Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đài Loan rơi vào khủng hoảng trầm trọng
Trang 1Phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của đài loan và
trung quốc: kinh nghiệm đối với việt nam
Phát triển CNNT ở Đài Loan
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Đài Loan rơi vào khủng hoảng trầm trọng:thu nhập bình quân dưới 200 USD/người, lạm phát cao, dân số tăng 3,5%/năm; tỷ
lệ đất nông nghiệp trên đầu người thấp, 0,2 ha/người; tỷ lệ thất nghiệp lên tới 50%.Tuy nhiên bắt đầu thập kỷ 50, kinh tế Đài Loan đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh,liên tục và bền vững, cơ cấu kinh tế chuyển đổi ổn định từ nông nghiệp sang côngnghiệp và dịch vụ, đưa Đài Loan thành nước công nghiệp mới của châu á Giaiđoạn 1950-80, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người hàng năm đạt trên12% Những yếu tố tạo nên sự thần kỳ của nền kinh tế Đài Loan có thể kể đến là:đầu tư phát triển nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp;chiến lược công nghiệp hoá hướng ngoại, phát triển công nghiệp đều khắp giữa cácvùng; vai trò hỗ trợ hợp lý của chính phủ
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Đài Loan
9,4141,79,3684,5
8,710,51,58,42214,5
7,96,31,110,58194Nguồn: Rong-I Wu 1997 và Basic agricultural statistics 1998
Khác với nhiều nước, phát triển công nghiệp của Đài Loan không tập trung ởcác trung tâm đô thị mà trải đều trên khắp cả nước, từ các thành phố đến các thịtrấn của các vùng nông thôn Bên cạnh đó, những chính sách của Chính phủ cũng
hỗ trợ các ngành CNNT phát triển Nhờ đó CNNT của Đài Loan phát triển mạnh
mẽ, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng tài trợ choquá trình công nghiệp hoá, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập cho khu vựcnông thôn, và giảm khoảng cách giữa nông thôn và thành thị Trong thập kỷ 60,CNNT của Đài Loan đã đóng góp 60% thu nhập cho khu vực nông thôn, tạo công
ăn việc làm cho khoảng 20% lao động nông thôn, và đóng góp 60% tổng giá trị kimngạch xuất khẩu cả nước
Trang 21 Các giai đoạn phát triển CNNT
Phát triển CNNT của Đài Loan có thể được chia làm hai giai đoạn Giai đoạn
1 từ thập kỷ 50 đến 70 và giai đoạn hai từ cuối thập kỷ 70 đầu 80 trở đi Từ thập kỷ
50, Đài Loan tập trung phát triển công nghiệp trải đều ở các vùng nông thôn, tậndụng lợi thế so sánh và đa dạng hoá của nông nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuấtkhẩu nông sản chế biến, từ các sản phẩm thô như đường, chuối, chè chuyển dầnsang các sản phẩm chế biến đóng hộp như nấm, dứa, mã thầy Cuối thập kỷ 70 đầu
80, Đài Loan tập trung quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp ở nông thôn,hướng mạnh sang các ngành công nghiệp nhẹ, hàng điện tử, nông sản chế biến chỉcòn tập trung vào một vài mặt hàng có lợi thế so sánh như đồ hộp, thực phẩm đônglạnh Một đặc điểm đáng lưu ý là trong từng giai đoạn nhất định, Chính phủ thayđổi chiến lược phát triển nhằm hỗ trợ cho những ngành công nghiệp nội địa đượclựa chọn ưu tiên trong từng thời kỳ, trong đó có các ngành CNNT Chiến thuật phổbiến là Chính phủ chọn ra các ngành công nghiệp mới có triển vọng hay các ngànhcần đầu tư chuyển đổi công nghệ và áp dụng chiến lược bảo hộ, khi các doanhnghiệp này đủ mạnh, Chính phủ chuyển sang áp dụng chiến lược thúc đẩy cạnhtranh, khuyến khích xuất khẩu
Nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
Đầu tư vào khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ
Quy hoạch vùng nguyên liệu, áp dụng chính sách giá thu mua hợp lý, đảm bảo
ổn định nguồn cung cho các doanh nghiệp chế biến
Thúc đẩy cạnh tranh
Thực hiện thuế ưu đãi
Tăng đầu tư của Nhà nước
2
Trang 3Nhờ sự uyển chuyển về chiến lược phỏt triển và cỏc chớnh sỏch hợp lý nờn đóthỳc đẩy CNNT phỏt triển, đặc biệt đối với cỏc ngành chế biến nụng sản Thu nhậptrong cỏc hoạt động cụng nghiệp tăng lờn đó thu hỳt một lực lượng lớn lao động rakhỏi cỏc hoạt động nụng nghiệp Giai đoạn từ thập kỷ 60 đến 70, tỷ lệ lao độngnụng thụn trong cỏc hoạt động phi nụng nghiệp của Đài Loan tăng từ 35% lờn 65%.Cũng trong cựng giai đoạn này, lao động trong nụng nghiệp giảm từ 45% xuốngcũn 29% Nhờ lao động được rỳt bớt ra khỏi nụng nghiệp nờn sản xuất nụng nghiệp
cú điều kiện tăng năng xuất lao động, tăng quy mụ sản xuất, tăng thu nhập chonụng dõn, và do đú tăng tiết kiệm, tỏi đầu tư vào nụng nghiệp và cỏc hoạt độngCNNT
Những năm 60, Đài Loan tăng mạnh xuất khẩu nụng sản chế biến, chuyểnhướng từ cỏc sản phẩm sơ chế sang cỏc sản phẩm đúng hộp, tăng giỏ trị gia tăng.Đài Loan xuất khẩu mạnh cỏc mặt hàng như đường, đồ hộp (măng tõy, nấm, móthầy, hoa quả), thực phẩm đụng lạnh, bột ngọt Thập kỷ 60, giỏ trị kim ngạch xuấtkhẩu cỏc sản phẩm đồ hộp tăng từ 10 triệu USD lờn 83 triệu USD, thực phẩm đụnglạnh chế biến tăng lờn 0,4 triệu USD
Bảng 2: Giỏ trị kim ngạch xuất khẩu một số nụng sản chế biến của Đài Loan
1966 1982 1987 1992 1997
1000 Đài tệ
0 10 20 30 40
50
%
Thu nhập nông nghiệp Thu nhập phi nông nghiệp Lao động trong nông nghiệp (%)
Nguồn: Council of Taiwanese agriculture 1999
Trang 4135,4 (29,2)
83 (12,3)0,4 (0,05)-
282,8 (5)
483 (2,4)347,8 (2,2)28,7 (0,13)
-200 (0,1)2045,7 (2,2)130,7 (0,17)
Nguồn: APO 2000
Ghi chú: Số trong ngoặc là tỷ lệ trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Để thúc đẩy xuất khẩu nông sản chế biến, Chính phủ Đài Loan đã hỗ trợ cácDNNT, đặc biệt trong công tác xuất khẩu Một kinh nghiệm thành công của xuấtkhẩu nông sản chế biến của Đài Loan là Chính phủ thực hiện chính sách thống nhấtxuất khẩu, với các biện pháp sau:
Các công ty xuất khẩu tập hợp lại thành hiệp hội xuất khẩu
Mỗi nhà máy hội viên không bán đơn lẻ, mà đặt giá xuất khẩu, cùng chia lợi ích
Hiệp hội xuất khẩu, thay mặt nhà máy hội viên tiêu thụ sản phẩm, phối hợpcung ứng nguyên liệu sản xuất với đơn vị sản xuất nông nghiệp và vay vốn sảnxuất giúp cho các nhà máy chuyên tâm sản xuất và cải thiện chất lượng trongquá trình hợp tác tiêu thụ đã duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế
Giai đoạn từ cuối thập kỷ 70 và đầu 80
4
Hộp 1: Phát triển công nghiệp nấm đóng hộp xuất khẩu của Đài Loan
Trong suốt bốn thập kỷ từ 50 đến 80, nấm đóng hộp là một trong những ngành chế biến nông sản xuất khẩu thành công nhất của Đài Loan Nấm là loại cây trồng ngắn hạn, thiết
bị sản xuất giảm đơn, không chiếm nhiều diện tích, thời gian trồng thích hợp với mùa nông nhàn, nông dân có thể tận dụng trồng nấm tại các bãi đất trống Do vốn đầu tư ít, lãi nhiều nên rất thu hút nông dân trồng nấm Giai đoạn 1856-1957, số bãi trồng nấm ở Đài Loan tăng
từ 4000 lên 80000, cũng trong giai đoạn này xuất khẩu nấm đóng hộp tăng từ 80 thùng lên gần 2 vạn thùng Năm 1963, lượng xuất khẩu đã tăng lên hơn 1,3 triệu thùng Năm 1964, do đầu tư sản xuất tràn lan dẫn đến sản lượng tăng quá nhanh, cung vượt cầu, dư hơn 40.000 thùng, vốn tồn đọng lên đến 200 triệu Đài tệ (khoảng 5,2 triệu USD), gây tổn thất lớn cho cả người nông dân và các nhà máy chế biến Sau đó, ủy ban Mậu dịch Quốc tế đã can thiệp nhằm cứu vãn tình thế Uỷ ban đã tập hợp tất cả các nhà máy chế biến nấm đóng hộp thành công ty liên hợp, tiến hành lập kế hoạch sản xuất, thống nhất giá, lập kế hoạch xuất khẩu Các biện pháp trên đã cải thiện tình hình xuất khẩu nấm hộp, ổn định giá cả và cung cầu Từ giữa thập kỷ 60, lượng nấm xuất khẩu của Đài Loan đứng đầu thế giới Năm 1980, sản lượng nấm đạt mức kỷ lục trên 3,5 triệu thùng.
Nguồn: Council of Taiwanese agriculture 1998
Trang 5Trong giai đoạn này có hai yếu tố làm các ngành công nghiệp xuất khẩu củaĐài Loan gặp nhiều khó khăn, nhất là công nghiệp chế biến nông sản Thứ nhất, giánguyên liệu đầu vào và lao động trong nước tăng làm cho các doanh nghiệp nội địamất đi lợi thế lao động rẻ Thứ hai, trên thị trường quốc tế, áp lực cạnh tranh củacác nước đang phát triển tăng lên Kết quả là, Đài Loan không còn xuất khẩuđường, và xuất khẩu đồ hộp giảm hơn một nửa Để đối phó với tình hình trên, ĐàiLoan một lần nữa thay đổi chiến lược phát triển, chuyển đổi từ các ngành côngnghiệp sử dụng nhiều lao động sang sử dụng nhiều vốn, áp dụng công nghệ mới.Các ngành CNNT của Đài Loan chuyển dịch cơ cấu theo hai hướng chính:
Chuyển dịch cơ cấu từ chế biến nông
sản sang các ngành công nghiệp nhẹ,
điện tử, và các hoạt động dịch vụ
(biểu 2)
Trong các ngành công nghiệp chế
biến nông sản xuất khẩu, thực hiện
chuyển dịch từ các sản phẩm sơ chế
sang tinh chế, chế biến trọn gói, áp
dụng công nghệ tiên tiến nhằm tăng
giá trị gia tăng Đài Loan chỉ xuất
khẩu một vài sản phẩm chế biến có
khả năng cạnh tranh cao như nấm
hộp, măng hộp, bột ngọt, còn các sản
phẩm khác quay về phục vụ nhu cầu
thị trường nội địa
Cũng trong thập kỷ 80, Đài Loan thực hiện một số chương trình phát triểndoanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn Một hệ thống chính sách mới được ban hànhphục vụ mục tiêu trên
Khuyến khích đầu tư
Cải thiện công nghệ quản lý
Thiết lập các khu công nghiệp và chế xuất
nhằm nâng cao trình độ công nghệ và tiêu
chuẩn hoá sản phẩm của các doanh
nghiệp
Trong các chính sách trên, quan trọng
nhất là chính sách quy hoạch và phát triển các
khu công nghiệp và chế biến xuất khẩu ở các
thị trấn của nông thôn do Chính phủ hoặc tư
Biểu 2: Số lượng doanh nghiệp một số ngành
của Đài Loan
DÖt may
§iÖn tö
VËn t¶i
0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000
1965 1975 1985 1995
Thùc phÈm
ThiÕt bÞ m¸y mãc
Nguồn: APO 1997
Biểu 3: Giá trị kim ngạch xuất khẩu của ba khu chế xuất (tỷ USD)
0 1 2 3 4 5 6 7
1993 1994 1995 1996
Trang 6nhân thực hiện Chính phủ đưa ra một số nguyên tắc phát triển khu công nghiệpnhư: Đảm bảo cơ chế 1 thủ tục; cơ sở hạ tầng hoàn thiện; luật và các quy định hoànchỉnh; áp dụng thuế ưu đãi; lực lượng lao động có tay nghề; áp dụng chiến lượckinh doanh mềm dẻo; tất cả các sản phẩm trong khu phải xuất khẩu; các máy móctrang thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu dùng trong khu công nghiệp đều được miễnthuế.
Năm 1995, Đài Loan phát triển 95 cụm công nghiệp với diện tích 13003 ha
và 3 khu chế xuất có tổng diện tích 192 ha Ba khu chế xuất có 235 doanh nghiệpvới tổng vốn đầu tư là 1,26 tỷ USD Tính đến năm 1996 tổng kim ngạch xuất khẩucủa các khu chế xuất đạt 56,15 tỷ USD, riêng năm 1996 kim ngạch xuất khẩu đạt6,3 tỷ USD, chiếm 18% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, thu hút 55 ngàn lao động
2 Các yếu tố đóng góp vào phát triển CNNT của Đài Loan
Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
Khác với nhiều nước đang phát triển, Đài Loan có điều kiện thuận lợi để pháttriển cơ sở hạ tầng nông thôn ngay cả trong thời kỳ thuộc địa trước 1945 Dưới thời
kỳ đô hộ của Nhật Bản trước năm 1945, do muốn biến Đài Loan thành nơi cungcấp nguyên liệu nông nghiệp cho chính quốc nên đã đầu tư vào cơ sở hạ tầng nôngthôn, tập trung mạnh vào giao thông (đường sắt, đường bộ), hệ thống điện, nghiêncứu và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp Năm 1908, Nhật Bản xây dựng tuyếnđường sắt đầu tiên chia đôi hai miền Nam và Bắc của Đài Loan, nối các cảng vàtrung tâm công nghiệp quan trọng nhất, đi qua khu vực phía Tây nơi phần lớn dân
cư nông thôn sinh sống Chính tuyến đường sắt này đã thúc đẩy liên kết giữa cácvùng nông thôn và thành thị
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Chính phủ
Đài Loan vẫn tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng nông thôn ở khu vực nông thôn mạng lưới
đường quốc lộ được xây dựng một cách đồng
bộ, hình thành các con đường nhánh nối các khu
vực với nhau Giai đoạn 1962-72, ở khu vực
nông thôn Đài Loan số km đường trải nhựa trên
1000 km2 tăng từ 76,4 km lên 214,5 km, trong
khi cũng cùng giai đoạn này ở Hàn Quốc chỉ ở
mức 10km và tăng lên 50 km Ngoài ra, Đài
Loan cũng đẩy mạnh các chương trình điện khí
hoá nông thôn Tính đến năm 1960, có tới 70%
6
Biểu 4: Số doanh nghiệp toàn quốc và
ở khu vực nông thôn
0 20 40 60 80 100
1965 1975 1985 1995
Toµn quèc Khu vùc n«ng th«n
Nguồn: APO 1997
Trang 7các hộ nông dân đã có điện Đặc biệt, Đài Loan thực hiện chính sách giá điện củanông thôn và thành thị ngang nhau Nhờ những chính sách đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng nông thôn, môi trường đầu tư của khu vực nông thôn trở nên hấp dẫn, giảmchi phí lưu thông, cho phép Đài Loan huy động các nguồn lực thuận lợi hơn để pháttriển các hoạt động CNNT, giúp các doanh nghiệp nông thôn (DNNT) tiếp cận dễdàng hơn đến các thị trường đầu vào và đầu ra Do đó các hoạt động công nghiệpcủa Đài Loan phát triển đều khắp trong cả nước, số doanh nghiệp hoạt động ở khuvực nông thôn chiếm 85% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc
Nông nghiệp phát triển và đa dạng hoá
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nông nghiệp Đài Loan phát triển mạnh Tốc
độ tăng trưởng nông nghiệp đạt trên 6%/năm Tăng trưởng nông nghiệp nhanh đãtạo nguồn vốn và thị trường tiêu thụ cho các hoạt động sản xuất công nghiệp, kíchthích CNNT phát triển Những yếu tố đóng góp vào tăng trưởng nông nghiệp củaĐài Loan bao gồm:
(i), Đài Loan có khí hậu phù hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng, như lúa,hoa quả nhiệt đới và nhiều loại khác Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phép ĐàiLoan phát triển nông nghiệp đa dạng hoá, tạo thuận lợi phát triển công nghiệp chếbiến nông sản
(ii), Chính sách từ thời Nhật Bản cai trị Do muốn biến Đài Loan thành nơicung cấp hàng nông sản cho chính quốc nên Nhật đã đầu tư mạnh vào nông nghiệpcủa Đài Loan, đặc biệt là mở rộng và nâng cấp hệ thống giao thông, xây dựng hệthống tưới tiêu, nên sau chiến tranh nông nghiệp Đài Loan có những điều kiệnthuận lợi để phát triển Ngoài ra, Nhật Bản còn thành lập các tổ chức nông thôn(tiền thân của tổ chức nông hội sau này) để phổ biến khoa học kỹ thuật, và trợ giúpcác hoạt động nông nghiệp và phát triển nông thôn
(iii), Chủ trương của Chính phủ là đầu tư phát triển nông nghiệp, lấy nôngnghiệp làm cơ sở phát triển công nghiệp hoá Sau chiến tranh, Đài Loan đã đầu tưlớn vào nông nghiệp Hàng năm, Mỹ hỗ trợ cho Đài Loan 100 triệu USD trong đóhơn 2/3 hỗ đầu tư vào nông nghiệp và cơ sở hạ tầng, trong khi công nghiệp chỉnhận được ít hơn 1/5 Ngoài ra cải cách ruộng đất, với khẩu hiệu "người cày córuộng" đã kích thích nông dân Đài Loan phát triển sản xuất
Nhờ những chính sách trên nên tăng trưởng nông nghiệp Đài Loan sau chiếntranh luôn đạt mức cao, tạo điều kiện cho CNNT của Đài Loan phát triển Thập kỷ
50 tốc độ tăng trưởng nông nghiệp đạt khoảng 4,5%/năm, thập kỷ 60 tăng lên 5,8%/
Trang 8năm Việc đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao độngtrong nông nghiệp cho phép giải phóng lao động khỏi nông nghiệp tham gia cáchoạt động CNNT, tăng tích luỹ vốn phát triển các hoạt động CNNT Ngoài ra xuất
khẩu nông nghiệp của Đài Loan trong giai đoạn đầu tăng mạnh là nguồn thu ngoại
tệ lớn tạo điều kiện nhập khẩu máy móc thiết bị cho các hoạt động sản xuất côngnghiệp Trong suốt thập kỷ 50 kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp chiếm trên 95%tổng kim ngạch xuất khẩu và duy trì trên 75% trong thập kỷ 60
Phát triển nguồn nhân lực
Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn của Đài Loan, phát triển nguồnnhân lực đóng vai trò hàng đầu Thời kỳ thuộc địa, người Nhật đã đầu tư phát triển
hệ thống giáo dục tiểu học ở khu vực nông thôn, sau đó, do chú ý đến tiềm năngphát triển công nghiệp ở Đài Loan, nên chuyển hướng đầu tư phát triển hệ thốnggiáo dục phổ thông và đào tạo kỹ thuật hướng nghiệp Giáo dục nông thôn tiếp tụcđược duy trì và phát triển thời kỳ sau chiến tranh Năm 1970, tỉ lệ biết chữ đạt 90%,
và hơn 2/3 dân số nông nghiệp Đài Loan có bằng cấp giáo dục chính thức Đầu tưphát triển giáo dục mạnh tạo ra cho Đài Loan một lực lượng lao động được đào tạotốt, có tay nghề, nắm bắt được khoa học kỹ thuật
Ngoài ra Đài Loan còn tiếp nhận được "nguồn chất xám" rất lớn do luồngngười đến tị nạn đến từ Đại lục, trong đó có nhiều nhà công nghiệp có kỹ năngquản lý và kỹ thuật Do có trình độ cao, nên đội ngũ này có thể dễ dàng tiếp thucông nghệ mới, kiến thức kinh doanh, độc lập xử lý các hợp đồng, giao dịch với cáckhách hàng nước ngoài Chính đội ngũ trên đã tạo nên tầng lớp chủ DNNT của ĐàiLoan khi bước vào giai đoạn công nghiệp hoá
8
Biểu 5: Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân năm và tỷ trọng xuất khẩu nông nghiệp trong
tổng xuất khẩu.
0 1 2 3 4 5 6 7
1953-56 1956-60 1961-64 1965-68 1969-72 1973-75 1976-79
T¨ng tr ëng n«ng nghiÖp %
0 20 40 60 80 100
Tû träng xuÊt khÈu % T¨ng tr ëng n«ng nghiÖp
XuÊt khÈu n«ng nghiÖp trong tæng xuÊt khÈu
Nguồn: Council Agriculture Basic agricultural statistics 1998.
Trang 9Chính sách vĩ mô
Chính sách công nghiệp Đài Loan đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.Trong thập kỷ 50, Đài Loan thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu Tuy nhiênsang thập kỷ 60, do sức mua của thị trường nội địa nhỏ, hạn chế các ngành côngnghiệp phát triển nên Đài Loan chuyển sang chiến lược hướng ngoại Trong cả haithời kỳ này các chính sách kinh tế vĩ mô đều tạo thuận lợi cho CNNT phát triển, cụthể như:
Trong giai đoạn đầu phát triển, Đài Loan áp dụng lãi xuất ngân hàng cao thúcđẩy nhân dân gửi tiền tiết kiệm nhằm huy động vốn tài trợ phát triển côngnghiệp
Quy định mức tiền lương tối thiểu thấp cho phép các doanh nghiệp tận dụng lợithế chi phí lao động rẻ
Khuyến khích thị trường hoạt động, duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng.Ngay cả trong thời kỳ thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu Đài Loan vẫnduy trì mức lãi xuất và tỷ giá hối đoái sát với thị trường
Vai trò của Nông hội
ủy ban Nông nghiệp gọi tắt là Nông hội là tổ chức của nông dân, nhằm bảo
vệ quyền lợi và là đại biểu của nhân dân Nông hội đã đóng vai trò rất quan trọngđối với phát triển nông nghiệp nông thôn cũng như là CNNT của Đài Loan, thực sự
là cầu nối giữa Chính phủ và người nông dân Trong thời kỳ đầu sau chiến tranh,Nông hội giúp khu nông dân sơ chế sản phẩm nông nghiệp và cải tiến kỹ thuật.Thập kỷ 60, Nông hội giúp các DNNT xuất khẩu các nông sản chế biến đặc biệt lànấm, măng tây Những hoạt động chính của Nông hội thúc đẩy hoạt động côngnghiệp chế biến ở nông thôn gồm:
Tổ chức các khoá đào tạo cho nông dân, mời các chuyên gia dạy các kỹ thuậtsản xuất: ươm trồng chăm sóc, bón phân, phun thuốc, quản lý đồng ruộng, thuhoạch
Giúp nông dân thành lập trạm gia công Nông hội cùng với nông dân bàn bạcxác định địa điểm, quy mô, mời các đơn vị tư vấn tiến hành quy hoạch, thiết kếnhà xưởng và thiết bị, huy động vốn Nông hội tổ chức nông dân thành lập cácnhóm, mỗi nhóm lập ra một trạm gia công, người phụ trách trạm là lớp trưởng.Trạm gia công có thể do một người bỏ vốn kinh doanh, hoặc vốn của nhiềuthành viên kinh doanh Trạm gia công lên kế hoạch sản xuất tiêu thụ, sau đó
Trang 10định giá theo nhu cầu của thị trường và hợp đồng với nông dân là thành viên củanhóm, sản phẩm do trạm gia công tự tiêu thụ.
Phối hợp với Hiệp hội Thương mại Quốc tế thiết kế nhãn hiệu và bao bì phù hợpvới tiêu chuẩn quốc tế Nông hội tổ chức nông dân thành lập trung tâm baotiêuvà các nhóm đóng gói, tổ chức giải quyết khâu vận chuyển và tiêu thụ Nônghội sẽ thu phí dịch vụ và phí thủ tục của nông dân tham gia các hoạt động này
phát triển công nghiệp nông thôn của Trung Quốc
Trong số các nước chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường,Trung Quốc là một thành công điển hình Cũng như Việt Nam, Trung Quốc bắt đầucông cuộc cải cách kinh tế từ khu vực nông nghiệp và nông thôn sau đó lan sangcác lĩnh vực ngân hàng, thương mại Bắt đầu từ năm 1979, đổi mới chính sách nôngnghiệp đã đem lại những thành công to lớn, giai đoạn 1979-96, GDP nông nghiệptăng 13,7 lần, thu nhập đầu người nông thôn tăng 14,7 lần, đói nghèo nông thôngiảm từ 32,7% xuống còn 6,5%, lương thực thực phẩm dồi dào, mức sống dân cưtăng, tạo đà cho công cuộc cải cách kinh tế và công nghiệp hóa
Trong thành công của công cuộc cải cách nông nghiệp và nông thôn củaTrung Quốc, phát triển CNNT là nhân tố nổi bật Sự phát triển mạnh mẽ của cácDNNT1 đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt nông thôn và đóng góp rất lớn đến sựtăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Những đóng góp quan trọng của CNNT baogồm: đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập của nông dân,tạo công ăn việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữanông thôn và thành thị, đóng góp vào GDP và là nguồn thu ngoại tệ quan trọng Cóthể nói rằng sự phát triển mạnh mẽ của các DNNT của Trung Quốc tạo nên thành
1
Doanh nghiệp nông thôn (DNNT) của Trung Quốc trong bài này để chỉ tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức
sở hữu hoạt động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp như công nghiệp, dịch vụ, vận tải, xây dựng, thương mại ở khu vực nông thôn Do đó các doanh nghiệp Hương trấn với hình thức sở hữu là tập thể là một bộ phận của các DNNT.
- Các DNNT thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương
- Chỉ có các cư dân sống trong vùng, thị trấn hay huyện mà các DNNT có trụ sở mới được quyền tham gia đồng sở hữu các doanh nghiệp này.
- Các DNNT có quyền huy động vốn từ cộng đồng, từ các khoản vay cá nhân hoặc từ các ngân hàng nhà nước
- Các DNNT có quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh.
- Sản lượng tăng trưởng nhanh
+ Giai đoạn 1978-1995, sản lượng của các DNNT tăng 24,7%/năm
+ Năm 1996, sản lượng của các DNNT chiếm 56% tổng sản lượng công nghiệp toàn quốc
- Tạo công ăn vịêc làm cho khu vực nông thôn: Thu hút 25% lao động nông thôn, khoảng 130 triệu lao động, gấp hơn 2 lần so với các doanh nghiệp nhà nước.
- Tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng: Chiếm 45% tổng kim ngạch xuất khẩu
- Đóng góp quan trọng cho việc nâng cao thu nhập xoá đói giảm nghèo
Trang 11công cho chính sách “ly nông bất ly hương”, phần lớn dân cư nông thôn vẫn có thểlàm giàu bằng các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ trên chính quên hương mình.
1 Vai trò của CNNT trong nền kinh tế Trung Quốc
Kể từ khi thực hiện chính sách cải cách năm 1979, phát triển CNNT là nhân
tố chủ yếu làm thay đổi bộ mặt nông thôn, và là động lực quan trọng đối với tăngtrưởng của cả nền kinh tế Trung Quốc Những thành tựu chủ yếu của các DNNTTrung Quốc được thể hiện trên các mặt kinh tế, chính trị và xã hội
Về kinh tế, các DNNT Trung Quốc đóng góp đáng kể vào GDP Trước cảicách, các doanh nghiệp trung ương sản xuất phần lớn hàng hoá công nghiệp Năm
1978, sản lượng của các doanh nghiệp trung ương chiếm 3/4 tổng sản lượng côngnghiệp, trong khi 1/4 sản lượng còn lại thuộc về các DNNT Tuy nhiên, đến năm
1993, sản lượng của các DNNT đã vượt các doanh nghiệp trung ương Đây là mộtthành công nổi bật vì các DNNT thường không được đối xử bình đẳng như cácdoanh nghiệp trung ương, vốn nhận được ưu đãi của Chính phủ Trong giai đoạn1978-96, số DNNT đã tăng hơn 15 lần, giá trị sản lượng của các DNNT trong nềnkinh tế tăng từ 9,1% lên hơn 50%, giá trị kim ngạch xuất khẩu trong tổng xuất khẩutăng từ 9,2% lên 45% Ngoài ra phát triển DNNT còn làm tăng hiệu quả của nềnkinh tế nói chung và của các doanh nghiệp công nghiệp nói riêng DNNT phát triểnmạnh gây áp lực cạnh tranh lên các doanh nghiệp nhà nước trong cùng ngành, làmcho các doanh nghiệp nhà nước cũng phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhnếu muốn tiếp tục tồn tại
Bảng 3: Một số chỉ tiêu về CNNT của Trung Quốc
Số doanh nghiệp (triệu)
Lao động (triệu người)
Giá trị sản lượng (tỷ NDT)
22849
1573358
201061769
201308990Nguồn: Justin Yifu Lin & Yang Yao 1999
Về chính trị và xã hội, các DNNT tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập chomột bộ phận lớn dân số sống ở khu vực nông thôn, đóng góp to lớn cho công cuộcxoá đói nghèo, giữ vững ổn định chính trị trong nông thôn, tạo điều kiện cho quátrình cải cách kinh tế và mở cửa của Trung Quốc diễn ra thuận lợi Do áp dụngcông nghệ sử dụng nhiều lao động nên khả năng tạo việc làm của các DNNT rấtlớn Giai đoạn 1978-96, lao động làm việc trong các DNNT tăng gần 5 lần, đạt 130triệu lao động Tính đến năm 1996, các DNNT thu hút 28,4% lao động nông thôn,
và chiếm 68% lực lượng lao động toàn ngành công nghiệp Do các DNNT tạo việc
Trang 12làm cho một lượng lớn lao động nờn đó cải thiện mức sống của một bộ phận lớndõn cư nụng thụn, và trong thời kỳ mới cải cỏch gúp phần quan trọng giảm bất bỡnhđẳng thu nhập giữa nụng thụn và thành thị Giai đoạn 1978-96, thu nhập nụng thụntăng 14 lần, trong khi thu nhập của thành thị tăng 7 lần Tuy nhiờn, kể từ thập kỷ 90
do cụng nghiệp đụ thị phỏt triển mạnh nờn khoảng cỏch này lại cú xu hướng tănglờn Giai đoạn 1981-85, tỷ lệ thu nhập thành thị so với nụng thụn giảm từ 2,24xuống 1,88, và lại tăng lờn 2,87 năm 1994
Biểu 6: Thu nhập bỡnh quõn đầu người và tỷ lệ đúng gúp của CNNT trong thu
40
%
Thu nhập trên đầu ng ời (NDT/ng ời)
Đóng góp của hoạt động phi nông nghiệp (%)
Nguồn: Justin Yifu Lin & Yang Yao 1999
2 Cỏc giai đoạn phỏt triển CNNT
Thập kỷ 50, Trung Quốc chỉ cú một số xưởng thủ cụng ở khu vực nụng thụn,thu hỳt khoảng 10 triệu lao động, sau đú cỏc xớ nghiệp này được chuyển sang hỡnhthức hợp tỏc xó Tuy nhiờn, do trong giai đoạn này cỏc chớnh sỏch chỉ chỳ trọngphỏt triển nụng nghiệp nờn cỏc doanh nghiệp nụng thụn gặp nhiều khú khăn
Đầu thập kỷ 60, Trung Quốc thực hiện chớnh sỏch “đại nhảy vọt”, tập trungphỏt triển cụng nghiệp nặng ở khu vực nụng thụn, hàng loạt cỏc cụng xó nhõn dõnđược thành lập, chủ yếu sản xuất thộp nờn khụng ai chỳ ý đến DNNT Để huyđộng vốn cho cụng nghiệp hoỏ, Trung Quốc thực hiện chủ trương rỳt cỏc nguồn lựcnụng nghiệp đầu tư phỏt triển cụng nghiệp nặng Cỏc chớnh sỏch như duy trỡ cỏnhkộo giỏ cú lợi cho sản xuất cụng nghiệp, ỏp dụng lói suất đầu tư cụng nghiệp thấp
đó rỳt hết vốn của khu vực nụng thụn, kỡm hóm phỏt triển sản xuất nụng nghiệp vàcỏc hoạt động phi nụng nghiệp
12