Đ-ờng lối này sau đó đã đợc thể chế hóa trong Hiến pháp 1992 và đợc tiếp tục phát triển trong các văn kiện của các Đại hội Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Việt Nam v
Trang 1THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
TS Đinh Văn Ân
Viện trởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW
1 Bối cảnh và khái niệm
Đờng lối đổi mới kinh tế theo hớng thị trờng đã đuợc chính thứckhẳng định từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986),khi thông qua kế hoạch cải cách kinh tế theo hớng “đổi mới” Đ-ờng lối này sau đó đã đợc thể chế hóa trong Hiến pháp (1992)
và đợc tiếp tục phát triển trong các văn kiện của các Đại hội Đảng
và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Việt Nam về
“phát triển nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc,theo định hớng XHCN” Để cụ thể hóa đờng lối chính trị này,Chính phủ và nhân dân Việt nam những năm qua đã cónhững nỗ lực không ngừng nhằm hình thành một hệ thống thểchế kinh tế mới: thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN
ở Việt Nam, thể chế kinh tế thị trờng hiện đợc hiểu là một bộ
phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại song trùngvới các bộ phận khác nh thể chế chính trị, thể chế gia đình,thể chế văn hóa; thể chế tôn giáo, v.v Các yếu tố cấu thànhcủa hệ thống thể chế đó bao gồm: (i) các quy tắc, chuẩn mực(rules and norms) về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trờng; (ii)bản thân các bên tham gia thị trờng với t cách là các chủ thể thịtrờng (market actors); (iii) cách thức tổ chức thực hiện các quytắc, chuẩn mực thị trờng, nhằm đạt đợc mục tiêu, hay kết quả
mà các bên tham gia thị trờng mong muốn; và (vi) hệ thống các
thực thể thị trờng vật chất, tức là bản thân các “thị trờng”- với
t cách là các địa điểm, là “sân chơi”, là các đầu mối giaodịch, nơi hàng hóa, dịch vụ đợc trao đổi trên cơ sở cung cầu,
quy định của “luật chơi” (Bảng 1)
Trang 2Việc Việt nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trờng định hớngXHCN xuất phát từ thực tế là mô hình kinh tế CNXH cổ điển,
đặc trng bởi hệ thống kinh tế kế hoạch hoá tập trung, saunhiều thập kỷ tồn tại, đã tỏ ra không còn sức sống và khả năng
tự phát triển nội sinh về mặt kinh tế Trong khi đó, kinh tế thịtrờng với t cách là một phơng thức sản xuất, đã đợc chứng minh
là có thể đợc sử dụng nhằm phục vụ cho sự phát triển và thịnhvợng chung của các quốc gia, dân tộc, chứ không phải chỉ là tàisản riêng của CNTB Tuy nhiên, thực tế phát triển của các nềnkinh tế thị trờng (nhất là các nớc theo mô hình kinh tế thị tr-ờng “thuần chủng”) ngày càng cho thấy rõ chính trong quátrình phát triển của mình, kinh tế thị trờng luôn luôn tiềm ẩnnhững nguy cơ thất bại, bởi nó tỏ ra mâu thuẫn sâu sắc với cácgiá trị truyền thống, 1àm tăng tính bất ổn của xã hội và khoétsâu hố ngăn cách giầu - nghèo Vì vậy, vai trò Nhà nớc nh mộtchủ thể xã hội sáng tạo và hùng mạnh để quản lý các quá trìnhkinh tế vĩ mô, nhằm hạn chế những khuyết tật của thị trờng,
đáp ứng yêu cầu phát triển, cần phải đợc khai thác có hiệu quả.Vì vậy, các thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở ViệtNam đợc xây dựng và thực thi chính là nhằm mục đích làm
cho “thị trờng” và “Nhà nớc” trở thành hai yếu tố bổ sung cho
nhau, chứ không phải thay thế, loại trừ nhau.
Bảng 1: Các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trờng.
Các quy tắc tạo
thành “luật chơi”
kinh tế thị trờng
o Khung luật pháp về kinh tế;
o Các quy tắc, chuẩn mực xã hội về/ hoặc liên quan đến kinh tế, kể các các quy tắc hay chuẩn mực phi chính thức;
Trang 3o Các tổ chức thuộc “xã hội dân sự”, cộng đồng dân c và ngời dân;
định hớng XHCN ở Việt Nam trong những năm gần đây
2 Thực tiễn quá trình hình thành và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế
2.1 - Những thành tựu
Ngay từ khi công cuộc cải cách kinh tế mới bắt đầu, Việt Nam
đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật dới dạng Bộluật, Luật và Pháp lệnh liên quan trực tiếp đến phát triển kinh
tế thị trờng và khuyến khích kinh doanh Tính từ 1986 đếnnay đã có hàng trăm luật và Pháp lệnh (kể cả Luật và Pháp lệnhsửa đổi, bổ sung) đã đợc ban hành và đa vào áp dụng Số lợngvăn bản pháp luật đợc ban hành trong 3 nhiệm kỳ của Quốc hội(VIII, IX và X) đã gấp nhiều lần so với tất cả các nhiệm kỳ trớccộng lại Đó là cha kể hàng trăm văn bản pháp luật dới các hìnhthức nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉthị của Thủ tớng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông t của
Trang 4Bộ trởng1 Nội dung pháp luật kinh tế đã phù hợp hơn với cơ chếthị trờng, đáp ứng đợc hầu hết những đòi hỏi từ công cuộc cảicách kinh tế Khuôn khổ luật pháp mới đã cho phép thực hiệnnhững bớc đi đầu tiên trong quá trình chuyển đổi hành vi củaNhà nớc từ “làm cho” (làm hộ) sang “cho làm”, từ việc can thiệptrực tiếp sang tác động gián tiếp vào các hoạt động kinh tế.Công tác soạn thảo, thẩm định và ban hành các văn bản phápluật đã bớc đầu đi vào nền nếp, theo một quy trình thốngnhất do luật định Hoạt động thông tin, phổ biến pháp luật đã
có chuyển biến tích cực, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng
và góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của mọi ngờidân Nhờ có những nỗ lực đó, mà khung luật pháp của nềnkinh tế thị trờng đã dần đợc định hình và ngày càng hoàn
thiện hơn, thể hiện rõ qua những đặc điểm sau đây:
- Tạo dựng khung pháp lý cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khai thác hiệu quả nguồn lực xã hội
Với việc ban hành Luật Đầu t nớc ngoài (1987), Luật Công ty và
Luật Doanh nghiệp t nhân (1990), Nhà nớc Việt nam đã chính
thức thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của các thành phần kinh tế
phi Nhà nớc Tiếp theo đó, Luật Doanh nghiệp nhà nớc (1995) và
Luật Hợp tác xã (1996) cũng đã đợc ban hành, tạo khung khổ
pháp luật cơ bản cho các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh
tế nhiều thành phần, hạn chế từng bớc sự can thiệp của Nhà nớcvào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhvậy, nền kinh tế nhiều thành phần theo chủ trơng của Đảng và
đợc quy định trong Hiến pháp 1992 đã đợc cụ thể hoá bằng cácvăn bản pháp luật
Bên cạnh đó, với Luật Phá sản (ban hành 1993, sửa đổi 2004),
khung pháp lý cho quá trình rút khỏi thị trờng cũng đã đợc xây
1 Dẫn từ nguồn: “ Nâng cao chất lợng xây dựng các dự án Luật, pháp lệnh do Chính phủ soạn thảo” – TS Phạm Tuấn Khải – TC Nghiên cứu Lập Pháp – 3/2004.
Trang 5dựng, tạo điều kiện quan trọng cho việc thực hiện chức năng
đào thải, chọn lọc của cơ chế cạnh tranh, góp phần thúc đẩyquá trình phân bổ lại nguồn lực theo hớng có hiệu quả hơn Bớc ngoặt lớn nhất của quá trình cải cách trong những năm gần
đây là việc ban hành và thực thi Luật Doanh nghiệp (2005) Sự
ra đời của Luật này là kết quả của cam kết chính trị về tạo lậpmôi trờng thuận lợi, bình đẳng và phù hợp với yêu cầu của nềnkinh tế thị trờng định hớng XHCN và các đòi hỏi của quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế; nhằm mục tiêu trớc hết là khắc phục
sự chia cắt, tách biệt áp dụng theo thành phần kinh tế của hệthống luật pháp (trớc đó) về doanh nghiệp, khi mà các doanhnghiệp có cùng loại hình pháp lý, song nếu thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau, lại bị điều chỉnh bởi các quy địnhpháp luật khác nhau về nhiều phơng diện, bao gồm từ thủ tục,
điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trờng, đến cách thứcquản lý nội bộ, v.v 2 Nay, nhờ có Luật Doanh nghiệp mới (2005),quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh - điều đợc quy
định rõ trong Hiến pháp 1992 - đã thực sự đi vào cuộc sống và
đang giúp tạo ra bầu không khí mới trong môi trờng đầu t ởViệt Nam
Tơng tự nh vậy, Luật đầu t (chung), thay thế cho Luật đầu t
n-ớc ngoài và Luật khuyến khích đầu t trong nn-ớc, đợc Quốc hộiViệt Nam thông qua năm 2005, có hiệu lực từ 1/7/2006, đã thực
sự là bớc tiến dài theo hớng cải thiện môi trờng đầu t kinhdoanh, tạo một “sân chơi” bình đẳng cho các nhà đầu t cảtrong và ngoài nớc Luật này còn bao gồm các quy định mới về
đơn giản hóa thủ tục đầu t, tạo nhiều điều kiện thuận lợi đểthu hút và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn vốn đầu t, đápứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
2 Ví dụ: Các DNNN hoạt động theo Luật DNNN (2003), Luật Doanh nghiệp (1999) áp dụng cho các DNTN, còn các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoại là đợc điều chỉnh bằng Luật
về đầu t trực tiếp nớc ngoàI (1996).
Trang 6- Khung pháp lý về thị trờng hàng hoá, dịch vụ đã và đang tạo
điều kiện cho cơ chế thị trờng vận hành có hiệu quả
Những đổi mới thể chế đầu tiên nhằm phát triển nhanh thị ờng hàng hoá, dịch vụ đặc biệt là hàng tiêu dùng, xuất khẩu, làmột trong những chơng trình cải cách quan trọng góp phần tạo
tr-ra các thành tựu trong giai đoạn đầu của Đổi mới Điều này đợcthực hiện trớc hết thông qua các chủ trơng về giải quy chế, rỡ
bỏ các mệnh lệnh có tính chất “bế quan toả cảng”, tạo điều
kiện thúc đẩy lu thông hàng hoá Tiếp theo đó, Pháp lệnh về
hợp đồng kinh tế đã sớm đợc ban hành năm (1989), tạo khung
khổ pháp lý cho các hành vi giao dịch kinh tế trên thị trờng Bộluật dân sự (1995) và Luật thơng mại (1997) cũng đã đợc đavào thực hiện, tạo giúp cho các giao dịch trên thị trờng ngàycàng trở nên sống động
Đối với xuất - nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, Việt Nam đã có
những bớc đổi mới ngay từ giai đoạn đầu cải cách với việc xoá
bỏ chế độ độc quyền ngoại thơng Từ 1988 các doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài đã đợc phép hoạt động xuất nhập khẩu,tiếp theo các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế t nhâncũng đợc kinh doanh xuất nhập khẩu (theo Luật Công ty) Thủtục xin giấy phép xuất nhập khẩu cũng đợc đơn giản hoá từngbớc Việc ban hành Nghị định 57/NĐ-CP năm 1988 có thể coi làbớc ngoặt của quá trình tự do hoá ngoại thơng ở Việt nam, bởi
nó đã chính thức khẳng định quyền tự do kinh doanh tronglĩnh vực ngoại thơng Bên cạnh đó, Nhà nớc còn thực hiện nhiềubiện pháp nới lỏng về quản lý ngoại hối, tạo điều kiện thuận lợihơn cho các doanh nghiệp trong quá trình thanh toán với đốitác nớc ngoài Những rào cản phi thuế nh chế độ quota, quy
định đầu mối xuất nhập khẩu cũng dần đợc rỡ bỏ, thúc đẩyquá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam
Song song với những biện pháp kể trên, trong những năm cuốicủa thập kỷ 80, Việt nam đã tiến hành những biện pháp cải
Trang 7cách rất mạnh mẽ trong lĩnh vực giá cả theo xu hớng hình thành
hệ thống một giá tơng ứng với giá thị trờng Năm 1992, Hội
đồng Bộ trởng đã ban hành Quyết định 137- HĐBT về quản lýgiá Đây là những quy định pháp lý đầu tiên về quản lý giátrong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Đúng 10 năm sau,
UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh giá nhằm tạo lập khung pháp
luật cho việc quản lý giá trong nền kinh tế thị trờng định hớngXHCN Điều này đã tạo ra những tác động tích cực cho quátrình chuyển đổi nền kinh tế: bao cấp qua giá đã đợc huỷ bỏ
đối với hầu hết các mặt hàng, giá cả trên thị trờng hàng hoá,dịch vụ đã phản ánh đợc quan hệ cung - cầu và tạo đợc cơ sởcho quá trình ra quyết định đầu t theo hớng sử dụng có hiệuquả hơn nguồn lực xã hội
- Hình thành khung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trờng các yếu tố sản xuất quan trọng nhất
Trong hơn 10 năm qua, Nhà nớc Việt Nam đã cố gắng xây dựngkhung pháp lý cho một số thị trờng yếu tố quan trọng nhất đợc
hình thành và bớc đầu đa vào vận hành Đối với thị trờng lao
động: bộ Luật Lao động đã (năm 1994) đã tạo thành nền tảng
pháp lý đầu tiên cho thị trờng lao động bằng việc công nhậnquyền tự do tìm việc làm và quyền lựa chọn ngời lao động –hai yếu tố cơ bản tạo ra quan hệ cung – cầu cho thị trờng lao
động Cùng với nó, nhiều văn bản pháp lý khác cũng đợc banhành để điều chỉnh những hành vi trên thị trờng còn tơng
đối sơ khai này 3 Dựa trên cơ sở đó, giao dịch trên thị trờnglao động đã hình thành và từng bớc phát triển, không chỉ riêngtrong lãnh thổ Việt nam mà còn vơn ra cả phạm vi ngoài nớc Đối
với thị trờng bất động sản, thời gian vừa qua, bên cạnh việc ban
3 Trong các văn bản pháp quy có liên quan, đáng lu ý là Nghị định 198/CP (ngày 31/12/1994) quy định chi tiết và hớng dẫn về hợp đồng lao động; Nghị định 72/CP (ngày 31/10/1995) quy định chi tiết và hớng dẫn về việc làm; Nghị định 03/CP (ngày 15/1/2003) quy định về điều chỉnh tiền lơng, trợ cấp xã hội, ngoài ra còn một số thông
t về bảo hiểm xã hội, về giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi,…
Trang 8hành Luật Đất đai (năm 1988, sửa đổi vào năm 1993 và 2003)4,
Luật Xây dựng (năm 2004), Nhà nớc còn ban hành và bổ sung
hệ thống các văn bản pháp lý, đề ra các chính sách sách liênquan đến việc điều chỉnh từng vấn đề cụ thể nh: thị trờng
đất đai, thị trờng nhà ở, v.v Khung pháp lý cho thị trờng vốn cũng dần đợc hoàn thiện: những năm đầu của cải cách, kinh tế
Việt nam đã phải đơng đầu với nạn lạm phát phi mã, hệ thốngNHNN vừa có chức năng phát hành vừa có chức năng cung ứngnguồn tín dụng cho nền kinh tế Chính vì vậy, việc chuyển
đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngânhàng hai cấp là một bớc đi cực kỳ quan trọng để kiềm chế lạmphát, đồng thời tạo cơ sở cho việc thực hiện chính sách tiền tệtơng ứng với cơ chế thị trờng Năm 1990, UBTVQH đã ban hànhPháp lệnh NHNN Việt nam và Pháp lệnh ngân hàng, HTX tíndụng và các công ty tài chính Năm 1997, Quốc hội đã ban hành
Luật NHNN Việt nam và Luật về các tổ chức tín dụng thay thế
cho 2 Pháp lệnh trên Với khung khổ pháp lý này, 4 NHTM quốcdoanh đã đợc tách khỏi NHNN và hàng loạt các ngân hàng cổphần, ngân hàng liên doanh và các chi nhánh ngân hàng nớc
ngoài đã xuất hiện trên thị trờng tài chính Việt nam Đối với thị
trờng khoa học công nghệ (KHCN), lần đầu tiên, vấn đề bảo hộ
quyền sở hữu công nghệ đợc đa vào thành các quy định trong
Bộ luật dân sự (1995) Tiếp đó, trong hơn một thập kỷ qua, với
đờng lối “coi KHCN là động lực của tăng trởng”, nhiều cơ chế,chính sách cho hoạt động thị trờng KHCN đã đợc thể chế hoáthành hệ thống các văn bản pháp quy nhằm điều chỉnh hành
4 Nguyên tắc cơ bản của Luật đất đai ở Việt nam là đất đai thuộc quyền sở hữu toàn
dân (nguyên tắc này cũng đã đợc tuyên bố trong Hiến Pháp năm 1980 “đất đai thuộc sở
hữu toàn dân” – một nền tảng hoàn toàn mới về thể chế đối với đất đai) Luật đất đai
đã thiết lập quyền sử dụng đất lâu dài, bao gồm: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu kết quả sản xuất từ đất, quyền chuyển nhợng quyền sử dụng đất, quyền thế chấp quyền sử dụng đất Luật này cũng phân chia đất thành nhiều loại nh: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất thổ c, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất cha sử dụng Chính phủ quy
định khung giá thuê cho từng loại đất, trên cơ sở đó, UBND các tỉnh xác định cụ thể giá
để áp dụng.
Trang 9vi, sự tham gia, mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức tham giavào thị trờng KHCN,… Một số văn bản quy phạm pháp luật quantrọng liên quan đến vận hành thị trờng KHCN phải kể đến nh:Luật KHCN (2000); Bộ Luật dân sự (1995); Bộ Luật hình sự(1999); Luật thơng mại Bên cạnh đó, còn có hàng trăm văn bảndới luật cũng đã đợc ban hành Đặc biệt, trong năm 2005 và
2006, đã ban hành hai luật quan trọng là Luật Sở hữu trí tuệ(2005) và Luật chuyển giao công nghệ (2006)
- Tạo dựng và làm hài hòa hệ thống luật pháp nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Sau khi Luật Đầu t nớc ngoài đợc ban hành, để thúc đẩy thu hút
vốn đầu t nớc ngoài và tiến tới hài hòa luật pháp của Việt Namvới khung luật pháp quốc tế, Luật đầu t nớc ngoài đã đợc điềuchỉnh, bổ sung và sửa đổi 4 lần (vào các năm 1990, 1992,
1996 và 2000) Ngoài Luật đầu t nớc ngoài, Việt Nam cũng đãtiếp tục bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện nhiều luật quantrọng khác nh: Luật đất đai, Luật Lao động, Luật cạnh tranh,…theo hớng hỗ trợ hội nhập kinh tế quốc tế
Trong quan hệ quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã tích cực thamgia ký kết nhiều hiệp định thơng mại song phơng và đa ph-
ơng với các nớc và vùng lãnh thổ5, gia nhập các tổ chức thơngmại khu vực và quốc tế Nhiều cam kết trong các Hiệp định nh:xoá bỏ phân biệt đối xử giữa ngời tiêu dùng trong nớc với ngời n-
ớc ngoài về giá, phí một số hàng hoá, dịch vụ6; giảm dần nhữnghạn chế về chuyển giao công nghệ, quản lý ngoại hối, sử dụng
đất đai,… một mặt đã góp phần giảm bớt những rào cản vềthơng mại, đầu t quốc tế, mặt khác đã tạo “nền” cho việc tiếp
5 Đến nay, Việt Nam đã ký kết 47 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu t với các nớc và vùng lãnh thổ, trong đô Hiệp định thơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã mang lại nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp.
6 Lộ trình xoá bỏ chế độ 2 giá đang đợc đẩy mạnh Giá vé máy bay nội địa đã đợc thống nhất áp dụng từ 1/1/2004 Trong khuôn khổ đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết xoá bỏ sự phân biệt về giá điện cho sản xuất vào năm 2005
Trang 10tục hoàn thịên hệ thống pháp luật về đầu t nớc ngoài ở ViệtNam Hiện nay để sớm có kết quả tốt trong việc đàm phán gianhập WTO, Chính phủ Việt Nam đang tích cực, khẩn trơngxây dựng, sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách hiện hànhtheo hớng mở cửa kinh tế thị trờng, đáp ứng đòi hỏi của WTO.
Đồng thời, việc tham gia tích cực hơn vào các thoả thuận, camkết quốc tế, các nỗ lực làm hài hoà các quy tắc và chuẩn mựcquốc tế đã góp phần đáng kể làm tăng tính thị trờng của cácthể chế kinh tế ở Việt Nam
2.2 - Những yếu kém và tồn tại
Mặc dù đã có những cố gắng và nỗ lực nh đã nói ở trên, nhngnhìn chung hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam vẫn tồn tạinhiều yếu kém, bất cập và vẫn cha theo kịp nhu cầu phát triểnkinh tế – xã hội Điều này thể hiện rõ nhất qua các thực tiễn nh:
(i) Hệ thống pháp luật còn thiếu toàn diện, cha đồng bộ, cha
đáp ứng đợc yêu cầu quản lý đất nớc bằng pháp luật Nhiều nội
dung quan trọng liên quan tới vấn đề đổi mới kinh tế – xã hộichậm đợc thể chế hoá nh: vấn đề quản lý nhà nớc đối với tàisản thuộc sở hữu nhà nớc; về đăng ký kinh doanh bất động
sản; cạnh tranh trung thực; kiểm soát độc quyền; v.v; (ii) Một
số văn bản pháp luật quan trọng đã ban hành song hiệu lực thực thi cha cao Ví dụ, Luật Cạnh tranh, tuy đợc ban hành từ năm
2004, song hiệu lực thực thi còn thấp, vẫn còn nhiều khe hở đểmột số doanh nghiệp lạm dụng vị thế khống chế thị trờng
điều đó đã làm tổn hại lợi ích của xã hội nói chung và những
doanh nghiệp nhỏ nói riêng; (iii) Tính cụ thể, minh bạch, rõ ràng
của nhiều luật còn thấp: Những sai phạm về hình thức văn bản
vẫn xảy ra Việc công bố, đăng tải, hớng dẫn các văn bản quyphạm pháp luật cha đợc các cơ quan nhà nớc chấp hành kịp thời
và nghiêm chỉnh; (iv) Quy trình xây dựng pháp luật còn thiếu
tính dân chủ, tính đại chúng: còn nhiều cứng nhắc và nhiều
bất cập, cách phân công và thực hiện quy trình soạn thảo dễ
Trang 11dẫn đến tình trạng bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành, địa
ph-ơng; cha thật sự vì lợi ích chung và vì sự thuận lợi của ngờidân; v.v
3 - Đổi mới, sắp xếp lại các DNNN
3.1 Thành tựu
Một trong những hớng đổi mới quan trọng nhất đối với khu vựcdoanh nghiệp là việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và áp dụngtừng bớc chế độ quản trị hiện đại đối với các DNNN Nhữngthành công đáng ghi nhận nhất trong lĩnh vực này là:
- Quá trình chuyển các DNNN sang tổ chức hoạt động cùng một
mặt bằng pháp lý với các loại hình doanh nghiệp khác đang đợc
thực hiện một các tích cực Các quy định pháp lý trong LuậtDoanh nghiệp đang đợc sửa đổi nhằm bảo đảm tính thựctiễn, sát thực và phù hợp
- Mô hình quản trị DNNN đang đợc đổi mới trên cơ sở bảo
đảm quyền của chủ sở hữu, hiệu quả kinh tế của doanhnghiệp và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế khác Chức năng sở hữu nhà nớc và chứcnăng quản lý nhà nớc đang ngày càng đợc phân biệt, làm rõ.Nhà nớc đang dần dần chuyển đổi phơng thức quản lý doanhnghiệp từ phơng thức đầu t, sở hữu toàn bộ doanh nghiệpsang phơng thức đầu t, góp vốn để nắm giữ tỷ lệ cổ phầnhoặc phần vốn góp chi phối L
- Quyền lợi hợp pháp của các đồng chủ sở hữu trong DNNN có
vốn đầu t của các thành phần kinh tế khác nhau ngày càng đợctôn trọng và bảo đảm Hiện tợng can thiệp của các cơ quanhành chính nhà nớc đối với các quyết định hợp pháp, đúng luật,
đúng điều lệ của doanh nghiệp ngày càng giảm, đặc biệt là
đối với các công ty cổ phần đợc hình thành từ việc cổ phầnhóa DNNN
Trang 12- Việc chuyển đổi các tổng công ty sang mô hình công ty mẹ
công ty con; hình thành và phát triển các loại tập đoàn kinh tế,chủ yếu là tập đoàn đa sở hữu trên cơ sở liên kết và đầu t vềvốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, cổ phần hoá các tổngcông ty; đồng thời khuyến khích tạo điều kiện cho việc pháttriển các loại tập đoàn kinh tế trên cơ sở các công ty cổ phần,Cty TNHH, doanh nghiệp t nhân đang ngày càng thu hút đợc
sự chú ý của nhiều bên có liên quan
- Các quy phạm pháp luật về vấn đề liên kết kinh tế, hợp đồng
liên kết nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóacao cho các doanh nghiệp; minh bạch hóa hệ thống thông tindoanh nghiệp nhằm giảm rủi ro và chi phí cơ hội cho doanhnghiệp trong quá trình hình thành, ký kết và thực hiện liênkết kinh tế thông qua hợp đồng đang đợc nghiên cứu sửa đổi
và bổ sung; tạo điều kiện hình thành và khuyến khích pháttriển các hình thức liên kết kinh tế
3.2 Các hạn chế và tồn tại
Tuy vậy, quá trình cải cách các DNNN hiện vẫn đang gặp
nhiều khó khăn và hạn chế cần đợc khắc phục, trong đó
quan trọng nhất phải kể đến là:
- Các DNNN có quy mô lớn, nhng hoạt động kém hiệu quả: Thực
tế cho thấy DNNN đang nắm giữ 75% tài sản cố định củaquốc gia, 20% tổng vốn đầu t toàn xã hội, gần 50% tổng vốn
đầu t nhà nớc, 60% tổng lợng tín dụng ngân hàng trong nớc,hơn 70% tổng vốn vay nớc ngoài, trên 90% tổng các doanhnghiệp Việt Nam tham gia hợp tác đầu t với nớc ngoài và phầnlớn nguồn nhân lực có chất lợng cao Tuy nắm giữ nguồn lực lớn
nh vậy, nhng năm 2003, trong số 77% doanh nghiệp nhà nớc cólãi chỉ có cha đầy 40% doanh nghiệp có mức lãi bằng hoặc caohơn lãi suất cho vay của ngân hàng thơng mại Nhng nếu đagiá trị quyền sử dụng đất vào chi phí và cắt bỏ các khoản utiên, u đãi của nhà nớc thì số DNNN làm ăn có lãi còn ít hơn
Trang 13nhiều Số thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ là 8000 tỷ đồngtrên tổng số 87.000 tỷ đồng nộp ngân sách nhà nớc năm 2003nói lên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nớcrất thấp.
Mấy năm qua tăng trởng giá trị sản xuất công nghiệp của khuvực DNNN ngày càng sa sút so với doanh nghiệp dân doanh (cáccon số tơng ứng của năm 2003 là 12% và 18%; năm 2004 là11,8% và 22,8% và quý I năm 2005 là 7,9% và 25,5%) Chi phísản xuất công nghiệp cao, hạn chế mức tăng giá trị gia tăng Giátrị sản xuất mấy năm gần đây tăng đến 15%/năm, nhng giátrị gia tăng chỉ tăng trên dới 10%/năm Quý I năm 2004, mứctăng giá trị sản xuất công nghiệp là 14,4%, trong khi đó mứctăng giá trị gia tăng công nghiệp chỉ có 8,5% Rõ ràng là nếutrớc đây, để tăng đợc 1% giá trị gia tăng cần 1,5% giá trị sảnxuất, thì con số này của Quý I năm 2005 đã lên tới 1,7%
- Nhiều DNNN có trình độ công nghệ dới mức trung bình của thế giới và khu vực: máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất lạc
hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm, 38% thiết bị chờ thanh lý.Tốc độ đổi mới công nghệ chậm (khoảng 10%/năm); các ngànhcông nghiệp có trình độ công nghệ cao, hiện đại, nh điện tử,tin học mới chỉ chiếm vài phần trăm giá trị sản xuất côngnghiệp; dịch vụ có hàm lợng trí tuệ cao cha nhiều
- Về giải quyết việc làm mới cho xã hội cũng không đáp ứng yêu cầu: trong vòng 11 năm qua từ năm 1992 đến hết năm 2003,
cả nền kinh tế thu nhận đợc thêm 9 triệu lao động thì khu vực
nhà nớc chỉ tăng thêm có gần 200 nghìn ngời Hiện chỉ có trên
2 triệu lao động làm việc trong khu vực DNNN
- Năng suất lao động trong công nghiệp cha có tiến bộ đáng kể: Số liệu về năng suất lao động xã hội của Tổng cục Thống kê
2002 cho thấy năng suất lao động thời kỳ 1996-2001 tăng bìnhquân mỗi năm 4,8%, chậm hơn tốc độ tăng GDP (7%) cùng kỳ.Năng suất lao động thấp, năm 2000 mới đạt khoảng 12 triệu
Trang 14đồng, tơng đơng 832 USD, thấp hơn Indonesia (1705 USD),Trung Quốc (1517 USD), Thái Lan (3701 USD), Philipine (2690).Trong các thành phần kinh tế, năng suất lao động của DNNNthấp hơn khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đến 2 lần.7
- Sức cạnh tranh cuả các DNNN còn rất yếu: Báo cáo "năng lực
cạnh tranh toàn cầu" của của Diễn đàn kinh tế Thế giới năm
2004 xếp hạng năng lực cạnh tranh của 104 nớc trong năm
2003-2004, trong đó năng lực cạnh tranh Việt Nam xếp thứ 77, nănglực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam xếp thứ 73 Trong đó,các DNNN cha chứng minh đợc sự khác biệt về năng lực cạnhtranh so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếkhác
Rõ ràng là, chất lợng phát triển của DNNN trong thời gian quacòn khoảng cách khá xa mới đáp ứng đợc yêu cầu vơn lên đi
đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; năng suất,chất lợng và hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật củaDNNN cha thể nói là tấm gơng để các thành phần kinh tế khácnoi theo Hiệu quả và sức cạnh tranh thấp so với các nớc là tháchthức lớn khi ta hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế quốc tế vàkhu vực
4 Đổi mới thể chế nhằm đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
4.1- Các nỗ lực cải cách thể chế nhằm thúc đẩy phát triển khu vực doanh nghiệp dân doanh trong nớc
- Việc rà soát các giấy phép kinh doanh hiện hành và điều
kiện kinh doanh đối với những ngành có điều kiện đang đợctiếp tục, nhằm giảm bớt số lợng các ngành nghề, lĩnh vực thuộcdanh mục ngành nghề cấm kinh doanh, hoặc kinh doanh có
điều kiện
7 Các số liệu trong mục này đợc trích dẫn từ bài tham luận của TS Ngô Văn Điểm, Phó Ban nghiên cứu của Thủ tớng Chính phủ, tại hội thảo về “ Phát triển thể chế kinh tế thị tr- ờng ở Việt Nam”, do CIEM tổ chức tại Hà Nội, ngày 29/4/2005.
Trang 15- Những quy định hạn chế cạnh tranh, phân biệt đối xử, khôngcòn phù hợp với kinh tế thị trờng và cam kết quốc tế, trớc hết vềngành nghề kinh doanh, vay vốn và đất đai, mở rộng các thịtrờng điện lực, viễn thông, hàng không, điện ảnh, báo chí,quảng cáo và thông tin kinh tế đang tiếp tục đợc rà soát, kiếnnghị xoá bỏ hoặc sửa đổi Các thủ tục hành chính trực tiếpliên quan đến khu vực doanh nghiệp nh thủ tục hoàn thuế, hảiquan, đất đai, xây dựng, công chứng đang ngày càng đợchoàn thiên theo hớng tập trung, đơn giản hoá, thực hiện chế độcông khai, minh bạch;
- Yêu cầu về việc hình thành một cơ quan đăng ký kinh doanhchung cho các loại hình doanh nghiệp, tăng cờng năng lực chocơ quan này đủ sức chịu trách nhiệm theo dõi tình hình pháttriển, thực hiện “tiền kiểm, hậu kiểm” theo quy định của phápluật đối với hoạt động của các loại hình doanh nghiệp đang đ-
ợc xem xét một cách tích cực;
- Quyền của các doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu tiếptục đợc mở rộng, các điều kiện, thủ tục xuất nhập khẩu chodoanh nghiệp, hộ gia đình ngày càng đợc đợc giảm bớt, cácdoanh nghiệp đợc quyền xuất khẩu những mặt hàng khôngcấm hoặc không hạn chế số lợng;
- Cơ chế, chính sách tạo điều kiện và tạo động lực cho doanhnghiệp chủ động tăng qui mô hoạt động thông qua tự tích luỹ
và các biện pháp huy động vốn trên thị trờng chứng khoán, pháttriển hình thức công ty cổ phần đợc tích cực sửa đổi, bổsung Các quy định và thực hiện về hợp đồng liên kết của cácdoanh nghiệp, hợp tác, kể cả liên kết thầu phụ nói riêng đang
Trang 16cá thể đóng góp khoảng 39,9% tổng sản phẩm trong nớc Quantrọng hơn, chính khu vực này đã tạo ra phần lớn việc làm chongời lao động, góp phần giữ vững ôn định và trật tự xã hội.
4.2 - Đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
- Thủ tục cấp phép đầu t cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN
đang ngày càng đợc đơn giản hóa, chế độ đăng ký cấp phép
đầu t cho những dự án trong các khu công nghệ cao, khu côngnghiệp, các dự án không thuộc danh mục cấm hoặc hạn chế
đầu t đợc mở rộng
- Hình thức thu hút vốn ĐTNN đợc đa dạng hóa thông qua đầu
t gián tiếp, mua lại, sát nhập; các hình thức pháp lý của doanhnghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cũng ngày càng nhiều thêm.Việc thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) vào hoạt độngtại Việt Nam đợc đặt thành mục tiêu quan trọng Cụ thể hoá vàthu hẹp các lĩnh vực không cấp giấy phép đầu t và điều kiệncấp phép đối với những lĩnh vực đầu t có điều kiện, mở cửacác lĩnh vực dịch vụ có năng lực cạnh tranh thấp
- Các quy định đặc thù đối với nhà đầu t và doanh nghiệp cóvốn ĐTNN đang đợc giảm dần và sẽ tiến tới xóa bỏ Luật Đầu t vàLuật Doanh nghiệp (ban hành năm 2005, có hiệu lực từ1/7/2006) tạo ra cơ sở vững chắc cho việc thực hiện một mặtbằng pháp lý và điều kiện kinh doanh bình đẳng giữa cácnhà đầu t/ các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài với các nhà
đầu t và các doanh nghiệp trong nớc
Nhờ có những nỗ lực đó mà khu vực kinh tế có vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài đã và sẽ tiếp tục có bớc phát triển, thực sự trở
thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốcdân
4.3 - Đối với các chủ thể kinh tế nông nghiệp