí trong tay chính phủ chuyên chế Đức đểchống lại giai cấp tư sản non trẻ và đem “cái lối giả nhân giả nghĩa đường mật của nó bổ sung cho roi vọtvà súng đạn mà những chính phủ ấy đã dùng để trấn áp những cuộc khởi nghĩa của công nhân Đức”21
- Hai ông phân tích và phê phán chủ nghĩa xã hội bảo thủ (chủ nghĩa xã hội tư sản) Hai ông coi tưtưởng xã hội chủ nghĩa của giai cấp tư sản là bảo thủ, bởi lẽ nó muốn duy trì chủ nghĩa tư bản chứ khôngkéo lùi lịch sử như các trào lưu xã hội chủ nghĩa khác Loại chủ nghĩa xã hội này do đủ loại các nhà cảilương ngồi xó buồng nặn ra nhằm chữa bệnh cho xã hội tư bản, hy vọng tẩy trừ được những yếu tố làm cho
xã hội tư bản tan rã Nội dung chủ nghĩa xã hội bảo thủ có thể tóm lại là “sở dĩ những người tư sản lànhững người tư sản, đó là vì lợi ích của giai cấp công nhân”22 Có nghĩa chúng thừa nhận sự tồn tại của giaicấp tư sản là vì lợi ích của giai cấp vô sản
- Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX theođánh giá của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” thì:
+ Họ đả kích mạnh mẽ xã hội đương thời và vẽ lên bức tranh toàn cảnh về một xã hội tương lai hợpvới nguyện vọng bản năng đầu tiên của giai cấp vô sản, góp phần thức tỉnh cuộc đấu tranh của giai cấp vôsản
+ Họ nêu lên những đề nghị tích cực, những dự kiến rất có giá trị về một xã hội tương lai, trong đó
có những luận điểm mà sau này hai ông kế thừa, phát triển thành những luận điểm của chủ nghĩa cộng sảnkhoa học
20 S dd trang 83.
21 S dd trang 89, 90.
22 S dd trang 93.
Trang 23+ Tuy nhiên những biện pháp thực hiện lại không mang tính cách mạng Họ chỉ bằng những hànhđộng gương mẫu, những cuộc thí nghiệm nhỏ, những lời kêu gọi lòng từ thiện của những người giàu có
+ Những hạn chế này của họ là do những điều kiện vật chất cần thiết cho sự giải phóng của giai cấp
vô sản chưa đầy đủ và những người đại biểu cho cho trào lưu tư tưởng này chưa thấy được sứ mệnh lịch sửcủa giai cấp vô sản Chính vậy, họ đã đi tìm một khoa học xã hội ở ngoài xã hội, lấy tài ba cá nhân thay thếcho hoạt động xã hội, lấy những điều tưởng tượng chủ quan thay thế cho những điều kiện lịch sử cụ thể,đem một xã hội hoàn thiện, hoàn mỹ hư cấu từ trong tư duy chụp lên xã hội hiện tại Những đề nghị, nhữngbiện pháp của họ dù vĩ đại cũng chỉ là ước mơ
+ Khi phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản mới bắt đầu thì họ là những nhà cách mạng xét vềnhiều phương diện Nhưng khi phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản trở nên quyếtliệt thì các môn đồ của họ trở thành những kẻ thông thái rởm một cách có hệ thống, những kẻ bảo thủ vàphản động Chẳng hạn tông phái Rô-bet Ô-oen chống lại phong trào Hiến Chương ở Anh, tông phái Sác-lơPhu-ri-ê chống lại phái Cải cách ở Pháp
6 Chương 4: Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập.
Trong chương này hai ông khẳng định lập trường kiên định của Đảng Cộng sản về những vấn đềchiến lược và sách lược mềm dẻo của Đảng đối với các Đảng Xã hội-Dân chủ Tư sản hoặc Tiểu tư sảnđang đối lập với các thế lực phản động cầm quyền ở các nước Pháp, Thuỵ Sỹ, Đức, Ba Lan lúc bấy giờ
Ở đây đã thể hiện tư tưởng cách mạng không ngừng, có ý nghĩa chỉ đạo chiến lược đối với phong trào cộngsản và công nhân quốc tế và là kim chỉ nam soi sáng con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước cótrình độ chậm phát triển về kinh tế:
- “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định: Những người cộng sản chiến đấu cho những mụcđích và những lợi ích trước mắt của giai cấp vô sản, nhưng đồng thời trong phong trào hiện tại họ cũng bảovệ và đại biểu cho tương lai của phong trào
- Trong khi liên hợp với các Đảng phái để chống lại thế lực phản động đang thống trị những ngườicộng sản vẫn giành cho mình quyền phê phán những lời nói suông, những ảo tưởng và “không giờ phút nàoĐảng Cộng sản lại quên gây cho công nhân một ý thức sáng suốt và rõ ràng về sự đối kháng kịch liệt giữagiai cấp tư sản và giai cấp vô sản”23, để sau khi thanh toán xong các thế lực phản động thống trị là có thểtiến hành ngay cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản
- Mục đích của những người cộng sản chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật
tự xã hội hiện có Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản không mất gì hết ngoài những xiềng xíchtrói buộc họ Trong cuộc cách mạng ấy họ giành được cả một thế giới về mình
IV KẾT LUẬN
“VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC ĐOÀN KẾT LẠI” Kết luận đầy niềm tin và khẩu hiệu chiến đấuđầy sức mạnh của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” luôn vang lên như hồi kèn xung trận của giai cấp vôsản trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh đánh đổ chủ nghĩa tư bản vì thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản
Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là tác phẩm đầu tiên trong số các tác phẩm kinh điểncủa chủ nghĩa Mác-Lênin mà sinh viên cần phải được nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và sâu sắc theoquyết định số 472-QĐ ngày 20 tháng 05 năm 1985 của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (Nay là Bộ
GD và ĐT)
Ngày 18 tháng 03 năm 1848 tác phẩm này đã được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng, cho đến nay trênthế giới nó đã được tái bản trên 150 lần Từ những năm 1929 - 1930 nó đã được các chiến sỹ cộng sản ViệtNam chuyền tay nhau nghiên cứu, kể cả trong hoàn cảnh bị Pháp giam cầm, và đến nay nó đã được tái bản
ở Việt Nam lần thứ 15 Tư tưởng chủ đạo và những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học của
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” luôn là bó đuốc soi đường, là kim chỉ nam hành động, bảo đảm cho sự
23 S dd trang 100.
Trang 24nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, việc nghiên cứu và nắm vữngnhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” có ý nghĩa thiếtthực, quan trọng, góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học, trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trìnhđộ tự giác chấp hành các đường lối chính sách của Đảng
Khi nghiên cứu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cần nắm vững hoàn cảnh ra đời, những tư tưởng
cơ bản, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bàytrong tuyên ngôn để soi đường cho nhận thức khoa học và phương pháp tư duy của mình Không thần bíhoá nó, không coi những nguyên lý đó là những tín điều bất di bất dịch rồi mang khuôn mẫu đó chụp lênhiện tại bất chấp mọi sự đổi thay của hoàn cảnh lịch sử Mặt khác từ những tư tưởng cơ bản và nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản khoa học trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” mà xem xét sựvận động của nó ở Việt Nam và trên thế giới Trên cơ sở đó hiểu rõ hơn giá trị chỉ đạo của “Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản”, khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của cách mạng Việt Nam trong Luận cương củaĐảng năm 1930 và các Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nâng cao trình độ tự giác chấphành các đường lối, chính sách của Đảng
Câu hỏi ôn tập:
1- Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”?
2- Những nội dung cơ bản của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”?
3- Những nội dung cơ bản của chương “Tư sản và Vô sản” của tác phẩm “Tuyên ngôn củaĐảng Cộng sản”?
4- Những nội dung cơ bản của chương “Những người vô sản và những người cộng sản” của tácphẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”?
5- Nêu và phân tích những nội dung cơ bản và ý nghĩa của chương “Văn học xã hội chủ nghĩavà cộng sản chủ nghĩa” của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”?
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “LUDWIG FEUER BACH - SỰ CÁO CHUNG CỦA TRIẾT
HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC” CỦA F.ENGHEN
I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.
- Tác phẩm “Ludwig Feuerbach - sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” đã được F.Enghen viếtvào năm 1886, nhân việc ban biên tập tạp chí “Neue Zeit” đề nghị ông viết bài phê bình cuốn sách củaStarcke nói về Ludwig Feuerbach Nhưng trong tác phẩm này F.Enghen không tập trung phê phán cuốnsách của Starcke, mà trình bày một cách khái quát, có hệ thống quan hệ của Ông và C.Mac với các triếtthuyết của Heghen và Ludwig Feuerbach, vạch ra bước chuyển biến cách mạng trong lĩnh vực triết học doC.Mac và F.Enghen thực hiện
- Tác phẩm này là một cần thiết, do lúc này ở Đức, triết học cổ điển đang sống lại dưới nhiều hìnhthức khác nhau
- Đây là tác phẩm quan trọng nhất trong kho tàng lý luận triết học Mác-Lênin Nó trình bày mộtcách có hệ thống những quan điểm cơ bản của triết học Mác Theo Lênin, đây là một trong những cuốnsách gối đầu giường của công nhân giác ngộ
Trang 25- Lời tựa 1888 từ trang 357 đến 359.
- Phần I từ trang 360 đến 372
- Phần II từ trang 372 đến trang 386
- Phần III từ trang 386 đến trang 397
- Phần IV từ trang 397 đến trang 422
III. Những nội dung cơ bản của tác phẩm.
1- Lời tựa viết năm 1888.
F.Enghen nêu ra sự cần thiết phải viết tác phẩm “Ludwig Feuerbach sự cáo chung của triết học cổđiển Đức”, trình bày một cách vắn tắt có hệ thống quan hệ của C.Mac và F.Enghen với triết học củaHeghen (xuất phát và đoạn tuyệt với nó như thế nào?) và triết học của Ludwig Feuerbach (ảnh hưởng lớnthứ hai sau Heghen)
F.Enghen viết: “Trong bài tựa quyển Góp phần phê phán chính trị kinh tế học xuất bản ở Béc-linh
năm 1859, Mác kể lại việc năm 1845 ở Bơ-ru-xen, hai chúng tôi quyết định như thế nào để “cùng nhau xâydựng quan điểm của hai chúng tôi” (tức là quan niệm duy vật lịch sử, chủ yếu do Mác nêu lên) “đối lập vớiquan điểm tư tưởng của triết học Đức; thực ra làm như thế là để thanh toán nhận thức triết học của chúngtôi trước kia Ý định đó đã được thực hiện dưới hình thức phê phán nền triết học sau Hêghen Bản thảogồm hai quyển dày theo khổ giấy gấp làm 8, đã nằm trong tay nhà xuất bản ở Ve-spha-li từ lâu, nhưng lúc
đó người ta lại báo cho chúng tôi biết rằng tình hình đã thay đổi nên không thể in được Chúng tôi càng sẵnsàng để bản thảo đó cho chuột phê phán bằng cách gậm nhấm, nhất là vì chúng tôi đã đạt được mục đíchchủ yếu tức là đã giải thích được rõ vấn đề cho bản thân mình”
Từ đó đến nay, đã hơn bốn mươi năm hiện nay Mác đã qua đời, Mác cũng như tôi, không lần nào
có dịp trở lại vấn đề đó nữa Về thái độ của chúng tôi đối với Hêghen, chúng tôi đã phát biểu nhiều lần,nhưng không chỗ nào chúng tôi làm được một cách đầy đủ cả Còn về Phơ Bách, người mà tuy về mặt nào
đó, là cái khâu trung gian giữa triết học Hêghen với lý luận của chúng tôi, thì chúng tôi chưa hề bao giờ trởlại nói đến cả
Trong thời gian đó, thế giới quan của Mác đã có nhiều người tán thành ở xa ngoài biên giới nướcĐức và châu Âu, và bằng tất cả các ngôn ngữ văn học trên thế giới Mặt khác ở nước ngoài, đặc biệt là ởAnh và ở các nước Scan-đi-na-vơ, nền triết học cổ điển Đức hiện nay đang sống lại bằng một cách nào đó.Và hình như ngay cả ở Đức, người ta đã bắt đầu chán món xúp chiết trung nghèo nàn mà người ta vẫn đemcung cấp trong các trường đại học dưới nhãn hiệu triết học
Do hoàn cảnh đó, tôi càng thấy là đã đến lúc cần phải trình bày vắn tắt và có hệ thống thái độ củachúng tôi đối với triết học của Hêghen, tức là trình bày việc chúng tôi đã xuất phát từ triết học của Hêghennhư thế nào và chúng tôi đã đoạn tuyệt với nó ra làm sao Và chúng tôi cũng cần phải thừa nhận đầy đủrằng trong thời kỳ đầy bão tố của chúng tôi, Phơ-bách đã ảnh hưởng đến chúng tôi nhiều hơn bất cứ mộtnhà triết học nào khác sau Hêghen; đó là món nợ danh dự mà chúng tôi vẫn chưa trả được Bởi thế, tôi vuilòng nhận lời của ban biên tập tạp chí “Neue Zeit” (Thời Mới) viết bài phê bình cuốn sách của Stác-cơ nói
về Phơ-bách Bài của tôi viết, đăng trong các số 4 và 5 của tờ tạp chí nói trên, ra năm 1886, nay xuất bảnthành sách sau khi đã được tôi xem lại.”24
Theo F.Enghen thì tác phẩm in tháng 2 năm 1888 là bản đính chính bổ sung bản thảo đã đăng báonăm 1886 Đây là sự kế thừa và phát triển bản thảo 1845 - 1846 và bút ký của C.Mác về 11 luận cương củaLudwig Feuerbach (Xem phần phụ lục của tác phẩm trang 81 đến 85 hoặc trong Tuyển tập C.Mac vàF.Enghen - Tập I - Trang 252-258)
24 Ăng-ghen - Lut vích Phơ bách sự cáo chung của triết học cổ điển Đức -Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1969 - Trang 5,6,7.
Trang 262- Phần I.
Trong phần này F.Enghen đã đánh giá những cống hiến của Heghen về sự phát triển triết học đồngthời chỉ ra những mâu thuẫn trong triết học Heghen và vai trò của chủ nghĩa duy vật của LudwigFeuerbach
- Tính cách mạng của triết học Heghen là: Nó giáng một đòn chí mạng vào quan niệm về đích cuốicùng tuyệt đối của tư tưởng và hoạt động của con người Theo Heghen, chân lý mà triết học có nhiệm vụphải nhận thức giờ đây không còn là tập hợp những nguyên lý giáo điều có sẵn để con người học thuộclòng khi tìm ra được Từ Heghen, chân lý là chân lý nằm trong quá trình nhận thức, trong sự phát triển lịch
sử lâu dài của khoa học đang tiến từ trình độ hiểu biết thấp lên trình độ hiểu biết cao hơn, nhưng không baogiờ không còn cái gì để làm
Điều này không chỉ xảy ra trong nhận thức mà còn xảy ra trong mọi lĩnh vực Trong lịch sử cũngkhông bao giờ đạt đến trạng thái tận cùng hoàn thiện hoàn toàn lý tưởng của loài người Mỗi giai đoạn lịch
sử đều là tất yếu, và do đó là chính đáng trong thời đại và trong những điều kiện đã sản sinh ra nó, songtrong những điều kiện mới đang phát triển cao hơn nó sẽ trở nên không có giá trị và không chính đáng Vớiphương pháp biện chứng không có cái gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả Nó chỉ ra tính quá độcủa mọi sự vật và trong mọi sự vật đối với nó Không có cái gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sựhình thành và của sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao mà bản thân nó cũng chỉ là sựphản ánh đơn thuần quá trình đó vào trong bộ óc đang tư duy
F.Enghen viết: “Nhưng ý nghĩa chân thực, và tính chất cách mạng của triết học Hêghen (ở đâychúng ta phải giới hạn trong việc khảo sát triết học Hêghen coi như là sự kết thúc của sự phát triển triếthọc từ Can tơ tới nay), chính là ở chỗ nó đã vĩnh viễn chấm dứt mọi quan niệm về tính chất cuối cùng củanhững kết quả của những tư tưởng và hành động của con người Theo Hêghen, chân lý mà triết học phảinhận thức, không còn là sự gom góp những nguyên lý giáo điều đã có sẵn, những nguyên lý mà người tachỉ có việc học thuộc lòng, một khi đã tìm ra nó; từ nay chân lý nằm trong bản thân quá trình nhận thức,trong sự phát triển lịch sử lâu dài của khoa học đang tiến từ trình độ hiểu biết thấp lên trình độ hiểu biết caohơn, song không bao giờ lại đi đến chỗ do tìm ra được cái gọi là chân lý tuyệt đối nên khoa học không còn
có thể tiến xa hơn được nữa, không còn gì mà làm nữa ngoài việc khoanh tay đứng ngắm một cách kinhngạc cái chân lý tuyệt đối đã tìm ra được Điều đó xảy ra trong nhận thức triết học cũng như trong mọinhận thức khác và cả trong lĩnh vực hoạt động thực tiễn nữa Không hơn gì nhận thức, lịch sử cũng khôngbao giờ có thể đạt tới một sự hoàn thành cuối cùng trong một trạng thái lý tưởng toàn thiện toàn mỹ củaloài người; một xã hội toàn thiện toàn mỹ, một nhà nước toàn thiện toàn mỹ, đó là những cái có thể tồn tạitrong sự tưởng tượng mà thôi; trái lại, tất cả những chế độ xã hội nối tiếp nhau trong lịch sử chỉ là nhữnggiai đoạn tạm thời trong sự phát triển vô cùng tận của xã hội loài người đi từ thấp lên cao Mỗi giai đoạnđều là tất yếu, và do đó có lý do tồn tại trong thời đại và trong những điều kiện mà nó ra đời; song trướcnhững điều kiện mới, cao hơn, những điều kiện đang dần dần phát triển ở ngay trong lòng của nó, nó sẽ trởnên không vững chắc và mất hết lý do tồn tại của nó; nó buộc phải nhường chỗ cho giai đoạn cao hơn, giaiđoạn này đến lượt nó cũng sẽ đi đến chỗ suy tàn và diệt vong.”25
- Tính hạn chế của triết học Heghen là một hệ thống triết học duy tâm bảo thủ, giáo điều Hệ thống
đó mâu thuẫn gay gắt với phép biện chứng Theo Heghen, ý niệm tuyệt đối tự tha hóa thành tự nhiên, sau
đó lại trở về với bản thân nó trong tinh thần - tức trong tư duy và lịch sử Đỉnh cao của phát triển là nhânloại nhận thức được ý niệm tuyệt đối ấy Đỉnh cao ấy đã đạt được trong triết học của Heghen Tức triết họccủa Heghen đều là những chân lý tuyệt đối Theo Heghen sự phát triển xã hội đạt đến điểm tận cùng trongchính thể quân chủ đại nghị dựa trên những đẳng cấp xã hội
Những kết luận đó của Heghen đã làm cho hệ thống triết học của ông hoàn toàn mâu thuẫn vớiphương pháp biện chứng của chính ông Triết học của ông, mặt cách mạng của học thuyết Hêghen đã bị đèbẹp bởi sự trưởng thành quá khổ của mặt bảo thủ của nó Theo F.Enghen thì hạn chế đó của Hêghen là do
25 S đ d trang 12, 13.
Trang 27Hêghen chưa thoát khỏi cái đuôi phi-li-xtanh (con người tầm thường, dung tục), Hêghen là một Giuy-pi-te(người tài giỏi phi thường ví như tượng thần Giuy-pi-te ở Ô-lanh-pơ - một trong bảy kỳ quan của thế giới)nhưng không bao giờ trút bỏ được tính chất phi-li-stanh Có nghĩa là không thể bắt Hêghen làm cái điều màđương thời Hêghen chưa đặt ra
F.Enghen viết: “Dù cho Hêghen đã nhấn mạnh, nhất là trong cuốn Lôgic học của ông rằng chân lývĩnh viễn chẳng qua chỉ là bản thân quá trình lôgic, và do đó, là bản thân quá trình lịch sử, nhưng Hêghenlại buộc phải gán cho quá trình ấy một điểm tận cùng, chính là vì ông ta phải kết thúc hệ thống của ôngbằng một cái gì Trong quyển Lôgic học, ông ta lại có thể làm cho điểm tận cùng đó thành một điểm bắtđầu vì ở đây, cái điểm tận cùng tức là ý niệm tuyệt đối - ý niệm đó sở dĩ tuyệt đối, chỉ là vì ông ta tuyệt đốikhông biết nói gì về nó cả, - “tự tha hoá đi” (tức là chuyển hoá) thành tự nhiên, và về sau trở lại về với bảnthân nó trong tinh thần, tức là trong tư duy và trong lịch sử Nhưng ở điểm tận cùng toàn bộ triết học, muốn
quay trở lại điểm bắt đầu như thế thì chỉ có một biện pháp duy nhất: tức là phải giả định rằng điểm tận cùng
của lịch sử là ở chỗ: Nhân loại đã đạt tới chính sự nhận thức ý niệm tuyệt đối ấy và tuyên bố rằng sự nhậnthức ấy về ý niệm tuyệt đối đã đạt được trong triết học của Hêghen Song như thế có nghĩa là tuyên bố rằngtoàn bộ nội dung giáo điều của hệ thống Hêghen đều là chân lý tuyệt đối và như thế là trái với phương phápbiện chứng của ông ta, phương pháp đả phá mọi cái gì có tính chất giáo điều Như thế có nghĩa là bópnghẹt mặt cách mạng của học thuyết Hêghen dưới sực nặng bảo thủ đang phát triển quá mức, - và khôngnhững trong lĩnh vực nhận thức triết học mà cả trong thực tiễn lịch sử nữa”.26
- F.Enghen cũng chỉ ra chính mâu thuẫn đó đã dẫn đến sự phân liệt trong học phái Heghen, nhất làkhi tôn giáo và chính trị trở nên vấn đề có ý nghĩa thực tiễn Ai coi trọng hệ thống triết học của Heghen, họlà bảo thủ cả về tôn giáo và chính trị (phái Heghen già, phái hữu) Ai coi trọng phương pháp của Heghen,thì về tôn giáo và chính trị, họ được coi là phái đối lập cực đoan (phái Heghen trẻ, phái tả) Chính sự phânliệt này đã dẫn đến sự tan rã của học phái Hêghen
F.Enghen viết: “Như chúng ta thấy, xét toàn bộ, học thuyết của Hêghen đã để lại một khoảng rấtrộng cho các quan điểm đảng phái thực tiễn hết sức khác nhau Nhưng trong sinh hoạt lý luận ở nước Đứchồi ấy, trước hết có hai việc có ý nghĩa thực tiễn: tôn giáo và chính trị Người nào bám vào hệ thống củaHêghen thì người đó có thể là khá bảo thủ trong mỗi lĩnh vực đó, còn người nào cho phương pháp biệnchứng là chủ yếu, thì người đó về chính trị cũng như tôn giáo, có thể thuộc vào phái phản đối cực đoannhất Mặc dâu thường khá nhiều những cơn giận có tính chất cách mạng trong các tác phẩm của ông, songnói chung thì bản thân Hêghen thì hình như cũng ngả về phía bảo thủ nhiều hơn So với phương pháp củaông, thì hệ thống của ông đã chẳng làm cho ông phải bắt “tư tưởng của ông làm việc gian khổ” nhiều hơn
đó sao? Đến cuối khoảng 1830 - 1840 sự phân liệt trong học phái Hêghen ngày càng trở nên rõ rệt”.27
- F.Enghen cũng chỉ ra sự tan rã của học phái Heghen tất yếu dẫn đến bước phát triển mới về triếthọc Chính thực tiễn đấu tranh chống tôn giáo mà đông đảo người của phái Heghen trẻ đã trở về với chủnghĩa duy vật Anh - Pháp và xung đột với học phái của họ
F.Enghen viết: “Chúng ta sẽ không nói chi tiết về phương diện ấy của quá trình tan rã của học pháiHêghen Đối với chúng ta, điều quan trọng hơn là điều sau đây: những yêu cầu của thực tiễn của cuộc đấutranh của họ chông tôn giáo hiện có đã kéo nhiều người kiên quyết nhất trong số đông những ngườiHêghen trẻ trở về với chủ nghĩa duy vật Anh - Pháp Và ở đây, họ đi đến chỗ xung đột với hệ thống củahọc phái họ Trong khi chủ nghĩa duy vật coi tự nhiên là cái hiện thực duy nhất, thì ở trong hệ thốngHêghen, tự nhiên chỉ là “sự tha hoá” của ý niệm tuyệt đối, có thể nói là sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối; vôluận thế nào, ở đây tư duy và sản phẩm tư tưởng của nó, tức ý niệm cũng là yếu tố có trước, còn tự nhiên làcái phát sinh, tồn tại được chỉ là do ý niệm hạ mình xuống đến mức đó Và phái Hêghen trẻ lúng túng trongcái vòng mâu thuẫn ấy”.28
26 S đ d trang 14, 15.
27 S đ d trang 19.
28 S đ d trang 21.
Trang 28- Trong bước phát triển mới của chủ nghĩa duy vật, F.Enghen đánh giá cao vai trò của LudwigFeuerbach Ông chỉ ra, trong lúc phái Heghen tan rã thì tác phẩm “Bản chất đạo Cơ Đốc” ra đời LudwigFeuerbach đã giáng một đòn phá tan ngay mâu thuẫn trên, đưa chủ nghĩa duy vật về lại ngôi vua Trong tácphẩm này, Ludwig Feuerbach đã chỉ ra tự nhiên tồn tại độc lập đối với triết học Nó là cơ sở trên đó, conngười - sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trưởng Ngoài tự nhiên và con người ra không còn gì nữa cả.Những tạo vật cao siêu do trí tưởng tượng tôn giáo tạo ra chỉ là phản ánh hư ảo của thực thể chúng ta màthôi
F.Enghen cũng chỉ ra một số thiếu sót của tác phẩm này là ở chỗ, Ludwig Feuerbach đã thần thánhhóa tình yêu một cách thái quá F.Enghen viết: “Thậm chí cả những khuyết điểm trong tác phẩm của Phơbách, hồi ấy, cũng làm tăng thêm ảnh hưởng của sách đó Lối viết văn hoa và thậm chí đôi chỗ cầu kỳ đãđảm bảo cho tập sách có được nhiều người đọc, và bất luận như thế nào, nó cũng đem lại một sự khoankhoái nhẹ nhàng sau nhiều năm thống trị của chủ nghĩa Hêghen trừu tượng và tối tăm Người ta cũng có thểnói như vậy về sự thần thánh hoá tình yêu một cách thái qua Có thể tha thứ cho sự thần thánh hoá này -mặc dầu không thể biện hộ cho nó - coi như đó là một sự phản ứng chống lại sự chuyên chế của “tư duythuần tuý” đã trở thành hoàn toàn không thể dung nạp được nữa Song chúng ta không nên quên rằng “chủnghĩa xã hội chân chính” đã bám lấy cả hai nhược điểm đó của Phơ bách, chủ nghĩa xã hội này đã lantruyền, như một bệnh dịch, từ năm 1844, trong “giới có học thức” ở Đức nó dùng những câu nói văn hoathay thế cho sự nghiên cứu khoa học, dùng sự giải phóng loài người bằng “tình yêu” thay thế cho sự giảiphóng giai cấp vô sản bằng con đường cải tạo nền sản xuất về mặt kinh tế - Tóm lại nó đã chìm đắm trongnhững lời văn khả ố và những lời nói suông sặc mùi tình cảm Các Gơ-ruyn là đại biểu điển hình nhất chokhuynh hướng đó.”29
Phần này F.Enghen tập trung nói về vấn đề cơ bản của triết học và những hạn chế của triết học duyvật thế kỷ XVIII và của triết học của Ludwig Feuerbach
- Trong tác phẩm này, lần đầu tiên F.Enghen nêu ra vấn đề cơ bản của triết học Ông nói: “Vấn đề
cơ bản lớn nhất của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”30,giữa tinh thần với tự nhiên
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt Mặt thứ nhất là xem xét giữa tinh thần và tự nhiên cái nào
có trước cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Tuỳ thuộc câu trả lời của các nhà triết học đối với mặtthứ nhất mà triết học đã chia thành hai trào lưu cơ bản duy vật và duy tâm Mặt thứ hai là giải quyết vềnhận thức luận, các nhà triết học tranh luận với nhau về việc con người có khả năng nhận thức thế giớikhông? Theo ngôn ngữ triết học nó được gọi là tính đồng nhất giữa tư duy và tồn tại Ở mặt này triết họccũng đã chia thành hai trào lưu chính là khả tri và bất khả tri
- Ở mặt này Heghen là khả tri nhưng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm Trong số các nhà triếthọc bất khả tri hiện đại (hoặc chí ít thừa nhận con người không thể nhận thức một cách đầy đủ về thế giới)phải kể đến Hume và Kant F.Enghen khẳng định rằng sự bác bỏ đanh thép các triết học ấy, cũng như cáctriết học khác là thực tiễn - thực nghiệm và công nghiệp “Nếu chúng ta có thể chứng minh được rằng quanniệm của chúng ta về một hiện tượng nào đó của tự nhiên là chính xác, bằng cách tự chúng ta chế taọ rahiện tượng ấy, bằng cách sản sinh ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa còn bắt nó phải phục vụmục đích của chúng ta, thì sẽ không còn nữa cái “vật tự nó” không thể nắm được của Can-tơ Những chấthóa học được tạo ra trong các cơ thể thực vật và động vật vẫn còn là những “vật tự nó” mãi cho đến khikhoa học hoá học hữu cơ bắt đầu chế tạo ra các chất ấy hết thứ này đến thứ khác, do đó mà “vật tự nó” trởthành vật cho ta, tỷ như chất nhuộm của cây thiên thảo là chất a-li-da-rin, hiện nay chúng ta không còn lấy
29 S đ d trang 22.
30 S đ d trang 23.
Trang 29ở rễ cây thiên thảo trồng ngoài ruộng đồng nữa, mà lấy một cách giản đơn hơn và rẻ tiền hơn từ trong chấthắc-ín của than đá ”31
- Trong khi chỉ ra sự nhầm lẫn của Ludwig Feuerbach về chủ nghĩa duy vật với các hình thức cụ thểcủa nó, F.Enghen đã chỉ ra chủ nghĩa duy vật đã trải qua một loạt giai đoạn phát triển Mỗi lần có một phátminh vượt thời đại thì chủ nghĩa duy vật lại phải thay đổi hình thức của nó “Nhưng cũng giống như chủnghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật đã trãi qua một loạt những giai đoạn phát triển Mỗi lần có một phát minhvạch thời đại ngay cả trong khoa học tự nhiên, thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi phải thay đổi hìnhthức của nó Và từ khi cả đến lịch sử cũng được giải thích theo quan điểm duy vật chủ nghĩa thì ở đây cũng
mở ra một con đường mới cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật.”32
- Theo F.Enghen chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII có những hạn chế sau:
+ Ở thế kỷ XVIII, vì chỉ có vật lý cơ học của Niutơn là phát triển nhất, nên tính chất của chủnghĩa duy vật giai đoạn này chủ yếu là tính chất máy móc Các nhà triết học giải thích các quá trình tựnhiên cũng như xã hội đều theo những quy luật của cơ học Điều này sau này triết học tư sản hiện đại chỉ ra
họ đều là duy lý, cứng nhắc không linh hoạt, không hiện sinh “Đối với con mắt các nhà duy vật hồi thế kỷXVIII, thì người là một bộ máy, cũng như Đề-các-tơ đã cho động vật là một cái máy Việc chuyên đem ápdụng thước đo của cơ học vào các quá trình có tính chất hoá học và hữu cơ - trong lĩnh vực các quá trình
đó, những quy luật cơ giới tuy vẫn còn tác dụng, nhưng là thứ yếu bên cạnh các quy luật khác, cao hơn tạo ra tính hạn chế đặc hữu đầu tiên, nhưng hồi đó không thể tránh khỏi được của chủ nghĩa duy vật cổ điểnPháp.”33
-+ Tương ứng với trình độ phát triển của khoa học tự nhiên giai đoạn này và phù hợp vớiphương pháp siêu hình luôn quan niệm vận động diễn ra theo vòng tròn, lắp lại chứ không có phát triển đilên là lý luận của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII Tức là chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII xuất phát từ chỗkhông hiểu thế giới là một quá trình, không hiểu vật chất ở trong quá trình phát triển lịch sử mà chỉ quanniệm vận động của thế giới diễn ra theo vòng tròn, lắp lại chứ không phát triển tiến lên “Tính hạn chế đặchữu thư hai của chủ nghĩa duy vật ấy là ở chỗ không thể hiểu được thế giới là một quá trình, là vật chất ởtrong quá trình phát triển lịch sử không ngừng Điều đó phù hợp với trạng thái của khoa học tự nhiên hồi
đó, và phù hợp với phương pháp tư duy triết học siêu hình, nghĩa là phản biện chứng, có liên quan vớitrạng thái ấy Hồi ấy người ta cũng đã biết rằng tự nhiên ở vào một trạng thái vận động vĩnh viễn Songtheo quan niệm hồi ấy, thì vận động đó lại vĩnh viễn chạy quanh trong cùng một vòng tròn và như thế làbao giờ cũng đứng ở một chỗ, sự vận động đó bao giờ cũng dẫn tới những kết quả như nhau.”34
- Đánh giá cao lập trường duy vật của Ludwig Feuerbach ở chỗ, ông ta thừa nhận “ý niệm tuyệtđối” của Heghen không phải là cái gì khác mà chỉ là tàn dư hư ảo của lòng tin vào một người sáng tạo siêuphàm; Rằng thế giới vật chất chúng ta cảm thấy được bằng giác quan - thế giới mà con người cũng phụthuộc vào đó - là hiện thực duy nhất; Ý thức cũng như tư duy chỉ là sản phẩm của một khí quan vật chấtnhục thể là bộ óc người; Vật chất không là sản phẩm của tinh thần mà chính tinh thần mới là sản phẩm tốicao của vật chất Nhưng đồng thời F.Enghen cũng chỉ ra những hạn chế trong triết học Ludwig Feuerbach:
+ Thời Ludwig Feuerbach đã có ba phát hiện vĩ đại: Học thuyết về tế bào; Học thuyếtchuyển hoá năng lượng và Học thuyết tiến hoá mang tên Darwin, nhưng do sống ở nông thôn nên triết họcLudwig Feuerbach vẫn siêu hình máy móc, vẫn không trút bỏ được tính chất phiến diện của chủ nghĩa duyvật Pháp “Đành rằng Ludwig Feuerbach sống trong thời kỳ có ba phát hiện quan trọng nhất: phát hiện vềtế bào, chuyển hoá năng lượng và tiến hoá luận mang tên Đac-uyn Song sống cô quạnh ở thôn quê, thì nhàtriết học làm thế nào có thể theo dõi những tiến bộ của khoa học một cách đầy đủ để có thể đánh giá đúngnhững phát hiện mà ngay cả bản thân những nhà khoa học tự nhiên lúc đó cũng một phần còn đang tranh
31 S đ d trang 27.
32 S đ d trang 30, 31.
33 S đ d trang 31.
34 S đ d trang 32 -33.
Trang 30cãi, một phần chưa biết lợi dụng một cách thích đáng? Lỗi chỉ tại trật tự thảm hại ở Đức hồi đó, do trật tựnày mà ghế giáo sư triết học đều do bọn lý sự cùn theo chủ nghĩa chiết trung chiếm đoạt mất cả, cònLudwig Feuerbach là người vượt tất cả những bọn đó cả một trời một vực thì buộc phải nông dân hoá vàsống luẩn quẩn trong một xóm làng nhỏ Nếu quan niệm lịch sử về tự nhiên, từ nay, đã trở thành có thể cóđược và đã trừ bỏ được tất cả gì là phiến diện trong chủ nghĩa duy vật Pháp, nhưng Ludwig Feuerbach vẫnkhông hấp thụ được, thì như thế không phải là lỗi tại Ludwig Feuerbach.”35
+ F.Enghen cho rằng, do sống cô độc ở nông thôn Ludwig Feuerbach đã nặn ra các tư tưởngtừ cái đầu cô đơn của mình bị ràng buộc bởi sợi dây duy tâm cổ truyền “Tôi hoàn toàn nhất trí với các nhàduy vật chủ nghĩa, khi đi lùi lại sau, nhưng khi tiến lên trước, thì tôi không nhất trí với họ nữa” Chính đây,trong lĩnh vực xã hội bản thân Ludwig Feuerbach đã không tiến lên được và không vượt qua được quanđiểm của chính mình hồi năm 1840 hay 1841 Triết học của Ludwig Feuerbach cực kỳ duy tâm trong lĩnhvực xã hội, mặc dù ông ta hoàn toàn đúng khi cho rằng: “chủ nghĩa duy vật của chỉ riêng khoa học tự nhiênmới là “cơ sở của toà kiến trúc tri thức nhân loại, nhưng chưa phải là bản thân toà kiến trúc đó”36 Điều nàytheo F.Enghen thì lỗi cũng do cuộc đời cô lập của ông mà ra Do cuộc đời cô lập này mà LudwigFeuerbach xét về tính tình là một người cần có sự giao thiệp xã hội hơn bất cứ nhà triết học nào khác, buộcphải sáng tạo ra những tư tưởng của mình trong cảnh sống hoàn toàn cô tịch, chứ không phải trong sự cộngtác hoặc trong sự đấu tranh với những người ngang tài ngang sức với ông
Trong phần này F.Enghen vạch ra những biểu hiện duy tâm của Ludwig Feuerbach khi xem xét cáchiện tượng xã hội F.Enghen viết: “Khi chúng ta nghiên cứu tới triết học tôn giáo và luân lý học củaLudwig Feuerbach, thì chúng ta mới thấy rõ ràng chủ nghĩa duy tâm thực sự của ông ta.”
- F.Enghen chỉ ra Ludwig Feuerbach hoàn toàn không muốn xoá bỏ tôn giáo mà muốn hoàn thiệntôn giáo
Ở Ludwig Feuerbach, tôn giáo là mối liên hệ thương yêu giữa người với ngưòi Mối quan hệ này,cho đến nay vẫn đi tìm chân lý của nó trong sự phản ánh huyền ảo của hiện thực (ở sự trung gian của mộtông thần hay nhiều ông thần, tức là những hình ảnh huyền ảo của các thuộc tính của con người), nhưng nay
đã tìm được chân lý ấy một cách trực tiếp không cần trung gian - đó là tình yêu giữa tôi và anh Chính thế,trong triết học Ludwig Feuerbach thì cuối cùng tình yêu nam nữ là một trong những hình thức cao nhất củaviệc thực hành tôn giáo mới của ông
Ở đây tính duy tâm trong triết học Ludwig Feuerbach là ở chỗ, ông ta xét các quan hệ tình cảm giữangười với người như tình yêu nam nữ, tình bạn v.v không như nó vốn có, mà cho rằng những quan hệ ấychỉ có giá trị đầy đủ khi người ta đem lại cho chúng sự tôn phong tối cao bằng cái tên là tôn giáo Tức ởLudwig Feuerbach chủ yếu không phải là quan hệ giữa người với người tồn tại, mà những quan hệ ấy phảiđược coi là một thứ tôn giáo mới chân chính Ông ta đã lẫn lộn thuật ngữ tôn giáo theo nghĩa đang dùngvới ý nghĩa gốc của nó, ông ta muốn xây dựng một tôn giáo chân chính trên cơ sở những quan điểm duyvật chủ nghĩa về tự nhiên - Tuyệt đối hoá và đề cao vai trò của tự nhiên (Điều này là không thể làm được).F.Enghen viết: “Chủ nghĩa duy tâm của Ludwig Feuerbach là ở chỗ ông ta không xem xét các quan hệ dựatrên cảm tình đối với nhau giữa người và người như tình yêu, tình bạn, lòng thương xót, lòng hy sinh v.vchỉ dơn giản theo cái nghĩa vốn có của chúng không liên quan đến ký ức về một tôn giáo đặc biệt nào màchính Ludwig Feuerbach cũng cho là đã thuộc về dĩ vãng Trái lại Ludwig Feuerbach cho rằng những quanhệ ấy chỉ có giá trị đầy đủ, khi nào người ta thần thánh hoá nó bằng danh từ “tôn giáo” Đối với ông ta,điều chủ yếu không phải ở chỗ những quan hệ thuần tuý giữa người với người tồn tại, mà là ở chỗ nhữngquan hệ ấy phải được coi là một thứ tôn giáo mới, chân thật Ông đồng ý thừa nhận quan hệ ấy có giá trịđầy đủ khi nào người ta đóng vào đó một cái con dấu tôn giáo.”37
35 S đ d trang 34.
36 S đ d trang 34, 35.
37 S đ d trang 40.
Trang 31- Chủ nghĩa duy tâm của Ludwig Feuerbach cũng lộ rõ khi ông ta khẳng định “các thời đại của loàingười chỉ khác nhau bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo” Đây là một khẳng định hoàn toàn sailầm của Ludwig Feuerbach
Theo F.Enghen, thật ra chỉ có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo những sự thayđổi về tôn giáo khi nói đến ba tôn giáo lớn của thế giới là Phật giáo, Công giáo và Hồi giáo đã tồn tại chođến ngày nay Không thể giải thích những bước ngoặt lịch sử bằng trái tim con người và nhu cầu tôn giáocủa con người như Ludwig Feuerbach tưởng, mà phải giải thích lịch sử bằng chính sự vận động và pháttriển bên trong của lịch sử Sự phát triển và những bước ngoặt của lịch sử bị quyết định bởi sự phát triểncủa lực lượng sản xuất và nó quyết định sự giải thích trái tim và nhu cầu tôn giáo của con người
F.Enghen viết: “Việc Ludwig Feuerbach quả quyết rằng “các thời kỳ của loài người chỉ khác nhau ởchỗ thay đổivề phương diện tôn giáo” là một điều quả quyết hoàn toàn không đúng Những bước ngoặt lịch
sử lớn có kèm theo những sự thay đổi về phương diện tôn giáo, chỉ trong chừng mực người ta nói đến batôn giáo lớn trên thế giới đã tồn tại cho đến ngày nay: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Hồi Những tôn giáo
cũ phát sinh ra một cách tự phát trong các bộ lạc và dân tộc xưa kia, không hề có tính chất tuyên truyền vàmất hết sức đề kháng một khi nền độc lập của các bộ lạc và các dân tộc đó bị phá bỏ Chỉ có đối với cáctôn giáo thế giới ấy, xuất hiện một cách ít nhiều giả tạo, và nhất là đạo Thiên Chúa và đạo Hồi, thì chúng tamới có thể nói rằng những cuộc vận động lịch sử rộng lớn có mang màu sắc tôn giáo.”38
- F.Enghen cũng chỉ ra duy tâm của Ludwig Feuerbach trong lĩnh vực đạo đức Đạo đức học củaLudwig Feuerbach quá nghèo nàn so với đạo đức học của Heghen Trong đạo đức của Heghen về hình thứcduy tâm bao nhiêu thì nội dung lại hiện thực bấy nhiêu, còn ở Ludwig Feuerbach thì ngược lại Về hìnhthức Ludwig Feuerbach là người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm điểm xuất phát, nhưng chỉ làcon người trừu tượng - con người không gắn với thế giới trong đó họ đang sống Học thuyết đạo đức củaLudwig Feuerbach là một sự gọt giũa đạo đức cho thích hợp với mọi thời kỳ, với mọi dân tộc, với mọihoàn cảnh Chính thế, đạo đức của Ludwig Feuerbach không thể áp dụng được ở đâu cả
F.Enghen khẳng định, trong thực tế mỗi giai cấp và ngay cả trong mỗi nghề nghiệp đều có đạo đứcriêng của mình Đạo đức là phạm trù lịch sử, nó ra đời rất sớm có thể nói nó ra đời gắn liền với sự ra đờicủa con người, và nó biến đổi cùng sự biến đổi của lịch sử loài người Không có đạo đức đúng với mọi giaicấp, mọi giai đoạn phát triển của lịch sử cũng như không có đạo đức đúng với mọi người, mọi dân tộc
F.Enghen viết: “Chúng ta hãy tóm tắt lại Lý luận về đạo đức của Ludwig Feuerbach, cũng giốngnhư những lý luận trước nó Nó được đẽo gọt cho thích hợp với mọi thời gian, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnhvà chính vì thế nên nó không thể áp dụng được bất cứ ở đâu và bất cứ lục nào, và đối với thế giới hiện thực,thì nó cũng bất lực như cái mệnh lệnh tuyệt đối của Cant vậy Trong thực tế mỗi một giai cấp và ngay cảmỗi một nghề nghiệp cũng đều có một đạo đức riêng của mình, mà giai cấp đó hay nghê nghiệp đó khôngtuân theo mỗi khi thấy có thể làm mà không bị trừng phạt”39 “Song bước đi mà Ludwig Feuerbach không
đi, thì dù sao cũng phải đi qua; sự sùng bái con người trừu tượng, cái hạt nhân đó của tôn giáo mới củaLudwig Feuerbach tất nhiên phải được thay thế bằng khoa học nghiên cứu những con người hiện thực và
sự phát triển lịch sử của họ Phát triển thêm quan điểm của Ludwig Feuerbach, vượt qua giới hạn triết học
Ludwig Feuerbach, điều đó C.Mác đã bắt đầu làm năm 1845 trong tác phẩm Gia đình thần thánh.“40
Trong phần này, F.Enghen nói về bước phát triển mới về mặt triết học do C.Mac và F.Enghen thựchiện F.Enghen chỉ ra sự tan rã của học phái Heghen đã sinh ra nhiều khuynh hướng triết học khác nhau,mà triết học Ludwig Feuerbach là một khuynh hướng Là nhà triết học Ludwig Feuerbach đã dừng lại giữađường: nửa dưới là duy vật, nửa trên là duy tâm Ông ta đã phê phán không chọn lọc và gạt bỏ hoàn toàn
38 S đ d trang 41, 42.
39 S đ d trang 50.
40 S đ d trang 51.
Trang 32Heghen Chỉ có C.Mac và F.Enghen mới có thái độ khoa học thực sự đối với các thành tựu triết học trước
đó và thực hiện được một bước phát triển mới về triết học
Theo F.Enghen, “Stơ-rau-xơ, Bau-e, Stiêc-ne, Ludwig Feuerbach là những chi phái khác nhau của
triết học Hêghen, trong chừng mực họ vẫn không rời bỏ miếng đất triết học Sau khi viết tác phẩm Cuộc
đời của Giê-su và giáo lý , Stơ-rau-xơ chỉ còn chuyên viết văn chương triết học và viết lịch sử giáo hội theo
kiểu Rơ-năng; Bau-e thì chỉ làm được một cái gì đáng kể trong lĩnh vực lịch sử nguồn gốc đạo ThiênChúa; Stiêcne thì vẫn chỉ là một của lạ thôi, ngay cả sau khi Ba-cu-nin đã đem kết hợp hắn với Pơ-ru-dôngvà gọi cái kết hợp đó là “chủ nghĩa vô chính phủ”; chỉ có Ludwig Feuerbach là nhà triết học kiệt xuất.Nhưng Ludwig Feuerbach không những không thể vượt qua giới hạn của cái triết học tự học xem là khoahọc của mọi khoa học này, bay lượn trên tất cả các khoa học riêng biệt và liên hệ các khoa học ấy lại làmmột khối - đối với Ludwig Feuerbach, triết học ấy vẫn là cái bàn thờ bất khả xâm phạm - mà thậm chíLudwig Feuerbach, với tư cách là nhà triết học đã dừng lại ở nửa đường, nửa dưới thì duy vật, nhưng nửatrên thì lại duy tâm Ludwig Feuerbach không biết dùng vũ khí phê bình để khắc phục Hêghen, mà chỉ đơnthuần gạt bỏ Hêghen qua một bên, coi là vô dụng, trong khi ấy thì chính ông ta cũng không đưa ra đượcđiều gì tích cực để đối lập được với nội dung phong phú bách khoa của hệ thống Hêghen, nếu không phảilà chỉ đưa ra được một tôn giáo huênh hoang về tình yêu và đạo đức nghèo nàn, bất lực.”41
Trong phần này của tác phẩm này, F.Enghen tập trung trình bày hai vấn đề của bước phát triển là:Cải tạo phép biện chứng duy tâm của Heghen thành biện chứng duy vật; Quán triệt quan điểm duy vật vàolĩnh vực xã hội, nêu ra quan điểm duy vật về lịch sử
- C.Mac và F.Enghen cải tạo phép biện chứng duy tâm của Heghen thành phép biện chứng duy vật:
+ F.Enghen chỉ ra rằng, sự đoạn tuyệt với triết học Heghen là kết quả của việc quay trở lại với quanđiểm chủ nghĩa duy vật Nhưng C.Mac và F.Enghen không gạt bỏ một cách đơn giản triết học của Heghen.Hai ông đã kế thừa mặt cách mạng của nó là phép biện chứng và chỉ gạt bỏ cái vỏ duy tâm thần bí của nómà thôi
Ở Heghen, biện chứng là sự tự phát triển của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối không những tồntại vĩnh viễn mà còn là linh hồn sinh động thực sự của toàn thế giới hiện tồn: Ý niệm đó phát triển để trở vềbản thân nó, thông qua tất cả những giai đoạn chuẩn bị và những giai đoạn đó đã nằm ngay trong bản thân
ý niệm Ý niệm tuyệt đối tự tha hoá chuyển hoá thành giới tự nhiên, trong đó không có ý thức và hoá trangthành tính tất yếu tự nhiên Ý niệm tuyệt đối trải qua một sự phát triển mới và cuối cùng trở lại tự ý thứctrong con người Tự ý thức đó xây dựng bản thân mình trong lịch sử từ hình thái thô sơ rồi hoàn toàn trở vềvới bản thân nó (ý niệm tuyệt đối) trong triết học Heghen
F.Enghen viết: “Đối với Hêghen, sự phát triển biện chứng biểu hiện trong tự nhiên và trong lịch sử,tức là mối quan hệ nhân quả của sự vận động tiến lên thông qua tất cả những giai đoạn hình thức chỉ lànhững bước đi thụt lùi tạm thời, tự mở ra cho mình con đường đi từ thấp lên cao chỉ là dấu vết của sự vậnđộng tự thân của khái niệm, sự vận động này cứ diễn ra vĩnh viễn, không biết ở đâu nhưng bất luận thế nàocũng độc lập với những bộ óc biết suy nghĩ của con người Chính sự xuyên tạc có tính chất tư tưởng hệ ấylà cái cần gạt bỏ.”42
F.Enghen chỉ ra rằng, chúng tôi lại xem xét một cách duy vật những ý niệm trong đầu óc chúng
ta, coi đó là những phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không xem xét những sự vật của hiện thực là nhữngphản ánh của giai đoạn này hay giai đoạn khác của "ý niệm tuyệt đối" Vì thế phép biện chứng được quythành khoa học về những quy luật chung của sự vận động của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy conngười Và khi coi bản thân biện chứng của ý niệm cũng chỉ là sự phản ánh có ý thức của sự vận động biệnchứng của thế giới hiện thực, thì phép biện chứng của Heghen đã được đặt đầu lên trên
41 S đ d trang 51, 52.
42 S đ d trang 54.
Trang 33F.Enghen viết: “Sau khi đã quay trở lại quan điểm duy vật chủ nghiã chúng tôi lại coi các khái niệmtrong đầu óc con người là phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không coi những sự vật hiện thực là nhữngphản ánh của giai đoạn này hay giai đoạn khác của khái niệm tuyệt đối Do đó, phép biện chứng được quythành khoa học về các quy luật vận động chung của thế giới bên ngoài cũng như tư duy của loài người: Hailoại quy luật thực ra là đồng nhất nhưng khác nhau trong biểu hiện của chúng, chỉ là vì bộ óc loài người cóthể áp dụng những quy luật đó một cách có ý thức, còn trong tự nhiên -và cho đến nay phần lớn là cả tronglịch sử loài người - những quy luật đó tự mở cho mình một con đường đi, một cách vô ý thức, dưới hìnhthức tính tất yếu bên ngoài giữa một chuỗi vô cùng tận những ngẫu nhiên bề ngoài Như vậy, bản thân phépbiện chứng của khái niệm cũng chỉ trở thành sự phản ánh có ý thức của vận động biện chứng của thế giớihiện thực Do đó phép biện chứng của Hêghen đã bị đảo ngược lại, hay nói đúng hơn, từ chỗ trước kia nóđứng bằng đầu, bây giờ người ta đặt nó đứng bằng chân Và điều đáng chú ý là không phải chỉ có chúng tôimới là những người đã phát hiện ra phép biện chứng duy vật chủ nghĩa đó, cái mà trong nhiều năm nay vẫnlà một thứ công cụ lao động tốt nhất của chúng tôi và là một thứ vũ khí sắc bén nhất của chúng tôi, mà mộtngười công nhân Đức là Giô-dép Đit-xơ-ghen lại cũng đã phát hiện ra nó một cách độc lập đối với chúngtôi và cả đối với Hêghen nữa”.43
+ F.Enghen nhấn mạnh nội dung cơ bản của phép biện chứng là: Không coi thế giới là một tổ hợpcủa những sự vật, hiện tượng đã hoàn thành mà là một tổ hợp những quá trình, trong đó các sự vật, hiệntượng cũng như các phản ánh tư tưởng của nó vào đầu óc chúng ta đều trải qua một sự biến đổi khôngngừng (hình thành, phát sinh, tồn tại, biến đổi, tiêu vong) Quá trình biến đổi đó dù tất cả những ngẫu nhiênvà các bước thụt lùi tạm thời thì rút cuộc vẫn thực hiện được một sự phát triển Phát triển là xu hướng tấtyếu của thế giới
Với quan niệm như vậy, trong nghiên cứu không có giải pháp cuối cùng, không có chân lý vĩnhviễn mà các tri thức đều bị hạn chế do điều kiện lịch sử quyết định Và như vậy, những mặt đối lập đúng-sai, thiện-ác, đồng nhất-khác biệt, tất nhiên-ngẫu nhiên v.v đều chỉ là những tương đối
F.Enghen chỉ ra phương pháp siêu hình là coi các sự vật, hiện tượng đã hoàn thành, cố định, thíchứng với giai đoạn của khoa học tự nhiên, nghiên cứu từng sự vật, hiện tượng riêng biệt nhất thành bất biến
Ở thế kỷ XIX, khi khoa học tự nhiên trở thành khoa học hệ thống hoá các quá trình về sự phát sinh, pháttriển của các sự vật, hiện tượng và về mối quan hệ gắn bó các quá trình đó của tự nhiên thành một chỉnh thểthì phương pháp siêu hình không còn thích hợp nữa Những phát kiến vĩ đại của khoa học tự nhiên ở thế kỷXIX, đặc biệt là ba phát kiến vĩ đại Học thuyết bảo tồn và chuyển hoá năng lượng của Rô-bet May-e, Họcthuyết tế bào của Gu-ri-an-nhi-nốp, Sa-van-nơ, Sơ-lây-đen, Puc-kin và Học thuyết tiến hoá của Đac-uyn đã
đề ra, chứng minh mối quan hệ trong tự nhiên thì cũng chứng minh chỉ có phép biện chứng duy vật mớithích ứng với khoa học tự nhiên hiện đại
F.Enghen khẳng định: “Nhờ ở ba phát hiện vĩ đại đó và nhờ những thành tựu lớn lao khác của khoahọc tự nhiên, mà ngày nay chúng ta có thể vạch ra những nét chung và toàn bộ, không những mối liên hệgiữa các quá trình tự nhiên trong các lĩnh vực riêng biệt, mà cả mối liên hệ giữa các lĩnh vực riêng biệt ấy
Do đó có thể trình bày một bức tranh tổng quát về toàn bộ tự nhiên coi như một chỉnh thể cố kết, dưới mộthình thức khá có hệ thống, bằng các tài liệu do chính các khoa học tự nhiên thực nghiệm cung cấp cho.”44
- Hai ông quán triệt quan niệm duy vật vào lĩnh vực xã hội và nêu ra quan niệm duy vật về lịch sử:
+ F.Enghen khẳng định, cái đúng với giới tự nhiên mà ta coi là một quá trình phát triển lịch sử thìcũng đúng với tất cả các môn khoa học xã hội Khoa học lịch sử phải loại bỏ những mối liên hệ nhân tạo,tìm ra những mối liên hệ hiện thực mà xét đến cùng là phải phát hiện ra những quy luật vận động chung,những quy luật chi phối lịch sử xã hội
43 S đ d trang 54, 55.
44 S đ d trang 58, 59.
Trang 34Lịch sử phát triển của xã hội khác căn bản với lịch sử phát triển của tự nhiên Trong tự nhiên chỉ cónhững nhân tố vô thức, mù quáng tác động lẫn nhau, chính trong sự tác động ấy mà quy luật hiện ra Tronglịch sử xã hội, nhân tố tác động là con người có ý thức theo đuổi những mục đích nhất định Sự khác nhau
đó rất quan trọng trong nghiên cứu lịch sử, nhưng nó không làm thay đổi một sự thật là tiến trình lịch sử bịnhững quy luật chung nội tại chi phối (Quy luật xã hội là khách quan bởi lẽ, tuy lịch sử là lịch sử hoạtđộng của con người theo đuổi những mục đích của bản thân mình, nhưng xét đến cùng những tư tưởng,khuynh hướng và mục đích của con người đều do quan hệ khách quan quyết định)
F.Enghen viết: “Xét chung và toàn bộ ngâu nhiên hầu như cũng chi phối cả những điều kiện lịch sử.Nhưng ở đâu mà hình như ngẫu nhiên tác động ở ngoài mặt thì ở đấy tính ngẫu nhiên ấy cũng phải phụctùng bởi những quy luật nội tại ẩn dấu Toàn bộ vấn đề chỉ là phát hiện ra những quy luật đó”45 “Bất luậntiến trình lịch sử là thế nào chăng nữa, thì người ta cũng cứ tìm ra lịch sử bằng cách như sau: mỗi ngườitheo đuổi những mục đích riêng mà mình đề ra một cách có ý thức, và kết quả chung của nhiều nguyệnvọng khác nhau tác động theo những chiều hướng khác nhau và của những ảnh hưởng muôn màu muôn vẻcủa những nguyện vọng đó đối với thế giới bên ngoài - đó chính là lịch sử.”46
Quy luật xã hội có các đặc điểm: Biểu hiện thông qua hoạt động (có ý thức của con người) của conngười có ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của con người; Không thể hiện trực tiếp ở từng người, từng
sự việc mà thường biểu hiện ra như là một xu hướng Xu hướng ấy càng rõ trong thời gian càng dài vàkhông gian càng rộng; Sản xuất vật chất là cơ sở của các quy luật xã hội, hoạt động theo đuổi những lợi íchthông qua đấu tranh giai cấp là động lực của xã hội có giai cấp; Kết quả và sự tác động của quy luật xã hộiphụ thuộc vào những điều kiện xã hội cụ thể, hoàn cảnh kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, khu vực
+ F.Enghen chỉ ra, để tìm được quy luật của lịch sử phải tìm được động lực của lịch sử Chủ nghĩaduy vật cũ chỉ dừng ở động lực lý tưởng mà không đi đến nguyên nhân của những động lực ấy
Heghen đã quan niệm đúng khi ông ta cho rằng, đằng sau hoạt động của cá nhân có những động lựccần phát hiện ra, nhưng Heghen cũng đã sai lầm, bởi ông ta du nhập những động lực đó từ hệ tư tưởng triếthọc vào lịch sử
F.Enghen chỉ ra, phải tìm động lực ẩn dấu đằng sau động cơ không phải của một vài cá nhân mà làcủa quần chúng nhân dân Động lực của toàn bộ lịch sử hiện đại là đấu tranh giai cấp Các giai cấp ra đời
do nguyên nhân kinh tế Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trước hết là vì lợi ích kinh tế, còn chính trị chỉ làphương tiện Sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nóchỉ được giải quyết bằng cách thay đổi phương thức sản xuất cũ bằng phương thức sản xuất mới F.Enghennhấn mạnh: Sự phát triển của công trường thủ công trong xã hội phong kiến đã đi đến xung đột với phươngthứ sản xuất phong kiến và nó được thay thế bằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Sự phát triển củađại công nghiệp tư bản chủ nghĩa đến lượt nó cũng mâu thuẫn với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.Mâu thuẫn đó đòi hỏi phải thay đổi phương thức sản xuất
+ F.Enghen cũng chỉ ra, tất cả các cuộc đấu tranh chính trị đều là đấu tranh giai cấp; Tất cả các cuộcđấu tranh giai cấp đều là đấu tranh chính trị, nhưng xét đến cùng đều nhằm giải phóng kinh tế Do đó nhànước (chính trị) là do kinh tế quyết định Nhà nước chỉ là sự phản ánh dưới hình thức tập trung những nhucầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất Các hệ tư tưởng như triết học, tôn giáo tuy không trực tiếpvới cơ sở vật chất, kinh tế nhưng chúng bị các quan hệ giai cấp, quan hệ kinh tế chi phối
Tóm lại: Quan niệm mác-xít về lịch sử được khái quát lại là “không được nặn ra các mối quan hệ từ
đầu óc, mà phải phát hiện ra chúng từ sự thực, từ những bằng chứng của lịch sử.”
Trang 35những người cộng sản Tác phẩm này đã trình bày một cách khái quát, có hệ thống những quan điểm củatriết học Mác đấu tranh chống lại các triết thuyết khác, chỉ rõ sự khác nhau căn bản và sự kế thừa của haiông đối với triết học của Hêghen và Ludwig Feuerbach như thế nào Tác phẩm này ra đời vào năm 1886 làmột cần thiết của lịch sử, nó đáp ứng một đòi hỏi cấp bách của giai cấp công nhân và nhân loại phải chốnglại sự sống lại của triết học cổ điển Đức dưới nhiều hình thức khác nhau Và ngày nay nó còn nguyên giátrị khi ta nghiên cứu các bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học do C.Mac và F.Enghen thực hiện.
Câu hỏi ôn tập:
1- Trong tác phẩm “Ludwig Feuebach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, F.Enghen
đã chỉ ra những cống hiến về sự phát triển triết học của Hêghen, đồng thời chỉ ra những hạn chế củaHêghen trong hệ thống triết học của ông ta như thế nào?
2- Trong tác phẩm “Ludwig Feuebach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, F.Enghen
đã chỉ ra những cống hiến lớn lao và những hạn chế của Ludwig Feuerbach trong bước phát triển của chủnghĩa duy vật như thế nào?
3- Các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII đượcF.Enghen trình bày trong tác phẩm “Ludwig Feuebach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” như thếnào?
4- Lập trường duy tâm của Ludwig Feuerbach về xã hội được F.Enghen trình bày trong tácphẩm “Ludwig Feuebach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” bao gồm những nội dung gì?
5- Trong tác phẩm “Ludwig Feuebach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, F.Enghenchỉ ra C.Mac và F.Enghen đã cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen thành phép biện chứng duy vậtnhư thế nào?
6- Trong tác phẩm “Ludwig Feuebach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, F.Enghenchỉ ra C.Mác và F.Enghen đã quán triệt quan điểm duy vật vào lĩnh vực xã hội và nêu ra quan niệm duy vật
về lịch sử như thế nào?
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH (ĐIIH RING)” CỦA F.ENGHEN (Ông
Đuy Rinh làm đảo lộn khoa học)
I Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.
- Cuối những năm 70-80 của thế kỷ XIX, tư tưởng tiểu tư sản cơ hội của phái Lát Xan chi phốimạnh mẽ phong trào công nhân Đức Người có ảnh hưởng lớn không chỉ với phong trào công nhân màngay cả với những người cộng sản Đức là Đuy Rinh
- Đuy Rinh là phó giáo sư vật lý của trường đại học Béclinh, nhưng có nhiều tham vọng về triếthọc Ông ta đã viết “Giáo trình triết học với tư cách là một thế giới quan khoa học chặt chẽ và sự hìnhthành cuộc sống” năm 1875, “Giáo trình kinh tế-chính trị và kinh tế -xã hội gồm các điểm chủ yếu củachính sách tài chính” năm 1876, “Lịch sử phê phán của khoa kinh tế-chính trị và của chủ nghĩa xã hội “tháng 9 năm 1875 Ông ta đã nêu ra “triết học hiện thực” và coi triết học của mình là tuyệt đích cuối cùng.Với lối viết văn kết hợp các kiến thức khoa học tự nhiên nên các tác phẩm của ông ta rất có sức thuyết
Trang 36phục Thậm chí ngay cả BêBen - một lãnh tụ của đảng cộng sản - cũng đã ca ngợi và coi Đuy Rinh là
“người cộng sản mới”
- Được đồng chí và bè bạn của mình biên thư thông báo, thấy được tính độc hại của học thuyết ĐuyRinh, C.Mac và F.Enghen quyết định chống lại Đuy Rinh Lúc đầu, hai ông giới hạn trong những nhận xétphê phán cá biệt đối với Đuy Rinh thông qua một số bài báo, sau đó thì tiến hành phê phán một cách toàndiện
- Tháng 5 năm 1876, F.Enghen đã vạch ra đề cương của cuốn sách Tháng 1/1877 những phần đầucủa cuốn sách đã được đăng Tháng 7/1878 toàn bộ tác phẩm được đăng dưới dạng ba loạt bài báo là baphần của tác phẩm được in tách biệt Đồng thời cũng tháng 7/1878, ở Lépních (Leipzig) lần đầu tiên đã intoàn bộ tác phẩm với lời nói đầu của F.Enghen Lần tái bản thứ ba in năm 1894 được F.Enghen xem lại vàbổ sung Lần in đầu tác phẩm có tựa đề “Ông Đuy Rinh làm đảo lộn khoa học”, sau nay đổi lại là “ChốngĐuy Rinh”
- Tác phẩm in lần thứ 5 của nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1984 đã được đối chiếu với C.Mac vàF.Enghen toàn tập - Bản tiếng Nga - Tập 20
- Theo F.Enghen, trong quá trình biên soạn cuốn sách, C.Mac đã đóng góp một cách tích cực Thếgiới quan được trình bày trong tác phẩm phần lớn do C.Mac xác lập và phát triển, F.Enghen chỉ đóng gópmột phần rất nhỏ Trong tác phẩm, chương X phần II bàn về khoa kinh tế-chính trị là do C.Mac viết
- Tác phẩm này là sự tổng kết sự phát triển của chủ nghĩa Mác trong ba mươi năm (1848 - 1878)
Nó là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác Trong tác phẩm này, lần đầu tiênF.Enghen trình bày một cách hoàn chỉnh thế giới quan mác-xít: Chủ nghĩa duy vật biện chứng; Chủ nghĩa
xã hội khoa học; Kinh tế-chính trị F.Enghen chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời mà luôn luôn phụ thuộclẫn nhau giữa ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác F.Enghen chỉ ra, chúng tác động liên hệ nhau với
tư cách là một hệ thống lý luận, nhưng các bộ phận cấu thành thì tương đối độc lập, nhưng chỉ hiểu đượcđúng nó trong mối liên hệ bên trong giữa chúng với tổng thể
- F.Enghen đã sử dụng các thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên và kinh nghiệm đấu tranh củacuộc đấu tranh giai cấp để bảo vệ và phát triển triết học Mác về những vấn đề cơ bản Theo F.Enghen, cuốnsách là “một cuốn khái luận có tính chất bách khoa về các quan niệm của chúng tôi về các vấn đề triết học,khoa học tự nhiên và lịch sử” (C.Mac - F.Enghen toàn tập - Bản tiếng Nga - Tập 36 - Trang 119)
Bố cục tác phẩm được giới thiệu ở đây là tái bản lần thứ 5 của Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1984và Tác phẩm được in trong C.Mac - F.Enghen tuyển tập - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1983 - Tập 5 -Trang 9 đến 462 Tác phẩm này ngoài các lời tựa ra, nó được kết cấu gồm lời mở đầu và ba phần: Triếthọc, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học
- Lời tựa F.Enghen viết cho ba lần xuất bản: Tr 13 - 28 (trong tác phẩm in riêng từ trang 5 - 21)
+ Lời tựa F.Enghen viết 11/06/1878: Tr 13 - 17 ( Tr 5 -9 trong Tác phẩm in riêng)
+ Lời tựa F.Enghen viết 23 / 09 / 1885: Tr 18 - 27 (9 -20)
+ Lời tựa F.Enghen viết 23 / 05 / 1894: Tr 27 - 28 (20 - 21
- Lời mở đầu: Gồm hai chương từ Trang 29 - 51 (23 - 52)
+ Chương I: Nhận xét chung Tr 29 - 44 (23 - 44)
+ Chương II: Ông Đuy Rinh hứa những gì Tr 45 - 51 (45 - 52)
- Phần thứ nhất: Triết học.
Phần này gồm 12 chương Từ Tr 52 - 206 (53 - 241)
Trang 37+ Chương III: Phân loại chủ nghĩa tiên nghiệm Tr 52 - 62 (55 - 66).
+ Chương IV: Đồ thức luận về vũ trụ Tr 62 - 69 (67 - 75)
+ Chương V: Triết học về tự nhiên Không gian và thời gian Tr 69 - 83 (76 - 93)
+ Chương VI: Triết học về tự nhiên Thiên thể học, vật lý học, hoá học Tr 83 - 96 (94 - 110)
+ Chương VII: Triết học về tự nhiên Giới hữu cơ Tr 96 - 110 (111 - 127)
+ Chương VIII: Triết học về tự nhiên Hết Tr 110 - 121 (128 - 140)
+ Chương IX: Đạo đức và pháp quyền Chân lý vĩnh cửu Tr 121 - 137 (141 - 159)
+ Chương X: Đạo đức và pháp quyền Bình đẳng Tr 137 - 155 (160 - 180)
+ Chương XI: Đạo đức và pháp quyền Tự do và tất yếu Tr 155 - 170 (181 - 198)
+ Chương XII: Biện chứng Lượng và Chất Tr 170 - 184 (199 - 215)
+ Chương XIII: Biện chứng Phủ định cái phủ định Tr 184 - 203 (216 - 237)
+ Chương XIV: Kết luận Tr 203 - 206 (238 - 241)
- Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học gồm 10 chương từ Tr 207 - 360 (243 - 422).
+ Chương I: Đối tượng và phương pháp Tr 207 - 224 (243 - 264)
+ Chương II: Lý luận về bạo lực Tr 224 - 234 (265 - 276)
+ Chương III: Lý luận về bạo lực (tiếp theo) Tr 235 - 247 (277 - 290)
+ Chương IV: Lý luận về bạo lực (Hết) Tr 247 - 262 (291 - 307)
+ Chương V: Lý luận về giá trị Tr 262 - 278 (308 - 326)
+ Chương VI: Lao động giản đơn và lao động phức tạp Tr 279 - 286 (327 - 326)
+ Chương VII: Tư bản và giá trị thặng dư Tr 286 - 299 (336 - 350)
+ Chương VIII: Tư bản và giá trị thặng dư (Hết) Tr 299 - 312 (351 - 366)
+ Chương IX: Những quy luật tự nhiên của kinh tế Địa tô Tr 312 - 320 (367 - 376)
+ Chương X: Về quyển “Lịch sử phê phán” Tr 320 - 360 (377 - 422)
- Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội gồm 5 chương từ Tr 361 - 462 (423 - 556).
+ Chương I: Lịch sử Tr 361 - 376 (425 - 445 Tiểu luận về)
+ Chương II: Lý luận Tr 376 - 401 (446 - 480 Tiểu luận về)
+ Chương III: Sản xuất Tr 401 - 421 (481 - 504)
+ Chương IV: Phân phối Tr 421 - 443 (505 - 532)
+ Chương V: Nhà nước, Gia đình, Giáo dục Tr 443 - 462 (533 - 556)
Các trang còn lại trong tác phẩm in riêng từ 557 - 570 là danh mục từ riêng
III Nội dung cơ bản về triết học của các chương trong tác phẩm
- Trong lời tựa viết cho lần xuất bản ngày 11 tháng 6 năm 1878 F.Enghen đã bộc lộ rằng, tác phẩmnày ông viết không là kết quả của một thôi thúc nội tâm nào mà chỉ là một sự đáp lại yêu cầu của nhiềungười bạn cùng chiến đấu nhằm chống lại cái lý luận chủ nghĩa xã hội của Đuy Rinh F.Enghen đã mất đếnmột năm mới quyết định gác những công việc khác để tập trung vào việc phê phán Đuy Rinh Sở dĩ phảinhư vậy, ”vì đây là một thứ quả mà khi người ta đã ngoặm vào thì nuốt cho kỳ hết Thêm nữa, không
Trang 38những nó rất chua, mà lại còn rất to Lý luận xã hội chủ nghĩa mới này hiện ra như một kết quả thực tiễncuối cùng của một hệ thống triết học mới Vì vậy phải nghiên cứu nó trong mối liên hệ bên trong với hệthống ấy, phải theo dõi ông Đuy Rinh trên cái lĩnh vực rộng rãi mà ông ta đã đứng để giải thích mọi thứvấn đề, và cả những vấn đề bên ngoài lĩnh vực đó.”47
Chính trong lời tựa này, F.Enghen đã chỉ ra Đuy Rinh là một trong những điển hình tiêu biểu nhấtcho cái thứ khoa học giả hiệu vô liêm sĩ của nước Đức lúc bấy giờ F.Enghen cũng khiêm tốn nói rằng, dùtri thức của ông về vật lý, hoá học còn nghèo nàn, nhưng vì ông quá hiểu Đuy Rinh, mà cho dù chưa nhìnthấy tác phẩm “Những định luật cơ bản mới của vật lý học hợp lý” của Đuy Rinh, mà vẫn khẳng định đượcrằng “những định luật về vật lý học và hoá học mà ông ta trình bày trong đó, về trình độ sai lầm và khuônsáo, thì cũng xứng đáng đặt ngang hàng với những định luật về kinh tế học, về đồ thức luận vũ trụ, v.v., doông đã khám phá ra trước đây và được nghiên cứu trong sách này, và cái đê-nhiệt-kế, khí cụ để đo nhữngnhiệt kế cực kỳ thấp, do ông Đuy Rinh đã chế tạo ra, sẽ không dùng để đo những nhiệt độ cao hay thấp, màchỉ đơn thuần dùng để đo cái kiêu căng ngu dốt của ông Đuy Rinh mà thôi.”48
- Trong lời tựa viết cho lần xuất bản ngày 23 tháng 9 năm 1885, F.Enghen bất ngờ cho việc tái bảntác phẩm của ông, vì nó đã được trích đăng và đăng toàn bộ thành nhiều bản cho hàng ngàn độc giả.F.Enghen cũng chỉ ra, dưới chủ nghĩa đế quốc tác phẩm của ông bị cấm và vì vậy nó càng tăng thêm gấpđôi, gấp ba lượng tiêu thụ sách của ông và khiến cho các tác phẩm của ông được tái bản nhiều hơn
F.Enghen khẳng định rằng những quan niệm được trình bày trong sách phần lớn là do C.Mac xâydựng và phát triển, F.Enghen chỉ dự vào một phần rất nhỏ Trong lần tái bản này, tác phẩm hầu như khôngsửa chữa gì thêm, vì theo F.Enghen đây là tác phẩm bút chiến mà đối thủ của Người là Đuy Rinh đã khôngthể sửa chữa được gì, thì bản thân F.Enghen cũng không cần sửa chữa gì cả Tuy nhiên, có chương haiphần ba “Tiểu luận về lý luận” thì có giải thích thêm cho rõ vì nó đã được sửa và in trong một cuốn sáchkhác có nhan đề “Chủ nghĩa xã hội phát triển từ không tưởng đến khoa học”
Trong lời tựa này, F.Enghen cũng thừa nhận cho đến 1877, chính Moóc-gan mới là người cung cấpcho chúng ta chìa khoá tìm hiểu về lịch sử nguyên thuỷ nhân loại Còn trong phần bàn về lý luận về khoahọc tự nhiên “phần này trình bày rất vụng về, nhiều điểm bây giờ có thể diễn đạt dưới một hình thức rõràng và chính xác hơn”.49 F.Enghen viết: “Từ khi C.Mac qua đời, thời giờ của tôi đã phải dành cho nhiềunhiệm vụ cấp bách hơn, và tôi đã phải ngừng việc nghiên cứu trên lĩnh vực khoa học tự nhiên lại Bây giờtôi đành cứ tạm dùng những tài liệu đã ghi trong cuốn sách này, đợi về sau có dịp nào sẽ tập hợp lại vàcông bố những điều mà tôi thu hoạch được, có lẽ cùng một lúc với việc công bố những bản thảo toán họcrất quan trọng mà C.Mac đã để lại cũng nên”.50
F.Enghen cũng khẳng định: “Chính là chỉ có tiếp thu được những kết quả mà hai ngàn năm trămphát triển của triết học đã đạt được thì khoa học tự nhiên mới có thể, một mặt thoát khỏi mọi thứ triết học
tự nhiên tách riêng ra, đứng ngoài và đứng trên khoa học, mặt khác thoát khỏi cái phương pháp tư duy hẹphòi của bản thân khoa học đó, do chủ nghĩa kinh ngjhiệm Anh truyền lại.”51
- Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thư ba ngày 23 tháng 5 năm 1894, F.Enghen lấy làm mãnnguyện mà nhận thấy rằng, kể từ lần xuất bản trước những quan điểm trình bày trong Chống Đuy Rinh củaông đã được truyền bá rộng rãi trong ý thức của giới khoa học và của giai cấp công nhân, không chỉ ở Đứcmà cả trên khắp các nước văn minh của thế giới
Trong lần xuất tái bản này, F.Enghen chỉ bổ sung thêm những điều trọng yếu vào chương mườiphần thứ hai “Về lịch sử phê phán” Vì phần chính trong chương này là của C.Mac và F.Enghen có nhiệmvụ phải ghi lại hết sức đầy đủ và đúng từng câu chữ những đoạn văn trong đó C.Mac đã đặt những người
47 F.Enghen - Chống Đuy Rinh - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1976 - Trang 6.
48 S đ d trang 9.
49 S đ d trang 13.
50 S đ d trang 16.
51 S đ d trang 20.
Trang 39như Pet-ty, Noóc, Lốc-cơ, Hium vào đúng vị trí của họ trong quá trình sản sinh ra môn kinh tế- hính trị họccổ điển Việc làm đó của F.Enghen một mặt vì trước đó ông đã lược đi, mặt khác theo ông “chính nhữngchỗ ấy chính là cái phần, cho đến cả ngày nay nữa, vẫn còn giữ được ý nghĩa lớn lao nhất và bền vữngnhất”.52
1 Lời mở đầu gồm hai chương:
về giai cấp nữa”.53
F.Enghen cũng chỉ ra sự giống nhau của ba ông Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê và Ô-oen, là họ không tựcoi mình là đại biểu cho lợi ích của giai cấp vô sản mà lịch sử đã đẻ ra trong giai đoạn đó Họ chỉ muốn lậptức giải phóng cho toàn thể loài người chứ không trước hết cho một giai cấp nào Theo F.Enghen: “Thứchủ nghĩa xã hội chiết trung ấy là một sự hỗn hợp đủ các sắc thái hết sức khác nhau, bao gồm những nhậnxét phê phán kém cỏi nhất của các nhà sáng lập ra các phái, những luận điểm kinh tế của họ và những quanniệm của họ về xã hội tương lai - và sự hỗn hợp này càng được tạo ra một cách dễ dàng, nhất là vì trongmỗi yếu tố cấu tạo ra nó, các góc cạnh sắc nhọn của sự chính xác đã mòn đi qua các cuộc tranh cãi, cũnggiống như những hòn đá cuội đã mòn đi dưới dòng suối chảy Muốn làm cho chủ nghĩa xã hội thành mộtkhoa học trước hết phải đặt nó trên một miếng đất hiện thực.”54 “Quan niệm duy vật về lịch sử và việc dùngquy luật giá trị thặng dư để bóc trần cái bí mật của sản xuất tư bản chủ nghĩa là công lao của C.Mac Chínhnhờ hai phát hiện này, chủ nghĩa xã hội đã trở thành chủ nghĩa xã hội khoa học, mà nhiệm vụ bây giờ phảihoàn thiện thêm trong tất cả các chi tiết (và các mối liên hệ) của nó.”55
- F.Enghen đã khái quát về sự lịch sử phát triển của hai phương pháp biện chứng, siêu hình và vạch
ra vai trò của phép biện chứng duy vật đối với nhận thức nói riêng, đối với hoạt động cải biến và vận độngcủa thế giới nói chung
F.Enghen viết: “Đối với nhà siêu hình học thì những sự vật và phản ánh của chúng vào trong tưtưởng, tức là các khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, phải xem xét từng cái một, táchrời nhau, là những đối tượng cố định, cứng đờ, mãi vẫn như thế Trái lại, đối với phép biện chứng làphương pháp nắm sự vật và những phản ánh cuả sự vật trong tư tưởng, chủ yếu trong mối liên hệ, trong sựràng buộc, sự vận động, sự ra đời và biến đi cuả chúng Giới tự nhiên là hòn đá thử vàng của phép biệnchứng, và khoa học tự nhiên cận đại trong khi đem lại những tài liệu phong phú và ngày càng nhiều thêm,
đã chứng minh rằng trong tự nhiên, xét đến cùng thì mọi sự vậtđều diễn ra một cách biện chứng chứ khôngphải siêu hình Nhưng cho đến bây giờ, người ta vẫn có thể đếm được trên đốt ngón tay số những nhàkhoa học biết suy nghĩ một cách biện chứng, vì vậy cho nên mâu thuẫn giữa những kết quả thu được vàphương pháp tư duy cổ truyền đã giải thích tại sao hiện nay cói tình trạng vô cùng hỗn độn trong lý thuyết
52 S đ d trang 20.
53 S đ d trang 28.
54 S đ d trang 31.
55 S đ d trang 44.
Trang 40của các nhà khoa học tự nhiên, sự biến đổi đó làm cho cả thầy lẫn trò, cả người viết sách và người đọc đềuđâm ra thất vọng.”56
Ở đây, F.Enghen chế diễu Đuy Rinh vì Đuy Rinh cho rằng học thuyết của ông ta là tuyệt đích cuốicùng, bản thân ông ta là con người hoàn mỹ, trong khi đó ông ta miệt thị và coi tất cả những người trướcông là vô dụng F.Enghen vạch ra: “Những câu ông Đuy Rinh ca ngợi ông Đuy Rinh trên đây, còn có thểkể ra gấp mười lần như thế nữa một cách dễ dàng Song chỉ chừng ấy cũng đủ làm cho trong bộ óc độc giảnẩy ra một số nghi vấn, không biết rằng đây có phải thực là một nhà triết học hay là một - nhưng chúng tôiyêu cầu độc giả hãy chờ đến khi biết rõ khả năng thâm nhập đến tận gốc rễ cuối cùng đã nói ở trên rồi hãyphán đoán Chúng tôi dẫn ra những câu ca tụng trên đây là chỉ để tỏ ra rằng trước mặt chúng ta đây, khôngphải là một nhà triết học và một nhà xã hội chủ nghĩa tầm thường chỉ phát biểu ý kiến của mình một cáchgiản dị và nhường cho lịch sử quyết định giá trị của những ý kiến đấy, nhưng mà là một nhân vật hoàn toànđặc biệt, tự cho mình là toàn thiện toàn mỹ không kém gì giáo hoàng, và có một học thuyết cứu thế, màngười ta phải tiếp thu một cách đơn giản, nếu không muốn rơi vào tội ác nghiêm trọng nhất về ta giáo Nhưvậy là ở đây hoàn toàn không phải là một trong những công trình mà người ta thấy nhan nhản trong cácsách báo xã hội chủ nghĩa ở tất cả các nước và gần đây cả ở nước Đức nữa - Trong những công trình này,nhiều người thuộc đủ hạng đã hết sức thành khẩn tìm cách làm rõ những vấn đề mà ít nhiều họ có thể thiếutài liệu để giải quyết; Trong những công trình đó mặc dầu có những thiếu sót về mặt khoa học hay về mặtvăn học, người ta bao giờ cũng phải thừa nhận cái thiện chí xã hội chủ nghĩa của chúng Ngược lai, ôngĐuy Rinh đưa ra cho chúng ta những nguyên lý mà ông tuyên bố là “những chân lý cuối cùng, tuyệt đích”,
do đó mà bên cạnh những chân lý này thì bất cứ ý kiến nào khác cũng đều bị coi là sai lầm ngay từ trướcrồi; Cùng với cái chân lý độc tôn ấy, ông còn nắm giữ cả cái phương pháp nghiên cứu duy nhất triệt đểkhoa học bên cạnh thì mọi phương pháp khác đều là không khoa học Hoặc là ông nói đúng - và như vậy làchúng ta đang đứng trước bậc thiên tài vĩ đại nhất của tất cả các thời đại, vị siêu đệ nhất, vì đó là người đầutiên toàn thiện toàn mỹ; Hoặc là ông nói sai - và trong trường hợp đó, thì bất kể sự phán đoán của chúng tanhư thế nào, mọi sự nể vì của chúng ta đối với cái thiện chí có thể có của ông, đều là những đòn nhục mạchí tử nhất đối với ông.”57
Bàn về những lời mắng nhiếc của Đuy Rinh đối với các vị tiền bối trong đó có C.Mac, F.Enghenviết: “về phần ông Đuy Rinh, nếu ông có một chút giáo dục nào, thì những lời mắng nhiếc tử tế ấy có lẽ đãphải ngăn cấm không cho ông thấy được cái gì là làm tổn thương và là hỗn xược cả Cho nên giờ đây chưavội biểu lộ chút hoài nghi nào về sự đúng đắn căn bản của những lời mắng nhiếc ấy, sợ rằng trong trườnghợp trái lại có thể người ta lại cấm luôn cả không cho chúng tôi chọn một loại ngu ngốc mà chúng tôi sẽđược xếp vào đó Chúng tôi cho rằng nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là: một mặt đưa ra một ví dụ về cái màông Đuy Rinh gọi là “kiểu mẫu của cách diễn đạt thanh nhã và thật khiêm tốn”, mặt khác, chứng minh rằngđối với ông Đuy Rinh thì chắc chắn rằng tiền bối của ông là không xứng đáng, cũng như chắc chắn rằngông là toàn thiện toàn mỹ Đến đây, chúng tôi tỏ bày lòng kính trọng sâu sắc nhất đối với bậc thiên tài vĩđại nhất của tất cả các thời đại quả thật là như vậy.”58
2 Phần 1: Triết học
Phần này gồm 12 chương được liệt kê liên tiếp với hai chương của phần mở đầu
Phần này F.Enghen phê phán quan niệm của Đuy Rinh khi ông ta cho rằng, nguyên tắc rút ra từ tưduy và được ứng dụng vào tự nhiên và vào lịch sử loài người
56 S đ d trang 34, 36, 37.
57 S đ d trang 47, 48.
58 S đ d trang 52.