Bài viết phân tích những cam kết của Việt Nam về tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN, làm rõ kết quả của quá trình thực hiện những cam kết đó tính đến thời điểm hiện nay để từ đó đư
Trang 1VIỆT NAM VỚI QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
HƯỚNG TỚI CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
Vũ Thanh Hươ n g1*, Trần Việt Dung2
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Email*: huongvt@vnu.edu.vn
Ngày gửi bài: 21.01.2015 Ngày chấp nhận: 17.05.2015
TÓM TẮT
Tự do hoá thương mại dịch vụ là một trong những nội dung cơ bản của lộ trình hướng tới hình thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015 Chính vì vậy, trong thời quan qua, các quốc gia thành viên ASEAN đã có nhiều nỗ lực thúc đẩy tự do hoá thương mại dịch vụ trong nội bộ khối Bài viết phân tích những cam kết của Việt Nam về tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN, làm rõ kết quả của quá trình thực hiện những cam kết đó tính đến thời điểm hiện nay để từ đó đưa ra một vài hàm ý nhằm thúc đẩy
sự tham gia của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, hướng tới AEC 2015
Từ khoá: Cộng đồng kinh tế ASEAN, AEC, ASEAN, Việt Nam, thương mại dịch vụ
Viet Nam in The Process of Service Trade Liberalization
towards ASEAN Economic Community
ABSTRACT
Service trade liberalization is among crucial measures in ASEAN Economic Community (AEC) roadmap towards a common market and production base by 2015 Therefore, in recent years, the ASEAN members have put great effort to liberalize the service sector within the region This paper analyzes Viet Nam's service commitments in ASEAN, clarifies its implementaion of these services commitments until now and draws out some implications to promote participation of Viet Nam in service trade towards AEC 2015
Keywords: ASEAN Economic Community, AEC, ASEAN, Viet Nam, trade in services
1 MỞ ĐẦU
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14 tại
Thái Lan, các Nhà Lãnh đạo ASEAN đã ký
Tuyên bố Cha-am/Hua Hin về Lộ trình xây
dựng Cộng đồng ASEAN và thông qua Kế hoạch
Tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN
(AEC Blueprint) đến năm 2015 Kế hoạch tổng
thể xây dựng AEC đã quy định cụ thể các biện
pháp nhằm thực hiện bốn trụ cột của AEC gồm:
(i) Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất; (ii)
Một khu vực kinh tế cạnh tranh; (iii) Một khu
vực phát triển đồng đều và (iv) Hội nhập với
nền kinh tế toàn cầu
Trong trụ cột thứ nhất, tự do hoá thương mại dịch vụ là một trong những nội dung chủ chốt giúp ASEAN thành lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất đến năm 2015 Chính vì vậy, ASEAN đã có nhiều nỗ lực để tự do hoá lĩnh vực dịch vụ trong nội bộ khối thông qua các gói AFAS1 cũng như các thoả thuận tự do hoá thương mại cho các ngành ưu tiên Theo mục tiêu đặt ra trong AEC Blueprint, các nước ASEAN sẽ tiến hành đàm phán 11 gói cam kết cho đến năm 2015 Các
1 AFAS: ASEAN Framework Agreement on Services - Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ
Trang 2lĩnh vực dịch vụ được ASEAN ưu tiên tự do hoá
gồm: ASEAN điện tử (e-ASEAN), y tế, logistics,
hàng không và du lịch
Bài viết này nhằm mục tiêu phân tích sự
tham gia của Việt Nam vào AEC trong lĩnh vực
tự do hoá thương mại dịch vụ Bài viết được cấu
trúc thành 4 phần Ngoài lời mở đầu, phần thứ
hai khái quát những cam kết của Việt Nam
trong AEC liên quan đến thương mại dịch vụ
Phần thứ ba sẽ phân tích tình hình thực hiện
các cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam
và phần cuối cùng rút ra một số gợi ý nhằm
thúc đẩy sự tham gia hiệu quả của Việt Nam
vào tự do hoá thương mại dịch vụ trong AEC
2 CAM KẾT TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ CỦA VIỆT NAM TRONG ASEAN
So với Bản cam kết trong AFAS 6 và AFAS
7, Bản cam kết AFAS 8 của Việt Nam đã mở
rộng hơn về phạm vi cam kết và sâu hơn về mức
độ cam kết, thể hiện quyết tâm của Việt Nam
trong việc mở cửa thị trường dịch vụ cho các
nước trong khu vực
Các cam kết chung của Việt Nam2 trong
AFAS 8 giống với cam kết chung của Việt Nam
trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
của WTO (GATS) và về cơ bản liên quan đến
Mode 3, Mode 43 Theo các cam kết chung của
Việt Nam trong Mode 3, doanh nghiệp dịch vụ
nước ngoài được phép thiết lập hiện diện
thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức:
2
Xem các cam kết chung của Việt Nam trong AFAS 8 tại
http://myservices.miti.gov.my/documents/10180/9869273c-3541-4d2c-b6e7-0f0be6fc1443
3 Thương mại dịch vụ được thực hiện thông 4 Mode (phương thức)
gồm: Mode 1 (Cung cấp dịch vụ qua biên giới); Mode 2 (Tiêu dùng
ngoài nước); Mode 3 (Hiện diện thương mại) và Mode 4 (Hiện diện
thể nhân) Trong Mode 1, dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một
thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác Cả người
cung cấp dịch vụ lẫn người tiêu dùng dịch vụ đều không di chuyển ra
khỏi lãnh thổ nước mình, chỉ có dịch vụ được di chuyển, cung cấp và
tiêu thụ "qua biên giới" Trong Mode 2, người tiêu dùng của một
nước di chuyển sang lãnh thổ của một nước khác để tiêu dùng dịch
vụ Theo Mode 3, một quốc gia sẽ cho phép các nhà cung cấp dịch
vụ của một nước khác thiết lập các hình thức hiện diện như công ty
100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh, văn phòng đại
diện … trên lãnh thổ nước mình để cung cấp dịch vụ Mode 4 chỉ áp
dụng với các nhà cung cấp dịch vụ là các thể nhân, theo đó một quốc
gia cho phép các thể nhân cung cấp dịch vụ của một nước khác di
chuyển sang lãnh thổ của nước mình để cung cấp dịch vụ
Hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ vốn góp nước ngoài không thấp hơn 70% với 4 ngành dịch vụ
ưu tiên (e-ASEAN, y tế, hàng không và du lịch) trong ASEAN đến năm 2010 và không thấp hơn 51%, 70% đối với các lĩnh vực dịch vụ khác
tương ứng đến năm 2010, 2015 Với Mode 4,
như nhiều thành viên ASEAN khác, Việt Nam cũng không đưa ra nhiều cam kết, ngoại trừ đối với 5 đối tượng là: người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, nhân sự khác, người chào bán dịch vụ, người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại và nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng (MUTRAP III, 2009)
Với cam kết cụ thể về phạm vi cam kết,
trong khuôn khổ AFAS 8, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường dịch vụ với 11/12 ngành và tính theo phân ngành là khoảng 111 phân ngành So với AFAS 7, Việt Nam đã mở cửa với 16 phân ngành mới Điều này hoàn toàn phù hợp với AEC Blueprint, trong đó quy định các nước phải đàm phán thêm ít nhất 15 phân ngành trong năm 2010 So với cam kết GATS, Việt Nam mở cửa nhiều phân ngành hơn trong dịch vụ thông tin liên lạc, y tế, du lịch, vận tải, môi trường và
mở cửa ít phân ngành hơn trong dịch vụ kinh doanh Điều này là hợp lý vì hầu hết các ngành Việt Nam mở cửa nhiều phân ngành hơn đều là những ngành ưu tiên tự do hoá của ASEAN hoặc là những ngành ASEAN có gói cam kết riêng Các ngành dịch vụ khác, số lượng phân ngành mở cửa là như nhau Việt Nam chỉ mở cửa ít hơn 1 phân ngành trong dịch vụ kinh doanh Điều này thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam trong hội nhập dịch vụ khu vực, vì các cam kết trước đó trong AFAS 7 của Việt Nam có phạm vi mở cửa khá giống GATS (Bảng 1)
Về mức độ cam kết trong AFAS 84, nhìn chung, Việt Nam có mức độ mở cửa khá cao với
4 Xem các cam kết cụ thể của Việt Nam trong AFAS 8 tại http://myservices.miti.gov.my/documents/10180/df04f878-f26a-4bfd-885d-726700dcbbdc
Trang 3Bảng 1 Phạm vi cam kết dịch vụ của Việt Nam trong AFAS 8
Ngành
Số lượng phân ngành theo quy định của GATS/WTO
Số lượng phân ngành Việt Nam cam kết trong GATS/ WTO
Số lượng phân ngành cam kết trong AFAS 7
Số lượng phân ngành cam kết trong AFAS 8
Dịch vụ giải trí, văn hóa, thể
Nguồn: Tổng hợp của các tác giả từ các Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam trong GATS, AFAS 7 và AFAS 8
Mode 2; thận trọng mở cửa với Mode 1,
Mode 3 và hầu như chưa cam kết với Mode 4
Việt Nam cam kết mở cửa cao nhất đối với dịch
vụ môi trường, tiếp đó là dịch vụ tài chính, y tế
Mức độ cam kết mở cửa thấp nhất đối với dịch
vụ văn hoá, giải trí, thể thao và dịch vụ giáo
dục (Vũ Thanh Hương, 2013)5
3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CAM KẾT AEC
CỦA VIỆT NAM TRONG THƯƠNG MẠI
DỊCH VỤ
3.1 Thực hiện các cam kết chung
Các hàng rào về dịch vụ chủ yếu là các rào
cản pháp lý liên quan đến chính sách, thể chế
và quy định Vì vậy, các cam kết và thực hiện
cam kết về dịch vụ sẽ liên quan chủ yếu đến
điều chỉnh hoặc ban hành mới chính sách, quy
định, luật pháp của các quốc gia
Các cam kết chung của Việt Nam trong
AFAS 8 hoàn toàn giống với cam kết chung của
Việt Nam trong GATS, do đó những điều chỉnh
chính sách của Việt Nam về dịch vụ để thực
5
Xem thêm về phương pháp đánh giá mức độ mở cửa theo ngành tại
http://tapchi.vnu.edu.vn/upload/2014/02/1124/4%2Epdf
hiện cam kết WTO hoàn toàn phù hợp với các cam kết AFAS 8 Về cơ bản, Việt Nam tuân thủ chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc các cam kết trong AFAS 8 và GATS
Đối với thực hiện các cam kết chung liên quan đến Mode 3, Việt Nam đã cho phép các
nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài nói chung, các nhà cung cấp dịch vụ ASEAN nói riêng được thiết lập các hiện diện thương mại dưới các hình thức đã cam kết Để phù hợp với cam kết, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi một số Luật liên quan như Luật đầu tư, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp và ban hành nhiều Nghị định, văn bản hướng dẫn các Luật này Nhìn chung, các Luật sửa đổi và các văn bản hướng dẫn bám khá sát luật Việt Nam, đồng thời cũng phù hợp với các cam kết chung của Việt Nam về các hình thức hiện diện thương mại Bên cạnh đó, Luật đầu tư 2005 được áp dụng thống nhất cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, giúp Việt Nam có thể thực hiện tốt nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) nhằm đảm bảo sự đối xử bình đẳng giữa nhà cung cấp dịch vụ trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, vấn đề lớn hiện nay đối với Việt Nam hiện nay chính là cách thức, cơ chế thực thi cũng như giám sát thực thi chưa
Trang 4hiệu quả các chính sách đã được điều chỉnh theo
đúng cam kết Các văn bản hướng dẫn chồng
chéo, thay đổi liên tục; sự phối hợp chưa thật sự
khoa học giữa các Bộ ngành trong việc thực
hiện chính sách; phương thức thông tin và
tuyên truyền cho doanh nghiệp về những cam
kết của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại
dịch vụ với ASEAN còn chưa hiệu quả… Đó là
những vấn đề lớn Việt Nam cần phải khắc phục
để có thể giúp Việt Nam thực hiện tốt hơn các
cam kết của mình
Với các cam kết liên quan đến góp vốn cổ
phần của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài,
Luật đầu tư sửa đổi 2005 và Điều 10.2 Nghị
định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật đầu tư quy định rõ “các nhà đầu tư nước
ngoài được phép mua cổ phiếu và góp vốn theo
các điều kiện quy định trong các điều ước quốc
tế mà Việt Nam tham gia” Có thể nói đây là
quy định khá mở và linh hoạt, giúp Việt Nam có
thể thực hiện đúng cam kết thương mại dịch vụ
với các tổ chức khác nhau nhưng chính sự mở
và linh hoạt của quy định này lại gây khó khăn
khi thực hiện đối với từng ngành dịch vụ cụ thể
Tuy nhiên, có thể thấy Chính phủ Việt Nam đã
rất nỗ lực trong việc sửa đổi luật pháp để phù
hợp với các cam kết chung về thương mai dịch
vụ Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư
131/2010/TT-BTC để Hướng dẫn thực hiện Quy
chế góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư
nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam
Ngày 3/1/2014, Chính phủ cũng đã ban hành
NĐ 01/2014/NĐ-CP về việc nhà đầu tư nước
ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt
Nam, giúp tạo ra một cơ sở pháp lý rõ ràng và
cụ thể hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ tài
chính tại Việt Nam
Các quy định về chi nhánh, văn phòng đại
diện của các công ty nước ngoài tại Việt Nam
được thực hiện theo Nghị định 72/2006/NĐ-CP
và Thông tư 11/2006/TT-BTM về văn phòng đại
diện và chi nhánh của các công ty thương mại
nước ngoài tại Việt Nam Việt Nam cũng có
những quy định về văn phòng đại diện và chi
nhánh của công ty nước ngoài trong các lĩnh vực
chuyên ngành như tài chính Việt Nam đã ban hành Nghị định số 100/2011/NĐ-CP ngày 28/10/2011 về việc thành lập và hoạt động văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến nước ngoài tại Việt Nam Việc đăng ký các văn phòng đại diện và chi nhánh nước ngoài cần tuân thủ Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp và Thông tư số 01/2013/TT-BKHDT về hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp Phí thành lập văn phòng đại diện và chi nhánh tại Việt Nam trước đây được thực hiện theo Thông tư 73/1999/TT-BTC, hiện nay đã được thay thế bởi Thông tư số 133/2012/TT-BTC ngày 13/8/2012, giúp đưa ra được mức phí phản ánh tình hình kinh tế và thị trường hiện nay tại Việt Nam Tuy nhiên, việc quản lý và giám sát văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài tại Việt Nam liên quan đến nhiều Bộ khác nhau và hiện nay chưa có thủ tục để điều phối hoạt động của các cơ quan chính phủ liên quan Vì vậy, việc rà soát, điều chỉnh để đảm bảo tính nhất quán của văn bản pháp lý trong nước với các cam kết AFAS nói riêng, WTO nói chung liên quan đến Mode 3 hiện nay là cấp thiết
Đối với thực hiện các cam kết chung liên quan đến Mode 4, việc cung cấp dịch vụ thông
qua Mode 4 hiện nay được điều chỉnh bởi các văn bản chủ yếu gồm: Luật Đầu tư 2005; Pháp lệnh năm 2000 về Nhập cảnh, Xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam; Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động Tuy nhiên, cần lưu ý là cũng giống như các nước thành viên ASEAN khác, Việt Nam hầu như không cam kết đối với Mode
4 Do đó, trong khi Việt Nam tích cực rà soát và sửa đổi các văn bản pháp luật của Việt Nam theo hướng chú trọng đến việc thực hiện cam kết trong Mode 3, thì các cam kết chung trong Mode 4 dường như bị bỏ qua Có thể thấy các quy định của Pháp lệnh cũng như Luật đầu tư nhìn chung chưa đáp ứng cam kết của Việt Nam liên quan đến Mode 4 Nhiều Điều, Khoản trong Pháp lệnh chưa rõ ràng, chính xác, bộc lộ nhiều bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn Cũng theo phản ánh từ giới doanh nghiệp, thị trường
Trang 5lao động của Việt Nam tiếp tục được quy định
chặt chẽ và một số quy định có thể không phù
hợp với cam kết về Mode 4 của Việt Nam, ví dụ:
những vấn đề liên quan đến quy định của Việt
Nam về tỷ lệ thuê lao động nước ngoài Hiện
nay, Chính phủ Việt Nam đang tiến hành sửa
đổi một số văn bản liên quan đến lao động để
đảm bảo tuân thủ cam kết của Việt Nam trong
GATS cũng như AFAS và các cam kết quốc tế
khác về dịch vụ liên quan đến Mode 4 Ủy ban
Quốc phòng và an ninh của Quốc hội cũng đã
nhất trí nâng pháp lệnh lên thành Luật
Như vậy, có thể thấy Việt Nam đã thực hiện
khá tốt việc điều chỉnh chính sách để phù hợp
với các cam kết chung trong Mode 3 nhưng chưa
thật sự chú trọng điều chỉnh các chính sách liên
quan đến Mode 4 Bên cạnh đó, cơ chế thực thi
và giám sát thực thi hiệu quả các chính sách đã
điều chỉnh cũng là một vấn đề nảy sinh trong
quá trình Việt Nam thực hiện các cam kết AEC
3.2 Thực hiện các cam kết cụ thể
So với mức bình quân của ASEAN, Việt
Nam đã thực hiện tương đối tốt các cam kết
Trong Giai đoạn I (2008-2009) và Giai đoạn II
(2010-2011), tỷ lệ thực hiện của Việt Nam về tự
do hoá thương mại dịch vụ đạt hơn 50% so với
mức bình quân của ASEAN (nhỏ hơn 50%) Việt
Nam đã sửa đổi và ban hành mới các chính sách
để thực hiện các cam kết trong từng ngành cụ
thể, điển hình là trong các ngành dịch vụ phân
phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn
thông để phù hợp với các cam kết AFAS cũng
như GATS Đối với các ngành ưu tiên gồm y tế,
du lịch, logistics, e-ASEAN và hàng không, Việt
Nam cũng đã ban hành Quyết định
1625/QĐ-TTg về việc phê duyệt và ký Nghị định thư thực
hiện gói cam kết dịch vụ AFAS 9 theo đúng lịch
trình của ASEAN Ngày 13/9/2013, Chính phủ
đã ban hành Quyết định 1625/QĐ-TTg về việc
phê duyệt và ký Nghị định thư thực hiện gói
cam kết dịch vụ AFAS 9 Ngày 19/9/2013, Văn
phòng Chính phủ cũng đã có Quyết định số
7846/VPCP-QHQT về việc Giao cho Bộ Kế
hoạch và Đầu tư chủ trì trong việc tổ chức các
cuộc họp liên ngành để tiến hành đề xuất, thống
nhất xây dựng Bản chào đáp ứng yêu cầu của gói AFAS 9 Đến nay, Việt Nam cũng đã hoàn thiện Gói cam kết AFAS 9 Phần dưới đây sẽ trình bày kỹ hơn về những hoạt động của Việt Nam liên quan đến 05 ngành dịch vụ ưu tiên hội nhập của ASEAN
Việt Nam ký kết Nghị định thư Hội nhập
ngành y tế ASEAN và có những hội nhập sôi
nổi trong ngành Y tế Ngành Y tế đã tích cực tham gia các hoạt động hợp tác và hội nhập với ASEAN trong các lĩnh vực như y tế dự phòng, lĩnh vực dược và mỹ phẩm, dịch vụ y tế, an toàn
vệ sinh thực phẩm, y dược học cổ truyền Việt Nam cũng đã cử cán bộ tham dự các cuộc họp xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Khung chiến lược về Phát triển Y tế của ASEAN và chủ động là một trong những nước dẫn đầu cho một
số hoạt động của khu vực nhằm thực hiện Khung chiến lược về Phát triển Y tế của ASEAN Đối với các hoạt động thuộc Khung chiến lược về Phát triển Y tế của ASEAN nhưng các Quốc gia thành viên phải thực hiện ở cấp quốc gia, Việt Nam cũng đã tích cực triển khai những hoạt động này (Minh Ngọc, 2013) Tháng 9/2014, Việt Nam lần đầu tiên đăng cai Hội nghị Bộ trưởng Y tế ASEAN lần thứ 12 Đây là
cơ hội để Việt Nam nâng cao được vị thế, uy tín trong khu vực và khẳng định được vai trò trong ASEAN trong lĩnh vực y tế
Việt Nam cũng đã ký kết Nghị định thư Hội nhập ngành du lịch ASEAN cũng như đã tham gia tích cực, toàn diện và có những đóng góp quan trọng đối với du lịch ASEAN Trong lĩnh vực đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch, Việt Nam đã chủ trì xây dựng Sách hướng dẫn thực hiện Thỏa thuận công nhận lẫn nhau đối với các nghề du lịch ASEAN Từ năm 2013, Việt Nam đã đảm nhiệm vai trò Trưởng nhóm công tác Marketing và Truyền thông, phát huy vai trò chủ động, tích cực trong hợp tác du lịch ASEAN, được các nước đánh giá cao Bên cạnh đó, Việt Nam đang chủ trì nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch đường sông ASEAN, với sự hỗ trợ
và hợp tác của Tổ chức Du lịch thế giới, Malaysia
và các nước ASEAN Việt Nam đã hợp tác với Lào, Campuchia, Myanmar cùng sản xuất phim
Trang 6phóng sự "Bốn quốc gia - Một điểm đến" nhằm
quảng bá du lịch bốn nước Tháng 1/2014, Việt
Nam đã tích cực tham gia Diễn đàn Du lịch
ASEAN tại Malaysia (Lê Tuấn Anh, 2014, Mỹ
Hạnh, 2014) Với những nỗ lực hội nhập du lịch,
nguồn ngoại tệ thu được từ du lịch trong những
năm gần đây tăng lên đáng kể Tuy nhiên, doanh
thu của du lịch Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều do
Việt Nam còn phải thuê mướn phương tiện vận
tải của nước ngoài Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn
còn một số yếu kém về cơ sở vật chất và hạ tầng
du lịch, chất lượng dịch vụ và quản lý dị̣ch vụ
còn kém và chưa chuyên nghiệp Hiểu được rõ vị
thế của mình trong tổng thể của ngành du lịch
khu vực và thế giới, Việt Nam sẽ cần rất nhiều
nỗ lực và thời gian để có thể thu ngắn khoảng
cách phát triển ngành du lịch với các quốc gia
trong khu vực như Malaysia và Thái Lan và để
ngành du lịch Việt Nam thật sự trở thành ngành
kinh tế “mũi nhọn”
Phát triển dịch vụ logistics đã trở thành
tiêu chí quan trọng trong chính sách của các
nước thành viên ASEAN với tạo nên một môi
trường logistics ASEAN kết nối, thống nhất và
biến ASEAN trở thành một trung tâm logisitcs
trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Với
tư cách là nước điều phối thực hiện Lộ trình hội
nhập nhanh trong lĩnh vực Logistics, Việt Nam
đã tổ chức Diễn đàn doanh nghiệp về dịch vụ
Logistics bên lề Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế
ASEAN lần thứ 42 và Hội nghị Cộng đồng kinh
tế ASEAN (AEC) lần thứ 4 (tháng 8/2010) Việt
Việt Nam đã ký Nghị định thư về lộ trình hội
nhập ASEAN về Dịch vụ logistics và cam kết tự
do hóa hầu hết các phân ngành chủ yếu trong
dịch vụ logistics đến năm 2013 Đến nay, Việt
Nam đang trong quá trình hoàn thiện hệ thống
văn bản luật lệ, nâng cao năng lực quản lý nhà
nước và có chính sách cụ thể về logistics phù
hợp với các cam kết trong ASEAN Về khung
khổ pháp luật, thể chế liên quan đến ngành
logistics, Chính phủ và các bộ, ngành quản lý
đã có những động thái tích cực Bên cạnh Nghị
định 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ, hàng
loạt các quy phạm pháp luật về giao thông vận
tải, cảng biển, xuất nhập khẩu, hải quan,
thuế đã ra đời Chính phủ đã ban hành QĐ số 950/QĐ/TTg năm 2012 về chương trình hành động thực hiện chiến lược xuất nhập khẩu thời
kỳ 2011-2020, định hướng đến 2030 trong đó đề cập đẩy nhanh xã hội hóa dịch vụ hậu cần, đầu
tư kho bãi tại cảng biển lớn, các địa điểm thông quan, quy hoạch hệ thống hậu cần trên cả nước, nâng cao thị phần vận chuyển hàng hóa các doanh nghiệp Việt Nam Đáng chú ý, một đóng góp quan trọng trong việc cải tiến các thủ tục hành chính quốc gia vừa qua là Đề án 30, đặc biệt là đổi mới trong lĩnh vực hải quan đã góp phần thúc đẩy dịch vụ logistics phát triển Việt Nam cũng đã đạt mức tự do hóa có ý nghĩa với một lộ trình hợp lý đối với các phân ngành bổ trợ cho dịch vụ logistics Đối với một số phân ngành dịch vụ mà Việt Nam có lợi thế cung cấp như dịch vụ xếp dỡ container với hàng hóa vận chuyển đường biển, đại lý kho bãi và đại lý vận tải hàng hóa, dịch vụ thông quan…, Việt Nam đặt hạn chế vốn góp nước ngoài không vượt quá 50% hoặc đặt ra lộ trình cho phép tăng vốn góp của phía nước ngoài từ 5 - 7 năm Trong nội bộ ASEAN, Việt Nam được đánh giá là đã phát huy hiệu quả chương trình kết nối logistics trong khu vực ASEAN
Tuy nhiên, ngành logistics Việt Nam còn
nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập ASEAN Chi phí logistic của Việt Nam còn khá
cao; hạ tầng giao thông vận tải thiếu kết nối đa phương thức; khung khổ thể chế, pháp luật điều chỉnh các hoạt động logistics mặc dù tương đối đầy đủ, gần đây có bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật có tính chất định hướng như quy hoạch, chiến lược phát triển liên quan đến ngành dịch vụ logistics cho các thời kỳ 2020, tầm nhìn 2030 nhưng qua thời gian hội nhập khu vực và quốc tế một số quy định pháp luật
về logistics hiện nay đã không còn phù hợp; thiếu cập nhật các định chế cần thiết trong lĩnh vực logistics quốc tế từ đó chưa tạo thị trường dịch vụ logistics minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển bền vững Bên cạnh đó, Việt Nam còn thiếu một đầu mối quản
lý thống nhất ngành dịch vụ logistics Các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào lĩnh vực
Trang 7logstics chủ yếu là SMEs với sức cạnh tranh yếu
nên đang phải cạnh tranh rất khó khăn với các
doanh nghiệp nước ngoài Đó là những thách
thức Việt Nam cần vượt qua để hội nhập, trước
hết là với khu vực trong lĩnh vực logistics
Về các hoạt động hội nhập trong lĩnh vực
e-ASEAN, Việt Nam cũng đã có những điều chỉnh
chính sách tích cực trong lĩnh vực công nghệ
thông tin để phù hợp với Nghị định thư Hội
nhập e-ASEAN Ngày 6/10/2005, gần một năm
sau ký Nghị định thư Hội nhập ASEAN, Thủ
tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số
246/2005/QĐ-Ttg về Phê duyệt chiến lượng
phát triển công nghệ thông tin và truyền thông
Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm
2020, trong đó xác định một trong những nội
dung trọng điểm là Xây dựng và triển khai
chương trình xúc tiến thương mại điện tử, tham
gia chương trình e-ASEAN về thương mại điện
tử Năm 2008 là năm Bộ Thông tin truyền
thông đã thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng và
cải thiện hành lang pháp lý, chính sách cho
phát triển lĩnh vực Công nghệ thông tin và
truyền thông như ban hành Nghị định số
97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử
dụng Internet, Nghị định số 121/2008/NĐ-CP
về đầu tư vào lĩnh vực viễn thông và cung cấp
dịch vụ, Nghị định số 121/2008/NĐ-CP về các
hoạt động đầu tư vào lĩnh vực bưu chính và
viễn thông… (MUTRAP III, 2009) Thông tư số
05/2012/TT- BTTT của Bộ Thông tin truyền
thông về Phân loại các dịch vụ viễn thông đã
được ban hành ngày 18/5/2012 và Thông tư số
10/2012/TT-BTTT về Danh mục dịch vụ viễn
thông được ban hành ngày 10/7/2012 Việt Nam
cũng có những nỗ lực để hình thành một nền
tảng cho sự phát triển của Chính phủ điện tử
theo đúng tinh thần của Nghị định thư Hội
nhập e-ASEAN như: xây dựng và triển khai
thành công nhiều Dự án, Đề án ứng dụng công
nghệ thông tin; xây dựng và đưa vào hoạt động
thử nghiệm Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản
pháp luật; xây dựng và triển khai các phần
mềm ứng dụng Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã
có những nỗ lực để thực hiện điện tử hoá các
biện pháp liên quan trong đó nổi bật là Hải
quan điện tử như áp dụng thủ tục hải quan điện tử và Hệ thống quản lý & cấp chứng nhận xuất xứ điện tử (EcoSys)
Thời gian qua, ASEAN tập trung vào việc
xây dựng các chính sách phát triển giao thông vận tải, nổi bật nhất là các thỏa thuận về hàng không dân dụng, lĩnh vực đi đầu trong hội nhập
giao thông vận tải của ASEAN Đã có nhiều Hiệp định, thỏa thuận được ký kết và thông qua nhằm tăng cường kết nối giao thông vận tải trong nội khối ASEAN Việt Nam đang tham gia tích cực vào các chương trình chung này Việt Nam đã ký Hiệp định đa biên ASEAN về vận tải Hàng không (MASS - ASEAN multilateral agreement on air services) và Hiệp định đa biên ASEAN về Tự do hoá hoàn toàn dịch vụ vận tải hàng hóa hàng không (AMALAS
- ASEAN Multilateral Agreement on the full liberalization of Air Freight Services) Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã phê duyệt Hiệp định đa biên ASEAN về tự do hóa hoàn toàn dịch vụ
(MAFLPAS - Asean multilateral agreement on the full liberalization of passenger air services)
và các nghị định thư thực hiện Việt Nam đã và đang thể hiện vai trò tích cực trong thực hiện chính sách “Bầu trời mở”, trước hết là trong tiểu vùng các nước CLMV Việc thực hiện cam kết của Việt Nam không riêng lẻ trong hội nhập nội khối ASEAN mà diễn ra trong khuôn khổ Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không của Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Một trong các nội dung quan trọng của Quyết định này là việc thực hiện tự
do hóa vận tải hàng không (bao gồm cả thương quyền 5 trong ASEAN) để đến năm 2020 xây dựng được mạng đường bay Đông Nam Á bao gồm: (i) Mạng đường bay trong tiểu vùng Việt Nam - Lào - Campuchia - Myanmar; (ii) Tăng cường tần suất khai thác cao trên các đường bay
từ Thành phố Hồ Chí Minh/Hà Nội đi Băng Cốc, Kuala Lumpur, Singapore; mở đường bay
từ Đà Nẵng đến các điểm này, (iii) Khuyến khích mở các đường bay quốc tế trực tiếp giữa Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Cần Thơ, Phú
Trang 8Quốc với các nước trong khu vực Bên cạnh đó,
trong những năm qua, Việt Nam còn tích cực
hội nhập về vận tải hàng không trên bốn khía
cạnh sau: (i) Về tiếp cận thị trường: Nới lỏng các
yêu cầu về vốn đối với thương quyền 3 và 4; (ii)
Về vận tải hàng hóa: Tăng cường tự do hóa
quyền vận tải hàng hóa trên cơ sở các thỏa
thuận song phương với các nước trong khu vực;
(iii) Về tạo thuận lợi cho việc đầu tư, kinh
doanh các dịch vụ liên quan: Thực hiện đầy đủ
cam kết đối với các dịch vụ trong khuôn khổ
AFA và (iv) Ủng hộ và tạo thuận lợi cho việc
hợp tác giữa các hãng hàng không thông qua
các thỏa thuận, chẳng hạn như chuyến bay liên
danh (code share) (ACTICOF, 2014)
Một hoạt động quan trọng nữa trong hội
nhập dịch vụ của Việt Nam, đó là sự tham gia
vào các Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs
- Mutual Recognition Agreements), theo đó cho
phép chứng chỉ của các nhà cung cấp dịch vụ
được cấp bởi các cơ quan chức năng tương ứng
tại một quốc gia sẽ được thừa nhận bởi các nước
thành viên khác trong khu vực Đến nay,
ASEAN đã ký kết 7 MRAs trong các lĩnh vực
sau: (i) dịch vụ tư vấn kỹ thuật, (ii) dịch vụ điều
dưỡng, (iii) dịch vụ kiến trúc, (iv) hành nghề y
khoa, (v) hành nghề nha khoa, (vi) kế toán,
kiểm toán và (vii) ngành nghề du lịch Đối với
các MRAs này, Việt Nam đều đã và đang tuân
thủ chặt chẽ các quy trình của ASEAN, đảm
bảo cho việc thực hiện theo đúng cam kết như
thành lập Uỷ ban giám sát thực hiện các MRAs
trong từng lĩnh vực, xây dựng các nguyên tắc
đăng ký đạt chuẩn lao động lành nghề ASEAN
trong từng lĩnh vực, điều chỉnh các chính sách
liên quan và tổ chức các hội thảo phổ biến về
các MRAs Việt Nam đã ký kết Tuy nhiên, mặc
dù Việt Nam đều đã tham gia 7 MRAs của
ASEAN, ngoại trừ 02 dịch vụ là tư vấn kỹ thuật
và kiến trúc đã được triển khai tương đối
nhanh, việc triển khai các cam kết trong các
MRAs còn lại còn đang ở giai đoạn đầu Trong
thời gian tới Việt Nam sẽ phải thúc đẩy xây
dựng các bộ tiêu chuẩn, khung chứng chỉ và
thành lập các Ủy ban giám sát quốc gia để thực
hiện các MRAs trong năm lĩnh vực còn lại Cuối
cùng, để có thể tận dụng các cơ hội từ các MRAs này, trong bối cảnh nguồn nhân lực của Việt Nam còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, Việt Nam cần nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của mình
4 KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Việt Nam đã có những nỗ lực mở cửa thị trường dịch vụ trong gói AFAS 8 so với AFAS 7
và GATS về cả phạm vi cam kết, mức độ cam kết và đạt được những kết quả hội nhập AEC đáng khích lệ trong lĩnh vực thương mại dịch
vụ Việt Nam cũng được đánh giá là đã thực hiện nghiêm túc các cam kết chung, cam kết cụ thể và có những chủ động trong việc tham gia vào mở cửa các lĩnh vực dịch vụ ưu tiên của ASEAN Tuy nhiên, có thể thấy một thực trạng chung của ASEAN, trong đó có Việt Nam, đó là lĩnh vực tự do hoá thương mại dịch vụ chưa đạt được kế hoạch đặt ra trong AEC Blueprint Theo Scorecard của Ban Thư ký ASEAN, cả hai giai đoạn 2008-2009 và 2010-2011, cả 10 nước ASEAN đều chỉ thực thi được khoảng 50% các biện pháp đề ra trong lĩnh vực tự do hoá thương mại dịch vụ Xét riêng Việt Nam, Việt Nam trong các giai đoạn vừa qua có mức thực thi cao hơn mức 50%, tuy nhiên tự do hoá dịch vụ luôn là lĩnh vực nằm trong số các lĩnh vực còn tồn đọng các công việc chưa thực hiện được Theo ông Trịnh Minh Anh, Uỷ ban Quốc gia về Hội nhập kinh tế quốc tế, Giai đoạn I: Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ thực thi cao nhất (95,4%) và 11 biện pháp chưa thực hiện được tồn tại chủ yếu thuộc lĩnh vực dịch vụ và vận tải Trong Giai đoạn II: Tỷ lệ thực thi của Việt Nam là 86,78% và những giải pháp còn lại của Việt Nam cũng như các nước ASEAN khác chủ yếu thuộc lĩnh vực thuận lợi hóa thương mại, dịch vụ, đầu tư và giao thông vận tải (Thế Hiển, 2013) Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam cùng các nước ASEAN phải
có những nỗ lực lớn đề hoàn thành nốt các công việc còn lại của hiện thực hoá AEC 2015 trong lĩnh vực dịch vụ
Trang 9Để thực hiện được điều này, Việt Nam cần
có quan điểm thống nhất và kiên định về vấn đề
hội nhập nói chung và hội nhập AEC nói riêng
Mặc dù cần hiểu rõ các thách thức từ AEC, Việt
Nam cần xem xét AEC như một cơ hội và từ đó
có các chính sách, biện pháp thích hợp để thu
được lợi ích từ AEC Nói cách khác, Việt Nam
cũng như các nước ASEAN khác cần có cái nhìn
mang tính khu vực để đảm bảo lợi ích lâu dài
cho toàn bộ khu vực Việt Nam cần tiếp tục
hoàn thiện các chính sách trong các ngành dịch
vụ, đặc biệt là các ngành ưu tiên và các ngành
ASEAN có gói cam kết riêng như tài chính, vận
tải hàng không, logistics và thương mại điện tử
Các Bộ ngành cần tiếp tục rà soát, điều
chỉnh để đảm bảo tính nhất quán của văn bản
pháp lý trong nước với các cam kết chung trong
AFAS nói riêng, WTO nói chung liên quan đến
Mode 3 và Mode 4 Việt Nam cần có những nỗ
lực hơn nữa với việc mở cửa trong Mode 1 và
Mode 4 để phù hợp hơn với yêu cầu của AEC
Blueprint cũng như xu hướng tự do hoá thương
mại dịch vụ mà AEC đã đặt ra Việt Nam cũng
cần tiếp tục hoàn thiện Pháp lệnh về Nhập
cảnh, Xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài
ở Việt Nam; Bộ luật Lao động và các văn bản
hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động… Đó là
thách thức lớn với Việt Nam trong bối cảnh Việt
Nam còn yếu về phát triển công nghệ trong
ngành dịch vụ và chất lượng nguồn nhân lực
còn chưa cao so với các nước trong khu vực, đặt
biệt là ASEAN - 6 Bên cạnh đó, việc tăng
cường một cơ chế thực thi và giám sát thực thi
hiệu quả các chính sách đã được điều chỉnh theo
cam kết cũng là biện pháp cần ưu tiên hàng đầu
của Việt Nam để đảm bảo các chính sách, các
cam kết trong AEC được đưa vào thực tiễn kinh
doanh và tạo ra các cơ hội cho các nhà cung cấp
dịch vụ trên thị trường Việt Nam
Cần tăng cường nâng cao chất lượng của
đội ngũ cán bộ y tế để chuẩn bị cho hội nhập
ASEAN, nhất là tận dụng tối đa các cơ hội từ
MRAs liên quan đến y tế Đối với dịch vụ du
lịch, tuy khách ASEAN đến Việt Nam đang có
xu hướng gia tăng nhưng tỷ lệ còn thấp trong
tổng khách du lịch vào Việt Nam Ngoài những
thuận lợi hoá liên quan đến thị thực, thủ tục xuất nhập cảnh dành cho người dân ASEAN,
Việt Nam cần có những biện pháp tích cực hơn
nữa để nâng cao chất lượng của ngành du lịch,
học hỏi kinh nghiệm từ những nước ASEAN khác trong phát triển du lịch như Thái Lan, Singapore… và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực để tận dụng MRAs trong ngành du
lịch Đối với dịch vụ logistics, cần tập trung
nâng cấp cơ sở hạ tầng logisgics như sân bay,
bến cảng, đường sắt và tăng cường kết nối đa phương thức để giảm chi phí logistics, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách về logistics để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trong quá trình hội nhập AEC
Để chuẩn bị tốt hơn cho việc thực hiện các
MRAs trong khuôn khổ AEC, Việt Nam cần
chuẩn bị tốt hơn cho việc di chuyển lao động lành nghề trong ASEAN sau năm 2015 thông
qua hai công việc chủ yếu Thứ nhất, xây dựng
và hoàn thiện các quy định, tiêu chuẩn để được công nhận là "lao động lành nghề ASEAN"
trong các lĩnh vực ASEAN đã ký MRAs Thứ
hai, đẩy mạnh giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
cao, đặc biệt là trong các lĩnh vực ưu tiên của ASEAN, thông qua đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học trong ASEAN Các trường phải chủ động đổi mới, cải tiến chương trình giảng dạy, đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên để có được nguồn nhân lực tốt phục vụ cho đất nước cũng như hội nhập với khu vực
Cuối cùng, lưu ý rằng để có thể phân tích một cách sâu sắc về sự hội nhập của Việt Nam vào AEC trong lĩnh vực dịch vụ, cần phải có sự phân tích, đánh giá cụ thể tình hình cam kết và thực hiện cam kết cho mỗi ngành, thậm chí là mỗi phân ngành dịch vụ Tuy nhiên, do tác giả hướng tới mục tiêu cung cấp một bức tranh tổng thể về sự hội nhập của Việt Nam vào AEC trong lĩnh vực dịch vụ, bài viết này chỉ phân tích các cam kết và tình hình thực hiện cam kết nói chung của Việt Nam và tập trung vào 5 ngành dịch vụ ưu tiên trong ASEAN chứ không đi sâu phân tích cụ thể vào từng ngành và phân ngành dịch vụ
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
Acticop (2014) Viet Nam's air transport market:
Legislation and regulation and policy during
2003-2013 Worldwide air transport conference,
Montreal
Lê Tuấn Anh (2014) Việt Nam tham dự Diễn đàn Du
lịch ASEAN 2014 tại Malaysia Available:
http://Viet
Namtourism.gov.vn/index.php/items/13426,
accessed 14/4/2014
Mỹ Hạnh (2014) Việt Nam - điểm tăng trưởng nóng
http://www.sggp.org.vn/hoptackinhte/2014/1/3370
12, accessed 14/4/2014
Vũ Thanh Hương (2013) Assessing the Committed Integration of Viet Nam’s Distribution Services in AEC 2015 Journal of Economics and Business, 5E: 43-55
Mutrap III (2009) Báo cáo chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020 và tầm nhìn tới năm 2025 Hà Nội, Việt Nam: MUTRAP (Dự án
hỗ trợ thương mại đa biên)
Minh Ngọc (2013) Dẫn đầu thực hiện Khung chiến lược Y tế ASEAN Báo Mới (Online) Available: http://www.baomoi.com/Dan-dau-thuc-hien-
Khung-chien-luoc-Y-te-ASEAN/122/12672332.epi, accessed 14/4/2014