ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY TĂNG CƯỜNG Các nội dung chính trong đề tài I ĐẶT VẤN ĐỀ: 1 Tầm quan trọng của phân môn luyện từ và câu trong môn học Tiếng Việt bậc Tiểu học. 2 Thực trạng của việc học tập và vận dụng kiến thức về câu và từ để nghe đọc, nói, viết cuả học sinh lớp 52 trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc. 3 Thực trạng của nội dung sách giáo khoa giảng dạy chương trình chính khóa đang hiện hành a Mặt tích cực: b Mặt hạn chế: II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: 1 Sử dụng tiết tăng cường để củng cố kiến thức được học trong chương trình chính khoá. 2 Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy 3 Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép. 4 Thiết kế tiết dạy giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép 5 Một số bài tập vận dụng kiến thức về từ láy và từ ghép 6 Kết qủa đạt được 7 Bài học kinh nghiệm III KẾT THÚC VẤN ĐỀ 1 Các kiến nghị, đề xuất 2 Tài liệu tham khảo MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY TĂNG CƯỜNG I ĐẶT VẤN ĐỀ: 1 Tầm quan trọng của phân môn luyện từ và câu trong môn học Tiếng Việt bậc Tiểu học. Trong chương trình Tiếng Việt sau năm 2000, tức là chương trình đang hiện hành, hai phân môn từ ngữ và ngữ pháp trước đây được tích hợp thành một phân môn có tên gọi là Luyện từ và câu. Phân môn này cung cấp toàn bộ kiến thức về quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu đơn vị nhỏ nhất để thực hiện chức năng giao tiếp. Luyện từ và câu cũng là một yếu tố quan trọng để phát triển năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người học sinh . Vì vậy ngay từ những ngày đầu đến trường, học sinh đã làm quen với luyện từ và câu qua việc học âm, vần, tiếng từ ở lớp 1, các kiểu câu đơn giản ở lớp 2, các từ loại cơ bản ở lớp 3, các biện pháp tu từ nghệ thuật quen thuộc hoặc cấu trúc về câu, cụm từ, nghiã của từ v..v... ở lớp 4 , 5. Cụ thể , luyện từ và câu giúp cho học sinh tiểu học có hiểu biết về quy tắc câú tạo từ , nắm quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp. Trên cơ sở đó, học sinh nắm được các quy tắc chính tả , dấu câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói. Trong thực tế , giáo viên tiểu học gặp nhiêù khó khăn khi dạy luyện từ và câu, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5. Năm học cuối cấp tiểu học, kiến thức về từ và câu được cung cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúc theo kiểu đồng tâm mở rộng nên nếu không nắm được kiến thúc ở lớp dưới, các em sẽ khó tiếp thu được kiến thức mới ở lớp trên . Sau đây, tôi xin trình bày một số hạn chế của học sinh lớp 52, lớp tôi đang giảng dạy trong việc học tập luyện từ và câu.
Trang 1II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Sử dụng tiết tăng cường để củng cố kiến thức được học trong chương trình chính khoá.
2/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy
3/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép.
4/ Thiết kế tiết dạy giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép
5/ Một số bài tập vận dụng kiến thức về từ láy và từ ghép
Trang 2MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ
TỪ GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY TĂNG CƯỜNG
từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Trên cơ sở đó, học sinhnắm được các quy tắc chính tả , dấu câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói
Trong thực tế , giáo viên tiểu học gặp nhiêù khó khăn khi dạy luyện từ
và câu, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5 Năm học cuối cấp tiểu học, kiến thức về
từ và câu được cung cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúc theo kiểuđồng tâm mở rộng nên nếu không nắm được kiến thúc ở lớp dưới, các em sẽ khótiếp thu được kiến thức mới ở lớp trên Sau đây, tôi xin trình bày một số hạn chếcủa học sinh lớp 5/2, lớp tôi đang giảng dạy trong việc học tập luyện từ và câu
2/ Thực trạng của vi ệc học tập và vận dụng kiến thức về câu và từ để nghe đọc, nói, viết cuả học sinh lớp 5/2 trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
Tình hình học tập của học sinh hiện nay so với học sinh các năm trước
có những tiến bộ đáng kể, nhất là khả năng giao tiếp Học sinh đã tự tin hơn khitrình bày ý kiến trước đám đông, có khả năng cảm thụ cái hay cái đẹp cuả cáctác phẩm văn học và được học nhiều kiến thức mới so với nội dung chương trình
Trang 3cũ như thuyết trình tranh luận, phát biểu cảm nghĩ v v Tuy nhiên, về phần từ
và câu, học sinh còn mắc phải những hạn chế sau :
a/ Kĩ năng nhận diện từ , phân cắt các đơn vị từ trong câu còn nhiều sailệch
b/ Kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều lầm lẫn
c/ Kĩ năng nhận diện và phân tích các thành phần câu chưa thật chính xác d/ Kĩ năng xác định từ loại còn hạn chế
Trong các hạn chế trên, mặt nào cũng cần khắc phục Tuy nhiên , trongphạm vi đề tài này, bản thân tôi muốn trình bày sâu một vấn đề Đó là kĩ năngphân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều hạn chế Ở đơn vị kiến thứcnaỳ, học sinh thường mắc các lỗi như sau:
Học sinh còn xác định sai từ ghép khi cả hai tiếng có bộ phận cuả tiếnggiống nhau như các từ : nhân dân, mệt mỏi, buồn bực, chèo chốngv v
Học sinh chưa nhận dạng được các từ láy đặc biệt khuyết phụ âm đầuthường là các từ tượng thanh, tượng hình
Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợptrong các trường hợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một tínhtừ
Học sinh có vốn từ ghép và từ laý có 3 hay 4 tiếng rất hạn chế, ít ỏi
Vì sao học sinh lại mắc những tồn tại trên, trước hết ta phải tìm hiểu từ nộidung sách giáo khoa , phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện họctập của học sinh và một số vấn đề có liên quan khác
3/ Thực trạng của nội dung sách giáo khoa giảng dạy chương trình chính khóa đang hiện hành và phương pháp giảng dạy của giáo viên:
a/ Mặt tích cực:
Sách giáo khoa đang hiện hành được biên soạn theo quan điểm tích hợp,
quan điểm giao tiếp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
Sự thể hiện các quan điểm này trong sách giáo khoa được thể hiện rất rõ ràng.Các kiến thức học sinh được học đan xen, kiến thức về từ học cùng với kiến
Trang 4thức về câu, học sinh vừa học miêu tả ở tiết trước, tiết sau lại được làm quen vớiđơn từ Kiến thức ở bài sau được mở rộng hơn so với bài trước Hệ thống kiếnthức được cung cấp chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng giao tiếp nên học sinhkhông những nghe đọc tốt hơn mà viết nói cũng tốt hơn Để giúp cho học sinhtiếp thu tốt những kiến thức đó, giáo viên phải sử dụng nhiều phương pháp dạyhọc, đặc biệt là phương pháp tích cực.
b/ Mặt hạn chế:
Tuy nhiên, sau một thơì gian thực dạy, bản thân tôi cũng nhận thấy những
hạn chế của nội dung chương trình, tuy không lớn nhưng phần nào đã ảnh hưởngđến việc học tập và ghi nhớ kiến thức cuả học sinh Đó là nếu không được họccác lớp 2 buổi trong ngày thì giáo viên khó có thể luyện tập cho học sinh để đàosâu kiến thức Tôi có thể đưa ra một ví dụ như sau:
Trong chương trình cũ, bài tìm hiểu về từ láy được học trong 4 tiết, bài tìmhiểu về từ ghép được học trong 4 tiết Tổng cộng là 8 tiết và được học liên tụctrong khoảng 8 tuần Trong chương trình mới, nội dung được tích hợp nên kiếnthức về từ đơn và từ phức được học trong 2 tiết, thêm 2 tiết tìm hiểu về từ ghépphân loại và từ ghép tổng hợp Tổng cộng chỉ có 4 tiết Vì thế khi lên lớp 5,nhiều em đã quên kiến thức này, khi luyện tập thực hành, học sinh đạt kết quảkhông cao Chính vì thế, tôi đã tận dụng các tiết học tăng cường Tiếng Việt, xâydựng 1 thiết kế bài dạy một cách khoa học nhất nhằm giúp học sinh nắm vữngkiến thức về từ
II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Sử dụng tiết tăng cường để củng cố kiến thức được học trong chương trình chính khoá.
* Vì sao không thể dùng tiết chính khoá để dạy củng cố cho học sinh phần kiến thức về cấu tạo từ ?
Câu hỏi này có thể được lí giải như sau: Các bài học trong nội dungchương trình đã đạt chuẩn về kiến thức cần đạt Giáo viên không được quyền cắtxén thêm bớt hay thay thế Vả laị nếu muốn mở rộng hoặc củng cố cho sâu, chovững cũng không đủ thời gian mà tiết học chính khóa sẽ trở nên nặng nề Vì thếcách giúp GV xử lí tốt nhất là dạy củng cố trong tiết học tăng cường Và đó
Trang 5cũng chính là yêu cầu của việc dạy học 2 buổi / ngày Mặt khác , kiến thức vềcấu tạo từ , các em đã được học ở lớp 4 Việc củng cố mở rộng thêm kiến thức
để học sinh tiếp thu có thể tiếp thu tốt bài học mới là việc làm cần thiết mà GVlớp 5 phải đảm nhận
Sau đây , tôi xin trình bày các thiết kế bài dạy tôi đã áp dụng để củng cốkiến thức về cấu tạo từ cho HS lớp 5/2
2/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy :
I/ Mục tiêu:
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ láy
* Nhận dạng được từ láy
* Tìm được từ láy có cùng một tiếng gốc cho trước
* Biết sử dụng từ láy để viết đoạn văn có nội dung cho trước
II/ Chuẩn bị:
4 lọ hoa trong đó có gắn các thẻ hoa ghi sẵn các kiểu từ láy
Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm
III/ Các hoạt động dạy học:
A/ Giới thiệu bài: Giáo viên nêu mục đích
yêu cầu tiết học
B/ Bài mới:
Hoạt động 1: Nhận dạng từ láy và từ ghép:
GV treo bảng phụ ghi sẵn nội dung sau:
Xếp những từ được in đậm trong đoạn văn
sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:
Biển luôn thay đổi theo màu sắc của mây
trời Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh,
như dâng cao lên chắc nịch Trời âm u , mây
mưa, biển xám xịt, nặng nề Trời ầm ầm
giông gió, biển đục ngầu giận dữ Như một
con người biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh
lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt
- HS nghe
- HS đọc đề và tìm hiểu đề bài
- HS thảo luận nhóm đôi
Trang 6GV yêu cầu học sinh thảo luận nhóm đôi
trong thời gian 2 phút
- Yêu cầu HS trình bày kết quả thảo luận
thông qua trò chơi: Ai nhanh hơn
- GV treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 nhóm từ HS
nối tiếp nhau ghi từ vào các cột cho đúng Đội
nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội thắng cuộc
GV nhận xét, chấm chữa và công bố đội
thắng
GV chốt : Từ phức được chia thành 2 loại: từ
láy và từ ghép Từ láy là những từ có bộ phận
của tiếng được láy lại giống nhau Từ ghép là
từ có nhiều tiếng được ghép lại với nhau để
tạo nên một nghiã chung Từ âm u là từ láy
đặc biệt Đây là từ láy tượng hình khuyết phụ
âm đầu( chỉ có vần)
GV yêu cầu HS tìm thêm các từ láy đặc biệt
Hoạt động 2: Ôn về các kiểu từ láy:
GV hỏi: Có mấy kiểu từ láy?
GV tổ chức trò chơi : Cắm hoa
GV xếp lên bàn một giỏ hoa lớn trong đó có
nhiều bông hoa ghi sẵn từ và 4 lọ hoa đính sẵn
các kiểu từ láy trên thành lọ Cho HS thi cắm
hoa vào lọ sao cho mỗi lọ chứa đúng kiểu từ
láy được ghi trên thành lọ hoa
Cho HS tham gia trò chơi trong 2 phút
Ầm ầm
Hả hêLạnh lùng
Thay đổiMàu sắcĐục ngầuXanh thắmMây mưa Đăm chiêu
- HS: ồn ào, inh ỏi, ú ớ, êm
ái, ủn ỉn, ì ạch
- Có 4 kiểu từ láy: láy âm ,láy vần , láy âm và vần , láytiếng
HS tham gia trò chơi
Lọ 1: Láy âm: hồng hào,vắng vẻ, chậm chạp, cần cù
Lọ 2: Láy vần : lon ton, laoxao, linh tinh, lộn xộn
Lọ 3: Láy âm và vần: cuồncuộn, trăng trắng, im ỉm, timtím
Trang 7Hoạt động 3: Ôn về các dạng từ láy
GV : Ngoài số từ láy có 2 tiếng, Tiếng Việt
còn có một số lượng từ láy có 3, 4 tiếng rất
phong phú
GV yêu cầu học sinh nêu những từ láy có 3 ,4
tiếng mà học sinh đã biết
GV ghi bảng và dưạ vào các từ này để chốt ý:
Từ láy có 3 tiếng thường được cấu tạo như
sau: A ( Tiếng gốc) A’ A’’
Ví dụ: Xốp xồm xộp, tí tì ti, chút chùn chun
Từ láy có 4 tiếng được cấu tạo như sau:
Dạng 1: AB’AB: Khập khà khập khiễng, lon
ta lon ton, lủng cà lủng củng
Dạng 2: A A BB: Cười cười nói nói, buồn
buồn vui vui, chi chi chành chành,
Hoạt động 4: Viết đoạn văn khoảng 4,5 câu có
sử dụng từ láy để tả giờ chơi
GV cho HS làm bài và tổ chức cho học sinh
trình bày bài làm , sửa chưã theo quy trình
C/ Củng cố:
Trò chơi: Tìm từ láy có tiếng gốc cho trước
GV phát phiếu học tập nhóm cho HS Yêu cầu
các em tìm từ láy có tiếng gốc sau: Vui,nhanh,
tròn, xa , trắng
Nhận xét và tuyên dương nhóm giỏi nhất
Nhận xét và dặn dò cho tiết ôn tập sau: xem
lại kiến thức về từ ghép
Lọ 4: Láy tiếng: xanh xanh,cào cào, chuồn chuồn, vuivui
HS tham gia trò chơi:
Vui vui, vui vẻ vui vầy
Nhanh nhanh, nhanh nhẹn,nhanh nhảu
Xa xa, xa xăm , xa xôi
trắng trẻo, trăng trắng,Tròn trịa, tròn trĩnh, tròn tròn
3/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép.
I/ Mục tiêu:
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép
Trang 8* Nhận dạng được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại.
* Tìm được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một tiếng gốc cho trước
* Biết sử dụng từ ghép để viết đoạn văn có nội dung cho trước
II/ Chuẩn bị:
Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm
III/ Các hoạt động dạy học:
A/ Giới thiệu : GV nêu mục đích yêu cầu tiết
học
B/ Bài mới:
Hoạt động 1: Nhận diện từ ghép.
GV treo bảng phụ ghi sẵn nội dung sau:
Xếp những từ được in đậm trong đoạn văn
sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:
Núi đồi , làng bản chìm trong biển mây mù.
Trước bản, rặng đào đã trút hết lá Trên những
cành khẳng khiu đã lấm tấm những lộc non
và lơ thơ những cánh hoa đỏ thắm Lá thông
vi vu một điệu đàn bất tuyệt Xen lẫn vào
giưã những đám lá tai mèo, những nương đỗ,
nương mạch xanh um, trông như những ô bàn
cờ Chốc chốc, một điệu hát Hmông lại vút
lên trong trẻo.
GV yêu cầu học sinh thảo luận nhóm đôi
trong thời gian 2 phút
- Yêu cầu HS trình bày kết quả thảo luận
thông qua trò chơi: Tiếp sức
- GV treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 nhóm từ HS
nối tiếp nhau ghi từ vào các cột cho đúng Đội
nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội thắng cuộc
HS nghe
HS thảo luận nhóm đôi để thực hiện
Từ ghép Từ láyLàng bản Khẳng khiuNúi đồi Lấm tấm
Đỏ thắm Vi vuTai mèo Trong trẻoXanh um
Điệu hát
Trang 9GV nhận xét, chấm chữa và công bố đội
thắng
GV chốt ý: Từ láy là những từ có bộ phận
của tiếng được láy lại giống nhau Từ ghép
là từ có nhiều tiếng được ghép lại với nhau
để tạo nên nghĩa chung Trong từ ghép lại
GV cho HS thảo luận nhóm đôi, trả lời câu
hỏi sau: Tìm những tiếng có nghĩa rõ ràng
trong các từ ghép
Cho HS trình bày
GV hỏi: Dựa vào số lượng tiếng có nghĩa rõ
ràng cuả mỗi từ , em hãy nêu sự khác nhau
của từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại ?
Cho HS trình bày
GV chốt: Các từ ghép tổng hợp thường có 2
tiếng đều có nghiã rõ ràng, từ ghép phân loại
thường chỉ có 1 tiếng có nghiã rõ ràng, một
tiếng mờ nghĩa ( không rõ nghĩa), hoặc cả 2
tiếng đều có nghĩa nhưng tiếng thứ 2 lệ thuộc
vào tiếng thứ nhất và giúp cho từ đó có nghĩa
phân biệt Ví dụ:
Xanh um, đỏ thắm, vàng hoe: Um , hoe ,
thắm là những tiếng nghĩa không rõ ràng
HS nghe
HS tìm từ ghép TH và PL
Từ ghép PL Từ ghép THXanh um Làng bản
Đỏ thắm Núi đồiTai mèo
Điệu hát
HS gạch chân từ có tiếng có nghĩa rõ ràng trong từ ghép
Từ ghép PL Từ ghép TH
Xanh um Làng bản
Đỏ thắm Núi đồi Tai mèo
Điệu hát
HS nghe
Trang 10Nhà sàn, đường phèn, hạt tiêu, tai mèo, điệu
hát: Sàn, phèn, tiêu, mèo, hát là những tiếng
giúp phân biệt nghĩa với các từ khác như :nhà
lầu, đường cát, hạt mưa, tai tượng, điệu múa
GV treo bảng phụ ghi sẵn các từ:
Vui tính, cao cờ, đau lòng.
Mây mưa, sướng vui, cao thấp
Yêu cầu HS xác định từ loại của mỗi tiếng
trong từ và chỉ ra sự khác biệt giữa từ ghép
phân loại và từ ghép tổng hợp
Cho HS trình bày
GV chốt:
Từ ghép tổng hợp : Thường có 2 tiếng cùng
từ loại và có thể đổi vị trí cho nhau mà
nghĩa của từ không thay đổi : bản làng, làng
bản, núiđồi, đồi núi sướng vui, vui sướng, cao
thấp, thấp cao Hai tiếng trong từ ghép tổng
hợp thường là hai từ cùng nghĩa (gần nghiã)
như : vui sướng, đau khổ, xe cộ, xinh đẹp
hoặc trái nghiã nhau như : xa gần, cao thấp,
lớn bé, trẻ già
Từ ghép phân loại : Thường có 2 tiếng khác từ
loại.( Trừ trường hợp từ ghép phân loại là
danh từ như: nhà sàn, nhà ngói, đất cát, đất
HS làm bài Tiếng gốc
Từ ghép TH
Từ ghép PL
Nhanh Nhanh
chậm
Nhanh tríBuồn Buồn vui Buồn
lòngCao Cao thấp Cao sốNhà Nhà cưả Nhà sàn
Trang 11Hoạt động 4: Viết đoạn văn:
GV yêu cầu học sinh viết 1 đoạn văn có sử
1/Dưạ vào nghĩa.
2/ Dựa vào cấu tạo cuả từ.
4/ Thiết kế tiết dạy giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép
I/ Mục tiêu:
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép và từ láy
* Nhận dạng được từ láy, từ ghép trong trường hợp từ ghép có tiếng có bộ phận giống nhau
* Tìm được từ láy, từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một tiếnggốc cho trước
* Biết sử dụng từ phức để viết đoạn văn có nội dung cho trước
II/ Chuẩn bị:
- Bảng dạ cài các thẻ từ ghi sẵn từ ghép và từ láy
- Bảng phụ
- Băng giấy chuẩn bị cho trò chơi tìm từ ở giữa
III/ Các hoạt động dạy học:
Trang 12HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
A/ Giới thiệu: GV nêu mục đích yêu cầu
tiết học
B/ Bài mới:
Hoạt động 1: Trò chơi Tìm từ cho đúng:
GV treo bảng dạ cài sẵn những từ ngữ sau
và tổ chức cho HS tìm và phân ra thành 2
nhóm từ láy và từ ghép:
Mêng mông, bờ cõi, đi chơi, mong muốn,
đất nước, mệt mỏi, dập dờn, âm ỉ, công
kênh, lao xao, chăn chiếu, về nhà
GV cho HS tham gia trò chơi
Tổ chức chấm chữa, nhận xét
Hỏi : Vì sao Về nhà và đi chơi không được
chọn ?
Vì sao mong muốn, mệt mỏi có bộ phận âm
giống nhau mà không là từ láy?
Vì sao âm ỉ, công kênh không có bộ phận
nào giống nhau mà lại là từ láy?
GV chốt :
* Khi 2 tiếng trong từ đều có nghiã thì dù
có bộ phận của tiếng giống nhau cũng là
từ ghép.
* Trong tiếng Việt có từ láy đặc biệt
khuyết phụ âm đầu như : ầm ĩ, ồn ào và
âm c, k, q là các hình thức viết khác nhau
của âm c nên công kênh, cồng kềnh là từ
Monh muốn , mệt mỏi là từ ghép
vì cả 2 tiếng trong từ đều có nghiã
Âm ỉ là từ láy đặc biệt
Công kênh là từ láy vì âm c có 3 hình thức viết : c, k, q
Trang 13Tìm từ và điền vào ô cho đúng:
Nhà
Rộng rãi
chật hẹp
Vui tính Chậm
GV cho học sinh trình bày bài làm
GV chấm chữa và chốt ý
Hoạt động 3 : Trò chơi Tìm từ ở giữa:
GV lần lượt đưa ra những băng giấy, cho HS
phát hiện từ ở giữa thích hợp, sao cho tạo
Hoạt động 4: Cho HS viết đoạn văn
khoảng 4,5 câu có dùng từ láy và từ ghép
để tả cảnh giờ chơi.
GV cho HS làm bài cá nhân
Tổ chức cho HS đọc bài làm trước lớp và
Rộng lòngChật Chật
chội
chật hẹp
Chật níchVui Vui
vẻ
Vui buồn
Vui tínhChậm Chậm
chạp
NhanhChậm
NhanhTrí
HS tham gia trò chơi:
1/ Nhân dân, dân chúng2/ Khỏe mạnh, mạnh bạo3/ Học hành, hành hạ4/ Chăm chú, chú ý5/ Đấu tranh , tranh giành
HS làm bài cá nhân
5/ Một số bài tập vận dụng kiến thức về từ láy và từ ghép