1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC PHẦN PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC

28 596 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 340,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy cần lập thêm 3 bảng số liệu nữa và đây chính là 5 hình thức phân hóa xã hội, bất bình đẳng xã hội trong giáo dục được đo bằng các chỉ báo: tỉ lệ đi học đúng tuổi, phân hóa tuyệt

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC PHẦN PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG GIÁO

DỤCDành cho lớp cao học Quản lý giáo dục, năm 2014

1 Phân hóa xã hội là gì? Phân hóa xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêumột số chỉ báo hay đơn vị đo lường, đánh giá sự phân hóa xã hội trong giáo dục

2 Phân tầng xã hội là gì? Hãy vẽ một vài kiểu/mô hình phân tầng xã hội Phân tầng xã hộitrong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường vàđánh giá sự phân tầng xã hội trong giáo dục

3 Phân loại xã hội là gì? Hãy vẽ một vài kiểu/mô hình phân loại xã hội Phân loại xã hộitrong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường vàđánh giá sự phân loại xã hội trong giáo dục

4 Công bằng xã hội là gì? Công bằng xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào?

5 Bình đẳng xã hội là gì? Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Nêumột số chỉ báo hay đơn vị đo lường sự bình đẳng xã hội trong giáo dục

6 Phân tích mối quan hệ giữa “công bằng xã hội” và “bình đẳng xã hội” Liên hệ thực tếgiáo dục ở Việt Nam

7 Phân tích thực trạng phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục từ tiểu học đếnđại học ở Việt Nam Việt Nam

8 Kể tên các hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục Phân tích một hình thức biểuhiện rõ nhất tình trạng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay

9 Chức năng sàng lọc của giáo dục có ảnh hưởng như thế nào đến phân hóa và bình đẳng

xã hội trong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

10.Thiết chế kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xã hộitrong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

11.Thiết chế văn hóa có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xã hộitrong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

12.Thiết chế pháp luật có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xãhội trong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

13 Thiết chế pháp luật có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xãhội trong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

14 Dân số có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xã hội tronggiáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

15 Hôn nhân và gia đình có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng

xã hội trong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

16.Xã hội hóa cá nhân có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xãhội trong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

17.Xã hội hóa (sự nghiệp) giáo dục có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa vàbình đẳng xã hội trong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

18 Cần hiểu tình trạng sinh viên thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Điều nàyliên quan gì đến phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục? Có thể nêu giải pháp quản

lý giáo dục gì?

19.Cần hiểu thế nào về phân hóa và bình đẳng trong đầu ra của giáo dục? Liên hệ thực tế ởViệt Nam

Trang 2

TÀI LIỆU ÔN TẬP

1 Lê Ngọc Hùng Xã hội học giáo dục Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 2011 (Bắt buộc)

2 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Năm năm 2009: Giáo dục ở Việt Nam: Phân tích các chỉ số chủ yếu Hà Nội 2011 (Bắt

buộc)

3 Các tài liệu khác về tình hình giáo dục ở nơi công tác, địa bàn cư trú (bắt buộc)

4 Các tài liệu khác về tình hình phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục (khuyếnkhích)

Trang 3

Tiểu học Trung học

cơ sở

Trung học phổ thông

Tiểu học Trung học

cơ sở

Trung học phổ thông

Trang 4

Phân hóa tuyệt đối (kinh/Hmông) 11.1/0.2=?

Nguồn Tổng cục Thống kê Giáo dục ở Việt Nam: Phân tích các chỉ số chủ yếu Hà Nội.

2011 Tr 36

Tương tự copy số liệu từ nguồn để lập bảng tương tự cho các hình thức khác (nam - nữ, thànhthị - nông thôn, di cư - không di cư) Như vậy cần lập thêm 3 bảng số liệu nữa và đây chính là

5 hình thức phân hóa xã hội, bất bình đẳng xã hội trong giáo dục được đo bằng các chỉ báo: tỉ

lệ đi học đúng tuổi, phân hóa tuyệt đối, phân hóa tương đối

Đồng thời có thể lập thêm các bảng khác từ nguồn tài liệu Tổng cục Thống kê Giáo dục ở ViệtNam: Phân tích các chỉ số chủ yếu Hà Nội 2011

Trang 5

ĐÁP ÁN

“PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC”

Dành cho lớp cao học Quản lý giáo dục, năm 2014

Câu 1 Phân hóa xã hội là gì? Phân hóa xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu

một số chỉ báo hay đơn vị đo lường, đánh giá sự phân hóa xã hội trong giáo dục

Phân hóa xã hội

- Phân hóa xã hội là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về một hoặc một số đặc điểm, tính chất xã hội nhất định

Phân hóa xã hội còn được hiểu là quá trình tạo ra sự khác biệt xã hội mà căn cứ vào đó

có thể phân hóa phân tầng và phân hóa phân loại.

Phân hóa phân tầng là sự phân hóa tạo ra sự khác biệt định lượng để từ đó hình thành các tầng lớp xã hội khác nhau về kinh tế, trình độ học vấn và các đặc điểm khác Ví dụ phân hóa – phân tầng giàu nghèo, giỏi kém, tầng cao tầng thấp.

Phân hóa - phân loại xã hội là sự phân hóa tạo ra sự khác biệt định tính để từ đó hình thành các loại nhóm xã hội khác nhau ví dụ nhóm giáo viên dạy toán, nhóm giáo viên dạy lý, nhóm giáo viên dạy văn, hoặc nhóm bác sỹ răng hàm mặt, nhóm bác sỹ phụ sản, nhóm bác sỹ tai mũi họng.v.v.

- Sự phân hóa xã hội có thể dẫn đến sự hình thành các nhóm xã hội khác nhau, mâu thuẫn nhau thậm chí đối lập nhau Khi sự phân hóa xã hội tạo thành hai nhóm xã hội đối lập nhau thì được gọi là sự phân cực xã hội

Ví dụ:

Về kinh tế: Sự phân hóa xã hội tạo ra 2 nhóm đối lập nhau là nhóm giàu và nhóm nghèo, tương ứng là nhóm học sinh con nhà giàu và nhóm học sinh con nhà nghèo

Về giáo dục: sự phân hóa xã hội tạo thành nhóm học sinh giỏi và nhóm học sinh kém

Phân hoá XH trong GD được hiểu như thế nào

Phân hoá XH trong GD là: quá trình hình thành các nhóm học sinh (sinh viên, họcviên…), các nhóm nghề nghiệp, trình độ khác nhau trong giáo dục

Ví dụ như: phân hoá XH trong GD tạo thành các nhóm học sinh:

 Nhóm học sinh con nhà giàu và nhóm học sinh con nhà nghèo

 Nhóm học sinh học giỏi, học khá và nhóm học sinh học yếu

 Nhóm học sinh có sở trường, năng khiếu về các môn khoa học TN, XH, VH, VN TD TT

- Nhóm học sinh theo độ tuổi

 Nhóm học sinh học nghề và nhóm học sinh học văn hoá…

Hay phân hoá XH trong GD còn tạo ra các nhóm nghề nghiệp khác nhau như:

 Các nhà thơ, nhà văn

 Các nhà khoa học (TN hoặc XH)

 Gíáo viên, bác sĩ, kĩ sư, doanh nhân…

Rồi sự phân hoá này còn hình thành các nhóm với trình độ học vân khác nhau như trung cấp,cao đẳng, đại học…

Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường, đánh giá sự phân hóa xã hội trong giáo dục

Trang 6

Để đánh giá sự phân hóa xã hội trong Giáo dục có thể sử dụng các chỉ báo, hay đơn vị đolường là:

 Tỉ lệ % đi học đúng tuổi cấp, bậc học nhất định

 Tỉ lệ % đi học chung cấp, bậc học nhất định

 Số năm đi học trung bình

 Số chi phí (chi tiêu) tính bằng tiền cho việc đến trường (chi phí giáo dục) Căn cứ vàochi phí giáo dục có thể tính hệ số GINI để đánh giá mức độ phân hóa (mức độ bất bìnhđẳng, hệ số GINI có giá trị dao động từ 0 đến 1 càng tiến đến 0 càng bình đẳng và càngtiến đến 1 càng bất bình đẳng, càng phân hóa

 Chỉ số phân hóa tuyệt đối = Chênh lệch tuyệt đối giữa các chỉ báo/đơn vị nêu trên: ví dụ

tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nam – tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nữ = phân hóa giáo dụctuyệt đối giữa nam

 Chỉ số phân hóa tương đối = Chênh lệch tương đối được tính bằng số lần chênh lệch ví

dụ lấy tỉ lệ % đi học của nam chia cho tỉ lệ % đi học của nữ

Các hình thức phân hóa xã hội trong giáo dục (còn gọi là các hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục) bao gồm:

1 Phân hóa giữa nam và nữ, (phân hóa giới/bất bình đẳng giới)

2 Phân hóa giữa thành thị và nông thôn

3 Phân hóa giữa các vùng miền,

4 Phân hóa giữa các địa phương (các tỉnh, thành phố)

5 Phân hóa giữa các dân tộc

6 Phân hóa giữa nhóm giàu và nhóm nghèo (phân hóa giàu nghèo)

7 Phân hóa giữa nhóm di cư và nhóm không di cư…

Lưu ý không nhầm lẫn hình thức phân hóa nêu trên với chỉ báo, thước đo phân hóa

Ví dụ phân hóa giáo dục giữa thành thị và nông thôn có thể được xác định thông qua chỉ báo /đo lường là tỉ lệ % đi học đúng tuổi trung học phổ thông của thành thị và của nông thôn So sánh hai tỉ lệ % này nếu bằng nhau thì bình đẳng không phân hóa, nếu càng khác nhau thì càng phân hóa, càng bất bình đẳng Tương tự như đối với các hình thức khác

Sự phân hoá XH trong giáo dục vừa là hệ quả của sự phân hoá giàu nghèo trong XH song đồngthời nó cũng là tiền đề, là một trong 2 nguyên nhân (cùng với phân công lao động) tác động tớiphân hoá xã hội

Giáo dục là một trog những phương thức phân hóa XH sâu sắc.Những người học ởtrường ĐH Bách Khoa thường tham gia vào các nhóm khoa học công nghệ, người tham giavào trường ĐH xây dựng sẽ tham gia vào các nhóm nghề xây dựng Trình độ học vấn khácnhau tạo những vị thế XH khác nhau như: học trường ĐH Y sẽ trở thành bác sĩ… Học sinh(HS) trong cùng độ tuổi vừa có sự giống nhau lại vừa có sự khác nhau về khả năng tư duy,nhân cách và hoàn cảnh gia đình, nề nếp gia đình, khả năng kinh tế, nhận thức của cha mẹ vềgiáo dục, )

Trang 7

Câu 2 Phân tầng xã hội là gì? Hãy vẽ một vài kiểu/mô hình phân tầng xã hội Phân tầng

xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường và đánh giá sự phân tầng xã hội trong giáo dục

Phân tầng xã hội

Phân tầng xã hội là sự phân hóa xã hội tạo thành các tầng xã hội khác nhau về vị thế xã hội trong cấu trúc xã hội.

- Sự phân tầng xh là quá trình phân hóa xã hội với đặc trưng là tạo ra các nhóm xã hội có

vị thế trên dưới, cao thấp khác nhau về mổ hoặc một số đặc điểm, tính chất cơ bản, trong đó quan trọng nhất là về kinh tế, quyền lực và uy tín xã hội ví dụ sự phân tầng xã hội tạo ra tầng lớp thượng lưu giàu có, nắm giữ quyền lực và tầng lớp hạ lưu nghèo khổ không có quyền lực

- Sự phân tầng xh tạo nên cấu trúc phân tầng xã hội gồm các nhóm người có vị thế xác định trong một trật tự xã hội vi dụ: trong trật tự KT tư bản cn nghĩa cấu trúc phân tầng có tầng lớp chóp bu là các nhà tư bản và tầng lớp dưới đáy là những người thất nghiệp vô gia cư

- Sự phân tầng xã hội luôn chưa đựng yếu tố bất bình đẳng xã hội bởi ở đó luôn có những tầng lớp trên và tầng lớp dưới tầng lớp trên có nhiều của cải và nhiều quyền lực, tầng lớp dưới không có quyền lực và thấp cổ bé họng

* Cơ chế và các yếu tố tác động đến phân tầng xã hội

- Phẩm chất, năng lực cá nhân: tùy theo những phẩm chất và năng lực cá nhân mà người

đó có cơ hội thăng tiến nhiều hay ít…

- Giáo dục và đào tạo: giúp cá nhân hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết Đây là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để mỗi cá nhân lĩnh hội được các kinhnghiệm và tri thức nghề nghiệp để thăng tiến

- Cơ may xã hội: VD: Sinh viên tốt nghiệp đúng ngành nghề mà xã hội đang cần thì cơ hộiviệc làm rất cao

Phân tầng xh trong giáo dục được hiểu một phần nào đó phụ thuộc vào 4 yếu tố trên

Tương tự như đối với phân hóa xã hội đã nêu (tỉ lệ% đi học, số năm đi học trung bình, GINI,chỉ số phân hóa tương đối, tuyệt đối)

Để đánh giá sự phân tầng xã hội trong Giáo dục có thể sử dụng các chỉ báo, hay đơn vị đolường là:

 Tỉ lệ % đi học đúng tuổi cấp, bậc học nhất định

 Tỉ lệ % đi học chung cấp, bậc học nhất định

 Số năm đi học trung bình

 Số chi phí (chi tiêu) tính bằng tiền cho việc đến trường (chi phí giáo dục) Căn cứ vào

Trang 8

chi phí giáo dục có thể tính hệ số GINI để đánh giá mức độ phân hóa (mức độ bất bìnhđẳng, hệ số GINI có giá trị dao động từ 0 đến 1 càng tiến đến 0 càng bình đẳng và càngtiến đến 1 càng bất bình đẳng, càng phân hóa

 Chỉ số phân hóa tuyệt đối = Chênh lệch tuyệt đối giữa các chỉ báo/đơn vị nêu trên: ví dụ

tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nam – tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nữ = phân hóa giáo dụctuyệt đối giữa nam

 Chỉ số phân hóa tương đối = Chênh lệch tương đối được tính bằng số lần chênh lệch ví

dụ lấy tỉ lệ % đi học của nam chia cho tỉ lệ % đi học của nữ

Câu 3 Phân loại xã hội là gì? Hãy vẽ một vài kiểu/mô hình phân loại xã hội Phân loại xã hội

trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường và đánhgiá sự phân loại xã hội trong giáo dục

Phân loại xã hội là sự phân hóa xã hội tạo thành các nhóm xã hội, các loại nhóm xã hội hay cácloại xã hội khác nhau về những đặc điểm, tính chất xã hội nhất định Ví dụ sự phân loại xã hôicăn cứ vào sức khác nhau về loại nghề nghiệp, loại sở thích, nguyện vọng v.v Phân loại xã hội

về mặt nghề nghiệp tạo ra các nhóm nghề nghiệp khác nhau

Trong giáo dục, phân loại xã hội biểu hiện ở việc hình thành các nhóm học sinh sinh viên vớicác nguồn gốc gia đình khác nhau, định hướng nghề nghiệp khác nhau Chỉ báo đo lường vềphân loại là các khác biệt định tính và chỉ báo về sự phong phú đa dạng của các loại nhóm Ví

dụ Một lớp học có thể chỉ có hai nhóm là nhóm gia đình giàu và nhóm gia đình không giàu.Nhưng một lớp học khác có thể có nhiều loại nhóm: nhóm nhà giàu, nhóm nhà nghèo, nhómcông nhân, nhóm nông dân, nhóm tri thức mà mỗi nhóm này lại phân hóa thành nhiều loạinhóm khác

Trang 9

Công bằng xã hội trong giáo dục:

Mọi công dân đều có quyền tiếp cận các cơ hội học tập theo quy định của Luật giáo dục.Công bằng giáo dục mà mục tiêu cuối cùng là thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn sự đa dạng của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, góp phần xây dựng xã hội: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Lấy thêm các ví dụ

Tham khảo để trả lời cho sinh động phần hỏi thêm của Thầy

Hồ Chủ tịch đã nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước tađược hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…” Ham muốn vô bờ đó của Người thực sự đã chứng minh cho những quan tâm hết sức lớn lao của Hồ Chủ tịch đối với vấn đề quốc kế dân sinh

(Phát triển giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo là cơ sở để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn vốn văn hoá cho đồng bào các dân tộc để họ có điều kiện vươn lên hoà nhập và thực hiện quyền bình đẳng của mình

là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết nhưng cũng rất khó khăn ở nước ta hiện nay Chỉ khi nào đồng bào dân tộc thiểu số có được một trình độ học vấn cao thì khi ấy họ mới có điều kiện thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, tiếp thu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất và đời sống vượt qua nghèo nàn, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất, tức là mới có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của mình, và chỉ khi đó các dân tộc thiểu số mới thực sự bình đẳng trong một quốc gia đa dân tộc

Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị

xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập

Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học

hành Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những

người có năng khiếu phát triển tài năng

Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, ngườitàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa

vụ học tập của mình.)( Điều 10 Luật GD2005)

Trang 10

Câu 5:

Bình đẳng xã hội là gì? Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Nêu một

số chỉ báo hay đơn vị đo lường sự bình đẳng xã hội trong giáo dục

1 Khái niệm

- Công bằng xã hội: Là sự tiếp cận và xử lý đúng đắn, không thiên vị các mối quan hệ cơ bản

giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội

- Bình đẳng xã hội: Nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự thừa nhận và sự thiết lập các điều

kiện, các cơ hội và các quyền lợi ngang nhau cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân, cácnhóm xã hội

→ Công bằng, bình đẳng và tự do gắn liền với quyền cơ bản của của con người

- Bình đẳng giáo dục: Là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các nhóm người về điều kiện, cơ hội

và quyền lợi trong giáo dục

- Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu một cách cụ thể, rõ ràng là sự bình đẳng giáo

dục, bình đẳng về cơ hội giáo dục, bình đẳng về cơ hội học tập, bình đẳng về cơ hội đếntrường

Yêu cầu về bình đẳng xã hội trong giáo dục

- Một là, cơ hội đầu vào giáo dục: bình đẳng về cơ hội đến trường, bình đẳng về cơ hội đầu tưcho giáo dục Cần tạo ra sự bình đẳng về cơ hội đến trường cho mọi nhóm xã hội từ miền xuôiđến miền ngược, từ trẻ em bình thường đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

- Hai là, bình đẳng về cơ hội đầu ra của giáo dục: bình đẳng về cơ hội sử dụng bằng cấp, bìnhđẳng về cơ hội tìm việc làm phù hợp với trình độ đào tạo

- Ba là, cần thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình đẳng xã hội tronggiáo dục (phải hành động trên nền tảng công lý, pháp luật)

3 Từ góc độ xã hội học, vấn đề về bình dẳng xã hội trong giáo dục được nhìn nhận:

- Thứ nhất, vấn đề công bằng, bình đẳng và hiệu quả giáo dục không phải là vấn đề nội bộ củangành giáo dục mà là của xã hội

- Thứ hai, sự công bằng và bình đẳng trong giáo dục phụ thuộc vào cách phân bổ ngân sáchcủa nhà nước và quy mô, cơ cấu phát triển giáo dục tiểu học, trung học và đại học

- Thứ ba, là trình độ phát triển kinh tế xã hội: cần thực hiện công bằng ngay cả khi kinh tếchậm phát triển Bởi vì bình đẳng xã hội trong giáo dục vừa là mục tiêu vừa là con đường pháttriển con người , phát triển xã hội

Một số chỉ báo hay đơn vị đo lường sự bình đẳng xã hội trong giáo dục: giới tính; thành thị- nông thôn; di cư- không di cư; dân tộc; tình trạng kinh tế hộ gia đình

Lưu ý đơn vị, chỉ báo đo lường sự bình đẳng cũng chính là đơn vị đo lường sự phân hóa xã hộinhưng với ý nghĩa khác: ví dụ hệ số GINI càng gần bằng 0 thì càng bình đẳng Chênh lệchtuyệt đối và chênh lệch tương đối càng nhỏ thì càng bình đẳng

Để đánh giá sự phân tầng xã hội trong Giáo dục có thể sử dụng các chỉ báo, hay đơn vị đolường là:

 Tỉ lệ % đi học đúng tuổi cấp, bậc học nhất định

 Tỉ lệ % đi học chung cấp, bậc học nhất định

Trang 11

 Số năm đi học trung bình

 Số chi phí (chi tiêu) tính bằng tiền cho việc đến trường (chi phí giáo dục) Căn cứ vàochi phí giáo dục có thể tính hệ số GINI để đánh giá mức độ phân hóa (mức độ bất bìnhđẳng, hệ số GINI có giá trị dao động từ 0 đến 1 càng tiến đến 0 càng bình đẳng và càngtiến đến 1 càng bất bình đẳng, càng phân hóa

 Chỉ số phân hóa tuyệt đối = Chênh lệch tuyệt đối giữa các chỉ báo/đơn vị nêu trên: ví dụ

tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nam – tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nữ = phân hóa giáo dụctuyệt đối giữa nam

 Chỉ số phân hóa tương đối = Chênh lệch tương đối được tính bằng số lần chênh lệch ví

dụ lấy tỉ lệ % đi học của nam chia cho tỉ lệ % đi học của nữ

không thiên vị các mối quan hệ cơ

bản (nhu cầu & hưởng thụ, nghĩa vụ

& quyền lợi, chi phí & lợi ích, đóng

góp & phần thưởng) giữa các cá

nhân, tổ chức trong xã hội.

 Được cụ thể hóa thành các nguyên

tắc ứng xử và được thể chế hóa

thành các quy định pháp luật hoặc

thành quy tắc bất thành văn

 Công bằng xã hội theo pháp luật là

phương thức, là cơ chế để thực hiện

bình đẳng xã hội thực chất

Bình đẳng xã hội

 Là sự thừa nhận và thiết lập các điều

kiện, các cơ hội và các quyền lợi ngang nhau cho sự tồn tại và phát triển của các

cá nhân, các nhóm xã hội

 Nói tới hành vi ứng xử cụ thể giữangười với người trên từng phương diệncủa cuộc sống

Công bằng xã hội trong giáo dục

- là tạo ra sự bình đẳng về cơ hội học

tập của mọi công dân không phân biệt

tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính v.v

được nhà nước quy định trong Điều 10,

Luật Giáo dục 2005

Bình đẳng xã hội trong giáo dục

 là sự bình đẳng giữa các cá nhân, cácnhóm người về điều kiện, cơ hội vàquyền lợi trong giáo dục

 được hiểu một cách cụ thể, rõ ràng là

sự bình đẳng giáo dục, bình đẳng về cơhội giáo dục, bình đẳng về cơ hội họctập, binh đẳng về cơ hội đến trường

Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là một quá trình xã hội:

- Công bằng xã hội là một trong nhựng nguyên tắc phát triển có ý nghĩa trọng đại của mỗi quốcgia Trong đó phải nhấn mạnh sự công bằng về quyền được học hành, quyền được hưởng thụmột nền giáo dục hiện đại, quyền được tham gia phát triển giáo dục Thực hiện công bằngtrong giáo dục trước hết là tạo cơ hội như nhau trong học tập là điều kiện quan trọng để thựchiện quyền bình đẳng trong giáo dục Khi nền công nghiệp dần nhường chỗ cho kinh tế tri thức

Trang 12

thì giáo dục không những là quyền của mọi công dân, mà còn mang sứ mạng vĩ đại là tạo mọi

cơ hội để con người được học tập suốt đời, nghĩa là phải làm cho quốc gia thành một xã hộihọc tập

- Khi tạo cơ hội giáo dục tính đến từng con người, không loại trừ một ai thì chính đó là sự côngbằng về giáo dục được giải quyết cơ bản Sự công bằng về giáo dục là sự công bằng về cơ hội

để con người phát triển bền vững trên cơ sở họ thực hiện được quyền lợi và nghĩa vụ học tậpsuốt đời Thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình đẳng xã hội tronggiáo dục: bình dẳng về đầu vào giáo dục, bình đẳng về đầu ra của giáo dục

- Giáo dục là phương tiện tạo ra bình đẳng bằng cách mang lại cơ hội công bằng cho mọingười Thông qua cơ hội công bằng, giáo dục kích thích nỗ lực vươn lên của mọi cá nhân, thúcđẩy sự ưu tú, tài năng, sự sáng tạo, nhờ đó tạo ra tiến bộ và phát triển xã hội

Ví dụ sự bình đẳng về cơ hội đến trường: trẻ em ở miền núi, miền xuôi khi đủ 6 tuổi đều có thể

đi học tiểu học Công bằng về giáo dục luôn đòi hỏi sự công bằng về điều kiện học tập Mộtphường trong thành phố lớn có ít nhất một trường tiểu học; một xã vùng cao hiện nay cũng cótrường tiểu học Nếu nhìn vào con số thống kê này, người ta có thể cho rằng, giữa miền núi vớivùng đô thị đã có sự công bằng về giáo dục tiểu học Thực ra vẫn rất bất công bằng khi trườngtiểu học ở thành phố được xây dựng kiên cố, có đủ điện chiếu sáng trong từng lớp học, có bànghế học sinh đóng đúng quy cách, có máy tính cho học sinh sử dụng ngay khi vào lớp 1, v.v còn trường ở vùng cao được bao bọc bằng những tấm phên đan bằng tre hoặc nứa, ghế học sinhghép bằng những cây tre, mùa đông đến gió rừng làm cho lũ trẻ co ro trong lớp học, trời mưahoặc lúc chiều tà, lớp học tối om Cũng là học tiểu học, nhưng chất lượng trường lớp như thếlàm sao mà bảo đảm việc học tập ở hai nơi là công bằng?

Có thể sử dụng tỉ lệ đi học đúng tuổi của nhóm giàu và nhóm nghèo của từng cấp bậc học học

để chứng minh rằng càng lên bậc học cao càng phân hóa, càng bất bình đẳng

Phân hóa xã hội trong giáo dục là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về một hoặc 1 số đặc điểm, tính chất giáo dục.

Cơ chế và các yếu tố tác động tới sự phân hóa xã hội:

 Sự phân hóa xã hội diễn ra trong những điều kiện xã hội cụ thể:

Ví dụ: Ở thời kỳ những năm 90 của TK 20, chưa xuất hiện mạng internet và máy tính tạiViệt Nam, vì vậy mà ở các lớp học chủ yếu là học chay Tuy nhiên, khi internet được truyềnvào VN thì tại các lớp học xuất hiện nhiều phương tiện công nghệ hiện đại: như máy chiếu,máy tính…hỗ trợ cho công việc học tập

- Sự phân hóa xã hội diễn ra một cách tất yếu theo quy luật Quy luật tự nhiên và quyluật xã hội

Ví dụ: Theo quy luật tự nhiên, các cá nhân sinh ra, lớn lên và tham gia vào các nhóm xã

Trang 13

hội khác nhau tương ứng với đặc điểm dân tộc, tuổi, giới tính Theo quy luật xã hội, trẻ

em 6 tuổi thì vào lớp 1, mỗi năm lên một lớp…

- Sự phân hóa xã hội chịu tác động của sự phân công lao động trong xã hội: Do làmnhững công việc khác nhau, chuyên môn hóa khác nhau nên xuất hiện các nhóm nghề khácnhau Trình độ học vấn khác nhau cũng tạo ra những nhóm xã hội khác nhau như nhóm nhữngngười lao động chân tay, nhóm những người lao động trí óc…

Bình đẳng giáo dục là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các nhóm người về điều kiện, cơ hội và quyền lợi trong giáo dục.

Thiết chế giáo dục hiện đại đòi học phải thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để tạo

ra sự bình đẳng về cơ hội giáo dục Khái niệm này được hiểu theo những nghĩa chính sau đây:

 Bình đẳng về cơ hội đầu vào giáo dục, ví dụ như bình đẳng về cơ hội đến trường,bình đẳng về cơ hội đầu tư cho giáo dục Cần tạo ra sự bình đẳng về cơ hội đếntrường cho mọi nhóm xã hội từ miền xuôi đến miền ngược, từ trẻ em bình thườngđến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

 Bình đẳng về đầu ra của giáo dục, ví dục như bình đẳng về cơ hội sử dụng bằng cấp,bình đẳng về cơ hội tìm việc làm phù hợp với trình độ đào tạo Trên thực tế có sựphân biệt đối xử sinh viên tốt nghiệp giữa trường đại học công lập với trường đại họcdân lập, giữa đào tạo chính quy với đào tạo tại chức Vấn đề đặt ra là làm thế nào đểcác bằng đại học ngang giá trị như nhau giữa các loại trường công lập, bán công, dânlập và tư thục

 Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là một quá trình xã hội: cần thực hiện nguyêntắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình đẳng xã hội trong giáo dục Khôngthể ngay lập tức đạt được bình đẳng xã hội cũng không thể ban phát, xin cho sự bìnhđẳng xã hội mà phải thực hiện, phải hành động trên nền tảng công lý, pháp luật

Luật Giáo dục (có hiệu lực 1/1/2006 và hiện còn đang sửa đổi), Luật Chăm sóc, bảo vệ vàgiáo dục trẻ em (có hiệu lực 1/1/2005) mang lại quyền bình đẳng trong giáo dục cho toàn bộmọi người dù ở bất kì hoàn cảnh nào, lứa tuổi nào, giới tính nào, địa phương nào

Tỉ lệ nhập học đúng tuổi (theo Nguồn Tổng cục thống kê Giáo dục Việt Nam: Phân tích các chỉ số chủ yếu.2011 Biểu 4.2) cho thấy Luật Giáo dục đã thúc đẩy một cách mạnh mẽ sự

bình đẳng giới trong giáo dục Tỉ lệ nữ giới nhập học đúng độ tuổi ở các cấp học luôn cao hơn

so với nam giới (mặc dù xu thế trọng nam khinh nữ trong xã hội hiện nay đang có nguy cơ

quay trở lại, tỉ lệ sinh nữ/nam là 100/105)

Khoảng cách bất bình đẳng trong giáo dục giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm giàu

và nhóm nghèo cũng được thu hẹp đặc biết ở những cấp học phổ thông

Trang 14

Nông thôn 94.9 80.6 52.8 3.7 3.0

Số liệu (nghiêng) có chính xác không?

Luật Phổ cập giáo dục tiểu học ở VN ban hành đáp ứng nhu cầu học tập của đại đa sốcác thành viên trong xã hội Hiện nay khoảng trên 95,5% trẻ em qua tuổi tiểu học đã hoànthành CT tiểu học

Mới đây nhất, Luật Người khuyết tật (được Quốc hội nước CHXHCN VN thông quangày 17/6/2010 - Chương IV Điều 27, 28, 29, 30) cũng đem lại bình đẳng trong giáo dục chonhững con người không được lành lặn (về thể xác, trí tuệ, tinh thần) Họ được học tập vớiphương thức giáo dục chuyên biệt, được hướng nghiệp để hòa nhập cộng đồng

Một số thiết chế giáo dục mang tính pháp luật, một số quy tắc bất thành văn thể hiệndưới hình thức những hệ giá trị, chuẩn mực truyền thống đề cao việc học tập, coi trọng ngườihọc, tạo cho họ có ý thức hứng thú học tập, thực hiện nghiêm túc việc học, từ đó thúc đẩy sựphát triển bình đẳng trong giáo dục ở các nhà trường

Các hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục và phân tích

Bất bình đẳng giới trong giáo dục: Tỉ lệ nhập học ở các nước nghèo đang tăng, nhưng

tỉ lệ nam đi học vẫn cao hơn nữ Ví dụ theo kết quả điều tra chọn mẫu 1997-1998 tỉ lệdân số nữ từ 15 tuổi trở lên chưa đến trường là 13,4% nhiều gấp 2 lần tỉ lệ năm 5.2%một trong

Bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn: Tỷ lệ đi học của trẻ em ở thành thị luôn

cao hơn tỷ lệ đi học của trẻ em ở nông thôn

Tỷ lệ đi học đúng tuổi thành thị - nông thôn

Cấp học phổ thông đúng tuổi

Thàn

h thị

Nông thôn

Thàn

h thị

Nông thôn

Trung học cơ sở: 11-14 tuổi 82.9 77.8 82.6 77.1Trung học phổ thông: 15-17

Bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo: Tỉ lệ đi học của trẻ em xuất thân từ

nhóm gia đình nghèo luôn thấp hơn tỉ lệ đi học của nhóm gia đình giàu

Ví dụ:

Ngày đăng: 29/06/2015, 14:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Tỉ lệ đi học đúng tuổi các cấp bậc giáo dục của các nhóm dân tộc  và phân hóa tương  đối, phân hóa tuyệt đối giữa nhóm dân tộc Kinh với dân tộc Mông về cơ hội đi học đúng tuổi  các cấp bậc giáo dục từ  tiểu học đến đại học, năm 2009 - ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC PHẦN PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
Bảng 2. Tỉ lệ đi học đúng tuổi các cấp bậc giáo dục của các nhóm dân tộc và phân hóa tương đối, phân hóa tuyệt đối giữa nhóm dân tộc Kinh với dân tộc Mông về cơ hội đi học đúng tuổi các cấp bậc giáo dục từ tiểu học đến đại học, năm 2009 (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w