1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang

17 180 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 449,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang, hoạt động thu mua nguyên liệu của các công ty xuất nhập khẩu phần lớn thông qua hệ thống thương lái nông dân chủ yếu bán cho

Trang 1

1 Đặt vấn đề

Kiên Giang là một tỉnh có lợi thế và tiềm

năng sản xuất và xuất khẩu gạo với kim

ngạch hàng năm chiếm trên 71% tổng kim

ngạch xuất khẩu của tỉnh Xét trên quy mô

cả nước, Kiên Giang là một trong những tỉnh

đứng đầu cả nước về sản lượng sản xuất và

xuất khẩu lúa gạo (bảng 1) Tuy nhiên, trong

chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang,

hoạt động thu mua nguyên liệu của các công

ty xuất nhập khẩu phần lớn thông qua hệ

thống thương lái (nông dân chủ yếu bán cho

hệ thống thương lái 92,1%, chỉ có 5,1% bán

thẳng đến công ty XNK) Thu mua qua hệ

thống thương lái đã dẫn đến những hạn chế

sau: không chủ động nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu, thương lái không quan tâm nhiều đến chất lượng gạo mà chỉ tập trung vào mục đích lợi nhuận nên họ thu mua lúa từ nhiều

XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỢP TÁC VÀ CƠ CHẾ THỰC HIỆN TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU

GẠO TỈNH KIÊN GIANG

Nguyễn Thị Trâm Anh * Bạch Ngọc Văn **

* Ts, Trường Đại học Nha Trang, Email: tramanhnguyen.ntu@gmail.com

** Th.s Trường Đại học Nha Trang

Tóm tắt

Dựa trên mô hình Valuelinks của GTZ [7], tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 150 đại diện các tác nhân tham gia chuỗi để phân tích chuỗi giá trị gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang với các chức năng tham gia chuỗi gồm cung cấp đầu vào, sản xuất, thu mua, chế biến, Marketing và bán hàng Qua điều tra, tác giả rút ra kênh thị trường mặt hàng gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang gồm 3 kênh: (1) kênh trực tiếp từ nông dân đến công ty xuất khẩu 5,1%; (2) kênh cấp 2 từ nông dân đến nhà máy chế biến 2,8% và từ nhà máy chế biến đến công ty xuất khẩu 24,2%; (3) kênh cấp 3 từ nông dân đến thương lái 91,2%, từ thương lái đến nhà máy chế biến 31,3% và từ nhà máy chế biến đến công ty xuất khẩu 24,2% Trên cơ sở phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của mô hình chuỗi giá trị xuất khẩu gạo, tác giả đề xuất xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo

Từ khóa: kênh thị trường, xuất khẩu gạo, chuỗi giá trị, chức năng tham gia chuỗi

Trang 2

nguồn khác nhau với chất lượng tốt xấu lẫn

lộn, hành vi ứng xử của thương lái hoàn toàn

theo tính hiệu của thị trường, dễ dẫn đến việc

ép nông dân vào tình huống “được mùa mất

giá và được giá mất mùa” Điều này dẫn đến

khâu sản xuất chế biến gạo không đồng đều

về chất lượng và tỷ lệ thu hồi thấp, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo do phẩm cấp và chất lượng gạo không ổn định

Bảng 1: Sản lượng XK gạo tỉnh Kiên Giang so với cả nước 2006 -2013

ĐVT: tấn

sản lượng XK

gạo Kiên Giang

587.000 530.000 780.700 1.007.269 819.266 963.921 1.008.250 960.000

sản lượng XK cả

nước

4.687.118 4.526.465 4.709.228 6.050.081 6.754.078 7.128.316 7.720.000 6.600.000

Tỷ trọng gạo XK

của KG/cả nước

15,52 11,71 16,58 16,53 12,13 13,52 13,10 14,55

Nguồn: “Hiệp hội lương thực VN & Sở Công thương tỉnh Kiên Giang, 2013”

* Số liệu ước tính của HHLT Việt Nam

Bảng 2: Kim ngạch XK gạo tỉnh Kiên Giang so với cả nước 2006 -2013

ĐVT: 1.000 USD

Kim ngạch XK

gạo Kiên Giang

153.280 161.000 388.926 367.360 321.811 445.000 446.000 427.000

Kim ngạch XK

cả nước

1.194.629 1.338.132 2.663.437 2.464.300 2.911.637 3.519.290 3.650.000 3.070.000

Tỷ trọng KN gạo

XK KG/cả nước

12,83 12,03 14,60 14,90 11,05 12,64 12,22 13,91

Nguồn: “Hiệp hội lương thực VN & Sở Công thương tỉnh Kiên Giang, 2013”

* Số liệu ước tính của HHLT Việt Nam

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

2.1 Đối tượng nghiên cứu: là các tác nhân

tham gia trong chuỗi xuất khẩu gạo tỉnh Kiên

Giang bao gồm Nông dân Thương lái, Nhà

máy chế biến, Công ty xuất khẩu

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Tổng số

có 150 mẫu được khảo sát trên 05 địa bàn là

huyện Giồng Riềng, huyện Tân hiệp, huyện

Gò Quao, huyện hòn Đất và Thành Phố Rạch

Giá theo phương pháp điều tra chọn mẫu,

phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu qua bảng câu hỏi cấu trúc và bán cấu trúc phù hợp với từng tác nhân: (i) nhóm Nông dân gồm 50 mẫu, (ii) nhóm Thương lái gồm 50 mẫu, (iii) nhóm Nhà máy chế biến 44 mẫu, (iv) nhóm Công ty xuất khẩu 6 mẫu Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính nhằm tìm hiểu bản chất của chuỗi giá trị gạo xuất khẩu

và dựa vào số liệu điều tra để biết được kênh thị trường xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang

Trang 3

Đối với bất kỳ sản phẩm nào, để sản phẩm

có thể đến với người tiêu dùng thì phải trải

qua rất nhiều giai đoạn với những kênh phân

phối khác nhau Riêng đối với chuỗi giá trị lúa

gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang, tỷ trọng lượng

lúa gạo năm 2011 được bán qua từng tác nhân

theo từng kênh thị trường được thể hiện qua

hình 1

- Chức năng tham gia chuỗi bao gồm 6 chức

năng: (1) Đầu vào: Gồm việc cung cấp lúa

giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên

liệu, công cụ lao động cho nông dân và nguồn

nhân lực (2) sản xuất: Do nông dân đảm nhận

từ khâu kỹ thuật canh tác, thu hoạch đến bảo

quản (3) Thu mua: Bao gồm quá trình thương

lái mua lúa từ nông dân vận chuyển đến nhà

máy chế biến hoặc công ty xuất khẩu (4) Chế

biến: Là quá trình các nhà máy chế biến xay

xát và lau bóng lúa gạo (5) Marketing và bán

hàng: Bao gồm các hoạt động mua bán lúa gạo, chức năng này do công ty xuất khẩu gạo trong tỉnh đảm nhận (6) Tiêu dùng: Bao gồm các hoạt động phân phối lúa gạo đến người tiêu dùng (Nhà nhập khẩu)

- Có nhiều tổ chức hỗ trợ chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu bao gồm: (1) về kỹ thuật (Viện, trường, trung tâm khuyến nông), (2) về tài chính (Ngân hàng, các quỹ hỗ trợ phát triển)

và (3) về thị trường (Bộ NN và PTNN, Bộ Công thương, hhLT Việt Nam)

- Kênh thị trường chuỗi: Trên lý thuyết, kênh thị trường càng ngắn thì càng tiết kiệm được chi phí gia tăng trên toàn chuỗi và giá trị lợi nhuận của từng chủ thể sẽ càng cao Nhưng trong điều kiện thực tế của thị trường lúa gạo của Kiên Giang cũng như ĐBsCL thì việc nông dân bán lúa trực tiếp cho các nhà

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang

Hình 2: Sơ đồ chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang

78,1%

5,1%

2,8%

24,2%

48,8%

31,3%

92,1%

VTNN

Thương lái

hải quan,

Viện, trường,

Nguồn: Kết quả điều tra

Chức năng tham gia chuỗi (các giai đoạn sản xuất)

Các tác nhân tham gia chuỗi

Người tiêu dùng

Những nhà hỗ trợ chuỗi

Trang 4

máy chế biến và công ty xuất khẩu không

nhiều, đa phần là bán qua thương lái ( chiếm

đếm 92,1%)

3.1.1 Đầu vào

- Về phân bón: tỷ lệ hộ nông dân tỉnh Kiên

Giang hiện nay đang sử dụng phân hóa học

trong canh tác lúa còn khá cao (khoảng 70%),

việc lạm dụng phân hóa học làm phát sinh các

dịch hại sâu bệnh cho cây lúa, buộc phải sử dụng

ngày càng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, làm mất cân bằng sinh học, phá vỡ hệ sinh thái đồng ruộng và dịch bệnh ngày càng phức tạp, khó phòng trị Đồng thời, hiệu suất sử dụng phân bón còn thấp do nông dân vẫn còn thói quen bón phân theo tập quán canh tác truyền thống, xem trọng hiệu quả nông học để đạt năng suất cao, hơn việc quan tâm tới lợi nhuận và hiệu quả lâu dài Điều này sẽ làm tăng chi phí giá thành sản xuất, giảm lợi nhuận của người trồng lúa

Hình 3: Cơ cấu giống lúa tỉnh Kiên Giang năm 2013

21,280%

15,180%

12,500%

13,600%

5,95%

8,590%

4,120%

2,850%1,520%

1,020% 13,390%

IR50404 OM2517 OM5451 OM6976 OM4900 JAsMINE85 OM4218 OM6162 OM5472 OM5954 Khác

Bảng 3: Hiệu suất sử dụng và tỷ lệ thất thoát phân hóa học

Nguồn: Trung tâm khuyến nông Kiên Giang, 2012

- Về thuốc BVTV: Trong những năm gần

đây, số lượng và chủng loại thuốc bảo vệ thực

vật được sử dụng cũng ngày càng tăng lên do

thâm canh tăng vụ, tăng diện tích và lạm dụng

phân hóa học nên tình hình sâu bệnh diễn biến

phức tạp hơn, xuất hiện nhiều đối tượng sâu

bệnh hại mới, lạ Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ nông

dân pha thuốc theo hướng dẫn kỹ thuật còn rất

hạn chế (25%) mà chủ yếu là pha thuốc theo kinh nghiệm của bản thân (58,33%) và theo lời mách bảo của người quen (16,67%) Đồng thời,

do kỹ thuật phun thuốc không đúng cách dẫn đến hiện tượng bị kháng thuốc, thuốc mất hiệu lực và để lại dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao hơn mức cho phép trong hạt lúa

Trang 5

Trong giai đoạn 2006 – 2013, sản lượng lúa

của toàn tỉnh Kiên Giang tăng qua các năm là

nhờ tăng năng suất, cùng với thâm canh ngày

càng tăng và sản xuất lúa vụ 3 Tuy nhiên,

năng suất của tỉnh còn thấp so với các tỉnh lân

cận như An Giang (6,38 tấn/ha) và Đồng Tháp

(6,27 tấn/ha)

Bên cạnh đó, Kiên Giang cũng đã triển

khai mô hình ”Cánh đồng mẫu lớn”, đến nay

toàn tỉnh đã áp dụng được 2.500 ha Chương

trình đã được sự phối hợp tốt của lãnh đạo địa

phương với sự nhiệt tình tham gia của nông

dân và phía các doanh nghiệp Tuy nhiên, năm

đầu tiên triển khai mô hình “Cánh đồng mẫu

lớn” nên diện tích chưa đạt so với kế hoạch

do: (1) Nông dân chưa mạnh dạn tham gia,

chưa nhận biết đầy đủ lợi ích của mình, vẫn

còn quan niệm đây là mô hình nhà nước phải

đầu tư, hỗ trợ và phải mua lúa với giá cao (2)

Doanh nghiệp xuất khẩu chưa có ý thức đầu tư

vào vùng lúa nguyên liệu riêng, nhằm đáp ứng

theo yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu (3)

Việc tìm kiếm doanh nghiệp thu mua, tiêu thụ

lúa trong cánh đồng mẫu lớn còn nhiều hạn

chế, giá bị “đánh đồng” nên chưa đẩy nhanh

việc phát triển các cánh đồng mẫu lớn

- Về kỹ thuật canh tác: nông dân Kiên

Giang đã ý thức trong việc áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến vào trong sản xuất lúa Tuy nhiên, tỷ lệ này áp dụng chưa cao do người nông dân quen với kỹ thuật canh tác cũ, truyền thống, kinh nghiệm của bản thân, chưa mạnh dạn áp dụng kỹ thuật canh tác mới, mặt khác do hạn chế về trình độ và vốn của người trồng lúa nên tỷ lệ cơ giới hóa vẫn còn thấp

- Về thu hoạch và sau thu hoạch: hiện

nay, Kiên Giang là tỉnh đứng đầu cả nước về trang bị máy gặt đập liên hợp với tổng cộng 1.319 máy phục vụ trên 45% diện tích, thu hoạch bằng máy đã mang lại lợi ích và thiết thực Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế: (1)

Do hầu hết diện tích trồng lúa của từng hộ nông dân tỉnh Kiên Giang trung bình chỉ có 1,97ha/hộ, trong lúc năng suất của máy gặt đập liên hợp là 3 đến 5ha/ngày, rất khó xoay sở từ mảnh ruộng này sang mảnh ruộng khác; (2) máy gặt đập liên hợp của Việt Nam và Trung Quốc (200 – 250 triệu đồng / máy) chất lượng không cao, hay bị hỏng (3) nông dân làm lúa

2 vụ, 3 vụ mà đặt biệt là vụ 2, vụ 3 thu hoạch

3.1.2 Sản xuất

Hình 4: Sản lượng lúa chất lượng cao và sản lượng lúa cả năm 2006 -2013

0 500.000 1.000.000

1.500.000

2.000.000

2.500.000

3.000.000

3.500.000

4.000.000

4.500.000

Năm

2006 Năm2007 Năm2008 Năm2009 Năm2010 Năm2011 Năm2012 Năm2013

sản lượng lúa cả năm sản lượng lúa chất lượng cao

Trang 6

trong mùa mưa, nên việc sử dụng máy móc

còn khó khăn Vào mùa mưa đất ruộng nhão,

dễ bị sa lầy Máy gặt đập liên hợp thì nặng,

cồng kềnh, nên rất khó đưa vào đồng ruộng;

(4) do thiếu lao động (cụ thể là tài xế) làm cho

nông dân không dám đầu tư mua máy

- Về hệ thống phơi sấy lúa: hiện nay, số

lượng máy sấy của tỉnh Kiên Giang là 2.240

máy chỉ bảo đảm 65% sản lượng lúa thu

hoạch (sở NN và PTNN Kiên Giang, 2012)

Tuy nhiên, với số lượng máy sấy được đánh

giá là không đủ nhưng vẫn chưa sử dụng một

cách có hiệu quả Nguyên nhân: vốn đầu tư

cao, số ngày hoạt động của máy sấy thấp (15

- 20 ngày/tháng), trong khi phần lớn nông dân

có diện tích trồng lúa nhỏ và chỉ có nhu cầu

sử dụng sấy lúa khi thời tiết xấu và không thể

phơi nắng được Mặt khác, nông dân chưa bỏ

thói quen xử lý bằng cách thủ công (phơi nắng)

trên sân nhà hoặc dọc đường, gây tình trạng

lúa bị lẫn lộn, lẫn tạp cao và hạt lúa không khô

đều từ ngoài vào trong nên khi xay xát tỷ lệ

gạo gãy, gạo tấm cao làm giảm giá trị hạt gạo

Tình trạng này không chỉ làm giảm thu nhập

của nông dân, mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả

kinh doanh các doanh nghiệp kinh doanh lúa

gạo do chất lượng gạo thấp

- Về bảo quản lúa: hiện nay, nông dân

chưa quan tâm đúng mức đến việc tồn trữ và

bảo quản lúa lâu dài Ngay sau thu hoạch, họ

bán ngay lúa tươi hoặc lúa khô cho thương

lái Rất ít nông dân có chiến lược trữ lúa, chờ

bán giá cao sau khi hết vụ thu hoạch Theo

sở NN và PTNN tỉnh Kiên Giang, có đến

khoảng trên 50% nông dân bán ngay lúa tươi

sau khi thu hoạch với sản lượng trên 40%,

phần còn lại được phơi khô dự trữ để ăn và

bán cho thương lái Thông thường trong 100%

lượng lúa thu hoạch, nông dân để lại 2- 4%

sản lượng lúa làm giống và 14 - 16% dành

để ăn và việc bảo quản lúa chủ yếu là đóng bao rồi chất đống trong nhà (sở NN và PTNN Kiên Giang, 2010) Những lý do khiến nông dân không quan tâm đến việc tồn trữ lúa lâu dài là: (1) Nông dân thường bán lúa tươi sau khi thu hoạch vì họ cần tiền tiêu xài, trả nợ vật tư đồng thời do thiếu sân phơi, chi phí vận chuyển về nhà cao (2) hầu hết nông dân trồng lúa 2 - 3 vụ/năm, nên họ thường không cần phải tồn trữ lâu vì sẽ có lúa thu hoạch vụ

kế tiếp (3) Đặc biệt ở vụ hè Thu và Thu Đông lúa thường ẩm ướt, kém chất lượng nên nông dân không tồn trữ lâu, chỉ để lại một phần vừa

đủ để sử dụng cho gia đình và phần còn lại bán ngay sau khi thu hoạch

Tóm lại, sản xuất lúa của tỉnh Kiên Giang trong những năm gần đây có những bước phát triển đáng khích lệ, đóng góp quan trọng cho

an ninh lương thực quốc gia Mặc dù vậy, tổn thất trong và sau thu hoạch của tỉnh cũng như ĐBsCL còn cao (13,7%) (MDI, 2010) Theo tính toán sơ bộ, nếu giá lúa trung bình của mỗi

ký là 5.000 đồng, thì tổn thất sau thu hoạch bình quân hàng năm của tỉnh trong giai đoạn

2006 - 2011 lên đến 2.275 tỷ đồng (5.000.000 đ/tấn x 3.320.778 tấn lúa / năm x 13,7%) Cùng với một số yếu tố kể trên góp phần làm cho tương lai của nền sản xuất lúa tỉnh Kiên Giang chưa được bền vững nếu như không được quan tâm đúng mức

3.1.3 Thu mua

Như đã trình bày trong sơ đồ chuỗi và kênh thị trường, có đến 92,1% sản lượng lúa của nông dân được thương lái mua và vận chuyển đến các nhà máy chế biến, sau đó giao lại cho các công ty kinh doanh xuất khẩu Thương lái

có vai trò rất quan trọng trong việc thu mua lúa gạo cho nông dân (đặc biệt nông dân ở những vùng sâu, vùng xa), đồng thời giúp

Trang 7

các doanh nghiệp ổn định sản lượng sản xuất

Không có thương lái, các doanh nghiệp rất

khó có đủ nguyên liệu đầu vào do bản thân

doanh nghiệp chưa thể ký hợp đồng trực tiếp

tiêu thụ nông sản cho nông dân theo cơ chế

hiện nay, còn nông dân thì chỉ muốn bán cho

các thương lái vì việc mua bán với thương lái

dễ dàng dàng hơn Vì thế, thương lái hiện nay

được coi là cánh tay nối dài của các công ty

xuất khẩu Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây cần

phải có những giải pháp khắc phục những hạn

chế trong mối liên kết này nhằm góp phần tạo

sự ổn định, bền vững trong tiêu thụ, giữ giá lúa

ở mức cao có lãi cho nông dân, nhất là ở thời

điểm thu hoạch rộ sản lượng nhiều

3.1.4 Khâu chế biến:

- Về năng lực chế biến gạo: Năm 2013

toàn tỉnh có 736 cơ sở xay xát gạo với tổng

công suất 3,18 triệu tấn/năm; có trên 92 dây

chuyền lau bóng gạo với tổng công suất

khoảng 1,95 triệu tấn/năm Trong đó có đến

71% nhà máy qui mô nhỏ (< 1 tấn/h); 27%

nhà máy qui mô vừa (< 4 tấn/h) và số lượng cơ

sở nhà máy xay xát qui mô lớn (> 4 tấn/h) chỉ

chiếm khoảng 2%; hiệu suất sử dụng các nhà

máy chế biến chiếm khoảng 70% công suất

thiết kế (sở Công thương tỉnh Kiên Giang,

2012b) Các cơ sở xay xát này nằm rải rác

trên địa bàn rất rộng, vừa phục vụ nhu cầu xay

lúa ăn của người dân, vừa xay xát lúa cho các

thương lái hàng xáo để bán gạo nguyên liệu

cho các cơ sở chế biến gạo xuất khẩu Như

vậy so với sản lượng lúa thu hoạch năm 2012

tại tỉnh Kiên Giang là 4,29 triệu tấn, năng lực

xay xát của các nhà máy chế biến chỉ đáp ứng

khoảng 74,07% sản lượng lúa thu hoạch năm

2012 của toàn tỉnh

Theo kết quả điều tra, công nghệ thiết bị

sử dụng của các nhà máy chế biến chủ yếu là

sản xuất trong nước chiếm 79,9%, phần còn lại sử dụng thiết bị của nước ngoài Các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư mới các dây chuyền xay xát và lau bóng gạo của các thương hiệu nổi tiếng hiện nay của Việt Nam như: sinco, Bùi Văn Ngọ, Lamico, Mai Xuân , với công nghệ tiên tiến hiện đại (bốc trấu bằng Rulo cao

su và chà gạo lặp nhiều lần bằng thanh trượt, giúp hạn chế tỷ lệ gạo gãy, gạo thành phẩm được đánh bóng kỹ và ít lẫn tạp chất) thay thế công nghệ cũ (bốc trấu và chà trắng bằng cối

đá, vốn có nhược điểm lớn là tỷ lệ gạo gãy cao, thành phẩm bị lẫn vụn đá từ cối xay) Do

đó, trong các năm qua tỷ lệ gạo cao cấp xuất khẩu (gạo 5% - 10% tấm) đã được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, việc cải tiến kỹ thuật mới chỉ tập trung vào các nhà máy chế biến có quy

mô lớn và giới hạn ở khâu xay xát, chứ chưa được chú trọng đồng bộ ở các khâu liên hoàn khác như phơi sấy, làm sạch tạp chất trước khi xay, vận chuyển, bảo quản nên năng suất

và chất lượng gạo qua hệ thống xay xát còn chưa cao (so với Thái Lan hầu như chưa chế biến được loại thành phẩm gạo nguyên 100%) Đồng thời, việc đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến chưa gắn với nguồn nguyên liệu, làm giảm hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển chưa ổn định, thiếu bền vững

- Về hệ thống tồn trữ lúa gạo của doanh nghiệp: hiện nay, hệ thống kho để bảo quản

và tồn trữ lúa gạo ở tỉnh Kiên Giang còn rất thiếu, tính đến tháng 12/2013 tỉnh Kiên Giang

có tổng số là 28 kho dự trữ lúa gạo chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo với tổng sức chứa là 413.500 tấn được phân

bố ở các huyện Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Tân hiệp, hòn Đất và TP Rạch Giá (sở Công thương tỉnh Kiên Giang, 2013) Như vậy,

so với lượng gạo xuất khẩu hàng năm của tỉnh, thì hiện nay các kho chứa của doanh nghiệp

Trang 8

chỉ đáp ứng khoảng 41,35%, do đó không đảm

bảo hiệu suất sử dụng cho các dây chuyền chế

biến gạo và nhu cầu tồn trữ lớn để xuất khẩu

Bên cạnh đó, do các kho trên được xây dựng

từ rất lâu với công nghệ lạc hậu nên cho đến

nay còn rất ít kho giữ được chất lượng gạo tốt

cho xuất khẩu

Tóm lại, khâu chế biến gạo xuất khẩu tỉnh

Kiên Giang còn nhiều hạn chế Theo kết quả

điều tra của Viện công nghệ sau thu hoạch

năm 2009, khâu chế biến và bảo quản gạo của

ĐBsCL chiếm tỷ lệ 7,3 - 8,9% trong tổng tỷ

lệ tổn thất bình quân 13,9 - 16% (MDI, 2010)

Tại Kiên Giang, chế biến và bảo quản là hai

khâu tổn thất lớn nhất chiếm 68 - 70% tổng

số tổn thất (sở Công thương tỉnh Kiên Giang,

2012), điều đó có nghĩa chúng ta đã và đang

bị thất thoát một số lượng lúa gạo đáng kể

Trong khi đó các nước tiên tiến như Thái lan

thì đây là những khâu được đầu tư nhiều nhất

với các trang thiết bị hiện đại (tỷ lệ hao hụt

chiếm khoảng 3,9 - 5,6%) ,vì vậy chất lượng

gạo xuất khẩu của họ luôn chiếm ưu thế trên

thị trường gạo thế giới

3.1.5 Marketing và bán hàng

- Về cơ cấu chất lượng gạo xuất khẩu:

Trong giai đoạn 2006 - 2013, bình quân tỷ

trọng gạo chất lượng cao chiếm 53%, gạo cấp trung bình chiếm 18% và số còn lại chiếm 29% Tuy nhiên, về xu hướng thì tỷ trọng gạo cấp cao có chiều hướng chững lại, gạo cấp trung bình có chiều hướng giảm và gạo cấp thấp lại tăng dần Tình hình này do xu hướng thị trường trong những năm gần đây, nhu cầu gạo từ các nước Châu Á và Châu Phi tăng rất mạnh, mà đặc điểm của thị trường này ít tiêu dùng gạo cao cấp, mà nhập khẩu gạo phẩm cấp thấp đến trung bình là chủ yếu Bên cạnh

đó, trong thời gian qua tỉnh Kiên Giang xuất khẩu phần lớn là gạo trắng hạt dài (độ dài hạt

từ 6,2 đến dưới 6,5 mm) tỷ lệ tấm từ 5% đến 25% sản phẩm chưa đa dạng về quy cách, không có loại gạo nào nổi bật về phẩm chất thể biểu hiện nét độc đáo riêng của gạo Kiên Giang trên thị trường quốc tế Đồng thời, các nhà xuất khẩu thường không bảo đảm độ đồng nhất về quy cách, chất lượng ngay trong từng

lô gạo xuất khẩu làm cho chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam nói chung hay Kiên Giang nói riêng luôn bị đánh giá là thấp

- Về giá cả xuất khẩu: trong giai đoạn

2006 - 2013 giá xuất tăng bình quân hàng năm

30 UsD/tấn (so với giá xuất khẩu bình quân

cả nước vẫn thấp hơn khoảng 25 UsD/tấn)

sở dĩ có sự chênh lệch như vậy, ngoài nguyên

Hình 5: Giá gạo xuất khẩu bình quân Kiên Giang so với cả nước 2006-2013

0 100

200

300

400

500

600

700

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

Kiên Giang

Cả nước

Trang 9

nhân chính là chất lượng thấp và không đồng

đều, còn một số nguyên nhân khác nữa như uy

tín của trên thị trường chưa cao, cơ sở hạ tầng

phục vụ xuất khẩu gạo còn hạn chế Mặt khác,

biên độ dao động giá gạo trên thị trường thế

giới rất rộng Theo số liệu của hiệp hội Lương

thực Việt Nam, giá gạo 5% tấm tối đa bình

quân năm 2012 (398 UsD/tấn) cao gấp 1,11

giá tối thiểu (360 UsD/tấn), cho thấy biên độ

biến động giá gạo xuất khẩu trong năm là khá

cao, làm ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu

- Về mạng lưới phân phối: gạo xuất khẩu

của tỉnh tập trung vào 6 doanh nghiệp là đầu

mối xuất khẩu trực tiếp đó là Kigimex, KTC,

Kigifac, Kigitraco, Kiên An Phú và Thuận

Phát Đồng thời, 6 đơn vị đầu mối xuất khẩu

này cũng tham gia kinh doanh gạo với hình

thức cung ứng hoặc xuất khẩu ủy Các đơn vị

kinh doanh xuất khẩu gạo này có qui mô rất

lớn, cơ sở vật chất - kỹ thuật mạnh và có đủ

năng lực để tiêu thụ và xuất khẩu hết lượng

lúa hàng hóa hàng năm của tỉnh Bên cạnh đó,

tỉnh còn có 1 mạng lưới doanh nghiệp tư nhân

là vệ tinh cung ứng gạo cho các đơn vị xuất

khẩu gạo Tất cả tạo thành một mạng lưới lưu

thông lúa gạo rộng khắp và đan xen với nhau,

có khả năng cung ứng gạo không những cho

nhu cầu xuất khẩu trong tỉnh mà còn cho các

tỉnh khác trong khu vực Tuy nhiên, vấn đề đặt

ra ở đây là công tác tổ chức phân phối nguồn

gạo xuất khẩu của doanh nghiệp nhà nước

Các doanh nghiệp này thường bị động trong

việc huy động nguồn hàng cho xuất khẩu do:

thiếu vốn dự trữ, chờ nhận được L/C hoặc tàu

sắp sửa nhận hàng mới mua gạo, nhiều khi

gây ra cảnh ùn tắc tàu ở cảng do giao hàng

không kịp và để tránh bị phạt tàu các nhà xuất

khẩu lại tranh mua với nhau, tạo áp lực tăng

giá trên thị trường nội địa mà chất lượng gạo

đôi khi không được bảo đảm Thậm chí có lúc

giá gạo trên thị trường thế giới đã giảm mà giá gạo cung ứng xuất khẩu trên thị trường nội địa vẫn chưa giảm, gây khó khăn lớn cho việc huy động nguồn hàng

- Thị trường gạo xuất khẩu: Trong tình

hình chung về thị trường xuất khẩu gạo của cả nước, gạo xuất khẩu của Kiên Giang cũng chủ yếu được xuất khẩu đến các nước Châu Á, kế đến là Châu Phi Tỷ trọng gạo xuất khẩu sang các nước trong khu vực Châu Á (tập trung là Đông Nam Á) chiếm bình quân hàng năm trên 55%, đặc biệt năm 2007 tỷ trọng này lên đến 60% do mất mùa nặng nên các nước tăng cường nhập khẩu, nhất là Philipines và Indonesia Thị trường Châu Phi cũng là 1 thị trường khá lớn, thường xuyên duy trì với tỷ trọng dao động trong khoảng từ 40% đến 50 % tùy năm Đây

là một thị trường đầy tiềm năng, nhưng hiện tại chưa xuất khẩu trực tiếp mà phần lớn phải xuất khẩu qua các công ty trung gian ở Châu Âu và singapore Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải chấp nhận mất đi một phần lợi nhuận, nền kinh tế chịu thiệt một khoảng thu không nhỏ Mặt khác, xuất khẩu qua trung gian nên rất ít khi đàm phán được hợp đồng theo điều kiện CIF hoặc CFR, mà chủ yếu là xuất theo điều kiện FOB dẫn đến nền kinh tế của tỉnh mất

đi những lợi ích đáng kể từ các dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm Đối với các thị trường còn lại như Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và Trung Đông chiếm tỷ trọng không đáng kể và

có xu hướng giảm dần do chính sách rào cản của các quốc gia này và tiêu chuẩn chất lượng gạo của tỉnh chưa thỏa mãn được nhu cầu của thị trường này Do cơ cấu thị trường như vậy, Kiên Giang chưa thể xuất khẩu nhiều loại gạo chất lượng cao dẫn đến hiệu quả phát triển xuất khẩu gạo phần nào bị hạn chế

- Về chính sách xúc tiến: Trong thời gian

qua hoạt động xúc tiến trong lĩnh vực xuất

Trang 10

khẩu gạo chưa thật sự phát triển Các hoạt

động xúc tiến hiện nay thường là tham dự hội

chợ, tham gia các đoàn Chính phủ đàm phán

song phương, chưa có chương trình xúc tiến

riêng cho gạo Vai trò của các tham tán chưa

phát huy được là cầu nối của thị trường gạo

xuất khẩu của Việt Nam nói chung và Kiên

Giang nói riêng với các nhà nhập khẩu Bên

cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở

tỉnh Kiên Giang chưa chủ động trong khâu

tiếp thị và còn nhiều hạn chế trong việc nghiên

cứu, phát triển thị trường Một thực tiễn khá

phổ biến là phần lớn các quan hệ giao dịch

diễn ra do khách hàng tự tìm đến hoặc qua

môi giới trung gian, giao dịch đàm phán chủ

yếu thông qua phương tiện truyền thông, rất

ít khi các doanh nghiệp chủ động sang nước

ngoài nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách

hàng để giao dịch bán hàng, lại không có

điều kiện trực tiếp tham gia đấu thầu giành

hợp đồng ở các nước nhập khẩu gạo Một số

ít doanh nghiệp giao dịch bán trực tiếp được cho các nước nhập khẩu, nhưng số lượng nhỏ, không ổn định, còn lại hầu hết các hợp đồng xuất khẩu gạo bán cho các công ty trung gian

ở Châu Âu, singapore, hồng Kông

- sản lượng và kim ngạch gạo xuất khẩu:

Tổng sản lượng gạo xuất khẩu của tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn 2006 - 2013 là 6.656.406 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong giai đoan này là 11,27% Đặc biệt, năm 2009 sản lượng xuất khẩu gạo Kiên Giang tăng mạnh so với năm 2008 (từ 780.700 tấn lên đến 1.007.269 tấn, tốc độ tăng trưởng 29,02%) đạt mức kỷ lục từ trước đến nay Nguyên nhân là do trong vòng vài năm nay, Kiên Giang đã tăng thêm đầu mối xuất khẩu, sản lượng lúa hàng hóa cũng gia tăng đáng kể, chất lượng lúa gạo của Kiên Giang cũng từng bước khẳng định trong lòng tin khách hàng và giúp Kiên Giang trở thành một trong những tỉnh xuất khẩu gạo đứng đầu của cả nước

Bảng 4: Sản lượng, kim ngạch và giá gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang 2006 - 2013

(Tấn)

Kim ngạch (Ngàn USD) Giá bình quân (USD/tấn)

Cùng với việc gia tăng sản lượng gạo xuất

khẩu, kim ngạch xuất khẩu cũng tăng lên mỗi

năm, mang về cho tỉnh một lượng ngoại tệ đáng

kể Trong giai đoạn năm 2006 -2008, kim ngạch

của tỉnh tăng từ 153,280 - 388,926 triệu UsD

Riêng năm 2009, mặc dù sản lượng tăng 28%,

nhưng kim ngạch xuất khẩu lại giảm 6% do giá xuất khẩu bình quân năm 2009 giảm mạnh 130,8 UsD/tấn so với năm trước Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt cao nhất trong vòng 6 năm qua 445 triệu UsD với giá bình quân cao (461,66UsD/tấn ) do Thái Lan công bố chính

Ngày đăng: 29/06/2015, 11:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kim ngạch XK gạo tỉnh Kiên Giang so với cả nước 2006 -2013 - Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang
Bảng 2 Kim ngạch XK gạo tỉnh Kiên Giang so với cả nước 2006 -2013 (Trang 2)
Bảng 1: Sản lượng XK gạo tỉnh Kiên Giang so với cả nước 2006 -2013 - Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang
Bảng 1 Sản lượng XK gạo tỉnh Kiên Giang so với cả nước 2006 -2013 (Trang 2)
Hình 3: Cơ cấu giống lúa tỉnh Kiên Giang năm 2013 - Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang
Hình 3 Cơ cấu giống lúa tỉnh Kiên Giang năm 2013 (Trang 4)
Bảng 3: Hiệu suất sử dụng và tỷ lệ thất thoát phân hóa học - Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang
Bảng 3 Hiệu suất sử dụng và tỷ lệ thất thoát phân hóa học (Trang 4)
Hình 4: Sản lượng lúa chất lượng cao và sản lượng lúa cả năm 2006 -2013 - Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang
Hình 4 Sản lượng lúa chất lượng cao và sản lượng lúa cả năm 2006 -2013 (Trang 5)
Hình 5: Giá gạo xuất khẩu bình quân Kiên Giang so với cả nước 2006-2013 - Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang
Hình 5 Giá gạo xuất khẩu bình quân Kiên Giang so với cả nước 2006-2013 (Trang 8)
Bảng 4: Sản lượng, kim ngạch và giá gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang 2006 - 2013 - Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang
Bảng 4 Sản lượng, kim ngạch và giá gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang 2006 - 2013 (Trang 10)
Hình 6: Mô hình hợp tác dọc và ngang trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang - Xây dựng mô hình hợp tác và cơ chế thực hiện trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang
Hình 6 Mô hình hợp tác dọc và ngang trong chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w