Tài sản lưu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa chưa được tiêu thụ hàng tồn kho, vốn bằng tiền và các khoản phải thu.. 3 Sơ đồ 1.1: Chu trình kinh doanh vốn lưu động Mua v
Trang 11
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN
LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệ vốn lưu động:
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài TSCĐ còn phải có các TSLĐ tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu của TSLĐ khác nhau Tuy nhiên đối với doanh nghiệp sản xuất TSLĐ được cấu thành bởi hai bộ phận là TSLĐ sản xuất và tài sản lưu thông
TSLĐ sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu và tài sản ở khâu sản xuất như bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ
Tài sản lưu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa chưa được tiêu thụ (hàng tồn kho), vốn bằng tiền và các khoản phải thu
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng TSLĐ nhất định Do vậy, để hình thành nên TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào loại tài sản này, số vốn đó được gọi là vốn lưu động
Tóm lại, vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình doanh của doanh nghiệp được thực hiên thường xuyên, liên tục Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại sau một chu kỳ kinh doanh
1.1.2 Đặc điể của vốn lưu động
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khác với tài sản cố định, tài sản lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm, vì vậy giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm tiêu thụ Đặc điểm này đã quyết định sự vận động của vốn lưu động, hình thái giá trị của tài sản lưu động như sau:
Do các doanh nghiệp sản xuất hoạt động theo phương thức T - H - SX - H‟ - T‟ nên hình thái ban đầu của vốn lưu động là tiền tệ rồi chuyển sang hình thái nguyên vật liệu dự trữ Qua giai đoạn sản xuất, nguyên vật liệu được đưa vào chế tạo thành sản phẩm hoặc bán thành phẩm Kết thúc quá trình vận động, sau khi sản phẩm đã được tiêu thụ vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ Như vậy vốn lưu động luôn có mặt ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất và thường xuyên chuyển từ dạng này sang dạng khác
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì sự vận động của vốn lưu động là khác
Trang 2nhau Chẳng hạn, trong các doanh nghiệp thương mại thì phương thức vận động của vốn là T – H – T‟ Do vậy bắt đầu quá trình vận động vốn lưu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hàng hoá và kết thúc lại trở về hình thái tiền tệ chứ không qua giai đoạn sản xuất, chế biến
Như vậy, chúng ta có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau:
Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn lưu động được phân bổ khắp cả trong và ngoài doanh nghiệp Nó có liên quan đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp và những đối tượng ngoài doanh nghiệp
Vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ và một lần vào giá trị sản phẩm
Vốn lưu động vận động thường xuyên và nhanh hơn vốn cố định Vốn lưu động biến đổi từ hình thái này qua hình thái khác và sau đó sẽ chuyển về hình thái ban đầu Qua quá trình vận động, vốn lưu động không chỉ biến đổi về hình thái, mà quan trọng hơn nó còn tạo nên sự biến đổi về giá trị
Những thông tin về sự biến đổi này rất cần thiết cho sự tìm ra phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, mặt khác việc thu hồi vốn lưu động sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh có tác dụng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp vì có thể thu hồi vốn lưu động thì doanh nghiệp mới có thể tiến hành mua sắm vật tư, thiết bị, trang trải nợ nần phục vụ cho chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo
Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất Trong quá trình đó, vốn lưu động chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và vốn lưu động được thu hồi Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động được chuyển qua nhiều hình thái khác nhau qua từng giai đoạn Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen với nhau
mà không tách biệt riêng rẽ Vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý vốn lưu động có một vai trò quan trọng Việc quản lý vốn lưu động đòi hỏi phải thường xuyên nắm sát tình hình luân chuyển vốn, kịp thời khắc phục những ách tắc sản xuất, đảm bảo đồng vốn được lưu chuyển liên tục và nhịp nhàng
Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách về nhiệm tài chính, sự vận động của vốn lưu động được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động Vòng quay của vốn càng được quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm được vốn, giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức của doanh nghiệp
Vòng luân chuyển của vốn lưu động được thể hiện qua sơ đồ tổng quát sau
Trang 33
Sơ đồ 1.1: Chu trình kinh doanh vốn lưu động
Mua vật tư Sản xuất
Vốn lưu động bằng tiền, ở dạng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản tương đương tiền…
Khi doanh nghiệp sử dụng tiền để mua sắm nguyên, vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm đầu vào Vốn bằng tiền chuyển sang vốn vật tư hàng hóa dự trữ Vốn
dự trữ sản xuất này khi tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm sẽ biểu hiện tiếp tục
ở dạng vốn sản xuất dưới hình thức: sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm…
Khi thành phẩm được tiêu thụ, vốn vật chất trở về hình thái vốn bằng tiền ban đầu kết thúc một vòng luân chuyển VLĐ và bắt đầu vòng luân chuyển mới…
Quá trình trên được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kì và được gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của VLĐ
Trong thực tế, quá trình vận động của VLĐ diễn biến phức tạp hơn nhiều bởi vì ngoài các giai đoạn cơ bản như trên, VLĐ có khi còn phải chuyển hoá qua một hoặc nhiều giai đoạn trung gian như: công nợ phải thu của người mua chưa trả tiền, công nợ phải trả của người bán đã nhận tiền nhưng chưa giao hàng, các khoản tiền tạm ứng cho nhân viên chưa được thanh toán, các khoản vốn phải thu khác…
Trong quá trình vận động, các giá trị của VLĐ có thể được biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế khác nhau
Khi VLĐ được đầu tư vào chu kì sản xuất kinh doanh, giá trị của VLĐ được biểu hiện qua chi phí biến đổi (như chi phí nguyên vật liệu, chi phí cho lao động trực tiếp, chi phí thuê ngoài chế biến, hoa hồng bán hàng…)
Khi VLĐ được hoàn lại, một phần giá trị VLĐ được biểu hiện qua doanh thu bán hàng sau mỗi chu kì sản xuất kinh doanh
1.1.3 Phân loại vốn lưu động
Trong doanh nghiệp, vấn đề tổ chức và chi phí quản lý VLĐ là vấn đề quan trọng trong việc sử dụng VLĐ VLĐ có mặt trong toàn bộ quy trình sản xuất kinh doanh, quy trình vận động và chuyển hoá của VLĐ vô cùng phức tạp Tài sản lưu động có thể luôn được chuyển từ hình thái này sang hình thái khác Để quản lý VLĐ tốt cần thực hiện phân loại VLĐ Dựa vào vai trò của VLĐ trong quá trình sản xuất ta phân chia
Trang 4VLĐ thành 2 loại trong mỗi loại dựa theo công dụng lại được chia thành nhiều khoản vốn cụ thể :
1.1.3.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động
Theo tiêu thức này thì vốn lưu động bao gồm:
- Vốn vật tƣ hàng hoá: là các khoản VLĐ có hình thái biểu hiện bằng hiện vật
cụ thể như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, hàng hoá…Xem xét cụ thể hơn:
+ Vốn về nguyên liệu và vật liệu chính: là giá trị các loại vật tư dự trữ sản xuất
mà khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm
+ Vốn nhiên liệu: là giá trị các loại nhiên liệu dữ trữ dùng trong hoạt động sản xuất – kinh doanh
+ Vốn về công cụ dụng cụ: là giá trị của công cụ dụng cụ đủ tiêu chuẩn dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Vốn về sản phẩm dở dang đang chế tạo: là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất – kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm trong quy trình sản xuất
+ Vốn về chi phí trả trước: là loại chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất – kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩm của một số kỳ tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, mua bán, lắp đặt trang thiết bị sản xuất kinh doanh
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: là các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt
tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn
+ Vốn bằng tiền: tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc có thể dùng để trả nợ khi cần thiết Vậy nên trong hoạt động sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp cần phải có một khối lượng tiền nhất định để có thể chi trả cho các chi phí phát sinh
+ Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng mà khách hàng nợ trong quá trình bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ dưới hình thức bán trước thu tiền sau Trong một số trường hợp mua sắm vật tư, doanh nghiệp còn phải ứng trước một khoản tiền nhất định cho nhà cung cấp từ đó phát sinh các khoản tạm ứng Phân loại theo tiêu chí này giúp tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét và đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.3.2 Phân loại theo nguồn hình thành
Nguồn VLĐ của doanh nghiệp gồm vốn tự có, vốn coi như tự có và vốn đi vay:
Trang 55
- Vốn tự có gồm:
+ Nguồn vốn pháp định gồm: nguồn vốn lưu động do ngân sách hoặc cấp trên cấp cho đơn vị (vốn cấp lần đầu và cấp bổ sung đối với doanh nghiệp nhà nước), nguồn vốn cổ phần nghĩa vụ do các cổ đông đóng góp đối với công ty cổ phần hoặc vốn pháp định của chủ xí nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân
+ Nguồn vốn tự bổ sung: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (thông qua các quỹ khuyến khích phát triển sản xuất), các khoản chênh lệch giá hàng hoá tồn kho
+ Nguồn vốn liên doanh, liên kết gồm có các khoản vốn của các đơn vị tham gia liên doanh, liên kết góp bằng tiền, hàng hoá, sản phẩm, nguyên vật liệu, công cụ lao động
- Vốn coi như tự có: do phương pháp kế toán hiện hành có một số khoản tiền
tuy không phải của doanh nghiệp nhưng có thể sử dụng trong thời gian rỗi để bổ sung vốn lưu động, người ta coi như là vốn tự có Khoản này có: tiền thuế, tiền lương, bảo hiểm xã hội, chi phí trích trước chưa đến hạn phải chi có thể sử dụng và các khoản nợ khác
- Nguồn vốn đi vay: để bảo đảm kịp thời thanh toán với ngân hàng trong khi
chưa bán được hàng hoặc sự không khớp trong thanh toán, các doanh nghiệp phải thường xuyên có liên hệ với các tổ chức tín dụng để vay tiền Nguồn vốn đi vay là một nguồn quan trọng, tuy nhiên vay dưới các hình thức vay khác nhau có tỉ lệ lãi suất khác nhau và phải trả kịp thời cả vốn và lãi vay khi bán được hàng
1.1.4 Vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động inh doanh của doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Như vậy vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn lưu động là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh
Ngoài ra VLĐ còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp
VLĐ còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa Vốn lưu động còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trang 6VLĐ cũng là yếu tố giúp cho các nhà đầu tư có thể nhận định về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Lượng tiền bị tồn đọng trong hàng tồn kho hoặc lượng tiền mà khách hàng còn đang nợ của doanh nghiệp cho dù đó vẫn là các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vì vậy nếu một công ty không hoạt động ở mức hiệu quả cao nhất định (Ví dụ: thu hồi nợ chậm) thì điều này sẽ biểu hiện ra ngoài bằng sự gia tăng trong VLĐ Có thể nhận thấy điều này rõ ràng hơn nếu so sánh VLĐ của công ty qua từng thời kỳ việc thu hồi nợ chậm có thể là dấu hiệu cho thấy những nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động của công ty
VLĐ còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra
1.1.5 Kết cấu vốn lưu động và những nhân tố ảnh hưởng đến ết cấu vốn lưu động
Kết cấu vốn lưu động là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần VLĐ chiếm trong tổng
số VLĐ tại một thời điểm nhất định
Việc nghiên cứu kết cấu VLĐ giúp chúng ta thấy được tình hình phân bổ VLĐ
và tìm mọi biện pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ trong từng điều kiện
cụ thể
Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu VLĐ cũng không giống nhau Thông qua phân tích kết cấu VLĐ theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về VLĐ mà mình quản lý và sử dụng Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết cấu VLĐ của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản lý, sử dụng VLĐ của từng doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm:
- Các nhân tố về mặt sản xuất: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của
doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo, độ dài của chu kỳ sản xuất, trình độ tổ chức quá trình sản xuất, tay nghề, cán bộ công nhân viên
- Các nhân tố về việc cung ứng nguyên nhiên liệu và tiêu thụ sản phẩm: Phụ
thuộc lớn vào mối quan hệ giữa đơn vị được cung ứng, thể hiện ở:
+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp: khoảng cách giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp càng gần thì việc dự trữ công cụ, nguyên liệu càng thấp + Uy tín: cơ sở cung cấp nguyên vật liệu có uy tín, đảm bảo về thời gian cũng như chất lượng nguyên liệu thì doanh nghiệp sẽ giảm được việc phải dự trữ quá nhiều nguyên vật liệu, tỷ trọng phải dự trữ sẽ thấp và ngược lại
Trang 7- Các nhân tố về mặt thanh toán: đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến kết cấu
vốn lưu động của doanh nghiệp
+ Phương thức thanh toán hợp lý, đồng bộ không mất nhiều thời gian sẽ tạo thuận tiện cho khách hàng, giúp giảm tỷ trọng các khoản phải thu
+ Chấp hành kỷ luật thanh toán, thực hiện hợp đồng thanh toán tốt hay chưa tốt, lựa chọn hình thức thanh toán như thế nào cũng ảnh hưởng đến kết cấu VLĐ, nếu lựa chọn hình thức thanh toán bằng chuyển khoản thì kết cấu vốn sẽ nghiêng về tiền gửi tại ngân hàng…
- Các nhân tố về mặt quản lý: có vai trò quan trọng trực tiếp quyết định đến
hiệu quả sử dụng và kết cấu của vốn lưu động, đồng thời nó cũng tác động trực tiếp đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
- Các nhân tố về mặt sử dụng: Quá trình mua vật tư không phù hợp với quy
trình công nghệ hoặc vật tư không đủ tiêu chuẩn chất lượng không thu hồi được phế liệu Điều này có tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
- Nhân tố về lạm phát: Do tác động của nền kinh tế luôn tồn tại lạm phát, nếu
doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời giá trị của vật tư hàng hoá sẽ làm cho giá trị vốn lưu động của doanh nghiệp bị giảm theo tốc độ trượt giá của tiền tệ
- Nhân tố về rủi ro: Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có nhiều
thành phần kinh tế cùng tham gia, bình đẳng cạnh tranh và với sức mua thị trường là
có hạn thì sẽ luôn tồn tại những rủi ro về thua lỗ cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, các rủi ro về thiên tai có thể xảy ra dẫn đến sự thâm hụt về vốn cho doanh nghiệp
Trên đây là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng và kết cấu vốn của doanh nghiệp Vậy doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình, điều kiện sản xuất kinh doanh cụ thể của mình để kiếm chế bớt bất lợi, phát huy ưu thế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2 Quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.2.1 Yêu cầu đối với công tác quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trong cơ chế hiện nay, việc quản lý vốn kinh doanh là rất cấp thiết đối với doanh nghiệp bởi vì quản lý vốn là khâu quan trọng giúp cho doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả kinh doanh Đối với vốn lưu động cũng vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thì phải quản lý tốt vốn lưu động và ta cần chú ý đến những vấn đề sau:
Trang 8Thứ nhất, tính toán lượng VLĐ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, từ
đó lên kế hoạch huy động vốn hiệu quả, đảm bảo một lượng VLĐ tối thiểu cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục Tránh tình trạng dự trữ nhiều gây ứ đọng vốn, làm lãng phí nguồn lực, tăng chi phí cho doanh nghiệp
Thứ hai, lựa chọn hình thức huy động VLĐ thích hợp đáp ứng nhu cầu kinh
doanh của doanh nghiệp, ưu tiên khai thác tối đa nguồn vốn tự có của doanh nghiệp Tính toán huy động vốn bên ngoài như vay ngân hàng, phát hành trái phiếu một cách hợp lý để giảm chi phí và đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Thứ ba, đề ra những giải pháp an toàn và phát triển VLĐ Tuy mục tiêu của
doanh nghiệp là lợi nhuận nhưng trước hết phải đảm bảo yêu cầu tối thiểu cho doanh nghiệp đạt được lợi nhuận là phải bảo toàn VLĐ
Thứ tƣ, đánh giá phân tích hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp, có những
biện pháp khắc phục kịp thời khi nguồn VLĐ của doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả
Thứ năm, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trước sự cạnh tranh
và xu thế hội nhập với thế giới
Như vậy, quản lý tốt VLĐ sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời áp dụng được những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại Từ
đó, tạo ra khả năng để doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí giá thành sản phẩm
1.2.2 Chính sách quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
Nguyên tắc tài trợ: là huy động nguồn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, huy động nguồn dài hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn Nhưng trong thực tế mỗi doanh nghiệp lại thực hiện những chiến lược quản lý vốn phù hợp với tình hình của doanh nghiệp họ Có ba chiến lược quản lý vốn trong doanh nghiệp là:
- Chiến lƣợc quản lý vốn mạo hiểm
Chiến lược này dùng một phần của NVNH tài trợ cho TSDH Khi theo đuổi chiến lược này thì doanh nghiệp mất chi phí thấp, dễ huy động và thời gian quay vòng của tiền ngắn nhưng rủi ro về khả năng thanh toán của doanh nghiệp lại cao và tính tự chủ thấp
Trang 99
Sơ đồ 1.2 : Chiến lƣợc quản lý vốn mạo hiểm
Trị giá TSLĐ không thường xuyên
nguồn vốn ngắn hạn
Sơ đồ 1.3: Chiến lƣợc quản lý vốn thận trọng
Trị giá TSLĐ không thường xuyên
Nguồn vốn
ngắn hạn
\
Nguồn vốn
Tài sản dài hạn dài hạn
Thời gian
- Chiến lƣợc quản lý vốn dung hòa
Chiến lược này dùng NVNH tài trợ cho TSNH, dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ cho TS dài hạn Khi doanh nghiệp theo đuổi chiến lược này thì lợi nhuận tạo ra cao hơn chiến lược quản lý vốn thận trọng và ít chịu rủi ro hơn so với chiến lược quản lý mạo hiểm
TSLĐ thường xuyên
Trang 10Sơ đồ 1.4: Chiến lƣợc quản lý vốn dung hòa
Trị giá TSLĐ không thường xuyên
Vốn bằng tiền của doanh nghiệp gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng Vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định đòi hỏi thường xuyên phải có một lượng tiền tương ứng mới đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp ở trạng thái bình thường
Vốn bằng tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao và cũng dễ là đối tượng của hành vi tham ô, gian lận, lợi dụng Một trong những yêu cầu của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp là phải làm cho đồng vốn đầu tư vào kinh doanh không ngừng vận động và sinh lời Chính vì thế việc quản lý vốn bằng tiền là vấn đề hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp
Nội dung chủ yếu của việc quản lý vốn bằng tiền bao gồm:
2*T*F
C*O =
K
Trang 1111
Trong đó:
C*: Số dư tiền mặt mục tiêu
T: Tổng nhu cầu về tiền mặt trong một chu kỳ
F: Chi phí một lần giao dịch
K: Lãi suất trên thị trường
Như vậy, nếu doanh nghiệp giữ số tiền mặt ở mức quá thấp, doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trong việc thanh toán, do đó có thể doanh nghiệp phải bán các tài sản lưu động có tính thanh khoản cao thường xuyên hơn là nếu giữ số tiền mặt cao hơn, điều đó sẽ làm cho chi phí giao dịch tăng lên Ngược lại, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt sẽ tăng lên, khi số tiền mặt giữ lại tăng Do đó, nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải xác định được số dư tiền mặt mục tiêu hay nói cách khác chính là sự cân đối giữa chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt và chi phí giao dịch sao cho tổng chi phí là tối thiểu
- Hoạch định ngân sách tiền mặt: là một kế hoạch ngắn hạn cho sử dụng tiền
và nguồn thu tiền mặt của doanh nghiệp được tính trên cơ sở tuần, tháng, quý Dự đoán nhu cầu chi tiêu cho hoạt động sản xuất kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các hoạt động đầu tư trong tương lai Đồng thời xem xét các nguồn thu tiền mặt
từ hoạt động kinh doanh, đi vay và các nguồn khác
Dự đoán nguồn thu tiền mặt bao gồm thu nhập từ hoạt động kinh doanh, nguồn
đi vay và các nguồn khác, trong các nguồn thu kể trên, nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh coi là quan trọng nhất, nó được dự đoán dựa trên cơ sở doanh số bán
ra và phần trăm doanh số được thanh toán tiền mặt dự kiến trong kỳ
Dự đoán nhu cầu chi tiêu bao gồm các khoản chi cho sản xuất kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt động đầu tư theo kế hoạch của doanh nghiệp, các khoản chi trả lãi, nộp thuế và các khoản chi khác
Trên cơ sở so sánh nhu cầu chi tiêu, doanh nghiệp có thể thấy được mức thặng
dư hay thâm hụt ngân quỹ Từ đó thực hiện các biện pháp cân bằng thu chi ngân sách như tăng tốc độ thu hồi công nợ hoặc giảm tốc độ xuất quỹ nếu có thể thực hiện được, hoặc khéo léo sử dụng các khoản nợ đến thời hạn thanh toán
- Đầu tƣ tiền nhàn rỗi: các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn quản lý tài
chính ngắn hạn và giao dịch của mình thông qua ngân hàng và trung gian Có các loại chứng khoán có khả năng chuyển đổi, có tính thanh khoản cao được mua bán trên thị trường tiền tệ Doanh nghiệp khi có một lượng tiền nhàn rỗi trong thời gian ngắn có thể đầu tư nhằm tăng khả năng sinh lời và không làm phát sinh chi phí cơ hội Khi lượng tiền mặt trong doanh nghiệp giảm xuống thấp hơn mức cho phép, doanh nghiệp
có thể chuyển đổi các loại chứng khoán này thành tiền mặt và ngược lại
Để thực hiện các nội dung quản lý tiền mặt nói trên doanh nghiệp có thể sử dụng
Trang 12các biện pháp như:
Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt
Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt
Trong đó tăng tốc độ thu hồi tiền mặt có thể được thực hiện thông qua việc khuyến khích khách hàng thanh toán sớm với việc áp dụng chính sách chiết khấu đối với các khoản nợ được thanh toán trước hay đúng hạn, quy định phương thức thanh toán phù hợp với từng đối tượng khách hàng tổ chức theo dõi và đôn đốc thu hồi công nợ
Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt là việc thay vì dùng tiền thanh toán sớm các hoá đơn mua hàng, người quản lý tài chính có thể trì hoãn việc thanh toán trong phạm vi thời gian và các chi phí tài chính, tiền phạt hay sự suy giảm vị thế tín dụng của doanh nghiệp thấp hơn những lợi ích cho việc thanh toán chậm mang lại
1.2.3.2 Quản lý các khoản phải thu
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanh nghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng Điều này có thể làm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của khách hàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro Đổi lại doanh nghiệp cũng
có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sản phẩm tiêu thụ Quy mô các khoản phải thu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sau:
Thứ nhất, khối lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán chịu cho khách hàng Thứ hai, sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu: đối với các doanh nghiệp sản
xuất có tính chất thời vụ, trong những thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ lớn, cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn
Thứ ba, thời hạn bán chịu và chính sách tín dụng của mỗi doanh nghiệp: đối với
các doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có đặc điểm sử dụng lâu bền thì kỳ thu tiền bình quân thường dài hơn các doanh nghiệp ít vốn, sản phẩm dễ hư hao, mất phẩm chất, khó bảo quản
Khoản phải thu là những sản phẩm dịch vụ đã được doanh nghiệp bán và gửi hóa đơn cho khách hàng và đang chờ khách hàng thanh toán Quản lý khoản phải thu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các khoản phải thu bị thu trậm trễ, dòng tiền trong doanh nghiệp không đủ để tái đầu tư, sản xuất tiếp
sẽ gây ra hiện tượng đình trệ, gia tăng các chi phí, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
sẽ đối mặt với nhiều rủi ro Nhưng mặt khác, chính sách bán chịu giúp đẩy mạnh doanh thu và thu hút được khách hàng, do vậy hầu hết các doanh nghiệp vẫn chấp nhận sự có mặt của các khoản phải thu
Trang 1313
Do đó mỗi doanh nghiệp cần phải xây dựng những chính sách tín dụng dành cho những khách hàng riêng biệt nhằm tận dụng những ưu điểm của chính sách và hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra
Các bước xây dựng chính sách tín dụng:
Bước 1: Xác định chính sách bán chịu
Xây dựng chính sách bán chịu cần quan tâm đến một số tiêu thức sau:
- Quy mô sản phẩm hàng hóa, dịch vụ dự kiến tiêu thụ
- Chiết khấu thanh toán
- Giá bán của sản phẩm, dịch vụ cho chính sách bán chịu
Ngoài những nhân tố tác động trực tiếp, cấu thành nên chính sách phải thu, doanh nghiệp cần phải quan tâm đến yếu tố bên ngoài như chính sách bán chịu của đối thủ, tình hình tài chính doanh nghiệp…
Bước 2: Phân tích năng lực của khách hàng
Phương pháp xác định rủi ro cho từng khách hàng được xác định như sau
Điểm tín dụng = 4 A + 11B + 1 C Trong đó:
A: Khả năng thanh toán lãi của khách hàng
B: Khả năng thanh toán nhanh
C: Số năm hoạt động
Sau đó từng khách hàng sẽ được sắp xếp vào các nhóm rủi ro khác nhau dựa trên kết quả thu được theo bảng sau:
Bảng 1.1 Bảng phân nhóm rủi ro khách hàng
Biến số Trọng số Điểm tín dụng Nhóm rủi ro
Trang 14CFt: Dòng tiền sau thuế mỗi kỳ
CF0: Giá trị mà doanh nghiệp đầu tư vào khoản phải thu khách hàng
k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu
VC: Dòng tiền ra biến đổi tính theo tỷ lệ % trên dòng tiền vào
S: Dòng tiền vào dự kiến hàng năm
ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày)
BD: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu (%)
CD: Dòng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng cho việc quản lý và thu các khoản phải thu khách hàng
T: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Từ kết quả thu được, quyết định đưa ra dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại ròng NPV > 0 : cấp tín dụng
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây chuyền sản xuất Thông thường quá trình sản xuất của các doanh nghiệp được chia ra những công đoạn, giữa những công đoạn này bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn sản xuất thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn
Trang 1515
Hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm ba bộ phận như trên nhưng thông thường trong quản lý vấn đề chủ yếu được đề cập đến là bộ phận thứ nhất, tức là nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất – kinh doanh Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, đối với các doanh nghiệp thương nghiệp (chuyên kinh doanh hàng hoá) thì dự trữ nguyên vật liệu cũng các nghĩa là dự trữ hàng hoá để bán
Quản lý hàng tồn kho bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý các hoạt động nhằm vào nguyên vật liệu, hàng hoá đi vào, đi qua và đi ra khỏi doanh nghiệp Quản lý hàng tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng bởi vì nếu dự trữ không hợp lý sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, hiệu quả kém Việc quản lý hàng tồn kho có hiệu quả phải đạt được 2 mục tiêu sau:
- Mục tiêu an toàn: Đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có một khối lượng hàng hóa
dự trữ đủ để đảm bảo sản xuất và bán ra thường xuyên, liên tục
- Mục tiêu kinh tế: Đảm bảo chi phí cho dự trữ là thấp nhất
Để kết hợp hài hoà giữa hai mục tiêu này, nhà kinh tế Ford W Harris đã đề xuất
mô hình EOQ (Economic Order Quantity Model) áp dụng trong quản lý hàng tồn kho
để tối thiểu hoá chi phí hàng tồn kho và tối đa hoá an toàn trong cung ứng, đã được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng Mô hình này giả thiết rằng:
- Một lượng hàng hoá như nhau được đặt tại mỗi thời điểm đặt hàng lại
- Các nhà quản lý chỉ quan tâm tới chi phí bảo quản và chi phí đặt hàng là những chi phí chịu ảnh hưởng bởi số lượng hàng tồn kho
Theo lý thuyết về mô hình này thì số lượng hàng đặt hiệu quả là:
Trong đó :
EOQ: Số lượng hàng đặt hiệu quả
S: Tổng nhu cầu về hàng lưu kho trong một năm
O: Chi phí một lần đặt hàng
C: Chi phí bảo quản một đơn vị hàng hoá trong năm
Vậy mức dữ trữ trung bình tối ưu là: Q*/2
Theo giả thuyết của mô hình thì nhu cầu và thời gian đặt hàng là xác định Tuy nhiên thực tế không phải như vậy, dự trữ an toàn được sử dụng như là một lớp đệm chống lại sự gia tăng bất thường của nhu cầu hay thời gian mua hàng hoặc tình trạng không sẵn sàng cung cấp Dự trữ an toàn là mức tồn kho hay dữ trữ tồn kho ở mọi thời điểm, ngay cả khi lượng tồn kho được xác định theo mô hình EOQ
Vậy dự trữ trung bình tối ưu thực tế là:
EOQ = Q* =
2*S*O C
Trang 16Q*
+Dự trữ an toàn thực tế
2 Như vậy, việc quản lý và sử dụng vốn lưu động là 2 vấn đề không thể tách rời nhau, nếu quản lý tốt thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ cao và ngược lại Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động doanh nghiệp phải quản lý vốn lưu động một cách khoa học, có hiệu quả
Việc kiểm kê tài sản ngắn hạn hàng tháng, năm nhằm báo cáo cho người quản lý biết được số lượng tài sản hiện có, tình hình quản lý, hiệu quả sử dụng của từng tài sản
để đưa ra những quyết định như sửa chữa, nâng cấp, điều chuyển hay thay thế tài sản phù hợp với năng lực tài chính, chính sách đầu tư của doanh nghiệp hay chính sách quản lý tài sản Nhà nước hiện hành, thực hiện quản lý tốt hơn công tác quản lý tránh thất thoát làm mất, gây hư hỏng, thiếu hụt trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Nhằm kiểm soát toàn bộ tài sản của doanh nghiệp hiện đang nắm giữ, để tránh tình trạng thất thoát mất mát… Kiểm tra, kiểm kê tất cả các bộ phận phòng ban bệ thuộc công ty
1.3 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệ hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản nhất của VLĐ là sự luân chuyển liên tục trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào sản phẩm trong chu kỳ kinh doanh Do vậy khi đánh giá về hiệu quả sử dụng VLĐ, người ta sẽ chủ yếu đánh giá về tốc độ luân chuyển của nó Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm sẽ nói lên tình hình hoạt động, mua sắm, dự trữ, sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay không tốt, các khoản nguyên nhiên vật liệu dự trữ hợp lý hay không hợp lý, các khoản phí trong sản xuất kinh doanh cao hay thấp, tiết kiệm hay không tiết kiệm Ngoài mục tiêu sử dụng cho mua sắm, dự trữ, VLĐ còn được sử dụng trong thanh toán Bởi vậy, hiệu quả sử dụng VLĐ còn thể hiện ở khả năng đảm bảo lượng VLĐ cần thiết để doanh nghiệp có đủ khả năng thực hiện các khoản thanh toán Đảm bảo đầy đủ VLĐ trong thanh toán sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể tự chủ hơn trong kinh doanh, vừa tạo uy tín với bạn hàng và khách hàng
Trang 17Trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được nhà nước cấp phát và cho việc sử dụng vốn có hiệu quả được đặt lên hàng đầu Từ khi nền kinh tế có sự chuyển đổi về cơ chế, các doanh nghiệp nhà nước cùng tồn tại song song với các thành phần kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường, buộc các doanh nghiệp nhà nước phải năng động hơn, tìm kiếm và mở rộng sản xuất, phải tự chủ về tài chính Để làm được điều này các doanh nghiệp cần phải liên tục đổi mới nâng cao công tác tổ chức quản lý vốn của doanh nghiệp có hiệu quả, nếu không làm tốt được việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn và các khoản vay cho vốn thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng bị ăn mòn vốn, việc kinh doanh bị phá sản Trên thực tế trong những năm qua, rất nhiều doanh nghiệp phải đối diện với vấn
đề nan giải của sự “đói vốn” Tuy vậy, điều đáng lo ngại và đáng nói hơn đó là việc họ
đã và đang sử dụng VLĐ của mình đã thật sự đem lại hiệu quả chưa Bởi vì việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ sẽ đưa lại cho doanh nghiệp những lại ích to lớn, cụ thể là:
- VLĐ được sử dụng cho sản xuất kinh doanh càng có hiệu quả cao thì năng lực sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm càng lớn Vì vậy không ngừng tiết kiệm trong việc sử dụng VLĐ sẽ từng bước hạ chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, tăng doanh thu, từ đó đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp
- Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ chính là góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển VLĐ, làm cho vốn quay được nhiều vòng hơn và tạo ra nhiều lợi nhuận hơn từ một đồng vốn bỏ ra Thêm vào đó, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ cũng làm góp phần rất lớn vào việc giảm đi chi phí huy động những nguồn vốn có chi phí cao vào sử dụng, từ đó giúp giảm tối đa được chi phí sử dụng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 18- VLĐ được sử dụng hợp lí, có hiệu quả còn góp phần cải thiện tình hình thanh toán cho doanh nghiệp, tăng cường khả năng chi trả cho các khoản nợ vay Điều này
có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều phải vay vốn của ngân hàng hay các đối tượng khác để bù đắp phần thiếu hụt của đơn vị mình dẫn đến một thực trạng là riêng số tiền lãi phải trả hàng năm đã chiếm một tỷ trọng đáng
kể trong chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chính vì những lí do trên mà mỗi doanh nghiệp phải tiến hành thường xuyên phân tích tình hình sử dụng VLĐ thông qua các chỉ tiêu như vòng quay vốn lưu động, hiệu suất sử dụng vốn lưu động, hệ số nợ…Cho đến nay, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu và tính tất yếu khách quan của nó trong việc nâng cao sức cạnh tranh và góp phần làm tăng mức doanh thu cho doanh nghiệp, tạo cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, quản lý và sử dụng vốn lưu động một cách có hiệu quả, hợp lý có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Nhằm phát huy được những mặt mạnh, giảm thiểu những mặt tiêu cực tác động đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động, đòi hỏi các nhà quản
lý phải nắm bắt được các nhân tố tác động đó
- Nhóm các nhân tố khách quan:
Các chính sách vĩ mô: Chính sách kinh tế của nhà nước trong việc phát triển nền kinh tế, vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc điều tiết hoạt động kinh tế ở tầm vĩ mô Nhà nước là người hướng dẫn kiểm soát và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế
Sự thay đổi trong chế độ chính sách đều có tác động tốt hoặc xấu đối với doanh nghiệp Đối với hiệu quả sử dụng VLĐ thì các chính sách thuế, chính sách tín dụng của Nhà nước sẽ có tác động rất lớn Lãi suất và thuế suất thay đổi sẽ có thể làm tăng hay giảm hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp cần nắm bắt
và am hiểu luật pháp để từ đó tạo lợi ích cho mình từ những sự ưu tiên
Lạm phát: Do tác động của nền kinh tế có lạm phát hoặc thiểu phát, sức mua của đồng tiền bị giảm sút dẫn đến sự tăng giá của các loại vật tư hàng hoá…Vì vậy nếu doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời giá trị của các loại tài sản thì sẽ làm cho VLĐ bị mất theo tốc độ trượt giá của tiền tệ
Sự tiến bộ của khoa học công nghệ: Ngày nay, khoa học đang tiến bộ không ngừng, nhiều phát minh mới ra đời thay thế những cái cũ, lạc hậu Công nghệ
có tác động rất lớn tới hiệu quả sử dụng VLĐ Công nghệ mới sẽ làm rút ngắn thời
Trang 1919
gian VLĐ bị ứ đọng trong sản xuất, tăng thêm vòng quay cho nó Vì vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm hiện đại hoá trang thiết bị, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm Nếu doanh nghiệp không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trong thiết bị, sản phẩm thì sẽ có nguy cơ dẫn doanh nghiệp tới tình trạng làm ăn thua lỗ do sản phẩm làm ra không còn thích ứng, phù hợp với nhu cầu thị trường
Nhu cầu tiêu dùng: Đây là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng VLĐ và nó càng có ý nghĩa hơn trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, khi mà chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng dư cung ở tất cả mọi ngành, mọi lĩnh vực, cùng với sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường Nếu như cầu tiêu dùng lớn, doanh thu tiêu thụ cao, doanh nghiệp sẽ tận dụng được tối đa công suất của VLĐ, giảm tối thiểu thời gian ứ đọng vốn Ngược lại, những biến động bất lợi về nhu cầu sẽ gây nên ứ đọng vốn lớn, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Vậy nên đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành phân tích thị trường xác định đúng đắn mức cầu về sản phẩm, hàng hoá và xem xét đến các yếu tố cạnh tranh Đồng thời căn cứ vào tình hình hiện tại, doanh nghiệp tiến hành chọn phương án kinh doanh thích hợp nhằm tạo ra lợi thế của doanh nghiệp trên thị trường
- Nhóm các nhân tố chủ quan: ngoài các nhân tố khách quan còn có rất nhiều
nhân tố chủ quan của chính bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng VLĐ, cũng như tới toàn bộ quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp như:
Con người: có thể nói con người luôn đóng vai trò quan trung tâm và có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì trình độ quản lý, năng lực chuyên môn cũng như việc ra những quyết định sáng suốt sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tối ưu khi các doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt
Việc xây dựng chiến lược và phương án kinh doanh: các chiến lược và phương án kinh doanh phải được xác định trên cơ sở tiếp cận thị trường cũng như phải
có sự phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của nhà nước Đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị trường, đồng thời hạ giá thành thì doanh nghiệp thực hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của VLĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ và ngược lại
Trình độ và khả năng quản lý: trong điều kiện nền kinh tế thị trường trình
độ và khả năng quản lý giữ một vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp Tổ chức quản lý và sản xuất để có hiệu quả thì bộ máy
tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất phải gọn nhẹ, đồng bộ và nhịp nhàng với nhau
Trang 20Ngược lại nếu trình độ tổ chức quản lý còn non kém sẽ dẫn tới việc thất thoát vật tư, hàng hoá, sử dụng lãng phí TSLĐ, hiệu quả sử dụng VLĐ thấp
Trên đây là một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần xem xét quy mô, loại hình của doanh nghiệp mình mà nghiên cứu xem xét sự ảnh hưởng của từng nhân tố để tìm ra mặt còn hạn chế trong việc tổ chức quản lý sử dụng VLĐ của doanh nghiệp, nhằm đưa ra những biện pháp cải thiện giúp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp
1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.3.4.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động chung
và hạ thấp chi phí sử dụng vốn Số vòng quay càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại
- Khả năng sinh lời của vốn lưu động
Lợi nhuận sau thuế
Sức sinh lời của =
vốn lưu động Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn lưu động dùng vào hoạt động SXKD của
DN sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả
sử dụng vốn lưu động là tốt góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
- Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhiệm VLĐ =
Doanh thu thuần
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh để được một đồng doanh thua thuần thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn lưu động Hệ số này càng thấp thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn lưu động tiết kiệm được càng lớn Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì chỉ tiêu này thường nhỏ và với cùng một
Trang 2121
lượng vốn lưu động sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra nhiều doanh thu hơn các doanh nghiệp khác
- Mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được trong kỳ kinh doanh Mức tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu:
Mức tiết kiệm VLĐ =
Mức tiết kiệm VLĐ là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm
vốn lưu động hoặc tăng với quy mô không đáng kể
1.3.4.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
- Hệ số thanh toán hiện thời
Hệ số thanh toán hiện thời là công cụ đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn biểu thị sự cân bằng giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn Tỷ số này phản ánh khả năng chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn hay nói cách khác là một đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng để thanh toán
số này ở mức 1 – 2 được xem là tốt Tỷ số này càng thấp phản ánh doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng nếu quá cao không phải luôn luôn là dấu hiệu tốt vì nó chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp bị phụ thuộc vào
„„tài sản lưu động‟‟ quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao
- Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số này phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc thanh toán ngay các khoản ngắn hạn Hệ số thanh toán nhanh là một hệ số khắt khe hơn nhiều so với hệ số thanh toán hiện thời vì nó đã loại trừ hàng tồn kho ra khỏi công thức tính toán Trên thực
tế hàng tồn kho kém thanh khoản hơn vì phải mất thời gian và chi phí tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền, nên công thức này được các nhà đầu tư sử dụng khá phổ biến
M1 M1
V1 V0
+
Trang 22- Hệ số thanh toán tức thời
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số thanh toán tức thời =
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán tức thời thể hiện khả năng thanh toán ngay bằng tiền của doanh nghiệp khi chủ nợ có yêu cầu Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nợ ngắn hạn thì hiện tại doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương tiền thanh toán cho nó Nếu chỉ tiêu này cao phản ánh khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là tốt, nếu chỉ tiêu này mà thấp thì khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là chưa tốt Tuy nhiên, khó có thể nói cao hay thấp ở mức nào là tốt và không tốt Vì nó còn phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh hoặc góc độ của người phân tích
Như vậy có thể nói, việc phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác tài chính của doanh nghiệp Bởi
vì nó không chỉ ảnh hưởng tới lợi nhuận mà còn liên quan đến việc thu hút các nguồn lực cho doanh nghiệp
1.3.4.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng từng bộ phận vốn lưu động
Đây là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Hệ số đo lường khả năng hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển Do
đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu thể hiện vòng quay, thể hiện chu kỳ của vốn lưu động sau đây:
- Phải thu khách hàng
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu bán hàng với các khoản phải thu của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức:
Trang 2323
Doanh thu thuần Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
Vòng quay các khoản phải thu đo lường mức độ đầu tư vào các khoản phải thu
để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết cho doanh nghiệp, qua đó có thể đánh giá được hiệu quả của một chính sách đầu tư của doanh nghiệp Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thể hiện rằng doanh nghiệp thu hồi càng nhanh các khoản nợ Điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất Ngược lại, nếu hệ số này càng nhỏ thì sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ vốn lưu động sẽ kém Quan sát số vòng quay các khoản phải thu sẽ cho biết chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh nghiệp Hệ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh và ngược lại
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân là một tỷ số tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tỷ số này cho biết doanh nghiệp mất bình quân bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình
360
Kỳ thu tiền bình quân =
Vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân càng ngắn thể hiện chính sách thu hồi công nợ của doanh nghiệp có hiệu quả Tuy nhiên, nếu kỳ thu tiền bình quân mà quá ngắn nghĩa là phương thức tín dụng quá hạn chế, có thể sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, bởi lẽ trong thời đại “Khách hàng là thượng đế” hiện nay việc mua bán chịu là một tất yếu khách quan và khách hàng luôn mong muốn thời hạn trả tiền được kéo dài thêm
- Hàng tồn kho
+ Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần bình quân mà hàng hoá tồn kho luân chuyển trong kỳ, số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng:
Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Trang 24Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu
Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh
và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng
Thời gian quay vòng hàng tồn kho
Thời gian quay vòng hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho, thời gian quay vòng hàng tồn kho càng ngắn thì số vòng quay hàng tồn kho càng lớn, chứng tỏ việc kinh doanh càng có hiệu quả, công thức được xác định như sau:
360
Thời gian quay vòng hàng tồn kho =
Vòng quay hàng lưu kho
Thời gian quay vòng hàng tồn kho có ý nghĩa tương tự như vòng quay hàng tồn kho có điều chỉ số này quan tâm đến số ngày Số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng ngắn thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao Song, trong quá trình phân tích đánh giá, cần xem xét một cách cụ thể những yếu tố khác có liên quan, như phương thức bán hàng vận chuyển thẳng hoặc bán giao tay ba nhiều, thì hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao hoặc nếu duy trì mức tồn kho thấp cũng sẽ làm cho số ngày một vòng quay hàng tồn kho thấp nhưng cũng sẽ làm cho khối lượng tiêu thụ hàng hoá bị hạn chế hơn
- Thời gian quay vòng tiền mặt
Vòng quay tiền mặt là khoảng thời gian bắt đầu từ khi trả tiền mặt cho nguyên vật liệu và kết thúc khi thu được tiền mặt từ các khoản phải thu và được xác định bằng công thức:
Trang 2525
Trong đó:
Thời gian trả nợ trung bình =
Các doanh nghiệp luôn mong muốn có vòng quay tiền mặt ngắn vì khi đó số vốn
mà doanh nghiệp đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ cho một hiệu quả cao hơn từ đó sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Tuy nhiên để làm được điều đó buộc các doanh nghiệp phải có chính sách quản lý tín dụng cấp cho khách hàng chặt, đồng thời tăng khả năng chiếm dụng vốn của nhà cung cấp Nhưng quan hệ của doanh nghiệp là mối quan hệ giữa các đối tác, khách hàng và nhà cung cấp nên khi doanh nghiệp có lợi thì nhất định các đối tác bị thiệt hại, điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt tới các mối quan hệ của doanh nghiệp trên thị trường
Thời gian quay
Phải trả người bán + Phải trả khác GVHB + CP bán hàng + CP QLDN
Trang 26CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AUTOID 2.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ phần Autoid
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Autoid
- Thông tin chung về công ty:
Tên công ty: Công ty Cổ phần Autoid
Tên giao dịch: AUTOID JSC
Mã số thuế: 0105198692
Ngày cấp: 4/7/2008
Địa chỉ: Số 15 ngõ 142 Phố Yên Hòa, Phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: (84 – 4)85820330
Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty Cồ phần Autoid được chính thức thành lập vào ngày 27 tháng 6 năm
2008 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2600431178 do Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp Công ty Cồ phần Autoid thành lập và hoạt động trong lĩnh vực chính là sản xuất, dịch vụ và chuyển giao các sản phẩm phần cứng, phần mềm trong lĩnh vực điện tử - tin học – viễn thông – tự động hóa
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ nhận dạng dữ liệu tự động Auto – ID ( mã số - mã vạch – thẻ plastic) đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng, công ty AUTOID JSC đã và luôn phấn đấu trở thành một trong những công
ty cung cấp thiết bị và giải pháp tin cậy hàng đầu trong lĩnh vực Auto – ID
Công ty luôn chú trọng tới quyền lợi và nhu cầu của khách hàng, chính vì vậy mục tiêu chiến lược của Công ty là “Hướng tới khách hàng” Ban lãnh đạo Công ty luôn đưa ra chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để phục vụ tốt hơn và coi khách hàng là nền móng để hoàn thành các mục tiêu đề ra
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Autoid
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Autoid
(Nguồn: Phòng Hành chính)
Giám đốc
Phòng Hành chính
Phòng Kế toán
Phòng
Kỹ thuật Phòng
Kinh doanh
Trang 27- Quyết định phương hướng, kế hoạch, kinh doanh, hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết, tổ chức bộ máy điều hành, kế hoạch đào tạo cán bộ và đề cử Kế toán trưởng, bổ nhiệm, bãi miễn trưởng, phó phòng công ty
- Phê chuẩn quyết toán của các đơn vị, bộ phận và tổng duyệt quyết toán của Công ty
- Báo cáo kết quả sản xất kinh doanh của Công ty và thực hiện nộp ngân sách hàng năm theo quy định của pháp luật
Phòng Kinh doanh
- Xây dựng kế hoạch bán hàng, tiêu thụ sản phẩm, công tác Marketing
- Nghiên cứu, đánh giá thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dự báo nhu cầu để chủ động đề xuất phương án kinh doanh, từng bước đưa sản phẩm tiếp cận
Bảo hành sản phẩm: công tác đào tạo, huấn luyện nâng cao nghiệp vụ đội ngũ bảo hành chuyên nghiệp thường xuyên được tiến hành Các kỹ sư luôn cố gắng hết mình trong việc chuyển giao công nghệ, trao đổi với các thành viên đại lý nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng
Cung cấp các dịch vụ sau bán hàng: Tư vấn đưa ra những định hướng để bổ sung, sửa chữa, chọn lựa thiết bị nâng cấp sao cho phù hợp với khách hàng Đồng thời duy trì các hoạt động bảo trì, bảo dưỡng định kỳ sản phẩm thông qua các đợt khảo sát, triển khai lắp đặt và bảo hành
Phòng Kế toán
Tổ chức hạch toán kinh tế về hoạt động kinh doanh của công ty, tổng hợp kết quả kinh doanh, lập báo cáo kế toán, phân tích hoạt động kinh doanh phục vụ cho việc kiểm tra thực hiện kế hoạch của công ty
Trang 28 Theo dõi, đối chiếu chấm công lương hàng tháng Quản lý vận hành hệ thống phần mềm, sổ sách kế toán theo quy định, quản lý hàng hóa, làm thủ tục nhập xuất, thống kê định kì hàng hóa – sản phẩm, tài sản khác
Thực hiện quyết toán tháng, 6 tháng, năm đúng tiến độ và phối hợp với các phòng chức năng khác của Công ty để hạch toán lỗ lãi cho từng bộ phận sản xuất kinh doanh
Có quyền tham mưu, đề xuất với ban lãnh đạo công ty về việc thực hiện các chế độ quản lý tài chính, tiền tệ, các khoản thu, chi theo quy định của bộ tài chính và
Ủy ban nhân dân thành phố
Phòng Hành chính
Quản lý theo dõi tình hình chấp hành kỉ luật lao động nội quy công ty; quản lý
hồ sơ lý lịch nhân viên toàn công ty; làm thủ tục bổ nhiệm, bãi miễn, khen thưởng, tuyển dụng nhân sự, hợp đồng lao động; quản lý lao động tiền lương, làm thủ tục xét hết thử việc, nâng lương Tham mưu cho Ban giám đốc về tổ chức bộ máy sản xuất – kinh doanh và bố trí nhân sự phù hợp với yêu cầu của Công ty
Có quyền đề xuất Ban giám đốc ra quyết định khen thưởng với cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất và các hoạt động khác cũng như lập biên bản xử lý và đề nghị hình thức xử lý với các trường hợp vi phạm kỷ luật lao động
và quy chế của công ty
Nhận xét:
Đây là mô hình tổ chức theo kiểu cơ cấu trực tuyến chức năng có sự điều chỉnh cho phù hợp với mô hình hoạt động của công ty nhỏ Ngoài các chức năng đã được tổ chức thành các phòng ban riêng, các chức năng khác của công ty được phân bổ một cách hợp lý vào các phòng ban, đồng thời có sự phối hợp thực hiện chức năng, những công việc quan trọng được giám đốc trực tiếp quyết định hoặc ủy quyền quyết định
Sự điều chỉnh này phù hợp với quy mô nhỏ của công ty và đặc trưng của các công ty thương mại Với cách tổ chức này, công ty có thể tinh giảm tối đa bộ máy nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu công việc
2.1.3 Đặc điể ngành nghề inh doanh của công ty Cổ phần Autoid
Hiện nay, Công ty đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên các ngành nghề như:
Cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ AutoID
Cung cấp sản phẩm về dịch vụ nhận dạng dữ liệu tự động
Phân phối và cung cấp giải pháp mã số vạch các hãng hàng đầu trên thế giới Một số sản phẩm kinh doanh chính của công ty
Máy in mã vạch (Godex, Zebra, TSC, Sato,…)
Đầu đọc mã vạch ( Zebex, Symbol, Tawa, Metrologic,…)
Trang 2929
Máy in hóa đơn ( Epson, Tawa, Zebex,…)
Thiết bị kiểm kho ( CipherLAB, Zebex, Unitech,…)
Phần mềm quản lý ( PosPro,…)
Cổng an ninh siêu thị ( 3M, Checkpoin,…)
Dù Công ty kinh doanh trên nhiều lĩnh vực nhưng nguồn thu lớn nhất cũng là lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty là: Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy; đồng thời nhận sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị và làm đại lý phân phối sản phẩm cho một số công ty
2.2 Khái quát tình hình kinh doanh của công ty Cổ phần Autoid giai đoạn 2011 –
2013
2.2.1 Kết quả inh doanh của công ty Cổ phần Autoid giai đoạn 2011 – 2013
Trang 30Bảng 2.1 Tình hình Doanh thu – Chi phí – Lợi nhuân công ty Cổ phần Autoid giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2012/2011 Chênh lệch 2013/2012
Tuyệt đối Tương đối (%) Tuyệt đối Tương đối (%)
1 Doanh thu BH và
cung cấp DV 9.818.579.680 10.169.553.889 10.977.816.000 350.974.209 3,57 808.262.111 7,95
3 Doanh thu thuần về
Trang 3131
- Doanh thu:
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng đều qua các năm: năm 2012
tăng 350.974.209 đồng tương ứng tăng 3,57% so với năm 2011, năm 2013 tăng 808.262.111 đồng tương ứng tăng 7,95% so với năm 2012 và đạt giá trị 10.977.816.000 đồng Doanh thu tăng dần qua các năm là do công ty mở rộng thị trường, tìm được nguồn bạn hàng mới Công ty ngoài nhập khẩu hàng ở nước ngoài còn rất tích cực tìm kiếm nguồn hàng trong nước để tiết kiệm chi phí thu mua hàng hóa Vì vậy công ty bán và lắp đặt được nhiều thiết bị hơn nên doanh thu tăng
Doanh thu hoạt động tài chính qua ba năm không biến động nhiều Doanh thu
hoạt động tài chính bao gồm lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn Năm 2011 doanh thu hoạt động tài chính đạt giá trị 285.981 đồng, lớn hơn năm 2012 là 164.190 đồng Năm 2013 doanh thu hoạt động tài chính tăng 4,65% tương ứng tăng 5.659 đồng so với năm 2012
và đạt giá trị 127.450 đồng
- Chi phí cho hoạt động kinh doanh
Giá vốn hàng bán là một trong những chỉ tiêu chiếm phần lớn trong tổng chi phí
hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Theo bảng số liệu ta thấy giá vốn cũng tăng đều qua các năm: năm 2012 tăng 562.611.339 đồng tương ứng tăng 6,38% so với năm 2011và năm 2013 tăng thêm 916.841.2323 tương ứng 9,78% so với năm 2012 do công ty tiến hàng mở rộng kinh doanh nên tiến hành nhập khẩu nhiều hơn để có đủ lượng hàng hóa tiêu thụ Tuy nhiên mức tăng qua các năm của chỉ tiêu giá vốn hàng bán lớn hơn doanh thu, nguyên nhân do công ty đánh giá nhu cầu của khách hàng chưa được chính xác nên tiến hành nhập nhiều thiết bị hơn lượng thực tế bán ra Điều đó có thể thấy lượng hàng tồn kho của công ty cũng sẽ tăng qua các năm
Chi phí tài chính: năm 2012 giảm 147.597.736 đồng, năm 2013 giảm
108.952.414 đồng so với năm 2012 Điều này cho thấy doanh nghiệp đã giảm chi phí cho các hoạt động tài chính chẳng hạn như việc chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính; các khoản lỗ do thay đổi tỷ giá hối đoái của các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến ngoại tệ
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Năm 2012, năm 2013 chi phí quản lý doanh
nghiệp đều tăng Cụ thể: năm 2012 tăng 26.344.247 đồng tương ứng tăng 51,86% so với năm 2011 Sang đến năm 2013 tiếp tục có xu hướng tăng 64.245.278 đồng tương ứng tăng 83,30% so với năm 2012 Chi phí quản lý doanh nghiệp tăng là do công ty chưa thực hiện chính sách tiết kiệm một cách hiệu quả, các chi phí như chi phí tiếp khách, điện nước chưa được cắt giảm hợp lý Bên cạnh đó, qua các năm công ty đã thay đổi nhiều thiết bị văn phòng để công việc của nhân viên văn phòng được thực hiện tốt hơn
Trang 3232
- Lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2012 là 792.547.486 đồng
giảm 251.640.130 đồng so với năm 2011, năm 2013 giảm 108.579.121 đồng so với năm 2012 Nguyên nhân do Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ và giá vốn hàng bán đều tăng qua các năm tuy nhiên tốc độ tăng của giá vốn hàng bán nhanh hơn so với doanh thu thuần nên lợi nhuận gộp giảm dần qua các năm
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh giảm dần qua các năm: năm 2012
giảm 90.547.831 đồng tương ứng giảm 22,52% so với năm 2011, năm 2013 giảm 63.866.326 đồng tương ứng giảm 20,49% so với năm 2012 Trong năm 2012 Doanh thu hoạt động tài chính giảm mạnh 63,40% trong khi chi phí quản lý doanh nghiệp lại tăng 51,86%, dẫn đến lợi nhuận thuần giảm một con số đáng kể 22,52% Sang đến năm 2013, dù doanh thu hoạt động tài chính đã tăng 4,65% so với năm 2012 nhưng chi phí quản lý doanh nghiệp lại tăng ở mức cao hơn 83,30 % nên lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh vẫn giảm và còn giảm hơn năm 2012 là 20,49%
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2012 là 311.606.929 đồng so
với năm 2011 tăng 9.990.859 đồng tương ứng tăng 3,31% Lợi nhuận kế toán trước thuế năm 2011 lớn hơn 2012 nhưng do năm 2011 công ty có đóng thuế khoản tiền là 100.538.690 đồng, năm 2012 chi phí thuế đạt giá trị bằng 0 dẫn đến lợi nhuận sau thuế vẫn tăng Năm 2012, 2013 công ty được khấu trừ thuế đầu vào nên lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh tăng giảm giống như lợi nhuận kế toán trước thuế
2.2.2 Tình hình tài sản nguồn vốn của công ty Cổ phần Autoid giai đoạn 2011-2013
Trang 34Về tài sản: Tổng tài sản qua 3 năm có sự biến động thất thường, cụ thể: năm 2012
tổng tài sản đạt giá trị 6.012.141.266 đồng tương ứng giảm 391.213.998 đồng so với năm 2011 Sang đến năm 2013, tổng tài sản có xu hướng tăng lên một con số đáng kể, tăng 2.098.577.988 đồng so với năm 2012 và đạt giá trị 8.110.719.254 đồng Trong đó
sự biến động của tài sản chủ yếu là do chỉ tiêu tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn chiếm
tỷ trọng không nhiều Do đặc thù ngành nghề của công ty là thương mại, kinh doanh hàng hóa dịch vụ nên cần nhu cầu về tài sản ngắn hạn nhiều để quay vòng vốn nhanh
Tài sản ngắn hạn: Năm 2012, tài sản ngắn hạn đạt 4.091.878.217 đồng, giảm 110.681.834 đồng so với năm 2011, năm 2013 tăng 1.745.196.678 đồng so với năm
2012 Sự tăng giảm chủ yếu này biến động là do chịu sự tác động chính của chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền cũng như chỉ tiêu hàng tồn kho Nguyên nhân như
đã phân tích ở trên, công ty muốn mở rộng thị trường, tìm bạn hàng mới nên nhu cầu nhập hàng hóa nhiều hơn so với các năm để kịp đáp ứng nhu cầu kinh doanh
Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn của công ty năm 2013 tăng 353.381.310 đồng
so với năm 2012, năm 2012 giảm 280.532.164 đồng so với năm 2011 Nguyên nhân chính của sự tăng giảm là do có sự thay đổi của chỉ tiêu tài sản cố định hữu hình Năm
2012 công ty có mua mới thiết bị văn phòng cho nhân viên có thể thực hiện công việc được hiệu quả hơn
Về nguồn vốn: Nguồn vốn của công ty chủ yếu được xây dựng trên nguồn đi
vay từ các tổ chức tín dụng Tổng cộng nguồn vốn năm 2012 giảm 391.213.980 đồng
so với năm 2011, nhưng sang đến năm 2013 nguồn vốn tăng 2.098.587.988 đồng so với năm 2012
Nợ ngắn hạn: Năm 2012 nợ ngắn hạn tăng 95.338.167 đồng tương ứng tăng
2,60% so với năm 2011 Sang đến năm 2013 các khoản nợ ngắn hạn tiếp tục có xu hướng tăng 1.962.454.314 đồng tương ứng tăng 53,31% so với năm 2012, đạt giá trị 5.662.988.651 đồng Nguyên nhân chính là do hai chỉ tiêu vay ngắn hạn và phải trả người bán có lượng tăng dần qua các năm Do trong các năm công ty muốn mở rộng kinh doanh trong khi tài chính chưa ổn định và một phần có những bạn hàng tốt đã để công ty có khoản phải trả người bán tăng
Nợ dài hạn: qua 3 năm công ty không phát sinh khoản nợ dài hạn
VCSH: Năm 2013, VCSH là 2.447.740.603 đồng, tăng 212.004.194 đồng so với
năm 2012, năm 2012 giảm 486.552.165 đồng so với năm 2011 Năm 2012 VCSH giảm mạnh chủ yếu là do chênh lệch của lợi nhuận sau thuế chưa phân phối giảm 486.552.165 đồng Năm 2013 lợi nhuận sau thuế chưa phân phối cũng giảm 63.866.326 so với năm 2012 nhưng tổng vốn chủ sở hữu vẫn tăng là do có sự gia tăng của vốn khác của chủ sở hữu 200.000.000 đồng Cụ thể ở đây là khoản chênh lệch tỷ giá ngoại tệ khi chủ sở hữu góp thêm vốn