Đánh giá hiện trạng chăn nuôi và nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò trên huyện Thoại Sơn
Trang 1Chương I
MỞ ĐẦU
An Giang là tỉnh có tổng đàn bò tương đối cao so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Trong đó 70-80% số bò tập trung tại 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn Bên cạnh đó An Giang là tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn nên nguồn phụ phế phẩm rất dồi dào thuận tiện cho phát triển chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi bò Trong những năm gần đây Nhà nước và các tổ chức đã có nhiều chính sách và chương trình để hỗ trợ phát triển đàn bò như chương trình sinh hóa đàn bò, chương trình 327, chương trình Heifer, chương trình xoá đói giảm nghèo, quỹ quốc gia giải quyết việc làm bằng nguồn vốn ưu đãi với lãi suất thấp năm 2000 tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển kèm theo nhiều chính sách ưu đãi đầu tư phát triển chăn nuôi bò của tỉnh Để đánh giá đúng hiện trạng chăn nuôi bò trong thời gian qua, xác định được những khó khăn thuận lợi trong quá trình phát triển là thực sự cần thiết, từ đó có định hướng cho chiến lược phát triển chăn nuôi bò của tỉnh An Giang trong những năm tới
Xuất phát từ yêu cầu trên, Khoa Nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên Trường Đại học An Giang thực hiện đề tài :
“ Đánh giá hiện trạng chăn nuôi và nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò trên địa bàn các huyện Thoại Sơn, Tịnh biên, Tri Tôn tỉnh An Giang.”
Mục tiêu của đề tài tiến hành điều tra nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò, tập quán và kỹ thuật chăn nuôi của người dân địa phương Những khó khăn tồn tại trong quá trình phát triển đàn bò ở địa phương Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp kinh tế kỹ thuật để đẩy nhanh tiến trình phát triển chăn nuôi bò của tỉnh nhà
Trang 2An Giang…
Giống bò này được nuôi chủ yếu lấy sức kéo, trọng lượng bò cái trưởng 180Kg, trọng lượng bò đực trưởng thành 250-300Kg, tỉ lệ thịt xẻ 42-44% Bò cái 3-3,5 tuổi mới đẻ lứa đầu, trọng lượng bê sơ sinh từ 12-15Kg Sản lượng sữa cho một chu kỳ là 300-400Kg/ một chu kỳ cho sữa, vừa đủ cho một bê bú
thành160-Bò vàng Việt Nam thích nghi lâu đời với điềi kiện khí hậu nhiệt đới chịu đựng kham khổ, thích nghi được với thức ăn thiếu thốn, nuôi dưỡng kém, chống chịu bệnh tật tốt thành thục sớm mắn đẻ Bò cái sinh sản chân thấp mình ngắn, tầm vóc và khối lượng nhỏ Ở thời điểm 12 tháng tuổi bò vàng có vòng ngực trung bình 104,65 cm dài thân chéo 79,65 cm (Đoàn Hữu Lực 1997)
2.1.2 Bò Red Sindhi:
Là giống bò thuộc nhóm Zebu, giống bò u nhiệt đới có nguồn gốc từ Pakistan Tầm vóc trung bình, đầu dài, trán dô, tai cụp mũi cong Bò có bướu vai, yếm dậu rất phát triển, lông có màu sắc nâu đỏ
Bò đực có trọng lượng trưởng thành 400 - 450 kg, bò cái 300 - 350 kg, sản lượng sữa từ 1400 - 2100 kg/chu kỳ 305 ngày, tỷ lệ mở sữa 5% Tuổi đẻ lứa đầu 30 - 40 tháng, khoảng cách 2 lứa đẻ 13 - 18 tháng Đây là giống bò kiêm dụng thịt sữa cày kéo và thích nghi với điều kiện nóng ẩm của nước ta, được xem là bò chủ lực trong việc sản xuất bò lai, để nâng cao tầm vóc của bò nội địa
Trang 32.1.3 Bò lai Sind:
Từ những năm 1920 -1924 giống bò Red Sind của Aán Độ và Pakistan được nhập vào nước ta cả Bắc và Nam Do lai giữa bò Red Sind và bò cái vàng ở các địa phương qua nhiều đời để tạo thành bò lai Sind Bò lai sind có nhiều máu bò Red Sind cho nhiều thịt hơn, khối lượng cơ thể cao hơn 50 - 70 kg, cày kéo khoẻ hơn gấp 1,5 lần, cho sữa gấp 2,5 lần, tỷ lệ thịt xẻ tăng 13 % so với bò vàng Việt Nam (Lê Hồng Mận 2001)
Bò lai Sind có màu vàng hơi cánh gián, đầu dài trán dô, tai cúp, yếm phát triển, có u ở vai, chân cao mình ngắn Khi trưởng thành bò đực nặng 350 - 400 kg, bò cái nặng 270-280kg, sản lượng sữa từ 850-900Kg Tỉ lệ mỡ trong sữa 5-5.5%, tỉ lệ thịt xẻ 49%.Tỉ lệ đẻ 55-57% bê sơ sinh nặng 12-18kg
Về khả năng sinh sản, bò cái thường cho giao phối từ 24-30 tháng tuổi, nếu nuôi tốt có thể cho giao phối sớm hơn Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 12-18 tháng, có thể sử dụng bình quân 8-10 lứa cho một đời bò Bò đực nuôi đến 2 năm tuổi mới có thể sử dụng phối giống
2.1.4 Bò Charolair
Làgiống bò thịt nặng cân của Pháp Bò to,lớn nhanh, ngực sâu mình dài,lưng thẳng đầu ngắn, màu lông trắng ánh kem sữa Bò trưởng thành con cái 680-780kg, con đực 1000-1200kg, sản lượng sữa của một chu kỳ vắt 1700-1900kg, có con 2500kg Nuôi 18 tháng bê đực đạt 600kg, bê cái 450kg, tỉ lệ thịt xẻ 60-62% ( Lê Hồng Mận, 2001)
2.1.5 Bò Ongole
Có nguồn gốc từ Aán Độ, có sắc lông màu xám trắng, chân cao, u yếm khá phát triển Khối lượng bò đực trưởng thành 450- 550 kg, bò cái 400kg Năng suất sữa khoảng 1700- 2000 kg/chu kỳ Khả năng cày kéo kém hơn bò lai sind Hiện nay phổ biến giống bò lai Ongole, số lượng bò ít do không được ưa chuộng, bò lai ongole có sắc lông màu trắng pha vàng, trọng lượng trưởng thành con đực 380-430 kg, con cái 250
kg, sản lượng sữa kémhơn bò lai sind
2.1.6 Bò Brahman
Giống bò này có 2 loại lông màu đỏ và lông màu trắng, khi trưởng thành con đực nặng 500kg, con cái nặng 370kg, sản lượng sữa thấp 800kg/ chu kỳ 200 ngày
Trang 42.1.7 Bò Sahiwal
Bò cólông màu đỏ da cam hoặc đỏ vàng Khi trưởng thành, con đực nặng 480kg, con cái nặng 360kg, sản lượng sữa 2200kg/chu kỳ 300 ngày
2.2 Thức ăn cho gia súc
2.2.1 Các giống cỏ
2.2.1.1.Cỏ Lông tây ( Brachiaria mutica)
Loại cỏ sống lâu năm, nhiều rễ, thân dài 0.6 – 2m, phân nhánh bò trên mặt đất, mọc rễ đâm chồi ở các đốt, sau đó vươn thẳng lên cao khoảng 2m Đốt có lông mềm trắng Lá hình mũi mác dài, đầu nhọn, gần hình tim ở gốc, có ít lông ở mặt dưới Bẹ lá dẹp có lông trắng mềm, lưỡi bẹ ngắn có nhiều lông
Cỏ lông Para có nguồn gốc từ Nam Mỹ, ngày nay phân bộ khắp các vùng nhiệt đới trên thế giới Ở Việt Nam cỏ lông tây được nhập trồng vào Miền Nam năm 1887 tại các cơ sở nuôi bò sữa, nay trở thành cỏ mọc tự nhiên ở cả hai miền Ở Miền Nam cỏ phân bố cả những địa hình có độ cao 800 -900 m Cỏ lông Para ưa thích khí hậu nóng ẩm, cỏ sinh trưởng tốt ở các vùng thấp Nhiệt độ tối thiểu có thể sống là 80C, nếu lạnh hơn thì cỏ có thể lụi dần Cỏ phát triển nhanh ở những nơi ẩm ướt tạo thành những thảm cỏ dày và cao Cỏ lông có khả năng chịu được ngập nước ngắn ngày, chịu mặn, chịu phèn Có thể sử dụng cỏ lông Para cho gia súc dạng tươi, ủ xanh hoặc phơi khô ( Nguyễn Đăng Khôi, 1981)
Thành phần chất dinh dưỡng trong thân lá cỏ lông Para : chất khô 23%, Protein thô 2%, béo thô 1.4%, dẫn xuất vô đạm14.1%, xơ thô 5.5%
2.2.1.2 Cỏ tự nhiên
Cỏ tự nhiên mọc trên bờ ruộng, ven đê, gò bãi là hỗn hợp nhiều loại cỏ hoà thảo thích nghi lâu đời với khí hậu nóng và khô hạn Gồm các loại cỏ lá tre (Setania pamifola), cỏ mật ( Brachiara distachia), cỏ may (Chysopogya aciculetus), cỏ chỉ ta (Digitaria adscendens), cỏ đuôi chồn( Setaria vertillata), cỏ mần trầu( Elesine indica), cỏ mỹ ( Penisetum polytachyon), cỏ ống (Panicum repens L.), cỏ gà (Cynodon dactylon) cũng có ít cỏ họ đậu Cỏ bờ ruộng thừơng được cắt cho bò ăn Cỏ tốt xấu tuỳ theo mùa mưa hay mùa khô, cỏ già hay non và thành phần các loại cỏ Bãi cỏ tốt bò có
Trang 5Bò ăn cỏ tự nhiên thường cho thêm rơm để phòng bệnh chướng hơi dạ cỏ và rối loạn tiêu hóa
Thành phần hoá học trong một kg cỏ tươi : Vật chất khô 24.10%, protein thô 2.6%, lipit 0.7%, xơ 6.9%, dẫn xuất không đạm 11.6%, khoáng tổng số 2.3% (Nguồn Bùi
Văn Chính, 1995)
2.2.1.3 Cây keo dậu
Có tên khoa học là Leucacaena leucocephala( Bình linh, quả dẹp) thuộc họ đậu, thân gỗ cao tới 7-10m Trồng bằng hạt 20kg/ha, tỉ lệ nảy mầm trên 80%, thu cắt 4-5 lứa trên năm, năng suất 50-75 tấn/ha Trồng ở đồi gò bờ mương có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn, lấy lá làm thức ăn cho gia súc Keo dậu thường được trồng xen với cỏ voi, ghine, tỉ lệ 1:3-4 làm thức ăn giàu protein và vitamin Nuôi bò sữa, bò thịt tốt Có thể thay thức ăn tinh cho bò thịt
Thành phần hoá học trong một kg lá tươi: Vật chất khô 25.7%, protein thô 7.0%, lipit 1.2%, xơ 3.6%, dẫn xuất không đạm 12.5%, khoáng tổng số 1.4% (Nguồn Bùi Văn Chính, 1995)
2.2.1.4 Cỏ Voi
Loại cỏ sống lâu năm, tương tự như cây mía về hình dạng cũng như nhu cầu sinh thái Thân rễ cứng hoá gỗ, mang nhiều rễ khoẻ và ăn sâu Thân cao 3-4m thẳng đứng rỗng ruột, gồm có nhiều đốt Cây ra hoa từ 6-8 tháng Cỏ Voi mọc hoang dại ở những vùng nhiệt đới với lượng mưa lớn hơn 1000mm của Châu Phi, được phát hiện vào năm
1908, cỏ voi được nhanh chóng lan đi khắp các vùng nhiệt đới và Á Nhiệt đới trên thế giới
Ở Việt Nam, cỏ voi ngày nay đã trở thành loại cỏ mọc tự nhiên ở một số nơi Cỏ voi chịu được hạn và khô hanh ngay cả trong những tháng khô, cỏ vẫn sinh trưởng bình thường
Thời gian thu hoạch cỏ voi lứa đầu khoảng 60-70 ngày sau khi trồng năng suất lứa đầu khoảng 150-160 tấn/ha
Cỏ Voi có thể thu hoạch 6-9 lứa trên năm, năng suất 200-250 tấn /ha/ năm Cỏ voi có thành phần dinh dưỡng cao hơn nhiều loại cỏ khác Một kg cỏ tươi có 168g chất khô, protein thô 95-110g/kg chất khô, glucid 13.5g, xơ 54g, Canxi 0.6g, phospho 0.7g,
năng lượng trao đổi 320 kcal.( Lê Hồng Mận, 2001)
2.2.1.5 Cỏ Sả
Trang 6Cỏ sả có tên khoa học Panicum Maximun, là giống cỏ hoà thảo thân bụi như sả, có hai giống cỏ sả đó là sả lá lớn và sả lá nhỏ Cỏ sả sinh trưởng mạnh, năng suất cao, chịu hạn khá, chịu nóng, chịu bóng cây, chất lượng tốt và dễ trồng Cỏ sả phù hợp với chân ruộng cao, đất pha cát, không chịu được ngập úng Có thể nhân giống bằng hạt hoăïc bằng hom nhánh ( Đoàn Hữu Lực,1999)
Thu hoạch lứa đầu khi được 60 ngày tuổi, các lứa sau cách lứa trước 30-60 ngày Năng suất cỏ sả lá lớn trồng thâm canh tương đương cỏ voi, có thể thu hoạch 8-
10 lứa trên năm, đạt từ 250-300tấn/ha/năm
Bảng 1 :Thành phần dinh dưỡng của cỏ sả
Thành phần Trong một kg cỏ
tươi Trong một kg cỏ khô
Thành phần hoá học của lá cỏ Ruzi 35 ngày tuổi vật chất khô 20.31%, protein tho 2.51%, lipit 0.61% , xơ thô 5.82%, khoáng tổng số 1.52%, dẫn xuất không đạm 18.10%, canxi 0.14%, photpho 0.05%
Thành phần hoá học của thân cỏ Ruzi 35 ngày tuổi vật chất khô 16.43%, protein tho 1.27%, lipit 0.22% , xơ thô 6.26%, khoáng tổng số 1.27%, dẫn xuất không đạm 7.41%, canxi 0.12%, photpho 0.04% (Nguồn Bùi Văn Chính, 1995)
2.2.1.7 Cỏ Stylo
Thuộc họ mọc bò thân bụi, không chịu được úng và sương muối Trồng cỏ bằng
Trang 7Thành phần hóa học của thân lá cỏ Stylo vật chất khô 22.30%, protein thô 3.50%, lipit 0.50% , xơ thô 6.10%, khoáng tổng số 1.50%, dẫn xuất không đạm 10.70%, canxi 0.31%, photpho 0.05% (Nguồn Bùi Văn Chính, 1995)
2.2.2 Cây thức ăn gia súc và phụ phẩm nông nghiệp
2.2.2.1 Rơm lúa:
Lúa là cây lương thực chính của Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, hàng năm rơm lúa được sản xuất với khối lượng khổng lồ, rơm được dùng để làm chất đốt, sản xuất nấm rơm, đặc biệt là sử dụng cho trâu bò trong những lúc thiếu cỏ Tuy giá trị dinh dưỡng thấp nhưng nhờ khối lượng rất lớn và rất dễ dự trữ bảo quản nên rơm lúa hiện nay là đối tượng cho nhiều chương trình nghiên cứu việc sử dụng một cách hợp lý làm thức ăn cho trâu bò
Lượng rơm lúa thường được tính theo năng suất ít khi được đo trực tiếp Tính tỷ lệ 1:1 giữa lượng lúa với lượng rơm ( một lúa, một rơm), tuy nhiên tỉ lệ này còn phụ thuộc vào giống lúa và cách thu hoạch ( Bùi xuân An, 1997)
Trong chăn nuôi các hộ nông dân thường dự trữ rơm cho những mùa hiếm thức ăn cho gia súc, vào mùa khô thiếu cỏ rơm là thức ăn chủ yếu cho gia súc Rơm có thể cho ăn trực tiếp hoặc ủ với ure
Theo Devendra (1988), tỉ lệ tiêu hóa chất khô đối với rơm nếp là 46.9% so với 48.6% ở rơm gạo
Tỉ lệ tiêu hóa của rơm tương quan nghịch với lượng lignin trong rơm Rơm cứng hàm lượng lignin cao khó tiêu hóa hơn rơm mềm Phần lá ngọn dễ tiêu hóa hơn phần gốc (Lê Xuân Cương,1994)
Trạng thái thu hoạch: rơm có màu vàng hay màu vàng tươi xanh (Lê Xuân Cương,1994)
Thời gian dự trữ: tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và cách bảo quản, dự trữ càng lâu chất lượng rơm càng giảm
Tỉ lệ giữa thân và lá: rơm có nhiều lá có thành phần dinh dưỡng cao hơn rơm có ít lá (Lê Xuân Cương,1994)
Chế độ tưới tiêu: lúa được tưới nước đầy đủ có tỉ lệ tiêu hóa của rơm cao hơn rơm không được tưới tiêu (Lê Xuân Cương,1994)
Trang 8Hàm lượng dinh dưỡng của rơm : đối với rơm lúa mùa hàm lượng ME: 924Kcal/kg thức ăn, vật chất khô :864g/kg, protein thô: 39g, xơ thô 300g, dẫn xuất vô đạm 298g, tro 214g (Lê Xuân Cương,1994)
2.2.2.2 Cây bắp
Cây bắp tên khoa học là Zea mays L Nguồn gốc của cây ở Châu Mỹ và lần lượt phổ biến sang Châu Á vào thế kỷ XV và Châu Phi vào thế kỷ XVI Theo Rumphius vào cuối thế kỷ XV người Bồ Đào Nha đã nhập vào Indonesia, từ Indonesia bắp được mang sang Miến Điện và vào Đông Dương Năm 1985 diện tích bắp trồng ở Việt Nam là 397.300 ha, trong đó Đồng Bằng Sông Cửu Long có diện tích là 11.500ha Năm
1995 diện tích bắp ở Việt Nam là 556.800 ha, trong đó Đồng Bằng Sông Cửu Long là 20.200 ha Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, An Giang là tỉnh trồng bắp nhiều nhất ( 8.600ha,1996) diện tích này đang gia tăng trong các năm gần đây nhờ ứng dụng nhanh các giống lai cho năng suất cao vào sản xuất An giang dẫn đầu về năng suất bắp tại Việt Nam (6.53t/ha năm 1996) (Dương Minh,1999) Đối với bắp thu trái non khoảng 45-60 ngày tuổi số lượng vỏ bắp thu được là 3495kg/ha, tỉ lệ trái tươi trên thân chiếm 14.5%, thành phần trái tươi/vỏ chiếm 52%, ruột 33%, râu chiếm 15%
Hạt bắp là loại thức ăn cung cấp năng lượng cơ bản trong dinh dưỡng của người và gia súc gia cầm
Thân lá bắp là thức ăn xanh có giá trị dinh dưỡng cao sử dụng cho gia súc đặc biệt là gia súc ăn cỏ Thân lá giàu bột đường (8-10%), đạm thấp (1-1.5%) và xơ (4-5%) Thân lá tươi được dùng ủ chua để làm thức ăn cho đại gia súc (thường thu hoạch trong giai đoạn chín sữa) nhiều thí nghiệm cho thấy khi nuôi bò sữa, chỉ cần 5kg thân ủ tươi là đủ để có 1kg sữa Thân lá có thể sử dụng cho ăn xanh, ủ chua hoặc phơi khô tuy nhiên vì hàm lượng đạm, canci thấp nên đối với bò, đặc biệt là bò sữa cần bổ sung đạm và canci Thành phần hóa học của thân lá bắp tươi thức ăn, vật chất khô 13.10%, protein thô 1.4%, xơ thô 3.4%, dẫn xuất vô đạm 6.7%, khoáng tổng số 1.2%, lipid thô 0.4% ( Bùi Văn Chính, 1995)
Thân lá bắp ủ chua có hàøm lượng chất dinh dưỡng hàm lượng ME: 470Kcal/kg thức ăn, vật chất khô 235g/kg, protein thô 11g, xơ thô 69g, dẫn xuất vô đạm 117g.( nguồn Nguyễn văn Thưởng, 1995.)
2.2.2.3 Khoai Mì
Khoai mì tên khoa học là Manihot esculenta, theo tài liệu lịch sử cây khoai mì
Trang 9đưa sang các vùng khác Tại Viễn Đông được nhập vào từ năm 1865, ngày nay được
trồng ở khắp nơi vùng nhiệt đới
Thành phần dinh dưỡng của củ khoai mì :nước 60-65%, carbohydrate 30-35% (
chủ yếu là amilose và amilopectin), đạm 1-2%, béo 2-4%, năng lượng 1200-1500Kcal
Củ thường được sử dụng chung với bắp đậu nành đậu phọng, muối khoáng trong thức
ăn hỗn hợp Khoai mì được dùng tươi, xắt lát phơi khô hay ủ chua
Bã khoai mì là phụ phẩm của công nghiệp chế biến mì sau khi đã lấy đi tinh
bột Xác mì sử dụng tốt cho thú nhai lại có thể dùng ở dạng tươi, phơi khô hoặc ủ chua
Thành phần dinh dưỡng của xác mì trung bình như sau:
Bảng 2 : Thành phần dinh dưỡng của xác mì
Thành phần dinh dưỡng Trong 1kg tươi Trong 1kg chất khô
Lá khoai mì có rất nhiều phân tích cho thấy lá khô thường chứa hàm lượng đạm
rất cao 17-20% sử dụng tốt cho gia súc Lá khoai mì còn non là loại thức ăn xanh
nhiều vitamin A và giàu đạm 17-20% protein thô Lá khoai mì có thể so sánh tương
đương với nhiều loại lá họ đậu Sau khi thu hoạch củ lá khoai mì tận thu có năng suất
trung bình 2.4 tấn/ha, lượng lá này thu hoạch tuỳ theo giống khoai mì ( Bùi Xuân
An,1997) Tuy nhiên trong thân lá khoai mì có chứa hàm lượng độc tố Xyanoglucozit,
độc tố này làm cho gia súc chậm lớn hoặc có thể gây chết khi hàm lượng cao Theo
PGS Bùi Văn Chính, với một số biện pháp chế biến sẽ làm giảm thiểu hàm lượng độc
tố trong thân lá khoai mì
Bảng 3 :Aûnh hưởng của phương pháp chế biến đến hàm lượng acid Xyanohydric trong
ngọn lá khoai mì :
Phương pháp chế biến Hàm lượng HCN (mg/kg vật chất
khô)
Trang 10Ngâm rửa 3 ngày 467.0
2.2.2.4 Khoai lang:
Khoai lang tên khoa học là Ipomeca batatas, là một trong những cây lương thực phổ biến ở vùng nhiệt đới Khoai lang có nhiệt lượng hơn 1.5 lần khoai tây Đạm trong khoai lang không cân đối thiếu các acid amin Thiroxin, Xistein, Xerin, Glicin, alamin, glutamid Hàm lượng caroten khoảng 0.18-65mg/100kg khô, ngoài ra còn có các vitamin khác như C, A, B, PP, acid Pantolenic ( Bùi Xuân An, 1997)
Người ta thường dùng củ khoai lang cho gia súc, nhất là nấu chung với cám hay cho ăn sống ( có tính nhuận trường), bò ăn <50% khẩu phần bằng khoai lang khô cho kết quả tốt
Dây lang là một phụ phẩm được dùng nhiều làm thức ăn xanh cho heo, bò, gia cầm Dây lang cũng được phơi khô nghiền thành bột được dùng trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc
2.2.2.5 Cây đậu phọng
Tên khoa học là Arachis hypogaea Năng suất trái 1-2 tấn/ha trong đó 20-25% vỏ, 75-80% hạt Hạt đậu là thức ăn giàu đạm và béo 20% đạm thô nhưng ít Lizin và Methionin, 47-50% béo trong đó 40-45% acid Oleic và 30-35% acid linoleic Hạt đậu chứa nhiều vitamin như B2, B1, PP nhưng thiếu vitamin A, D, C Hạt đậu giàu Ca, P,
Fe
Bánh dầu đậu phộng có 2 loại có vỏ và không vỏ Loại không vỏ chứa 50% đạm thô và tách lấy dầu còn 7-10% béo là loại thức ăn cung cấp đạm tốt cho các loại gia súc gia cầm Bánh dầu phọng loại có vỏ chứa 30-35% đạm, 7-10% béo và 25-30 % xơ Trong hạt và bánh dầu dễ nhiễm nấm mốc Aspergillus flavus, sinh ra độc tố Aflatoxin Điều kiện thích hợp cho nấm mốc là 30-35oC, ẩm độ là >15% trong bánh dầu Để phòng tránh nấm mốc cần phơi khô dự trữ trong điều kiện khô mát và không nên dự trữ lâu
Dây đậu: khi đậu phộng thu hoạch, phần thân lá được dùng làm thức ăn cho gia súc và là thức ăn rất tốt và rất ngon miệng Để thu được năng suất thân lá cao cần phải thu hoạch ngay khi quả đã chín chắc Năng suất thân lá là 10-20 tấn/ha, tuỳ theo
Trang 11nhiều loại cỏ tốt (Bùi Xuân An 1993) Dây đậu khô đạm 9-10%, xơ 25-30% có thể
dùng cho trâu bò ăn tươi hoặc khô khá ngon miệng Thân lá đậu phộng sau khi thu
hoạch 3 -4 ngày, nếu không có biện pháp chế biến thích hợp sẽ nhanh chóng thối hỏng
không thể dùng làm thức ăn cho gia súc Theo PGS Bùi Văn Chính,1995 sử dụng thân
lá đậu với 7% cám sẽ bảo quản được 1 năm và có thể thay thế trên 50% cỏ xanh trong
thành phần dinh dưỡng của bò sữa, tương đương với 22% năng lượng và 39% protein
Thành phần dinh dưỡng của thân lá đậu ủ chua với 7% cám gạo dùng cho bò
gồm: Chất khô 27.1%, Protein 3.6%, Xơ thô 7.5%, Béo 1.6%, Tro 2.9%, năng lượng
trao đổi 550Kcal/kg vật chất khô
Thành phần dinh dưỡng của thân lá đậu ủ chua với 7% cám gạo dùng cho heo
gồm: Chất khô 26.0%, Protein 3.9%, Xơ thô 5.8%, Béo 1.7%, Tro 2.8%, năng lượng
trao đổi 670Kcal/kg vật chất khô
2.2.2.6 Cây đậu nành
Cây Đậu nành tên khoa học là Glicine max Hạt đậu nành là loại thực phẩm có
giá trị dinh dưỡng cao đặc biệt tỉ lệ đạm khoảng 40%, dầu 20% nhiều khoáng và
vitamin Hạt đậu nành cung cấp đạm chất lượng cao và năng lượng cho người và gia
súc Bánh dầu dậu nành là loại thức ăn cung cấp đạm có giá trị dinh dưỡng cao cho
chăn nuôi Sau khi hạt đậu chín, lá đậu nành hầu như rụng gần hết chỉ còn lại thân
cành, đây là phần có lượng protein thiêu hóa thấp, hàm lượng xơ cao, có thể dùng cho
trâu bò ăn, nhưng khi cho bò sữa cần bổ sung thêm thức ăn bổ sung
Xác đậu nành hay bã đậu nành là phụ phế phẩm của quá trình chế biến hạt đậu
nành sống làm tàu hũ hoặc chế biến sữa đậu nành Xác đậu nành có thành phần dinh
dưỡng như sau:
Bảng 4 : Thành phần dinh dưỡng của xác đậu nành
Thành phần dinh dưỡng Trong 1kg tươi Trong 1 kg chất khô
Trang 12ủ chua và chất lượng tố Lượng N thấp có thể khắc phục bằng cách thêm urea hay hỗn hợp urea rỉ mật đường trong quá trình ủ, tuy nhiên nó có thể làm giảm khả năng tiêu hóa
Phụ phẩm của mía bao gồm: ngọn (30%), lá(10%), Thân (60%), phụ phẩm chế biến: bã (15%), rỉ đường(3%), cặn(2%)
Bảng 5 : thành phần dinh dưỡng của cây mía và phụ phẩm (%)
( Nguồn: Bùi Xuân An, 1997)
.2.2.8 Trái thơm ( Ananas comonus)
Trái thơm có năng suất lá 80tấn lá/ ha/ năm Lá có thể sử dụng cho gia súc ăn xanh, ủ chua, phơi khô Nên băm nhỏ khi cho gia súc ăn, ủ chua nên bổ sung rỉ đường, chỉ dùng trên trâu bò, có thể bổ sung 15-20kg/con /ngày Phụ phẩm sau khi đóng hộp chiếm 50% năng suất trái, khoảng 10tấn/ha/năm Vỏ khóm khó ủ vì nhiều nước và có tính ăn mòn Có thể ủ chung với cỏ khô hay cỏ tạp Việc bổ sung nguồn tinh bột làm cho quá trình ủ tốt hơn ( Bùi Xuân An,1997)
Thành phần hóa học của lá trái thơm gồm: chất khô 20%, đạm 9%, xơ 24%, tro 5%, béo 2.5%
Thành phần hóa học của bột vỏ thơm gồm: chất khô 88%, đạm 3.5%, xơ 16%, tro 5%, béo 0.5% ( Bùi Xuân An,1997)
Trang 132.3 Các yếu tố kỹ thuật có liên quan
2.3.1 Chuồng trại:
Chuồng trại ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bò, chuồng trại quyết định điều kiện tiểu khí hậu và vệ sinh môi trường xung quanh Chuồng nuôi đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tạo điều kiện tiểu khí hậu tốt cho vật nuôi và con người
- Thuận tiện cho việc lao động và quản lý của người chăn nuôi
- Chi phí xây dựng thấp
- Sử dụng lâu dài
- Có hệ thống cung cấp và phục vụ điện nước
- Hệ thống cung cấp, dự trữ vàphân phối thức ăn
- Thuận tiện giao thông
- Có hệ thống thu gom và xử lý chất thải
- Thuận tiện cho việc mở rộng hoặc kết hợp với các mô hình sản xuất nông ngiệp khác
- Có cảnh quan vệ sinh và đẹp
Để đảm bảo các yếu tố trên cần đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sau :
+ Hướng chuồng: hướng đông bắc hoặc đông nam, hai hướng này sẽ nhận được ánh nắng sáng, đảm bảo mát về mùa hè và ấm vào mùa đông, tránh được mưa tạt gió lùa
+ Kiểu chuồng: trong xây dựng chuồng trại có rất nhiều kiểu chuồng có thể 1 dãy, 2 dãy tuỳ vào qui mô đàn
+ Mái chuồng: gồm mái đơn hoặc mái kép Mỗi loại mái chuồng sẽ có tác dụng khác nhau trong việc thông thoáng, chống nóng hay chống lạnh Mái đơn là loại mái đơn giản, dễ thi công, tiện dụng cho các chuồng nuôi qui mô nhỏ
+ Diện tích tiêu chuẩn
Bảng 6 : Diện tích chỗ đứng và diện tích xây dựng chuồng bò
CDCĐ : chiều dài chỗ đứng
Trang 14CNCĐ : chiều ngang chỗ đứng
DTCĐ : diện tích chỗ đứng
DTXD : diện tích xây dựng
+ Nền chuồng: Phải chắc chắn đảm bảo vệ sinh, dễ thu gom được phân và nước tiểu Có thể xây gạch đá và xi măng hoặc sử dụng tấm đúc Nền chuồng phải đảm bảo độ dốc 1,2-2%, rãnh thoát nước tiểu 2- 3%
+ Tường : rất cần thiết để che mưa tránh gió nhưng phải đảm bảo thông thoáng và có cửa ra vào Đối với chuồng bò đẻ tường cần thiết để ngăn những ô tách mẹ với con Tường phải chắc chắn, tránh bò có thể nhảy qua được ( thường cao khoảng 1.2m)
+ Máng ăn, máng uống: Xây cố định và đảm bảo lòng máng trơn láng có lỗ thoát nước để thuận tiện cho việc làm vệ sinh bên trong máng Máng ăn phải xây theo chiều dài chuồng, đáy máng xây cao hơn nền 0.2m, điều này để tránh cho gia súc cố bước chân về phía trước làm ảnh hưởng xấu đến móng chân Máng ăn cần được giữ khô ráo ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn và nấm mốc Máng uống thiết kế sao cho thật dễ dàng cho gia súc uống nước bất kỳ lúc nào Máng uống có thể bố trí phía ngoài để gia súc đi lại uống nước hoặc có thể bố trí máng tự động ngay trước mặt gia súc
+ Hành lang vệ sinh: làm sao cho phù hợp với kiểu chuồng, đảm bảo thuận tiện cho việc làm vệ sinh và chăm sóc gia súc
+ Rãnh thoát phân và nước tiểu: thiết kế theo chiều dài chuồng, có độ dốc phù hợp Phải có chiều rộng tương đối để thuận tiện cho vệ sinh và xử lý nước thải Nước rửa chuồng và nước tiểu phải dẫn ra ao ở xa khu chuồng để xử lý và sử dụng Trong nhiều trường hợp cần thiết phải xử lý nước thải đưa vào hệ thống Bioga hoặc đưa vào các hệ thống xử lý khác
+ Lều che mát ngoài đồng: trong những đồng cỏ rộng không có cây che mát chúng ta cần bố trí lều che mát cho gia súc để tránh gia súc bị say nắng, tạo điều kiện cho gia súc nghỉ ngơi và nhai lại, có thể bố trí xung quanh nơi này những dạng thức ăn bổ sung như khối urea, mật đường hay khối đá liếm
+ Bãi chăn và sân chơi: đối với bê từ 0-6 tháng và bò đẻ cần diện tích sân chơi, có thể sử dụng đồng cỏ gần chuồng trại làm sân chơi cho gia súc Những bãi chăn có diện tích lớn nên trồng xen kẽ cây cho bóng mát cho gia súc
2.3.2 Thú y:
Trang 15Muốn chăn nuôi bò đạt hiệu quả công tác phòng bệnh cho bò là thực sự cần thiết Định kỳ tẩy giun sán, kiểm tra và phát hiện sớm để phòng trị kịp thời
2.3.3 Chỉ tiêu sinh lý sinh sản:
Các chỉ tiêu sinh lý sinh sản phụ thuộc vào giống bò, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng
3.1.2 Đánh giá hiện trạng đàn giống bò
3.1.3 Điều tra nguồn thức ăn sử dụng cho chăn nuôi bò, tập quán sử dụng các nguồn thức ăn và kỹ thuật chăn dắt quản lý bò của người dân trên địa bàn các huyện Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn tỉnh An Giang
3.1.4 Đánh giá kết quả chăn nuôi tại các hộ gia đình và qui mô kinh tế trang trại Từ đó có ý kiến cho việc nâng cao năng suất hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương
3.2 Phương pháp
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi tiến hành chọn mẫu như sau: đối với mỗi huyện chia thành những tiểu vùng, sau đó từ những tiểu vùng chọn một xã đại diện cho tiểu vùng Từ những xã này chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên một số hộ
Tổng số hộ điều tra cho cả ba huyện là 100 hộ, trong đó
Huyện Tịnh Biên : 41 hộ Huyện Tri Tôn : 41hộ
3.2 Cách tiến hành điều tra
Trang 16Chúng tôi được trạm thú y các huyện giới thiệu xuống địa bàn các xã, phối hợp cùng cán bộ thú y xã chọn mẫu tiến hành điều tra Tại các xã chúng tôi được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ thú y địa phương giới thiệu với các hộ điều tra về mục đích của cuộc điều tra
3.3 Cách thu thập và xử lý số liệu
Đối với qui mô trang trại chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp và ghi nhận Đối với hộ chăn nuôi chúng tôi tiến hành quan sát và phỏng vấn trực tiếp để ghi chép lại các số liệu và thông tin Quan sát địa điểm vị trí chuồng trại, điều kiện vệ sinh môi trường Sau đó phỏng vấn người chăn nuôi theo phiếu có sẵn gồm các nội dung như nghề nghiệp, diện tích đất nông nghiệp, các chỉ tiêu sinh lý sinh sản, phương thức chăn nuôi, đồng cỏ, nguồn thức ăn, thú y
Đối với điều kiện kiện tự nhiên kinh tế xã hội khác tiến hành thu thập từ các tài liệu có liên quan
Số liệu được xử lý trên máy vi tính
Trang 17Chương 4
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết
Ba huyện Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt cao và ổn định, lượng mưa tương đối lớn phân bổ theo thời gian, riêng khu vực đồi núi nhiệt độ bình quân thường thấp hơn so với vùng đồng bằng khoảng 2oC Với nền nhiệt nhiệt cao đều trong năm giàu nắng, không có bão, điều kiện khí hậu ở ba huyện nêu trên rất thuận lợi phát triển chăn nuôi bò
4.1.1.3 Đặc điểm địa hình
Huyện Thoại Sơn nằm trong vùng đồng bằng thuộc tứ giác Long Xuyên độ cao trung bình của vùng từ 1,2-3 m và nghiêng đều xuống tới giáp Kiên Giang
Trang 18Huyện Tịnh Biên và Huyện Tri Tôn là vùng đồi núi thấp chiếm phần lớn diện tích của hai huyện Tồn tại nhiều núi thành chuỗi với các đỉnh cao chừng 500-700m , cao nhất là núi Cấm với 710 m Có 3 khu vực núi tập trung là núi Cấm, núi Dài, núi Cô Tô Ven núi là đồng bằng với độ cao từ 4-40m và có độ nghiêng phổ biến là 3-8o
4.1.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng
Ba huyện Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn có đặc điểm thổ nhưỡng đa dạng với nhiều loại trong đó đất phù sa cổ và đất cát phong hóa xen lẫn đất phèn và đất than bùn Địa hình phức tạp có nhiều đồi núi xen lẫn đồng bằng
4.1.1.5 Đặc điểm nguồn nước
Huyện Tịnh Biên, Tri tôn và một số xã vùng bán sơn địa của huyện Thoại Sơn trừ các đồi núi và vùng ven có cốt đất từ 4m trở lên, vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng lũ từ biên giới tràn qua và đổ ra biển tây theo hệ thống kinh trục mới được nhà nước đầu
tư nên mức độ thiệt hại giảm thiểu nhiều Vào mùa khô nguồn nước sinh hoạt và sản xuất rất hạn chế, đất ruộng trên chỉ canh tác nhờ vào nước mưa Hệ thống hồ chứa nước được đầu tư nhưng dung lượng thấp chưa đủ sức phục vụ rộng rãi dân cư trong vùng Vì vậy việc qui hoạch xây dựng đồng cỏ phải đi liền công tác thuỷ lợi và tưới tiêu cho đồng cỏ
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1 Dân số và lao động
Dân số nhìn chung phân bố không đều tập trung ở thị trấn, thị tứ và trục lộ giao thông
Huyện Thoại sơn: tính đến 1999 dân số toàn huyện là 175.877 người Mật độ dân số: 383 người / km2 Toàn huyện có 26.851 hộ, số lao động là 74.652
Huyện Tịnh Biên: tính đến năm 1999 dân số toàn huyện 107.068 người, mật độ dân số 318 người/ km2 Toàn huyện có 17.402 hộ, số lao động là 53.680
Huyện Tri Tôn: : tính đến năm 1999 dân số toàn huyện 111.972 người, mật độ dân số 187 người/ km2 Toàn huyện có18.245 hộ, số lao động là 89.205
4.1.2.2 Cơ cấu kinh tế vùng
Đặc điểm của ba huyện Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn có cơ cấu nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo
Trang 19Huyện Thoại Sơn có nông nghiệp chiếm 69%, Công nghiệp- xây dựng chiếm 4.7%, Thương mại – Dịch vụ chiếm 26.2%
Huyện Tịnh Biên có nông nghiệp chiếm 60.9%, Công nghiệp- xây dựng chiếm 9.1%, Thương mại – Dịch vụ chiếm 30.0%
Huyện Tri Tôn có nông nghiệp chiếm 64.7%, Công nghiệp- xây dựng chiếm 9.3%, Thương mại – Dịch vụ chiếm 27.9%
4.1.2.3 Diện tích đất trong vùng điều tra
Huyện Thoại Sơn có diện tích đất 45.869ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 38.062, đất trồng cây hàng năm là 37.323ha
Huyện Tịnh Biên có diện tích đất 33.744 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 21.703, đất trồng cây hàng năm là 19.829ha
Huyện Tri tôn: có diện tích đất 59.805ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 40.671ha, đất trồng cây hàng năm là 39.826 ha
4.3.2.4 Tình hình chăn nuôi qua các năm
Bảng 7: Hiện trạng đàn bò qua các năm
( nguồn : thống kê niên giám năm 2000)
4.2 Đặc điểm các hộ chăn nuôi bò
ø
4.2.1 Nghề nghiệp chính của các hộ chăn nuôi bò
Nghề chính là nông dân chiếm khoảng 96%, các ngành nghề khác chiếm khoảng 4% Phấn lớn các hộ chăn nuôi bò là người dân tộc Khơ me, điều kiện kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên ít có điều kiện đầu tư cho chăn nuôi bò
Bảng 8 : ngành nghề chính của hộ chăn nuôi
Địa phương
Trang 20Tịnh Biên 41 100 0 0
4.2.2 Cơ cấu lao động
Số lao động phụ chiếm 51.2% , số lao động này phần lớn phụ giúp trong việc chăn thả bò ngoài bãi, cắt cỏ cho bò Rất thuận tiện cho việc phát triển chăn nuôi bò ở qui mô nhỏ hộ gia đình, tận dụng lao động nhàn rỗi góp phần tăng thu nhập cho gia đình
Bảng 9 : Cơ cấu lao động trong vùng điều tra
Địa phương Lao động chính (%) Lao động phụ (%)
4.2.3 Diện tích đất nông nghiệp
Tổng số hộ điều tra là 100 hộ thì có 62 hộ có đất sản xuất nông nghiệp, bình quân diện tích đất trong vùng điều tra là 0.66ha / hộ Với nhân khẩu bình quân trên hộ 4.7 thì diện tích đất nông nghiệp trên người là 0.14ha Trong đó đất trồng lúa chiếm 84.1% ở các hộ chăn nuôi Số hộ không có đất phần lớn thuộc huyện Tri Tôn
Bảng 10 : Diện tích đất nông nghiệp các hộ nuôi bò trong vùng điều tra
4.2.4 Tư liệu sản xuất chính
Trang 21Số hộ chăn nuôi trong vùng điều tra do có diện tích đất canh tác ít nên sự đầu
tư về tư liệu sản xuất không đáng kể
4.2.5 Tình hình chăn nuôi bò kết hợp với ngành nghề khác
+ Số hộ chăn nuôi bò kết hợp với làm ruộng là 34.69%, đây là một thuận lợi để phát triển chăn nuôi bò vì cung cấp số lượng lớn phụ phẩm làm thức ăn cho chăn nuôi bò
+ Ở vùng điều tra với địa hình đất cao đồi núi nhiều nên số hộ chăn nuôi kết hợp với làm rẫy chiếm 10.2% đây là nguồn cung cấp phụ phẩm cho chăn nuôi dồi dào
+ Chăn nuôi kết hợp với chăn nuôi gia súc khác chiếm 8.84% nhưng chủ yếu là chăn nuôi ở qui mô nhỏ, số lượng gia súc nhằm tự túc, tự cấp thực phẩm không có sản lượng hàng hóa
+ Chăn nuôi kết hợp với làm thuê : các hộ chăn nuôi trong chiếm 34.69% số hộ có chăn nuôi kết hợp với làm thuê, phần lớn là bà con dân tộc Khơ me không có đất và một phần là các hộ chăn nuôi bò cày kéo làm thuê để tăng thu nhập
Bảng 11 : Cơ cấu chăn nuôi kết hợp với ngành nghề khác
khác
Buôn bán
Làm ruộng
Làm rẫy Làm
vườn
Làm thuê
Khác
4.2.6 Mục đích chăn nuôi
Trong vùng điều tra số hộ chăn nuôi bò thịt rất thấp chiếm 10.71%, nhưng chăn nuôi bò cái sinh sản chiếm tỉ lệ rất cao 47.14% đây cũng là những huyện có truyền thống lâu đời chăn nuôi bò cái sinh sản Chăn nuôi bò sữa không có trong vùng điều tra
Việc sử dụng phân cần được tận dụng triệt để hơn nhằm làm sạch sẽ môi trường và tăng thu nhập cho người chăn nuôi Thông qua làm phân bón cho cây trồng, làm thức ăn cho cá và túi ủ bioga
Bảng 12 : Mục đích chăn nuôi trong vùng điều tra
Trang 22Huyện Thịt Giống Cày kéo Phân Sữa
Biểu Đồ 1: Mục đích chăn nuôi trong vùng điều tra
BIỂU ĐỒ MỤC ĐÍCH CHĂN NUÔI
TRONG VÙNG ĐIỀU TRA
Biểu đồ 2 : Mục đích chăn nuôi chung cho toàn vùng điều tra
Trang 23Mục đích chăn nuôi trong vùng điều tra
Thịt Giống Cày kéo Phân
4.2.7 Cơ cấu đàn bò
Đa số các hộ chăn nuôi trong vùng có tập quán chăn nuôi bò sinh sản nên số lượng bò cái sinh sản trong vùng điều tra có tỉ lệ khá cao, chiếm 66,61% Tuy nhiên lượng bò cái tơ để bổ sung đàn chiếm tỉ lệ rất thấp, 6.83% đây là yếu tố khó khăn cho phát triển chăn nuôi bò vì không đủ lượng bò để thay thế đàn
Theo Lê Hồng Mận, cấu trúc chăn nuôi bò sinh sản có số bò nhóm ít tuổi ( bò
tơ, bê trên dưới 1 tuổi) phải nhiều hơn so với yêu cầu thay thế đàn Đàn bò có 60-65% bò cái sinh sản thì mức tái sản xuất bình thường Cứ 100 bò cái thì có 15-17 bò tơ, 18-20% bê cái trên một tuổi và bê dưới một tuổi 22-25 con Loại thải đối với bò cái sinh sản là 20% hàng năm
Số lượng bò đực giống trong vùng điều tra còn chiếm tỉ lệ khá cao, đây là số bò nuôi với mục đích cày kéo và phối giống Tuy nhiên trong quá trình phát triển chăn nuôi số bò này cần được chọn lọc lại những con có chất lượng tốt mới sử dụng vào mục đích phối giống, bên cạnh đó cần phát triển mạnh mẽ mạng lưới gieo tinh nhân tạo Biểu đồ 3 : Cơ cấu đàn bò trong vùng điều tra
Trang 24Cơ cấu đàn trong vùng điều tra
Cái hậu bị
Bê cái Bê đực
Biểu đồ 4 : Cơ cấu đàn chung cho vùng điều tra
Cơ cấu đàn bò tổng thể trong vùng điều tra
Cái sinh sản Đực
Cái hậu bị Bê cái Bê đực
Bảng 13: Cơ cấu đàn trong vùng điều tra