Chuyển dich cơ cấu cây trồng ở Huyện Ứng Hoà
Trang 1Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phơng Tú là một xã thuộc huyện ứng Hoà - Hà Tây cách thủ đô 20km Phơng Tú gồm 6 thôn : Hậu Xá, Dơng Khê, Nguyên Xá, Đông Phú, Phí Trạch, Ngọc Đông Từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nớc hộ gia
đình đợc giao đất lâu dài, ổn định để sản xuất và hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, hợp tác xã nông nghiệp trở thành hợp tác xã dịch vụ đầu vào và
đầu ra phục vụ và tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế hộ gia đình
Ph-ơng Tú có nhiều khởi sắc đã phát huy tiềm năng đất đai, lao động sản xuất nông nghiệp phát triển, năng suất lúa tăng cao đảm bảo nhu cầu cho nhân dân trong xã và phát triển chăn nuôi đời sống về kinh tế, văn hoá cuả xã đợc tăng lên đáng kể
Tuy nhiên trong thời kỳ kinh tế xã hội hiện nay đang phát triển theo nền kinh tế thị trờng thì việc sản xuất ở đây cha đáp ứng đợc hiệu quả cao nhất của đất ở Phơng Tú đất sản xuất có nhiều loại mỗi loại có u thế riêng để phát triển những loại cây trồng cho năng suất cao đất đạt hiệu quả cao nhất
- Đối với đất cao tơí tiêu nớc khó nhất là vụ xuân thì hiệu quả cây lúa sẽ kém hơn nhiều đối với sản xuất rau màu
- Đối với đất trũng thờng ngập nớc thì hiệu quả của cây lúa thấp hơn so với việc sản xuất thuỷ sản
Chính vì vậy việc chuyển đổi đất lúa của Phơng Tú sang sản xuất nông thủy sản khác là cần thiết
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Với đề tài nghiên cứu " Định hớng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác ở xã Ph-
ơng Tú – ứng Hoà - Hà Tây" thì mục tiêu tổng quát là làm sáng tỏ cơ cở
khoa học của những vấn đề kinh tế chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn
Trang 2xã, nhằm mục đích tạo đợc một cơ cấu đất sản xuất phù hợp nhất tạo đợc hiệu quả sản xuất cao nhất.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng đất nông nghiệp và cơ cấu cây trồng ở xã Phơng
Tú, rút ra những mặt đợc và chỉ ra những mặt hạn chế
- Đề xuất phơng hớng và giải pháp chuyển đổi cơ cấu theo hớng nâng cao năng suất đất và hiệu quả sử dụng ruộng đất
3.Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài là vấn đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác
Đề tài đứng trên góc độ của vấn đề kinh tế để nghiên cứu những vấn đề
có tính lý luận và thực tiễn chuyển đổi đất lúa sang sản xuất nông thuỷ sảng khác và ảnh hởng của nó trong quá trình phát triển nông nghiệp theo cơ chế thỉ trờng có sự quản lý của Nhà nớc
3.3.1 Phơng pháp nghiên cứu duy vật biện chứng :
- Đây là phơng pháp nghiên cứu các hiện tợng trên trạng thái động và
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nó cho phép phân tích và đánh giá một cách khách quan các vấn đề nghiên cứu từ đó cho ta biết đợc những quan điển những lí thuyết chung về vấn đề nghiên cứu
Trang 33.3.2 Phơng pháp duy vật lịch sử
- Phơng pháp này dựa trên những phạm trù khoa học về sản xuất vật chất và quy luật khách quan để nghiên cứu quá trình hình thành và vận động của các ngành sản xuất
3.3.3 Phơng pháp thống kê kinh tế
- Đây là phơng pháp nghiên cứu kinh tế thông thờng giúp cho việc điều tra, tổng hợp phân tích thống kê các tài liệu về thực trạng sử dụng đất nông nghiệp
3.3.4 Phơng pháp phân tích và tổng hợp
- Đây là phơng pháp nghiên cứu các vấn đề kinh tế xã hội một cách xác thực thông qua phơng pháp phân tích số liệu tổng hợp đợc từ đó cho ta những kết luận, nhận xét từ những bài học thực tiễn
Trang 4Chơng I : Một số lý thuyết và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu
đất trồng lúa ở nớc ta
I cơ cấu cây trồng và đặc trng của cơ cấu cây trồng.
1.Khái niệm về cơ cấu cây trồng
1.1 Khái niệm
Cơ cấu cây trồng đợc hiểu xuất phát từ thuật ngữ " cơ cấu" theo thuyết cấu trúc (Structuralism) và học thuyết tổ chức hữu cơ " organism" thì cơ cấu
có thể hiểu nh là một cơ thể đợc hình thành trong điều kiện môi trờng nhất
định ( hiểu theo nghĩa rộng ) Trong đó các bộ phận hay yếu tố của nó đợc cấu tạo có tính quy luật và hệ thống theo một trật tự và tỷ lệ thích ứng Nội dung cốt lõi của nó là biểu hiện vị trí, vai trò của từng bộ phận hợp thành và có mối quan hệ tơng tác lẫn nhau trong tổng thể Một cơ cấu có thể đợc thay đổi để phù hợp với điều kiện khách quan nhất định Suy rộng ra cơ cấu cây trồng có thể quan niệm trên cơ sở của khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn: " là tổng
thể các mối quan hệ kinh tế trong khu vực nông thôn Nó có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lợng và liên quan chặt chẽ với chất, chúng tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn - một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ thống nền kinh tế quốc dân" Cơ cấu cây trồng còn là bộ phận
chủ yếu của cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn ở nớc ta
Sự phát triển của cơ cấu cây trồng còn tuỳ thuộc vào trình độ của lực lợng sản xuất và sự phân công lao động xã hội Quá trình phát triển của lực lợng sản xuất nói chung và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác lập những tỷ lệ theo các mối quan hệ tất yếu C Mác đã viết: " Trong sự phân công lao động xã
hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi một tất yếu thầm kín, yên lặng" Cơ cấu cây trồng có thể đợc hình thành từ nhiều nhóm, chẳng hạn
cây lơng thực có lúa, màu, đậu tơng cây công nghiệp dài ngày có chè, cà
Trang 5phê Cơ cấu cây trồng còn là một trong những nội dung chủ yếu của hệ thống canh tác nông nghiệp Xét trong phạm vi các điều kiện canh tác thì cơ cấu cây trồng thể hiện thành phần các loại cây trồng đợc bố trí theo từng địa
điểm và thời gian cụ thể Vì thế xác định cơ cấu cây trồng còn là nội dung của công tác phân vùng sản xuất nông nghiệp Muốn phát triển trồng trọt ở từng vùng đạt hiệu quả kinh tế cao trớc hết phải xem xét việc bố trí cây trồng thích hợp nhất với điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng Do đó cấu trúc một cơ cấu cây trồng hợp lý không những phát triển đợc sản xuất một cách lợi nhất
mà còn bảo vệ tốt đất đai và môi trờng
1.2 Yêu cầu cơ cấu cây trồng trong hệ thống canh tác
- Lợi dụng tốt các điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai nhằm tránh đợc các tác hại do thiên tai gây ra, hạn chế những ảnh hởng của úng lụt, hạn hán, chua mặn mà vẫn không ngừng thâm canh, cải tạo đất
- Lợi dụng triệt để những đặc tính sinh học tốt của cây trồng nh : khả năng chống chịu các điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh, tính thích ứng rộng rãi,
có tiềm năng cho năng suất cao và chất lợng sản phẩm tốt
1.3 Yêu cầu cơ cấu cây trồng thể hiện về mặt kinh tế
- Đáp ứng cho việc tổ chức các vùng sản xuất chuyên canh có tỷ suất hàng hoá cao
- Đảm bảo cho việc tổ chức các yếu tố đầu vào hợp lý, phát triển sản xuất đa dạng và kết hợp chặt chẽ giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến
Trong quá trình tái sản xuất bao gồm cả bốn khâu: sản xuất, phân phối,
lu thông và tiêu dùng thì cơ cấu cây trồng không thể dừng lại ở một khâu nào cả mà nó là một chuỗi liên tục, chi phối trong mối quan hệ tơng tác lẫn nhau theo hớng hoàn thiện trong từng hoàn cảnh cụ thể Cho đến nay, khái niệm về cơ cấu cây trồng vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, song qua một thời gian dài nghiên cứu về lý luận cơ cấu cây trồng và vận dụng vào tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp nớc ta, nhiều nhà lý luận cũng nh các chuyên gia
Trang 6khái niệm có tính nguyên tắc về cơ cấu cây trồng Tuy nhiên theo chúng tôi thì khái niệm cơ cấu cây trồng vừa theo nghĩa rộng và vừa có ý nghĩa trong phạm vi hẹp nh đã trình bày ở trên là xác đáng hơn.
2 Vai trò và đặc trng của cơ cấu cây trồng
2.1 Vai trò của cơ cấu cây trồng
Nớc ta là một nớc nông nghiệp trên 70% dân số sống tập trung ở nông thôn Vì vậy đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội Trong sản xuất nông nghiệp thì ngành trồng trọt là chủ yếu, chiếm đến 75% giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp Đứng trên góc độ kinh tế - tổ chức thì chế độ trồng trọt bao gồm ba nội dung quan trọng
Một là xác định cơ cấu đất đai để bố trí cây trồng cho phù hợp có nghĩa
là hình thành một cơ cấu cây trồng hợp lý nhất Hai là xác định nhu cầu về khối lợng và chủng loại sản phẩm để lựa chọn cây trồng thích hợp Đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng thì đây là động lực quan trọng Ba là xác định khả năng và biện pháp khai thác triệt để để các nguồn lợi tự nhiên cho sản xuất , tăng năng suất đất đai và sản lợng cho các loại cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất
Trong ba nội dung trên thì xác định cơ cấu cây trồng có ý nghĩa cơ bản
và quan trọng nhất trong quá trình chuyển nền nông nghiệp từ độc canh lơng thực sang nền nông nghiệp đa dạng, có nhiều nông sản hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng và cho xuất khẩu, làm cơ sở vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc Cơ cấu cây trồng còn là căn cứ để xây dựng các kế hoạch đầu t vốn, sử dụng lao động và các loại t liệu sản xuất nông nghiệp cũng nh việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách có hiệu quả và chủ động Mặt khác trong điều kiện nhiều thành phần kinh tế trong nông nghiệp thì việc xác định một cơ cấu cây trồng hợp lý đạt hiệu quả là một
đòi hỏi tất yếu đối với mỗi thành phần kinh tế sử dụng đất nông nghiệp ở nớc
ta Tuy nhiên cơ cấu cây trồng không phải là một hệ thống tĩnh mà luôn luôn
động Việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở nớc ta hiện nay vừa là
Trang 7nội dung trọng tâm của chủ trơng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng một nền kinh tế hàng hoá, nhiều thành phần, vừa là biện pháp để phát triển nông nghiệp toàn diện và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên đất đai Có thể nói là một vấn
đề cực kỳ quan trọng và hết sức bức xúc Đơng nhiên không thể chuyển đổi một cách ồ ạt, vội vã song cũng không thể chần chừ, chậm trễ Mọi việc làm thiếu căn cứ khoa học đều gây thiệt hại không nhỏ làm cho hàng triệu nông dân và kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp Việc coi nhẹ vai trò của cơ cấu cây trồng nhiều khi còn phải trả giá quá đắt cho một thời gian khá dài của nền nông nghiệp lạc hậu và độc canh lơng thực Tất nhiên điều đó còn có sự ảnh h-ởng của cơ chế tập quản lý tập trung, bao cấp nữa Vì vậy chuyển đổi cơ cấu cây trồng có nghĩa là chuyển dịch theo quan điểm đổi mới của Đảng ta chứ không phải thay đổi hoàn toàn Từ những năm 1975 miền Bắc nớc ta đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên cơ sở bố trí lại mùa vụ đã đạt kết quả rất tốt Chẳng hạn công trình nghiên cứu thay thế lúa chiêm trên một số diện tích bằng vụ lúa xuân và chuyển đổi vụ mà chính vụ bằng mùa sớm để phát triển thêm cây vụ đông đã mở ra một chế độ canh tác 3
vụ cho hàng vạn héc ta, tạo ra năng suất đất đai cao hơn hẳn, và việc chuyển
đổi cơ cấu cây trồng đã có bằng chứng sống động có sức thuyết phục cao đối với hàng triệu nông dân đồng bằng Bắc Bộ Từ việc nghiên cứu cơ cấu cây trồng đặt ra cho các nhà lý luận cũng nh các nhà quản lý những nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lợc trong bố trí sản xuất trồng trọt, đó là xác định cơ cấu cây trồng trớc mắt và trong tơng lai, phục vụ cho chiến lợc phát triển nông nghiệp của nớc ta trong quá trình xây dựng nền kinh tế đất nớc theo con đờng công nghiệp hoá và hiện đại hoá
2.2 Đặc trng của cơ cấu cây trồng.
Cây trồng là một trong những đối tợng sản xuất có nhiều đặc trng nhất vì
nó vừa là đối tợng sản xuất vừa là đối tợng tác động chính Bởi vậy chúng ta cần phải xem xét đặc trng của cơ cấu cây trồng
2.2.1 Cơ cấu cây trồng trớc hết phản ánh rõ nét đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Trang 8Sản xuất nông nghiệp luôn gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, bởi vì cây trồng là đối tợng của sản xuất nông nghiệp Bản thân các cây trồng là những cơ thể sống, chúng tồn tại, sinh trởng, phát triển theo quy luật sinh học và chịu tác động trực tiếp của các yếu tố tự nhiên nh đất, nớc, khí hậu, thời tiết Dacwin và Mitchurin đã từng nhấn mạnh : " Cây trồng và ngoại cảnh là một khối thống nhất " Vì vậy cơ cấu cây trồng đợc hình thành trớc hết không thể bỏ qua điều có tính quy luật đó Mặt khác tính quần thể của thực vật còn biểu hiện mối quan hệ sinh học trong việc bố trí sản xuất trồng trọt Việc xác định cơ cấu cây trồng còn phải xuất phát từ những yếu tố đại lý
và tập quán canh tác cũng nh trình độ phát triển dân trí Do đó phải dựa vào cơ
sở của các phơng án phân vùng quy hoạch nông nghiệp nhất định là việc hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, có khối lợng nông sản hàng hoá lớn Cần phải nhận thức rằng không thể dựa vào quan niệm sản xuất nhỏ, phân tán, manh mún để bố trí cây trồng một cách dàn trải, bất hợp lý mà phải dựa vào việc khai thác lợi thế của từng vùng, từng địa phơng để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thớc đo Sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm trồng trọt nói riêng phần lớn là sản phẩm thô, tồn tại dới dạng nguyên liệu, vì vậy trong tổ chức sản xuất trồng trọt phải gắn liền với việc bố trí cơ cấu cây trồng với các thành tựu khoa học kỹ thuật trong bảo quản và chế biến để nâng cao giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho sản xuất
2.2.2 Bản chất và sự biến đổi của cơ cấu cây trồng tuỳ thuộc vào trình độ của lực lợng sản xuất
Cơ cấu cây trồng còn hoang sơ và rất tự nhiên trong điều kiện cuộc sống của con ngời dựa vào hái lợm Cơ cấu cây trồng mang tính độc canh tự cấp, tự túc, khép kín, kém hiệu quả trong điều kiện sản xuất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp và các ngành kinh tế khác cha phát triển Nông nghiệp nớc
ta nằm trong vùng có khí hậu đặc trng nhiệt đới gió mùa, điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi cho việc gieo trồng quanh năm Nhng trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng, song
Trang 9trong suốt thời gian thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, việc xác
định cơ cấu cây trồng luôn bị lệ thuộc bởi các yếu tố chủ quan, định trớc do
đó sản xuất nông nghiệp còn mang đặc trng nền nông nghiệp kém phát triển, nhiều vùng nông thôn vẫn trong tình trạng nghèo đói Những năm gần đây, do thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nớc nớc ta đã bớc đầu khởi sắc
và phát triển Nhng cơ bản vẫn còn mang dấu ấn của một nền nông nghiệp lạc hậu, độc canh cây lơng thực Vì vậy việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vẫn đợc xem xét từng bớc cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất trong nông nghiệp, nhằm kết hợp chặt chẽ với điều kiện tự nhiên và lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phơng Mặt khác trình độ khoa học kỹ thụât cao cũng có tác động rõ rệt đến việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất trồng trọt, làm thay đổi cơ cấu cây trồng theo hớng chú trọng chất lợng và hiệu quả Nhiều vùng chuyên canh cây trồng ở nớc đã hình thành và phát triển, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và hàng hoá xuất khẩu
nh : chè, cà phê, cao su, mía đờng, dâu tằm.v v Những tiến bộ của việc xác
định cơ cấu cây trồng ngày càng hợp lý cũng thể hiện sự phát triên của lực ợng sản xuất trong nông nghiệp nớc ta đang từng bớc đạt trình độ cao hơn
l-2.2.3 CCCT về cơ bản phản ảnh yêu cầu của sản xuất hàng hoá và thị trờng, tuân theo sự phân công lao động xã hội, tính chất chuyên môn hoá sản xuất
Nhu cầu sản xuất hàng hoá và thị trờng là điều kiện quyết định sự biến
đổi về chất của CCCT Suy cho cùng thì nhu cầu về nông sản và môi sinh của xã hội càng cao thì càng thúc đẩy CCCT chuyển biến theo hớng tiến bộ Từ những đặc trng đó đòi hỏi khi xác định CCCT cần phải dựa vào nhu cầu thị tr-ờng nông sản, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, sự phân vùng quy hoạch nông nghiệp và phơng hớng phát triển nông nghiệp trong từng thời
kỳ, những tiến bộ kỹ thuật và điều kiện để ứng dụng vào sản xuất Trong nền kinh tế hàng hoá thì thị trờng là nơi kết thúc quá trình sản xuất Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất nh thế nào đều do thị trờng quyết định Trong quá trình tổ chức sản xuất ngành trồng trọt thì việc xác định CCCT tuân theo
Trang 10nguyên lý đó Quá trình tái sản xuất trong nông nghiệp tuy diễn ra chậm chạp nhng nó tuân theo những quy luật kinh tế khách quan vừa đảm bảo thu hồi vốn, vừa tiếp tục tái sản xuất mở rộng Ngời nông dân chỉ có thể sản xuất cái
mà thị trờng cần chứ không phải cái mà họ có sẵn Khi một loại nông sản nào
đó thị trờng không chấp nhận sẽ dẫn đến ứ đọng và ế thừa, không tiêu thụ đợc hoặc tiêu thụ với giá rẻ không đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra Bởi vậy, trong lĩnh vực trồng trọt, việc xác định CCCT trớc hết phải tìm hiểu nhu cầu thị trờng cả trong nớc và ngoài nớc về số lợng và chất lợng, chủng loại, giá cả Trên cơ sở
đó mà có sự bố trí sắp xếp sản xuất hợp lý đáp ứng nhu cầu thị trờng, thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng
3 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Thực tiễn phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và CCCT nói riêng ngày càng chứng tỏ hơn các xu hớng sau đây:
3.1 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hớng sản xuất hàng hoá
Xu hớng này phản ánh quy luật cung - cầu trong xã hội, có thể thấy rõ trên các khía cạnh:
- Nhu cầu ngày càng gia tăng về số lợng lẫn chất lợng của sản phẩm từ cây lơng thực, thực phẩm và nhiều loại cây trồng khác
- Thị trờng cung - cầu của sản xuất trồng trọt ngày càng mang tính xã hội hoá và quốc tế hoá
- Công nghiệp hoá và hiện đại hoá có quan hệ tơng tác với nông nghiệp
và ngày càng thêm chặt chẽ
3.2 Chuyển dịch theo hớng một nền kinh tế phát triển và một nền nông nghiệp ổn định, bền vững.
Lịch sử phát triển của các nớc trên thế giới đều cho thấy rõ:
- Vai trò của nông nghiệp có tác dụng rất to lớn và có khi có tính quyết
định ở các giai đoạn đầu ở sự phát triển nền kinh tế quốc dân Kinh nghiệm của các nớc Châu á phát triển nh Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia đã đạt mức tăng trởng kinh tế nhanh do đã tập trung xây dựng trớc hết một nền móng phát triển vững vàng tại nông thôn Các nớc này đã đầu
Trang 11t rất nhiều vào nông nghiệp và đã thành công không chỉ trong việc xoá đói giảm nghèo mà ngay cả các ngành phi nông nghiệp cũng tăng trởng rất nhanh Trong giai đoạn sau thì vai trò của nông nghiệp có khác trớc, nhng không có nghĩa là không quan trọng đối với một nền kinh tế phát triển.
- Ngày nay ngời ta càng nhận rõ vấn đề an toàn lơng thực là đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia
1.3.3 Cơ cấu cây trồng phát triển theo hớng bảo vệ môi trờng sinh thái
Kinh tế phát triển, nhất là kinh tế hàng hoá luôn có mặt trái của nó, trong đó có sự tác hại đến môi trờng, sự phá huỷ môi trờng sinh thái là điển hình Do đó cơ cấu cây trồng tiến bộ không thể không chú ý đến việc hạn chế
sự tàn phá môi trờng và hớng tới bảo vệ đa dạng, bền vững của môi trờng sinh thía Nói tóm lại xu hớng phát triển cơ cấu cây trồng cần thiết phải đợc thể hiẹn rõ mối quan hẹ giữa các phạm trù : sản xuất hàng hoá - nông nghiệp bền vững - nông nghiệp sinh thái
II Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác.
1 Sự cần thiết phải chuyển dịch sang sản xuất thuỷ sản :
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế nớc ta thì tốc độ tăng trởng kinh tế cũng nh mức sống của bà con nông dân ngày đợc tăng lên, nhu cầu về nông sản phẩm đòi hỏi ngày một nhiều hơn cả về số lợng
và chất lợng chính vì vậy sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có sự biến đổi tích cực, để phù hợp với yêu cầu khách quan Để đáp ứng đựơc nhu cầu ngày càng cao về nông sản phẩm thì chúng ta phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm cho thu nhập và mức sống của bà con nông dân ngày một tăng lên Trong bữa ăn hàng ngày bây giờ thì vấn đề lơng thực là thứ yếu mà chủ yếu trong bữa ăn thực phẩm là thức ăn quan trọng đòi hỏi phải nhiều chủng loại, chất lợng các chủng loại này cao, đáp ứng đợc về mức độ ngon miệng và đủ chất dinh dỡng
Trang 12Trên các chân ruộng lúa thì có nhiều loại khác nhau với các đặc điểm khác nhau tạo ra điều kiện sản xuất khác nhau của các chân ruộng đó, trong
đó ta thấy có một số chân ruộng có thể kết hợp nuôi cá, đan xen với trồng lúa vừa đem lại sự đa dạng hoá sản phẩm trên đất lúa, vừa đem lại hiệu quả kinh
tế cao Những chân ruộng trũng thờng xuyên ngập nớc, canh tác lúa trên ruộng đó chủ yếu là vụ mùa vào tháng 1 và tháng 6 còn lại vụ kia thì canh tác gặp nhiều khó khăn, những chân ruộng luôn ngập úng cả hai vụ khi có ma to
Nh vậy, điều kiện sản xuất lúa sẽ khó khăn chi phí sản xuất sẽ lên cao dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp
Đối với chân ruộng nh vậy ta có thể chuyển sang sản xuất nuôi cá và trồng lúa kết hợp nh các chân ruộng
- Đối với chân ruộng sản xuất lúa bấp bênh, một vụ lúa thì nay chuyển sang sản xuất một vụ lúa cộng với một vụ cá
- Đối với chân ruộng sản xuất bấp bênh cả hai vụ lúa nay đắp bờ kiên cố chuyển hẳn sang sản xuất nuôi cá
1.2 Hiệu quả kinh tế
- Đối với diện tích hồ sẵn có thì việc phát triển sản xuất thuỷ sản sẽ làm cho giá trị sản xuất của ao hồ ngày càng nâng cao
- Đối với diện tích lúa khi chuyển sang sản xuất thuỷ sản việc kết hợp 2 lúa 1 cá + vịt thì nhìn chung sản lợng lơng thực không giảm đáng kể nhìn chung năng suất đạt 10 tấn/ha sản lợng cá đạt 2 tấn/ha + 200 con vịt nh vậy ta thấy sản lợng cá và vịt sẽ tăng lên rất nhiều
2 Sự cần thiết chuyển sang sản xuất nông sản khác
Ngoài sản xuất lúa thì trên đất trồng lúa, nhất là những chân ruộng cao thì chúng ta có thể sản xuất đợc rất nhiều những nông sản phẩn khác nhau đen lại hiệu của kinh tế cao hơn, và phù hơp với phong tục sản xuất của các địa phơng, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân
Trang 132.1 Điều kiện phát triển sản xuất nông sản khác :
Nớc ta có đặc điểm về tự nhiên đặc biệt là đất đai ngoài diện tích trũng,
đất hai lúa, thì còn một số diện tích đất hai lúa nhng chân ruộng tơng đối cao
có thể phát triển sản xuất cây vụ đông
Đối diện tích đất cao thì việc sản xuất lúa sẽ gặp phải khó khăn trong việc tới nớc cho cây và năng suất lúa ở chân ruộng này không cao năng suất
đạt trung bình 150 kg/ sào Bắc Bộ - 180 kg/ sào Bắc Bộ Nh vậy hiệu quả sản xuất sẽ không cao Chính vì vậy cần phải chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác
Đối chân ruộng quá cao thì diện tích ở xã không nhiều nay ta chuyển sang sản xuất 1 vụ lúa và 1 vụ màu
2.2 Hiêu quả kinh tế
Xét về mặt hiệu quả kinh tế thì không thể phủ nhận đợc của các cây trồng khác.Nó vừa cho ta nhiều hơn về chủng loại hàng hoá và về giá trị của chúng
- Về thị trờng tiêu thụ sản phẩm này thì nhìn chung thị trờng rất lớn bao gồm thị trờng tiêu thụ tại chỗ và cung cấp cho thị trờng tiêu thụ tại trong nớc , cho các nhà máy chế biến nông sản trong nớc, tiêu thụ tại thị trờng nớc ngoài nhất là các nớc phát triển
III Tình hình phát triển chung về cơ cấu cây trồng ở thế giới và Việt Nam
1.Tình hình chung của thế giới
1.1 ở các nớc công nghiệp
Đặc điểm nổi bật ở các nớc này là chuyên môn hoá và tập trung hoá cao
độ, sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng có sự tác động rõ
Trang 14trồng không đơn thuần vì mục đích để thu sản phẩm mà còn vì mục đích cải tạo môi trờng sinh thái để phát triển nông nghiệp bền vững Tuy nhiên cơ cấu cây trồng thờng biến đổi, bị lệ thuộc và chịu sự chi phối của nền kinh tế thị tr-ờng và tính chất sản xuất hàng hoá cao độ.
1.2 Nhóm các nớc phát triển
Nhìn chung đối với những nớc này cha giải quyết cơ bản mối quan hệ kinh tế - xã hội - môi trờng sinh thái trong quá trình thiết lập các hệ thống công tác và bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp Tuy nhiên cũng đã hớng đến mục tiêu nh ở các nớc công nghiệp phát triển, đó là việc chuyên môn hoá và tập trung hoá ngày càng đợc thể hiện rõ nét Tác động của công nghiệp, của khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ tuy cha đạt trình độ nh các nớc công nghiệp phát triển song cũng đã đạt đợc những thành tựu tơng đối nổi bật trong khuôn khổ cuộc cách mạng xanh và cách mạng sinh học Hiện nay nói chung cơ cấu cây trồng vẫn bị cuốn hút theo kinh tế thị trờng nhiều khi còn mang đậm nét truyền thống, tự nhiên, và đại đa số những nớc này đang còn gặp nhiều khó khăn về vấn đề giải quyết lơng lực
1.3 Nhóm các nớc kém phát triển và có điều kiện tự nhiên không thuận lợi
Đối với những nớc này việc xác định cơ cấu cây trồng chủ yếu là theo tính chất sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc Hiện có nhiều nớc, đặc biệt là nớc Châu Phi vẫn cha tự túc đợc lơng thực, nạn đói vẫn thờng xuyên đe doạ Điểm nổi bật ở những nớc này là sản xuất nông nghiệp kém phát triển, hiệu quả kinh
tế thấp, môi trờng sinh thái bị phá hoại nghiêm trọng Hình thức canh tác lạc hậu theo lối quảng canh, bóc lột đất đai và môi trờng tự nhiên là chủ yếu Việt Nam cũng là một trong những nớc kém phát triển song đặc thù của Việt Nam thể hiện trong cơ cấu cây trồng mang đặc trng của kinh tế lúa nớc
2 Tình hình phát triển cơ cấu cây trồng ở Việt Nam
* Trớc cách mạng tháng 8 năm 1945
Cơ cấu cây trồng ở nớc ta nhìn chung rất lạc hậu, thời kỳ nay do dân số
ít, vấn đề đất đai không ở mức hạn hẹp, hình thức sản xuất chủ yếu là kiểu
Trang 15khai phá, lập ấp, xây dựng trại, mở mang đồng ruộng và canh tác chính là trồng lúa một vụ, sản xuất tự nhiên, tự cấp tự túc.
* Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ
Thời kỳ này về cơ bản nông nghiệp vẫn còn rất lạc hậu, nhiệm vụ sản xuất chủ yếu là tập trung giải quyết lơng thực để phục vụ cho chiến đấu Cơ cấu cây trồng cũng chủ yếu thiên hớng phát triển các loại cây lơng thực gồm lúa và hoa màu, chú ý đến số lợng và xem nhẹ chất lợng Tuy nhiên trong cơ cấu tổ chức bớc đầu cũng hình thành những vùng chuyên canh nh những vùng cây ăn quả ở Nghệ An, vùng chè ở một số tỉnh Trung du và vùng núi phía Bắc, vùng rau quanh các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng Trong sản xuất cũng đã
đợc bớc đầu áp dụng những thành tựu về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là thâm canh cây trồng nh giống mới, phân bón, chế độ tới tiêu Năng suất cây trồng nhờ đó đã tăng lên và có nhiều tiến bộ Miền Bắc cũng đã làm tốt nhiệm vụ là hậu phơng lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc toàn thắng
* Từ năm 1975 đến nay
Sau khi miền Nam đợc hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nớc, công tác quy hoạch nông nghiệp đã đợc tập trung đầu t và đợc đặt ra là nhiệm vụ hàng đầu trong kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp trên phạm vi cả nớc Việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm từng bớc phá thế độc canh cây lúa đã đợc triển khai và thu đợc nhiều kết quả tốt Hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật mới trong nông nghiệp đợc áp dụng rộng rãi ở hầu hết các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất.Tác dụng của các cây trồng mới, các biện pháp thâm canh và một số chính sách kinh tế ngày càng đợc nhiều địa phơng, nhiều hộ nông dân và các tổ chức kinh tế hợp tác xã, nông trờng quốc doanh khẳng định Sự hình thành các vùng chuyên môn hoá khá rõ nét, chẳng hạn vùng cây lơng thực tập trung ở hai vùng trọng điểm là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Cho đến nay việc phát triển sản xuất lơng thực ở hai vùng này đã đảm bảo đủ lơng thực và còn phần dự trữ và xuất khẩu hàng triệu tấn gạo/ năm Ngoài việc tập trung cho vấn đề lơng thực, trong
Trang 16triển sản xuất các cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại rau thực phẩm Bớc
đầu tạo ra số lợng nông sản xuất khẩu hàng năm cho đất nớc và giải quyết nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nớc phát triển Cả nớc đã hình thành trong những vùng chuyên canh quan trọng nh chè, cà phê, cao su, quế, dâu tằm, mía, đờng, điều,cam, quýt Tuy nhiên xét trên phạm vi cả nớc thì sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn chậm chạp, tự phát cha có những kết quả vững chắc trớc những thử thách của cơ chế thị trờng, nhiều loại cây trồng phát triển không ổn định Mặt khác trong nhiều vùng kinh tế vẫn cha giải quyết những vấn đề xã hội và bảo vệ tốt môi trờng sinh thái
ợc và hiệu quả thâm canh của chính bản thân ngành trồng trọt cũng sẽ giảm
đi Thực tiễn trong những năm qua, việc xác định và bố trí cơ cấu cây trồng còn nặng tính chủ quan và áp đặt một cách tuỳ tiện, cha chú ý đến những cân
đối cần phải có Các cây trồng hay các nhóm cây có mục đích kinh tế khác nhau cha thể hiện sự hỗ trợ cho nhau cùng phát triển Mặt các cơ cấu cây trồng cũng cha lợi dụng tốt điều kiện tự nhiên , kinh tế - xã hội của từng địa phơng hoặc từng vùng lãnh thổ Trong đó đáng chú ý là ở nhiều vùng có u thế
về khí hậu, thời tiết, đất đai có thể bố trí tập đoàn cây con có giá trị kinh tế cao và cho năng suất khá nh : Tây Nguyên và một số huyện miền núi Quảng Nam - Đà Nẵng có thể phát triển mạnh cà phê, mía, đờng, cây ăn quả Một nhà thổ nhỡng học đã nói : Một loại đất thì thích nghi với một và chỉ một loại
đất mà thôi Trong tổ chức sản xuất ngành trồng trọt và xác định cơ cấu cây
Trang 17trồng hiện nay do tác động của cơ chế thị trờng việc tìm lời giải cho bài toán trồng cây gì, diện tích bao nhiêu và ở đâu đang là bài toán hóc búa cha đợc giải quyết thoả đáng Đơng nhiên từ một nền sản xuất hàng hoá trong quá trình tìm lời giải cho bài toán trên không thể tránh khỏi những mặt hạn chế Song việc quy hoạch, định hớng hay nói cách khác là tầm nhìn chiến lợc về phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá, đa dạng kết hợp với chuyên môn hoá, tập trung hoá phải đợc xác định trên cơ sở những căn cứ khoa học Trong những năm gần đây cùng với xu thế đổi mới của cả nớc, nông nghiệp cũng đã
đạt đợc nhiều thành tựu rất quan trọng, trong đó việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo những định hớng chiến lợc đã đợc thể hiện rất rõ Một số cây trồng
đã phát huy thế mạnh và đáp ứng yêu cầu thị trờng trong nớc và xuất khẩu nh mía đờng Lam Sơn - Thanh Hoá, dâu tằm Lâm Đồng, cà phê Đắc Lắc,Buôn
Ma Thuột, chè Bắc Thái, Hà Giang, Vĩnh Phú, lơng thực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông cửu Long
- Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng nh trong qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một qúa trình mang tính khách quan và tính lịch sử, tính ổn
định tơng đối trên cơ sở vận động và liện hệ biện chứng của các yếu tố cây trồng, con ngời và tự nhiên theo xu hớng ngày càng hoàn thiện, hợp lý và hiệu quả.Cơ cấu cũ chuyển đổi dần sang cơ chế mới rồi trải qua một quá trình sản xuất và lu thông cơ cấu mới laị trở nên bất hợp lý tiếp tục chuyển sang một cơ cấu mới hơn, phù hợp hơn Cứ nh thế vận động của cơ cấu cây trồng luôn luôn nhằm đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế và sự phát triển của xã hội Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở một vùng hoặc một tiểu vùng sinh thái diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phải kết
đến sự tác động trực tiếp và rất quan trọng của chủ thể lãnh đạo và quản lý Những chủ thể đó hoàn toàn có thể chủ động cho quá trình chuyển đổi diễn ra nhanh hơn theo hớng vì lợi ích của chính con ngời và xã hội
Trang 18Chơng II : Thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên Đất trồng lúa sang sản xuất nông thuỷ sản khác
ở xã Phơng tú - ứng Hoà - Hà Tây
I Đặc điểm Kinh tế - xã hội của xã phơng tú
1 Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Phơng Tú là một xã nằm ở phía Đông Nam của Huyện ứng Hoà, trung tâm xã cách thị trấn Vân Đình ( huyện lỵ ứng Hoà ) 3 km theo đờng tỉnh lộ
75 và cách thị xã Hà Đông 29 km cũng trên trục lộ 75 và số 22
Phía Bắc giáp Liên Bạt và một phần tiếp giáp huyện Phú Xuyên
Phía Đông tiếp giáp thị trấn Trung Tú
Phía Tây tiếp giáp thị trấn Vân Đình
Phía Nam tiếp giáp xã Tảo Dơng và xã Hoà Lân
Trang 19Đặc biệt, từ xã Phơng Tú đi theo trục đờng tỉnh lộ số 75 đến đờng quốc
lộ số 1 tại điểm Cầu Giẽ chỉ có 12km
1.2 Địa hình
Xã Phơng Tú nằm ở trung tâm của vùng chiêm trũng ngập úng trớc đây Cốt đất trung bình là 2,5m, điểm thấp nhất có cốt - 0,8m Địa hình tơng đối bằng phẳng Độ dốc chạy từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam
1.4 Thời tiết khí hậu
Theo số liệu của Đài khí tợng thuỷ văn Hà Tây ( thị xã Hà Đông ) thì diễn biến khí hậu thời tiết của vùng qua nhiều năm nh bảng tran sau :
Biểu 1 : Số liệu về khí hậu thời tiết trong khu vực tỉnh Hà Tây ( trạm Hà Đông )
(mm)
Nguồn số liệu: Viện kinh tế NN & PTNT.
Nhiệt độ bình quân 23,10 C ( 15,70 - 29,10 C ), nhiệt độ cao nhất trong các tháng 6,7,8 Tổng lợng ma trung bình nhiều năm là 1821 mm Lợng ma
Trang 20tập trung nhiều nhất là 6 tháng mùa ma ( từ tháng 5 đến tháng 10 ), bằng 855 lợng ma cả năm Đây là thời điểm trớc đây xảy ra úng ngập cục bộ khi có ma lớn kéo dài Các địa phơng trong vùng thờng xuyên phải đối phó với việc tiêu úng trong mùa ma cũng nh chống hạn trong vụ sản xuất Đông để đảm bảo cho cây trồng, con nuôi sinh trởng và phát triển thuận lợi Ngày nay, nhờ có hệ thốn thuỷ lợi hoàn chỉnh nên hộ nông dân có thể đầu t thâm canh tăng vụ, tăng
hệ số sử dụng đất, tăng năng suất cây trồng và con nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
1.5 Nông hoá thổ nhỡng
Theo số liệu điều tra khảo sát nông hoá thổ nhỡng năm 1994 thì thành phần cơ giới đất ở đây có hai loại chính là :
+ Đất thị nhẹ trung bình, chiếm 10% diện tích đất nông nghiệp
+ Đất thịt nặng chiếm 90% diện tích
Phân loại theo lý tính của đất thì chủ yếu bao gồm 2 loại chính là : đất chua nhẹ ( pHKcl = 5,1 - 6, 0 ) chiếm khoảng 38% diện tích; đất chua vừa ( pHKck = 4,6 -5,0 ) chiếm 62% diện tích Phân tích độ mùn cho thấy gần 70% diện tích đất nông nghiệp ở đây có độ mùn khá cao nhng lại nghèo nàn dễ tiêu Nhìn chung, đây là vùng đất canh tác đã đợc cải tạo và đầu t khá nhiều năm Bằng các hệ thống công trình thuỷ lợi tự tiêu kết hợp với các trạm bơm
động lực đã khắc phục cơ bản vấn đề ngập kiểu " chiêm khê, mùa thối" trớc kia Đất đai ngày càng màu mỡ, tơi xốp, độ phì tăng, độ pH trung bình 5 - 6 tỉ
lệ mùn cao, mức độ giây hoá trung bình Đất nông nghiệp phù hợp với nhiều loại cây trồng và nếu đầu t thâm canh sẽ có hiệu quả cao
2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1 Đơn vị hành chính
Xã Phơng Tú có 6 đơn vị hành chính cấp thôn, gồm :
Trang 21(1) Thôn Hậu Xá (2 ) Thôn Dơng Khê (3) Thôn Nguyễn Xã (4 ) Thôn Động Phí (5) Thông Phí Trạch (6) Thông Ngọc Động
Mỗi thôn có một chức danh trởng thôn có chia ra các đơn vị xóm theo khu vực dân c Hiện nay, mỗi thôn có một Hợp tác xã nông nghiệp 100% các
hộ gia đình nông dân tình nguyện tham gia HTXNN và đều là xã viên của
HTXNN
2.2 Dân số - lao động
Đến thời điểm 12/2000, toàn xã có 2499 hộ gia đình, 11.148 khẩu và
4995 lao động, trong đó lao động nữ là 2673 ngời ( chiếm 52,8%) Tỷ lệ tăng
Tr đó khẩu Nhà nớc
( Ngời )
Tổng số LĐ ( Ngời )
Trang 22Cộng 2499 11258 10967 5045
Nguồn số liệu: thống kê xã
Nh vậy trong xã dân số của xã đợc phân bốtơng đối đồng đềủ các thôn, ở các thôn số lao động cũng không chênh lệch nhau nhiều, đIũu này giúp cho xã
có một bộ mặt kinh tế đồng đIũu giữa các thôn, các khu dân c trong xã
Biểu 4 : Cơ cấu sử dụng lao động trong các ngành kinh tế ở xã
2.3 Tình hình sử dụng đất đai
Tổng diện tích tự nhiên của xã Phơng Tú là 10,53 km2.Trong giai đoạn
10 năm ( 1991 - 2000 ) diện tích đất đai của toàn xã không có gì biến động
đáng kể, cơ cấu các loại đất cũng thay đổi không nhiều Đất nông nghiệp
Trang 23chiếm 73,8% diện tích tự nhiên Trên địa bàn xã không có đất chuyên lâm nghiệp Mặt nớc ao hồ có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 22ha, bằng 2,1% diện tích Đất thổ c ổn định trong phạm vi trên dới 5,4% diện tích Đất chuyên dùng các loại( giao thông, thuỷ lợi, XDCB công cộng ) chiếm tỷ trọng khá lớn ( 17,4%) Đất khác chỉ có 1,3% Nh vậy, ở Phơng Tú không có khả năng tăng diện tích.
Biểu 5 : Cơ cấu loại đất của xã Phơng Tú
Nh vậy diện tích gieo trồng ở Phơng Tú không thể tăng bằng khai hoang
mà chỉ có thể bằng các biện pháp thâm canh tăng vụ
Đất sản xuất nông nghiệp của xã đợc chia ra nh sau:
Trang 25Biểu 6 : Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp chia theo vụ sản xuất và chủ thể quản lý
ĐVT :ha
Số vụ SX/1 năm
Chia theo chủ thể quản lý sử dụng
Đất đợc giao Đất cấp sổ đỏ Đất 5%
Trang 26Phơng Tú trớc đây vốn là vùng chiêm trũng, ngay trong các năm 1995 và 1996
bị mất mùa do ma kéo dài gây ngập úng Nhng đến thời điểm hiện nay nhờ có
hệ thống các công trình thuỷ lợi đã đợc Nhà nớc hỗ trợ đầu t xây dựng, đặc biệt là năm 2001 sẽ thi công thêm một trạm bơm tiêu nữa tại xã Liên Bạt thì
về cơ bản đã đảm bảo chủ động tiêu úng bằng động lực, khắc phục đợc tình trạng ngập úng cục bộ khi ma lớn kéo dài (trừ khi có quyết định của Chính phủ mở ống xả nớc phân lũ ) Hệ thống các công trình thuỷ lợi này cũng đảm bảo khả năng chủ động tới cho cây trồng nông nghiệp ở đây trong mọi thời vụ Toàn bộ diện tích đều đang trồng nông nghiệp ở đây trong mọi thời vụ Toàn
bộ diện tích đều trồng cấy 2 - 3 vụ Riêng diện tích ruộng 3 vụ chiếm 41,0% diện tích tính chung trong toàn xã những diện tích này chủ yếu là những chân ruộng cao Trong đó tỷ lệ này cao nhất ở Hậu Xá là 50% sau đó là ở Phí Trạch 49%, Dơng Khê là 48,0%, còn lại đều trong khoảng 29,0 - 36,0% Diện tích ruộng giao cho hộ gia đình sản xuất theo số đo chiếm 89,3%, số còn lại do ban quản trị HTX và UBND xã tổ chức cho đấu thầu
2.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và kinh doanh
+ Giao thông : Đờng tỉnh lộ số 75 đi xuyên dọc xã với chiều dài hơn 5km, qua địa phận của 5 trong 6 thôn trong xã ( trừ địa phận thôn Phí Trạch cách đờng này 100m ) Trên cơ sở trục đờng 75, xã Phơng Tú đã phát triển một hệ thống giao thông nông thôn khá tốt Hầu hết 38 km chiều dài các tuyến đờng trong thôn đã đợc đổ bê tông hoặc lát gạch nghiêng, có hệ thống cống rãnh tiêu thoát nớc hoàn chỉnh Các trục đờng chính từ đờng 75 đến trung tâm thôn và ra khu đồng lớn đều có nền cứng, một số tuyến đã đợc rải cấp phối và thiết kế cho phép ô tô trọng tải 5 - 10 tấn đi lại đợc Trên các đờng nhánh ô tô loại nhỏ và xe công nông kéo máy tuốt, máy xát gạo có thể dễ dàng đi đến từng hộ gia đình Hệ thống giao thông nh vậy rất thuận lợi cho việc vận chuyển vật t sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện cho việc đầu
t thâm canh nông nghiệp
+ Thuỷ lợi : Trong những năm gần đây, địa bàn Phơng Tú đợc hởng lợi
từ hệ thống các công trình thuỷ lợi tới tiêu của cả vùng, bao gồm : kênh cấp I
Trang 27chủ lực là sông Nhuệ và sông Vân Đình Các kênh tới cấp II : I2 - VĐ7 và tiêu qua các kênh A2 - 8 và A2 - 10 Hiện tại trong đại bàn xã Phơng Tú đang có 6 trạm bơm động lực, hoạt động phục vụ tới tiêu : trạm bơm tới Hậu Xá hai máy
x 1000m3/h, trạm bơm tới đầu kênh I2 - VĐ7 có hai máy x 2000m3/h, trạm bơm tới Nguyên Xá có 1 máy x 1000m3/h, trạm bơm tiêu Động Phí có 2 máy
x 1000m3/h, trạm bơm tiêu Phí Trạch bốn máy x 1000m3/h, và trạm bơm tới tiêu hỗn hợp Ngọc Động công suất 3 máy x 2500m3/h Trong đó riêng trạm Ngọc Động do công ty khai thác các công trình thuỷ lợi ứng Hoà quản lý, còn lại các trạm khác đều do các HTX NN trực tiếp quản lý và khai thác Toàn xã vẫn còn khoảng 160 ha ruộng của các HTX Hậu Xá, Dơng Khê, Nguyễn Xá
và Động Phí cha có khả năng chủ động tới tiêu nớc thì đầu năm 2001 đang thi công một trạm bơm tiêu ở ven kênh A2 - 8 Hệ thống kênh tới cấp III xuống nội đồng của các HTX NN dài hơn 18 km đang hoạt động tốt Hiện nay các HTX đã thực hiện kiên cố hoá bằng mặt bê tông đợc 5.277 m ( bằng 29% )
Nh vậy, đến nay 100% diện tích ruộng canh tác của Phơng Tú đã đợc đảm bảo tới tiêu chủ động Tuy nhiên, do địa hình không bằng phẳng, đồng ruộng vẫn còn chia thành nhiều mảnh manh mún nên trong thực tế các diện tích thấp trũng không hoàn toàn thực hiện việc tới tiêu theo khoa học đợc Năng suất hai vụ lúa và hiệu quả đầu t thâm canh lúa ở các diện tích thấp trũng này còn
bị hạn chế so với các diện tích ruộng cao
+ Các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt : Hệ thống
điện lới khá hoàn thiện đến mọi cụm dân c và địa bàn sản xuất Toàn xã hiện
có 10 trạm hạ thế, nhng do nhu cầu tiêu thụ điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng thêm công suất và lắp thêm trạm mới để tránh tình trạng quá tải dễ gây sự cố
+ Trạm y tế : Để chăm lo sức khoẻ cho ngơì dân có các trạm y tế thông sơ cứu và cấp thuốc thông thờng Trạm y tế có y sĩ khám, điều trị bệnh và tổ chức đôn đốc công tác vệ sinh phòng bệnh, kế hoạch hoá gia đình tại địa ph-
ơng
Trang 28+ Trờng học : Các thôn đều tổ chức nhà trẻ Mỗi thôn có trờng tiểu học dành cho các cháu từ mẫu giáo đến lớp 3 Toàn xã có một trờng cấp I ( lớp
4 - 5 ) và một trờng cấp II đặt tại trung tâm xã 99% trẻ em trong độ tuổi đợc
đến trờng học Xã Phơng Tú đã hoàn thành phổ cập giao dục trung học cơ sở Học sinh đi học trung học phổ thông ( cấp III ) phải đến trờng tại thị trấn Vân
Đình cách xã 3 km Trong các trờng học đều có khu sân chơi thể thao cho thiếu niên, học sinh rèn luyện sức khỏe
+ Hệ thống loa truyền thanh : Hệ thống loa truyền thanh đợc nối thông từ UBND xã đến trụ sở các HTX NN và đến các loa công cộng đặt tại các khu dân c Hệ thống loa này dùng để phát thanh thời sự, thông báo các tin tức hoạt
động và các chủ trơng chỉ đạo của xã, thôn và HTX, bộ phận khuyến nông ớng dẫn thời vụ và các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp đến mọi ngời dân.+ Điện thoại : UBND xã và các trụ sở HTX NN đều có máy điện thoại
h-cố định để có liên hệ ở địa phơng, trong nớc và quốc tế
+ Chợ nông thôn : Phơng Tú có một chợ đặt tại trung tâm xã Chợ họp cả ngày, rất thuận tiện cho việc mua bán, trao đổi các vật t, nông sản hàng hoá.+ Bến xe : Đờng tỉnh lộ 75 đi qua trung tâm xã Tại trung tâm có điểm đỗ
xe khách và thờng xuyên có nhiều tuyến xe khách, xe vận tải qua lại nối liền xã tới huyện lỵ đi Hà Đông, Hà Nội và cả với tuyến đờng quốc lộ số I đi Bắc - Nam
+ Khu dân c : Toàn xã có 8 khu dân c ( trong đó có 6 khu dân c cũ và hai xóm mới thuộc 2 thôn Nguyễn Xá và Ngọc Động ), 1 khu trung tâm xã nằm trên đất thuộc 2 thôn Nguyễn Xá và Dơng Khê Trong mỗi điểm dân c
đều có khu vực trung tâm thôn, đây là nơi đặt trụ sở thôn và HTXNN, nhà trẻ, trờng học, trạm y tế, các quầy bán lẻ hàng hoá vật t
Tóm lại : Xã phơng Tú là một xã điển hình của vùng thôn thôn đồng bằng sông Hồng đầu t xây dựng cở sở hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân khá tốt Các yếu tố này không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy thâm canh sản xuất và cải thiện đời sống của ngời dân trong hiện đại mà còn là tiền
Trang 29đề thuận lợi cho qua trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
2.5 Kết quả sản xuất nông nghiệp qua một số năm
Trong những năm qua nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhờ kinh nghiệm sản xuất nên năng suất và sản lợng của một số cây trồng vật nuôi chính ở xã Phơng Tú không ngừng tăng lên đem lại cho đời sống cho bà con nông dân ngày một tăng lên
Biểu 7 : Diện tích, năng suất và sản lợng cây trồng con nuôi trong SXNN
Trang 30Từ năm 1995 đến năm 2000, diện tích cây lúa tơng đối ổn định, có tăng một ít ( 20ha ) nhng năng suất tăng lên rất nhiều.Trong 6 năm (từ năm 1995
đến 2000 ) năng suất lúa tăng thêm 13 tạ/ha, bình quân tăng 2,15 tạ/ ha/năm Cây ngô ( chủ yếu là ngô đông ) diện tích tăng gần gấp đôi, nhng năng suất lại không tăng Khoai tây cả diện tích và năng suất tăng nhng số lợng không đáng
kể Các cây khoai lang, lạc, đậu tơng năng suất giao động không nhiều, diện tích lại có xu thế giảm qua các năm Trong chăn nuôi, số lợng đàn lợn tăng khá nhanh, năm 2000 số đầu con gần gấp hai lần năm 1995, sản lợng thịt hơi
Trang 31tăng 80% Đàn trâu, bò đều giảm số đầu con vì trớc đây nuôi trâu bò chủ yếu
để cày kéo, nay khâu làm đất chủ yếu bằng cơ giới
Trong nông nghiệp thì trồng trọt vẫn là nguồn thu lớn nhất và chủ yếu vẫn là từ sản xuất hai vụ lúa Bằng sử dụng giống mới và áp dụng các biện pháp thâm canh nên năng suất và sản lợng lúa tăng liên tục qua các năm Sản lợng lơng thực tăng chủ yếu là tăng sản lợng thóc Năm 1996 bị thiên tai ma bão gây úng cục bộ làm mất mùa, toàn xã chỉ thu hoạch đợc 5.516 tấn thóc và
699 tấn màu quy thóc Năm 1997 sản lợng thóc tăng 205 tấn, sản lợng màu quy thóc lại giảm 25 tấn Từ năm 1998 sản lợng lơng thực tăng nhanh và ổn
định Năm 1998 sản lợng lơng thực tăng 18,5%, riêng thóc tăng 20,0% so với năm 1997 Năm 1999 so với năm 1998 các chỉ số này là 10,5% và 9,8% Cơ cấu giống lúa có sự thay đổi khá tích cực theo hớng tăng tỷ lệ diện tích cấy các giống lúa cao sản ( nh Khang Dân, Q5, lúa lai ) giảm diện tích lúa giống
cũ, nhng lại tăng diện tích các giống lúa chất lợng tốt, có giá bán cao ( nh nếp,
vụ đông Việc làm đất do các tổ máy kéo của HTX NN đảm nhiệm nên việc
điều phối thời gian và chất lợng đều đảm bảo Diệt cỏ bằng cách phun thuốc
Trang 32chân tay trong các khâu cấy, xới xáo sục bùn, phun thuốc BCTV và cắt lúa Tính ra trên 1 sào Bắc bộ cấy lúa hiện nay chỉ cần 5 - 6 công lao động chân tay Vụ tới, một số hộ đầu t máy gặt nữa thì số công lao động sử dụng sẽ có khả năng còn ít hơn.
Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ra, một số hộ nông dân trong xã Phơng Tú cũng có thêm một số nghề theo tính chất truyền thống, cụ thể nh :
+ Các thôn Ngọc Động, Dơng Khê có nghề nuôi cá ao, cá ruộng với tay nghề khá cao Trong giai đoạn kinh tế tập thể tập trung các khu ruộng trũng ở các thôn này đều đợc tổ chức nuôi cá ruộng đạt kết quả khá cao Ngày nay, khi giao khoán ruộng cho hộ tự chủ sản xuất thì ngay các khu ruộng trũng cũng phải chia thành nhiều mảnh nhỏ, không thể tổ chức nuôi cá ruộng kết hợp với lúa đợc Do vậy, ngoài việc thu xếp sản xuất nông nghiệp tại hộ gia
đình, có khá nhiều lao động nuôi cá lành nghề ở Ngọc Động đã ra đến Hà Nội, Hà Đông để nhận thầu nuôi cá trong các hồ lớn để thu lợi nhuận
+ Thôn Phí Trạch lại thiên về phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tranh thủ lúc nông nhàn Hiện nay toàn thôn có đến 50 hộ trên tổng số
419 hộ ( 12,0% ) có tổ chức làm nghề đan lát mây tre đan xuất khẩu, thu hút hơn 370 lao động trẻ, tạo công ăn việc làm, giảm tệ nạn xã hội
+ ở các thôn đều có một số hộ kết hợp làm nông nghiệp với hoạt động dịch vụ Trong đó các thôn Hậu Xá, Nguyên Xá, Đông Phí, Dơng Khê có nhiều hộ làm công việc buôn bán các hàng hoá tiêu dùng, vật t nông nghiệp, cơ khí sửa chữa Doanh thu của các ngành nghề này ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất của địa phơng Cơ cấu sử dụng lao động cũng bắt đầu có chuyển dịch theo hớng tích cực là giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động TTCN và dịch vụ, tuy cha đáng kể
Biểu 9 : Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế của xã Phơng Tú
Trang 33Tổng cộng 100 100 100 100 100 100
Nguồn số liệu: thống kê xã
2.6 Thu nhập và mức sống của nông dân
Theo Thống kê cũng nh kết quả khảo sát cho thấy 90% số hộ sống bằng
sản xuất nông nghiệp là chính Đất thổ c của mỗi hộ bình quân chỉ có từ 100 - 250m2, nhìn chung đại bộ phận các hộ đều đã xây dựng đợc nhà cấp 4 mái
ngói hoặc mái bằng, tơng đối kiên cố Các hộ đều có sân phơi khá rộng, có giếng khoan lấy nớc sinh hoạt Giá trị sản lợng thu đợc tính bình quân 1 nhân khẩu hàng năm đều có tăng nhng cha đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội Đặc biệt, mức lơng thực bình quân nhân khẩu của Phơng Tú khá cao, năm 2000 đạt
764 kg/ngời, năm 1996 bị thiên tai mất mùa vẫn đạt 565kg/ ngời
Nh vậy, Phơng Tú luôn có khả năng đảm bảo an ninh lơng thực và có
nguôn nông sản hàng hoá chủ yếu là thóc gaọ Khối lợng lơng thực hàng hoá chiếm 2/3 sản lợng thóc gạo sản xuất hàng năm Nhng vì giá lơng thực hiện nay quá thấp, gần bằng hoặc ngang so với giá thành sản xuất nên hiệu quả kinh tế không cao, mức thu cao nhất là năm 2000 đạt 3,254 triệu đồng/ ngời, nếu tính bình quân cả các khoản chi phí trung gian vào khoảng 30% ( Phơng
Tú cha thống kê riêng các khoản chi phí trung gian nh mua gióng, phân vô cơ , thuốc BVTV, thuỷ lơi phí, xăng dầu, điện, thức ăn công nghiệp cho gia súc, vật liệu khác ) thì thu nhập bình quân mới đạt 2,27 triệu đồng, quy ra với tỷ giá USD bình quân lúc đầu năm 2000 là 14.000 VNĐ/USD thì cũng mới chỉ đạt 182,9 USD / ngời/ năm
Biểu 10 : Giá trị sản lợng lơng thực bình quân qua các năm
Trang 34Số hộ đã mua sắm đợc phơng tiện nghe nhìn ( máy thu hình, máy thu thanh ) chiếm tỉ lệ trên dới 50% tổng số hộ trong xã, sắm phơng tiện đi loại cơ
giới ( xe gắn máy, ô tô ) khoảng 15% số hộ Nhìn chung mức sống của
nông dân ngày càng đợc cải thiện, tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra cho sự phát
triển kinh tế xã hội và cải thiện mức sống nông thôn trong giai đoạn hiện nay
thì vẫn cha đáp ứng đợc
II Thực trạng cơ cấu cây trồng vật nuôi ở xã Phơng Tú
1 Cơ cấu cây trồng theo nhóm cây
Sản xuất trồng trọt của xã Phơng Tú trong nhiều năm qua thì chủ yếu tập trung sản xuất cây lơng thực mặc dù năng suất cây trồng tăng cao nhng hiệu
quả kinh tế cha đợc tối u thu nhập và mức sống chung của bà con nông dân
thuần nông còn thấp Trong tổng số diện tích gieo trồng cây hàng năm thì cây
lơng thực vẫn chiếm tỷ trọng cao xét về xu thế thì tỷ trọng cây lơng thực trong
năm qua không có gì thay đổi Điều này thể hiện đây là một xã thuần nông
Biểu 11 : Diện tích và cơ cấu của các nhóm cây
DT (ha)
Tỷ trọng (%)
Đối với cây lơng thực qua bảng biểu trên thì ta thấy về diện tích có biến
đổi tăng lên cả tuyệt đối lẫn tơng đối, điều này thể hiện sự tăng về số lợng đến
qua các năm 95, 97, 98, 2000 là 90% →97,6% → 94,8% → 97% cây lơng
thực ở đây chủ yếu bao gồm phần nhiều là lúa còn lại là ngô và khoai lang chủ
yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong vùng
Trang 35Đối với diện tích cây thực phẩm nhìn chung những năm qua đã thay đổi
đáng kể nhất là những năm 97, 98 diện tích tăng lên từ 10,2ha năm 1995 tăng lên 18,8ha năm 1997 lên 45,4 ha năm 1998 và 19,8 ha năm 2000 nh vậy có thể nói diện tích cây lơng thực những năm qua đã tăng theo chiều hớng tích cực Cây thực phẩm ở đây chủ yếu là bí xanh, rau các loại đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phục vụ cuộc sống của bà con trong vùng, một phần đợc bà con
đem ra thị trấn Vân Đình để tiêu thụ để tăng thêm nhu nhập Mặc dù vậy nhng
do nhu cầu lơng thực trong bữa ăn vẫn còn lớn nên diện tích này vẫn tiếp còn
đang chậm và có dấu hiệu giảm khi tiến hành sản xuất giống lúa thiên về chất lợng thì năng suất lúa sẽ giảm và diện tích trồng cây thực phẩm này giảm
Đối với diện tích cây công nghiệp ngắn ngày thì xã Phơng Tú chủ yếu là trồng trọt lại với diện tích khá nhỏ chỉ có 2,2 ha trong năm qua điều này nó thể hiện đây là vùng trũng nên chỉ có thể gieo trồng lúa mà phát triển cây công nghiệp ngắn ngày là rất khó do điều kiện đất đai không cho phép, năng suất của cây lúa thấp nên trong năm 2000 thì toàn xã đã bỏ dần diện tích cây công nghiệp ngắn ngày hay là cây lạc để chuyển sang sản xuất cây lơng thực khác
Đối với cây ăn quả và cây lâu năm thì toàn xã nhìn chung là không phát triển diện tích dùng để trồng cây ăn quả hầu nh không có lý do này là do diện tích vờng của hộ nông dân rất hạn chế, diện tích thổ c bình quân mỗi hộ chỉ
đạt 100 - 250 m2 điều này làm cho hệ thống cây ăn quả và cây lâu năm ở xã phát triển rất kém
Cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây chỉ mới phản ánh về mặt số ọng và quy mô các nhóm cây trồng của xã Song phát triển trồng trọt thì mục tiêu quan trọng của nhóm cây trồng phải đạt đợc những kết quả cụ thể và giá
l-và sản lợng l-và mối tơng quan về các loại sản phẩm đó trong việc cung cấp các sản phẩm cho tiêu dùng và cung cấp cho thị trờng bên ngoài Kết quả sản phẩm mới phản ánh đúng đắn vị trí và vai trò của từng nhóm cây trồng trong
đời sống kinh tế xã hội qua các giai đoạn của lịch sử phát triển nông nghiệp