1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kinh nghiệm của hàn quốc trong việc sử dụng chính sách tín dụng

108 561 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Kinh Nghiệm Của Hàn Quốc Trong Việc Sử Dụng Chính Sách Tín Dụng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận án thạc sỹ
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 434 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn về nghiên cứu kinh nghiệm của hàn quốc trong việc sử dụng chính sách tín dụng

Trang 1

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ một nớc có cơ sở kinh tế yếu kém, tích luỹ t bản và trình độ kỹ thuậtrất thấp, trải qua vài thập niên bằng con đờng công nghiệp hoá, Hàn Quốc đãtrở thành một trong những quốc gia mạnh, có trình độ phát triển cao ở vùng

Đông á Hàn Quốc có thể đạt đợc những thành tựu to lớn trong sự phát triểnkinh tế chính một phần lớn là nhờ những thành công của chính sách côngnghiệp hoá

Để thực hiện chiến lợc tăng trởng dựa vào công nghiệp và hớng ngoại,chính phủ Hàn Quốc đã sử dụng các công cụ chính sách nh chính sách tíndụng, chính sách thuế, chính sách tỷ giá hối đoái, v.v Các chính sách này,

đặc biệt là chính sách tín dụng, đã có những tác dụng tích cực đến sự tăng ởng kinh tế, nhng đồng thời cũng gây những ảnh hởng xấu đến nền kinh tế đaHàn Quốc đến cuộc khủng hoảng tài chính và sau đó là khủng hoảng kinh tếcuối năm 1997

Vì vậy, nghiên cứu chính sách tín dụng của Hàn Quốc và tác dụngcủa nó đến việc xúc tiến công nghiệp hoá và sự tăng trởng kinh tế trong giai

đoạn đầu của sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc là vấn đề có ý nghĩa trên cảhai phơng diện lý luận và thực tiễn không chỉ đối với Hàn Quốc mà còn đốivới tất cả các nớc kém phát triển cần phải tiến hành công nghiệp hoá để pháttriển kinh tế trong đó có Việt Nam.Việt Nam bắt đầu tiến hành công nghiệphoá trong những điều kiện có nhiều điểm tơng đồng với Hàn Quốc nh cùngmột điểm xuất phát, sự thiếu hụt về nguồn vốn Việt nam đang rất cần học hỏicác kinh nghiệm từ bên ngoài đặc biệt là từ những nớc có hoàn cảnh giốngmình nh Hàn Quốc để phục vụ cho việc thực hiện công nghiệp hoá thành công

ở Việt Nam Nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc sử dụng chínhsách tín dụng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá nhằm rút ra những bàihọc có ý nghĩa đối với Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá là cần thiết

Do vậy, chúng tôi chọn đề tài này để làm luận án thạc sỹ kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

ở Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, cùng với việc thành lập Bannghiên cứu Hàn Quốc thuộc Trung tâm Khoa học và Nhân văn Quốc gia, một

số vấn đề về kinh tế Hàn Quốc nh chính sách xuất khẩu, chính sách công

Trang 2

nghiệp hoá, chơng trình cải tổ nền kinh tế Hàn Quốc sau khủng hoảng kinh tế

1997 đã đợc một số tác giả quan tâm nghiên cứu

Vấn đề chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệphoá cũng đã đợc một số học giả của Viện Kinh tế thế giới nghiên cứu và công

bố trên một số tạp chí kinh tế Nhng cho đến nay, ở Việt Nam, cha có mộtcông trình nào đề cập một cách có hệ thống về chính sách tín dụng của chínhphủ Hàn Quốc trong những giai đoạn cụ thể của tiến trình công nghiệp hoá vànhững tác dụng tích cực cũng nh những hạn chế của nó đối với sự nghiệp côngnghiệp hoá và tăng trởng kinh tế của Hàn Quốc để từ đó rút ra những bài họckinh nghiệm có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam

Tại Hàn Quốc, chính sách tín dụng và sự nghiệp công nghiệp hoá của HànQuốc đã đợc một số học giả thuộc Viện phát triển Hàn Quốc nh Yoon Je Cho

và Joon Kyung Kim nghiên cứu Đặc biệt, từ sau khủng hoảng kinh tế năm

1997, khi sự can thiệp sâu của chính phủ vào lĩnh vực tài chính và công ty đợcxem là những nguyên nhân của khủng hoảng thì vấn đề này cũng đợc nhiềuhọc giả bàn đến trên những góc độ khác nhau trong những công trình nghiêncứu về nguyên nhân của khủng hoảng và các chính sách cải tổ kinh tế củachính phủ Hàn Quốc Tuy nhiên, nghiên cứu chính sách tín dụng của HànQuốc trong sự nghiệp công nghiệp hoá để từ đó rút ra những bài học cụ thể vaitrò của nhà nớc trong việc huy động và sử dụng nguồn lực cho tiến trình côngnghiệp hoá ở Việt nam thì cũng cha cũng đợc các tác giả Hàn Quốc quan tâmnghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài.

- Luận giải trên phơng diện lý luận và thực tiễn về sự cần thiết khách quancủa những can thiệp của chính phủ thông qua chính sách tín dụng đối vớiquá trình thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá ở Hàn Quốc

- Nghiên cứu thực chất của chính sách tín dụng của chính phủ Hàn Quốctrong thời kỳ công nghiệp hoá và phân tích các tác động của nó đối vớiviệc xúc tiến công nghiệp hoá và tăng trởng kinh tế của Hàn Quốc

- Trên cơ sở đánh giá chung về chính sách tín dụng của chính phủ Hàn Quốctrong thời kỳ công nghiệp hoá rút ra những bài học cho Việt Nam trongtiến trình công nghiệp hoá

Trang 3

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

Luận văn nghiên cứu chính sách tín dụng của chính phủ Hàn Quốc đối vớicác tổ chức kinh doanh thuộc khu vực t nhân của Hàn Quốc đặc biệt là đối vớicác tập đoàn kinh doanh có quy mô lớn đợc lựa chọn là các công ty trọng

điểm thực hiện chơng trình phát triển các ngành công nghiệp mục tiêu trongtiến trình công nghiệp hoá

- Khẳng định sự cần thiết khách quan và vai trò quan trọng của chính phủ

đối với việc tạo nguồn lực và thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá trong giai

đoạn đầu của sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc

- Luận giải vai trò của chính sách tín dụng nh là một công cụ có hiệu quả

mà chính phủ có thể sử dụng phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu côngnghiệp hoá và tăng trởng kinh tế

- Làm rõ thực chất của chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong thời kỳ côngnghiệp hoá và những tác động tích cực cũng nh những hậu quả xấu của nó

đôí với quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc

- Tổng kết những bài học mà Việt Nam có thể học hỏi đợc từ kinh nghiệmcủa Hàn Quốc nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện

đại hoá

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chơng:

Trang 4

- Ch¬ng 1: C¬ së lý luËn vµ thùc tiÔn chÝnh s¸ch tÝn dông cña Hµn Quèc

trong thêi kú c«ng nghiÖp ho¸

- Ch¬ng 2: Ph©n tÝch thùc tr¹ng chÝnh s¸ch tÝn dông cña Hµn Quèc trong

thêi kú c«ng nghiÖp ho¸

- Ch¬ng 3: ChÝnh s¸ch tÝn dông cña ViÖt Nam trong thêi kú c«ng nghiÖp

ho¸ vµ kh¶ n¨ng ¸p dông kinh nghiÖm cña Hµn Quèc

Trang 5

1.1.1 Khái niệm tín dụng và chính sách tín dụng.

Tín dụng là quan hệ chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị (dới hìnhthức tiền tệ hay hiện vật) từ ngời sở hữu sang ngời sử dụng để sau một thờigian nhất định ngời sở hữu thu hồi về một lợng giá trị lớn hơn lợng giá trị ban

đầu Thực chất, tín dụng là quan hệ vay mợn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tởngrằng lợng vốn cho vay sẽ đợc hoàn trả lại trong tơng lai cùng với chi phí củakhoản tín dụng đó Tín dụng theo nghĩa rộng bao gồm hai mặt là huy độngvốn và cho vay vốn

Nguyên nhân khách quan của sự tồn tại và phát triển quan hệ tín dụng

là mâu thuẫn vốn có của quá trình tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuấtxã hội Đó là, tại cùng một thời điểm, có chủ thể kinh tế tạm thời d thừa mộtkhoản vốn tiền tệ trong khi các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu cần bổsung vốn Nếu tình trạng này không đợc giải quyết thì quá trình sản xuất cóthể bị ngng trệ ở chủ thể này trong khi vốn lại đang nằm im không đợc sửdụng ở một chủ thể khác Kết quả là nguồn lực của xã hội không đợc sử dụngmột cách có hiệu quả nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liêntục Tín dụng thực chất là chiếc cầu nối liền nhu cầu tiết kiệm với nhu cầu đầu

Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tín dụng đã trải qua mộtquá trình phát triển từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng, từ đơn giản đến phứctạp về kĩ thuật và nghiệp vụ Các hình thức tín dụng cũng ngày càng phongphú hơn Căn cứ vào thời hạn tín dụng, ngời ta chia tín dụng ra thành ba loại,

Trang 6

đó là: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn Căn cứ vàotính chất luân chuyển vốn, tín dụng gồm hai loại là tín dụng trực tiếp và tíndụng gián tiếp Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng, ta có tín dụng sảnxuất và lu thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng, v.v…

Trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, nguồn cung cấp tín dụng chính làcác tổ chức kinh doanh và các cá nhân trong đó tín dụng do các ngân hàngcung cấp là phổ biến

Khái niệm chính sách tín dụng

Thực chất chính sách tín dụng là cung ứng vốn và phơng tiện thanhtoán cho các tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thông qua các nghiệp vụtín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay đợc tạo lập từ các nguồn tiềngửi của xã hội và một hệ thống lãi suất mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với sựvận động của cơ chế thị trờng

Nội dung cơ bản của chính sách tín dụng bao gồm các vấn đề có liênquan đến việc cấp tín dụng nh: quy mô của các khoản cho vay, mức lãi xuất

và, kỳ hạn cho vay, các yêu cầu đảm bảo cho các khoản vay, phạm vi cho vay,

và một số nội dung khác

Chính sách tín dụng đợc xây dựng trên những cơ sở sau:

- Nhu cầu tín dụng của khách hàng, khả năng sinh lời và rủi ro tiềmnăng của hoạt động kinh doanh của họ

- Kết quả phân tích những xu hớng trong quá khứ và dự đoán tơnglai của các rủi ro tín dụng

- Các chính sách khác của chính phủ nh chính sách tỷ giá, chínhsách phát triển hệ thống tài chính v.v cũng là những yếu tố ảnh hởng đếnchính sách tín dụng

1.1.2 Vai trò của chính sách tín dụng

* Chính sách tín dụng đóng vai trò to lớn trong tiến trình

thực hiện công nghiệp hoá thông qua tạo nguồn vốn đầu t cho công nghiệp hoá

Công cuộc công nghiệp hoá đòi hỏi phải đầu t một khối lợng vốn

lớn cho việc phát triển nguồn nhân lực, phát triển các ngành công nghiệp mới Nếu chỉ dựa trên nguồn vốn tự có mà không sử dụng tín dụng, các tổ chứckinh doanh sẽ không có khả năng đáp ứng yêu cầu về quy mô vốn để tham giavào các ngành công nghiệp mới, mở rộng quy mô của hoạt động kinh doanh,

Trang 7

đáp ứng những yêu cầu của công nghiệp hoá Nhờ sử dụng các nguồn cungcấp tín dụng các tổ chức kinh doanh có đủ vốn để đầu t vào các ngành đòi hỏiquy mô vốn lớn theo yêu cầu của công nghiệp hoá, tạo ra khả năng cạnhtranh cao

* Chính sách tín dụng là công cụ đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế

Một quốc gia không thể tăng trởng kinh tế nếu hệ số mức đầu t (hệ sốICOR) cần có không đạt mức hợp lý Nguồn vốn đầu t gắn liền với hệ sốICOR bao gồm nguồn tích luỹ trong nớc, nguốn vốn từ nớc ngoài với cáchình thức viện trợ, tín dụng và đầu t trực tiếp Việc huy động các nguồn vốnnày gắn liền với chính sách tín dụng của chính phủ

* Chính sách tín dụng góp phần giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn trong tất cả các thành phần kinh tế thông qua “đi

vay để cho vay”

* Chính sách tín dụng còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng giao lu kinh tế quốc tế.

Hoạt động tín dụng sẽ cung cấp vốn cho các nhà đầu t kinh doanh xuất

nhập khẩu, từ đó, tạo điều kiện để các tổ chức kinh doanh tham gia vào thị tr ờng quốc tế

-* Chính sách tín dụng đợc sử dụng nh là một công cụ điều chỉnh nền kinh tế thị trờng ở tầm vĩ mô của nhà nớc

Thông qua hoạt động tín dụng làm biến đổi nhiều hoạt động sản xuấtkinh doanh phục vụ của các chủ thể kinh tế theo hớng tối u, góp phần làm chochu kì hoạt động của tiền tệ rút ngắn về thời gian, nâng cao vòng quay củatiền tệ Bằng cách đó tín dụng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển sôi

động và cạnh tranh của kinh tế thị trờng

* Chính sách tín dụng có tác dụng chống lạm phát.

Thông qua tín dụng chính phủ có thể điều chỉnh sự chuyển động củanền kinh tế thị trờng khi quá nóng hoặc quá lạnh, tức là khi tăng trởng quámức hoặc khi suy thoái Thông qua hoạt động nhận gửi và cho vay; huy độngtiết kiệm dài hạn, huy động tiết kiệm đảm bảo giá trị bằng vàng, phát hànhcông trái, kì phiếu , chính sách tín dụng có tác dụng điều chỉnh trong cả hai tr-ờng hợp trên

Trang 8

1.2 Quan điểm về công nghiệp hoá của chính phủ Hàn Quốc và vai trò của chính sách tín dụng đối với công nghiệp hoá

1.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Hàn Quốc thời điểm sau chiến tranh.

Triều Tiên đã bị Nhật Bản xâm chiếm từ năm 1910 đến 1945 và đã bịchia cắt thành miền Nam và miền Bắc từ sau chiến tranh thế giới thứ hai PhíaBắc Triều Tiên cũ trở thành Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và phiáNam trở thành Hàn Quốc

Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (năm 1950-1953), nền kinh tế HànQuốc ở mức độ phát triển thấp và Hàn Quốc là một trong những quốc gianghèo nhất trên thế giới Các cơ sở công nghiệp của đất nớc đợc xây dựngtrong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng đã bị phá hủy gần hết Là nớc nông nghiệpvới 2/3 dân số trong độ tuổi lao động sống bằng nghề nông nên trình độ kỹthuật của Hàn Quốc là rất thấp Mặc dù vậy, so với một số quốc gia khác nhMalaixia và Indônêxia thì Hàn Quốc đã tích luỹ đợc nhiều kinh nghiệm hơntrong một số ngành công nghiệp nh công nghiệp chế tạo do đã trải qua thời kỳphát triển công nghiệp khi còn là thuộc địa của Nhật Bản

Nền kinh tế nằm trong tình trạng lạm phát kinh niên và không có khảnăng đáp ứng những nhu cầu cơ bản của ngời tiêu dùng Quy mô của thị trờngnội địa là nhỏ bé Dân số tăng nhanh chóng, tốc độ đô thị hoá ồ ạt và nạn thấtnghiệp càng làm trầm trọng thêm các vấn đề kinh tế - xã hội sau chiến tranh

Ra khỏi cuộc chiến tranh, Hàn Quốc hoàn toàn không có tích luỹ nên

đã rơi vào tình trạng khan hiếm vốn nghiêm trọng Nền kinh tế ở giai đoạnnày phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ và các khoản vay tíndụng nớc ngoài chủ yếu là của Mỹ và Nhật Bản Trong thời kỳ chiến tranhlạnh, Hàn Quốc có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lợc đối với Mỹ trong cuộc

đối đầu với các lực lợng cộng sản nên Hàn Quốc đã nhận đợc những khoản

hỗ trợ không lồ của Mỹ Sau cuộc cải cách ruộng đất đầu những năm 50 vàviệc quy tụ tầng lớp nông dân có đất, đã xuất hiện thêm các doanh gia mới

Do thiếu nguồn vốn , các tổ chức kinh doanh ở Hàn Quốc trong thời kỳ này tàitrợ cho các hoạt động của mình chủ yếu bằng các khoản vay từ nớc ngoài và

từ các ngân hàng của nhà nớc

Trang 9

Mức thu nhập đầu ngời rất thấp, sự thay đổi giá cả bất thờng, mức độlạm phát cao của Hàn Quốc khiến cho hầu hết các nhà nghiên cứu về kinh tếHàn Quốc đều cho rằng giai đoạn này là thời kỳ ảm đạm nhất của nền kinh tếHàn Quốc Trong thời kỳ những năm 50, chính phủ Hàn Quốc - dới sự lãnh

đạo của tổng thống đầu tiên Rhee Syng Man - đã không có một chiến lợc pháttriển kinh tế toàn diện và chính sách kinh tế trong thời gian này đợc đặc trngbởi hàng loạt các giải pháp điều tiết thiếu mục đích rõ ràng của chính phủ.Thời kỳ này, chính phủ Hàn Quốc không có một ý tởng rõ ràng về phát triểnkinh tế và mục tiêu phát triển bị ảnh hởng bởi ý thức chính trị về việc xâydựng một quốc gia đợc bảo đảm bởi lực lợng quân sự Mỹ với những lời hứabảo vệ an toàn cho Hàn Quốc, ổn định lạm phát sau chiến tranh và tìm kiếmnhững hỗ trợ của Mỹ cho nền kinh tế bị phá huỷ sau chiến tranh

1.2.2 Quan điểm về công nghiệp hoá của chính phủ Hàn Quốc và các công cụ phát triển công nghiệp hoá

1.2.1.1 Quan điểm về công nghiệp hoá của chính phủ Hàn Quốc

* Công nghiệp hoá là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để phát

triển kinh tế.

Sau khi Park Chung Hee trở thành tổng thống đầu tiên do dân bầu,Hàn Quốc đã có những thay đổi lớn trong việc lựa chọn chiến lợc phát triểnkinh tế của quốc gia Đợc đào tạo tại Học viện quân sự của Nhật Bản, ôngPark Chung Hee đã chịu ảnh hởng rất lớn của Nhật Bản, coi Nhật Bản nh mộtkhuôn mẫu về sự phát triển kinh tế và mơ tởng đến việc xây dựng các ngànhcông nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp nặng ở Hàn Quốc

Chính phủ Park Chung Hee cho rằng sự giàu có của một quốc gia làmột nền công nghiệp vững mạnh và an ninh quốc gia Hàn Quốc là quốc gia

nghèo về tài nguyên, nền kinh tế dựa trên nông nghiệp là chủ yếu nên nếu muốn trở thành quốc gia giàu có thì cần thiết phải phát triển công nghiệp,

đặt công nghiệp hoá là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Sự phát triển kinh tế,

là phải gắn với công nghiệp hoá, thực hiện công nghiệp hoá để thoát khỏi sự nghèo đói.

Theo quan điểm của Park Chung Hee, an ninh quốc gia và phúc lợicủa xã hội tuỳ thuộc vào sự giàu có của quốc gia và sức mạnh của quân đội

Trang 10

Nếu sự phát triển của công nghiệp tạo ra sự giàu có của quốc gia thì đến lợtmình, sự giàu có của quốc gia sẽ là yếu tố đảm bảo cho an ninh của quốc gia.

* Nguồn vốn để phát triển công nghiệp đợc huy động chủ yếu từ các khoản vay nớc ngoài.

Trong suy nghĩ của ông Park, hình ảnh biên giới quốc gia và quanniệm “chúng ta đối lập ”với họ đã ăn sâu vào tâm khảm và điều này làm nảysinh thái độ baì ngoại và t tởng độc lập, không phụ thuộc của ngời Hàn Quốc.Tổng thống Park Chung Hee cũng cho rằng đầu t trực tiếp nớc ngoài không

có tác dụng gì đối với sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc ông ta cũng lo ngạirằng một khi đầu t nớc ngoài đợc khuyến khích thì sự kiểm soát của nớc ngoài

sẽ sâu hơn và tài sản của quốc gia sẽ bị di chuyển ra nớc ngoài Do đó, để tạo

nguồn tài chính cho sự phát triển kinh tế, chính quyền Park chủ trơng huy

động vốn chủ yếu là từ các khoản viện trợ của Mỹ và Nhật Bản và các khoản vay nợ nớc ngoài chứ không cho phép đầu t nớc ngoài trực tiếp

* Lựa chọn các doanh nghiệp có quy mô lớn thuộc khu vực kinh tế t nhân là ngời thực hiện chính sách phát triển công nghiệp

Theo quan điểm của Park, sự cạnh tranh quá mức sẽ xâm hại đến phúclợi quốc gia, vì vậy, chính quyền Park đã lựa chọn trớc ngời chiến thắng trongnhững ngành công nghiệp đặc biệt Đó chính là những tổ chức kinh doanhthuộc khu vực kinh tế t nhân có quy mô lớn

Để thực hiện công nghiệp hoá thành công, chính quyền Park cho rằng cần có các chính sách để khuyến khích khu vực kinh tế t nhân tham gia tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá Nếu không có sự tham gia của khu vực

này thì mục tiêu của công nghiệp hoá và mục tiêu tăng trởng kinh tế sẽ khóthành công Các nhà chính trị và các nhà hoạch định chính sách kinh tế của

Hàn Quốc đã lựa chọn công cụ tài chính nh là một công cụ chủ yếu để quản

lý các nhà công nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế t nhân Thông qua kiểm soát tài

chính mà bắt buộc họ phải phục vụ cho lợi ích của quốc gia

* Hy sinh tiêu dùng và phúc lợi xã hội để dành nguồn vốn cho công

ngiệp hoá

Có thể nói rằng chính sách kinh tế của chính quyền Park Chung Heenhằm bảo vệ ngời sản xuất chứ không bảo vệ cho lợi ích của ngời tiêu dùng.Trong điều kiện Hàn Quốc phải tập trung vốn để đầu t cho phát cho phát

triển triển công nghiệp và trả nợ các khoản vay nớc ngoài, tiết kiệm tiêu dùng

Trang 11

đợc xem là quốc sách Các phúc lợi xã hội cũng bị thu hẹp lại để tập trung

nguồn vốn vào phát triển công nghiệp

Các t tởng này về chính sách công nghiệp của tổng thống Park ChungHee đợc các tổng thống nh Chun Doo Whan, Roh Woo Tae, tiếp tục thựchiện trong những nhiệm kỳ tiếp theo

1.2.2.2 Quá trình tiến hoá của chính sách công nghiệp hoá của Hàn Quốc.

+ Công nghiệp hoá trên cơ sở định hớng xuất khẩu (thời

kỳ những năm 60)

Giai đoạn đầu của chính sách công nghiệp hoá của Hàn Quốc đợc

đặc trng bởi định hớng khuyến khích xuất khẩu từ năm 1962 đến 1971 khichính quyền Park thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và kế hoạh 5 năm lầnthứ 2

Thời kỳ đầu những năm 60, sau khi Tổng thống Park Chung Hee lênnắm quyền điều hành đất nớc, chính quyền Park đã nhấn mạnh rằng pháttriển kinh tế là u tiên hàng đầu để hiện đại hoá đất nớc Mục tiêu của giai đoạnnày là tạo ra sự tăng trởng kinh tế nhanh về số lợng trên cơ sở xây dựng vàphát triển các ngành công nghiệp cơ bản, xây dựng cơ sở cho các ngành côngnghiệp tự lực cánh sinh, thay thế nhập khẩu thiết bị và xuất khẩu các sản phẩmcông nghiệp nhẹ Lý do khiến chính quyền của Tổng thống Park lựa chọn địnhhớng đẩy mạnh xuất khẩu đó là quan điểm cho rằng một nớc đang phát triểntrong điều kiện thiếu nguồn lực nội tại, không có tích luỹ vốn ngoài lao động,sức mua trên thị trờng trong nớc rất nhỏ bé thì chỉ có thể tạo ra sản phẩm giátrị gia tăng bằng cách nhằm vào thị trờng ngời tiêu dùng ở các nớc phát triểnhay thực hiện định hớng hớng ngoại Tổng thống Park Chung Hee đã lập ra 2

kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm nhằm thực hiện công nghiệp hoá, góp phần

đa Hàn Quốc trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thếgiới

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, với chủ trơng thay thế nhập

khẩu, chính phủ tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống đờnggiao thông, thuỷ điện Đồng thời, các ngành công nghiệp nhẹ hớng về xuấtkhẩu nh dệt , may, da, giầy v v cũng đợc chú trọng phát triển mạnh nhằmtận dụng tối đa u thế lao động rẻ, chuẩn bị các cơ sở cho quá trình đẩy mạnh

Trang 12

xuất khẩu Bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất cũng là quá trìnhcông nghiệp hoá đợc thực hiện từ công nghiệp nhẹ Các lĩnh vực phát triển chủyếu trong công nghiệp là điện phân bón, sợi hoá học, sợi ny lông, lọc dầu vàximăng, trong đó sợi hoá học, lọc dầu phát triển thông qua liên doanh chủ yếu

là dựa vào vốn của Mỹ Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã đợc những thành tựu

đáng kể Tốc độ tăng trởng GNP bình quân năm 1962-1967 là 8,5% ( kếhoạch đề ra là 7,1%) trong đó tốc độ ngành khai khoáng và ngành côngnghiệp chế tạo tăng 14,2% Vào năm 1965, cơ cấu nông, lâm, ng nghiệptrong GNP chiếm 38,4%, ngành khai khoáng và chế tạo chiếm 19,8%

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1967-1971), chính phủ đặt ra mục tiêu

chủ yếu là hiện đại hoá cơ cấu công nghiệp hớng ngoại Chính sách thay thếnhập khẩu trong kế hoạch 5 năm đầu đợc thay bằng chủ trơng đẩy mạnh xuấtkhẩu trên cơ sở sử dụng nhiều lao động, có lợi thế cạnh tranh với nớc ngoài.Các ngành sợi nhân tạo, hoá dầu, thiết bị điện và các ngành công nghiệp nhẹ

nh vải, cao su, gỗ dán đợc coi là những ngành xuất khẩu chủ yếu

Trong giai đoạn này, chính phủ lấy mục tiêu tăng trởng xuất khẩu làmthớc đo cho mọi hoạt động kinh doanh Tốc độ tăng GNP bình quân năm thời

kỳ 1966-1971 là 9,7% trong đó tốc độ của của nghành chế tác 19,8%, tốc độxuất khẩu đạt cao trên 40% Kết thúc 2 kế hoạch 5 năm nền kinh tế Hàn Quốc

đã đạt đợc những kết quả đáng khích lệ Do biết tận dụng nguồn lao động dthừa, có kỹ năng và chi phí rẻ cho quá trình sản xuất các sản phẩm hớng vềxuất khẩu, Hàn quốc trong những năm 1960 đã khắc phục đợc sự thiếu thốnnghiêm trọng về mặt tài nguyên, vợt qua đợc những sức ép về giới hạn thị tr-ờng nhỏ bé trong nớc để hớng ra xuất khẩu, tạo động lực cho tăng trởng kinh

tế Giai đoạn từ 1962 đến 1971 đợc coi là một giai đoạn quan trọng nhất trongphát triển kinh tế hiện đại của Hàn Quốc bởi vì nó đạt đợc những tiến bộ quantrọng trong xây dựng và phát triển cơ sở công nghiệp, đạt đợc những thay đổicơ bản trong các chiến lợc phát triển của quốc gia thông qua cải cách chínhsách và thay đổi thể chế Tỷ lệ xuất khẩu trong GNP đã tăng từ 2,4% năm

1961 lên 6,8% vào năm 1966 và 11,2% vào năm 1971 Tốc độ tăng trởng xuấtkhẩu giai đoạn này đạt trên 40% Sự phát triển của các nhành công nghiệpphục vụ xuất khẩu kéo theo tỷ lệ việc làm tăng nhanh Quá trình đô thị hoá

đất nớc diễn ra nhanh chóng GNP đầu ngời đã tăng hơn gấp ba trong giai

đoạn 1962-1971( từ 87 USD lên 289 USD)

Trang 13

* Công nghiệp hoá trên cơ sở u tiên phát triển các ngành công nghiệp hoá chất và công nghiệp nặng (thời kỳ những năm 70)

Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, khi những hỗ trợcủa chính phủ đợc thực hiện trên cơ sở quy mô sản lợng xuất khẩu của cácngành công nghiệp thì hai ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chấtcũng đã nhận đợc những hố trợ của chính phủ trong khuôn khổ đóng góp củachúng vào sản lợng xuất khẩu Điều này có nghĩa là ở giai đoạn đầu của quátrình công nghiệp hoá, công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất (HCI) chỉ

có thể nhận đợc những hỗ trợ của chính phủ nếu chúng có đóng góp vào xuấtkhẩu Sự tập trung tạo động lực khuyến khích một số ít doanh nghiệp có quymô lớn của chính phủ tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của một số ngành nh sảnxuất thép, hoá dầu, đóng tàu, công nghiệp ôtô

Sự thay đổi căn bản trong chính sách công nghiệp của Hàn Quốc từ

khuyến khích xuất khẩu sang phát triển các ngành công nghiệp đợc xem lànhững ngành công nghiệp chiến lợc nh công nghiệp nặng và công nghiệp hoáchất đợc công bố vào tháng 1 năm 1972 Chính sách mới này đợc thực hiệntrong thời kỳ 1972-1979 Đây là sự thay đổi căn bản từ định hớng tăng trởngbằng xuất khẩu sang tập trung u tiên phát triển chỉ hai ngành công nghiệpnặng và công nghiệp hoá chất Có thể nói đây bớc thay đổi của cơ cấu côngnghiệp

Sự thay đổi về chính sách này đợc giải thích bởi nhiều lý do khác nhau

Đó là:

Thứ nhất nó liên quan đến những tác động từ phía bên ngoài nh

cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 Cú sốc dầu mỏ năm 1973-1974 đã tác

động mạnh và làm nền kinh tế Hàn Quốc bị khủng hoảng nghiêm trọng Kinh

tế Hàn Quốc phụ thuộc hoàn toàn vào dầu mỏ nhập khẩu từ thị trờng bênngoài Do vậy chính phủ Hàn Quốc đã quyết định chuyển hớng chiến lợc cảithiện cơ cấu ngành công nghiệp tập trung vào phát triển công nghiệp nặng vàhoá chất nhằm cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị cho các ngành công nghiệpmới, loại dần sự phụ thuộc vào nớc ngoài đối với ngành công nghiệp mới Tạithời điểm này, tình hình cạnh tranh trên thị trờng xuất khẩu quốc tế giữa cácnớc phát triển cũng trở nên ngày càng gay gắt

Trang 14

Khi Mỹ rút ra khỏi Đông Nam á, Hàn Quốc không còn đợc viện trợ u

đãi của Mỹ, công nghiệp Hàn Quốc lệ thuộc nhiều vào Nhật Bản Hàn Quốc

đang mất dần lợi thế cạnh tranh trong các ngành công nghiệp cần nhiều lao

động không kỹ năng nh giầy da, dệt, gỗ dán, do đó, cần phát triển chuyên sâucác ngành công nghiệp cần sự tinh xảo hơn, có giá trị gia tăng và lợi thế cạnhtranh cao hơn

Với những điều kiện ngày càng xấu đi của thị trờng quốc tế, HànQuốc cần phải giảm bớt sự phụ thuộc của nó vào nguyên liệu và máy mócnhập khẩu để duy trì đợc sự ổn định của các lợi thế cạnh tranh Nếu HànQuốc tiếp tục phải nhập nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu trên thị trờngquốc tế nh ở giai đoạn trớc thì sản phẩm của Hàn Quốc sẽ khó có khả năng

đạt đợc lợi thế cạnh tranh trên thị trờng quốc tế

Mặt khác những thành tích của Nhật Bản trong các ngành nh sản xuấtthép, chế tạo ôtô, công nghiệp điện tử đã khuyến khích Hàn Quốc chú ý hơn

đến sự phát triển của các ngành công nghiệp chiến lợc

Thứ hai, sự rút bớt một phần lực lợng quân đội Mỹ đặt ra yêu cầu

là chính phủ cần phải thiết lập một cơ sở công nghiệp cho việc bảo vệ quyền

tự chủ và an ninh quốc gia của mình Và vì thế, chính phủ xác định rằng cần

sử dụng các công cụ tài chính và thuế để hớng việc sử dụng nguồn lực tậptrung vào các ngành công nghiệp trọng tâm nh hoá dầu, sắt, thép, điện tử

Thứ ba, sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật, sự tăng trởng mức

tiền lơng trong nớc, nhu cầu đối với các sản phẩm của HCI cùng với sự tăngtrởng dần dần mức thu nhập của ngời tiêu dùng và sự cạnh tranh mãnh liệttrên thị trờng quốc tế đã bắt buộc Hàn Quốc phải sắp xếp lại cơ cấu côngnghiệp của mình để có thể mở rộng phát triển kinh tế

Đối mặt với những biến đổi kinh tế và chính trị này, chính phủ HànQuốc đã đặt ra mục tiêu mới cho chính sách công nghiệp cho thời kỳ kếhoạch 5 năm lần thứ ba và lần thứ t ( 1972-1981) Đó là tiếp tục duy trì pháttriển công nghiệp tốc độ cao, thay đổi cơ cấu công nghiệp, xây dựng cácngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất có khả năng cạnh tranh cao,nhằm cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị cho các ngành công nghiệp mới,loại dần sự phụ thuộc vào nớc ngoài đối với ngành công nghiệp mới, thựchiện tự cung cấp về lơng thực, cân đối thanh toán Các ngành công nghiệp

Trang 15

mới chủ yếu trong kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1972-1976) gồm: thép, hoá dầu,

đóng tầu , thiết bị vận tải, đồ dùng điện dân dụng

Xét về mặt kinh tế, sự chuyển đổi cơ cấu công nghiệp ở Hàn Quốc làmtăng năng xuất lao động, bù đắp tiền lơng ngày càng tăng ở Hàn Quốc và đápứng những thách thức cạnh tranh toàn cầu

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1976-1981) chính phủ tiếp tục theo

đuổi các mục tiêu tăng trởng kinh tế, tạo cơ cấu kinh tế tự lực, cải thiện côngnghệ và tăng cờng hiệu quả Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ các ngành chế tạomáy móc, thiết bị điện tử, đóng tàu, luyện kim màu, coi đây là ngành côngnghiệp mới có công nghệ sử dụng nhiều lao động

Để hỗ trợ cho công nghiệp nặng, chính phủ đã ban sắc lệnh phát triểncác ngành công nghiệp nặng và hoá chất vào tháng 1-1973, với mục tiêu đạt50% xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nặng và hoá chất trong tổng kim ngạchxuất khẩu công nghiệp năm 1980 Luật thúc đẩy phát triển công nghệ cũng đ-

ợc đa vào thực hiện năm 1972 và các biện pháp tự do hoá bớc một về nhậpkhẩu công nghệ nớc ngoài đợc chính phủ thực hiện năm 1978 đã đem lại sựphát triển công nghệ vợt bậc cho ngành công nghiệp

Quá trình công nghiệp hoá của Hàn Quốc đợc xem là kết thúc sau

khi hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ 4 Những kết qủa đạt đợc của 4 kếhoạch năm 5 là rất đáng kể, tuy nhiên chúng cũng để lại một số vấn đề nh lạmphát tăng ( tỷ lệ lạm phát vào cuối những năm 1970 là 28,7%), đặc biệt làthâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, sự phát triển thiếu cân đối, giảm khảnăng cạnh tranh của sản phẩm Hàn Quốc trên thị trờng quốc tế

Do vậy, sau khi kết thúc giai đoạn công nghiệp hoá, từ 1980, chính phủ

đã có những thay đổi cơ bản trong chính sách công nghiệp của mình Trongphạm vi có giới hạn của luận văn, những thay đổi trong chính sách côngnghiệp của chính phủ từ sau 1980 nh chính sách tự do hoá và mở cửa (giai

đoạn 80-89), chính sách toàn cầu hoá ( giai đoạn 90-96) không đợc đề cập

1.2.2.3 Các công cụ công nghiệp hoá

* Kiểm soát tín dụng.

Kiểm soát hoạt động của các nhà công nghiệp bằng tín dụng đợc xem

là công cụ có hiệu lực nhất và là công cụ chủ yếu nhất của các công cụ nhằmthực hiện chính sách công nghiệp hoá Sự kiểm soát tín dụng đợc thực hiện

Trang 16

thông qua kiểm soát lãi xuất vay vốn u đãi, thực hiện các khoản cho vay hỗ trợtheo chỉ định và kiểm soát các khoản vốn vay nớc ngoài.

Do tiết kiệm trong nớc có giới hạn, sự thiếu vắng thị trờng vốn nên cácchủ doanh nghiệp ở Hàn Quốc đã buộc phải dựa vào các khoản vay ngân hàng

để đầu t mở rộng các công ty của mình Khi chính phủ nắm quyền sở hữuhoặc quản lý các ngân hàng thì thực ra đã đặt các chủ doanh nghiệp dới sựquản lý chặt chẽ của chính phủ Và nh vậy, việc quản lý tín dụng ngân hàngtrở thành một công cụ chính sách rất quan trọng mà chính phủ có thể sửdụng David Cole và Yung Chul Park đã nói rằng: “sự quản lý của Chính phủ

đối với các tổ chức ngân hàng là biện pháp chủ yếu để hớng dẫn và chỉnh đốn

xí nghiệp t nhân” Tỷ lệ lãi suất thực quá thấp đối với các khoản vay ngânhàng do nhà nớc quản lý đảm bảo rằng luôn luôn có d cầu về tín dụng ngânhàng Điều này đã tạo ra nhu cầu phân phối tín dụng và tạo điều kiện để chínhphủ thực thi các phơng thức chỉ huy thông qua sự kiểm soát của mình đối vớicác khoản vay, tỷ lệ lãi suất và thời hạn vay Một tình trạng tơng tự cũng xuấthiện trong việc phân phối tín dụng nớc ngoài, đặt chính phủ vào vị trí thuận lợi

để kiểm soát các công ty theo ý mình

* Chính sách thuế.

Đối với phần lớn các quốc gia, chính sách thuế có lẽ là một công cụ cótính thực tiễn nhất của chính sách công nghiệp Các điều khoản về thuế phânbiệt giữa các khu vực hay việc miễn giảm thuế tạo ra những công cụ có tácdụng ngay lập tức cho việc khuyến khích các lĩnh vực công nghiệp u tiên

Đồng thời với việc miễn thuế, quyền thực hiện các vụ thanh tra thuế cần thiết

để thực thi các chỉ thị của chính phủ cũng đợc xem là công cụ quan trọngbằng hoặc hơn công cụ miễn thuế Trên quan điểm chính trị, hiệu lực của thuế

là ở chỗ nó không đòi hỏi sự rút bớt trực tiếp hoặc gián tiếp ngân sách quốcgia Điều này có nghĩa là nó có thể đợc che đậy khỏi sự giám sát của côngchúng và đợc tách biệt một cách có hiệu quả hơn khỏi những áp lực chính trị

* Chính sách tỷ giá hối đoái

Bên cạnh chính sách tín dụng đợc xem là công cụ chính sách vĩ môchủ yếu để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá thì chính sách tỷ giá hối đoáicũng đợc sử dụng nh là một công cụ phổ biển ảnh hởng của chính sách tỷ giáhối đoái đợc thực hiện thông qua việc tăng giá và phá gía đồng Won Nếuchính phủ phá giá đồng tiền dới mức cân bằng hợp lý thì xuất khẩu của quốc

Trang 17

gia sẽ gia tăng và dẫn đến kết quả là sản xuất và việc làm trong các ngànhcông nghiệp xuất khẩu sẽ gia tăng Mặt khác, khi giá bán các mặt hàng nhậpkhẩu gia tăng do kết quả của việc phá gía đồng tiền, hoạt động nhập khẩu sẽgiảm sút và mức độ lạm phát trên thị trờng nội địa sẽ gia tăng Ngay cả khiviệc phá giá đồng tiền dẫn đến sự gia tăng xuất khẩu thì nó cũng làm chocác công ty nhập khẩu nguyên liệu tự nhiên có mức doanh lợi thấp và chịuthêm gánh nặng về chi phí tài chính Hơn thế nữa, khi việc phá giá đồng tiềnbảo vệ đợc khả năng cạnh tranh về giá, thì chính sách này cũng làm trở ngạinhng cố gắng cải tổ cơ cấu công nghiệp, sự sáng tạo kỹ thuật và tăng trởngnăng xuất

Không giống nh việc phá giá đồng tiền, sự tăng giá sẽ dẫn đến tăng ỏng nhập khẩu và suy giảm xuất khẩu Hơn nữa, chính sách này sẽ ảnh hởng

tr-đến sự ổn định giá cả trên thị trờng quốc gia và khó khăn trong việc tạo nguồntrả các món nợ

Do chính sách tỷ giá hối đoái có những tác dụng khác nhau đối với cácngành công nghiệp nên nó đợc sử dụng nh là một công cụ của chính sáchcông nghiệp

1.2.3 Quan điểm của chính phủ về vai trò của nhà nớc đối với quá trình công nghiệp hoá và về việc sử dụng công cụ tín dụng

1.2.3.1 Quan điểm của chính phủ Hàn Quốc về vai trò của nhà nớc

đối với quá trình công nghiệp hoá:

Khi xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ( năm 1962) chính quyềnPark đã đa ra một chơng trình 5 điểm

Một là: chính sách kinh tế tập trung hớng vào ngời sản xuất chứ

không phải hớng vào ngơì tiêu dùng

Hai là: Chính phủ có quyền lực tuyệt đối trong việc xây dựng các

chính sách kinh tế

Ba là: Chính sách phát triển kinh tế hớng vào xuất khẩu đợc xây dựng

trên cơ sở hy sinh nhu cầu và sự tiêu dùng trong nớc

Bốn là: Mọi yếu tố bất ngờ và không chắc chắn đợc loại bỏ khỏi thị

tr-ờng

Trang 18

Năm là: Để cung cấp nguồn tài chính cho sự phát triển kinh tế và

tránh khỏi sự kiểm soát của nớc ngoài đối với những ngành công nghiệp thenchốt của quốc gia, chính phủ chủ trơng vay vốn nớc ngoài chứ không chophép các nhà đầu t nớc ngoài thực hiện đầu t trực tiếp

Chơng trình này của chính quyền Park cho thấy mọi quyết định đều

đợc tập trung trong tay chính phủ chứ không phải do thị trờng điều khiển Cóthể nói rằng không tin tởng vào thị trờng và thực hiện một chế độ độc tài để đa

đất nớc ra khỏi sự nghèo khó chính là nét đặc trng nổi bật của chính quyềnPark Park Chung Hee đã thừa kế văn hoá của đạo Khổng và tập trung quyềnlực đợc ông đánh giá là một hành vi của cuộc sống Tập trung quyền lực đợcduy trì và phát triển phục vụ cho việc đạt đợc mục tiêu của quốc gia trong suốtthời kỳ Park cầm quyền và sau này vẫn đợc duy trì dới thời tổng thống ChunDoo Whan và tổng thống Roh Woo Tae Chỉ khi Kim Yuong Sam và saunày là Kim Dae Jung lên nắm chính quyền, chế độ độc quyền mới đợc chấmdứt Tin tởng rằng dân chủ và sự phát triển kinh tế có thể hoà hợp với nhau,chính quyền Kim đã chuyển nền kinh tế Hàn Quốc sang một mô hình khác– mô hình Anh - Mỹ – hoàn toàn đối lập với mô hình của chính quyền Park Chính phủ Hàn Quốc, trong thực tế, đã thể hiện thành công vai trò củamình trong việc lựa chọn, hoạch định và chỉ đạo thực thi hiệu quả chiến lợcphát triển kinh tế chung của đất nớc, trong đó chiến lợc công nghiệp hoá hớng

về xuất khẩu - đợc coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển đạt tới kỳtích hoá rồng của Hàn Quốc

Chiến lợc công nghiệp hoá của Hàn Quốc đợc cụ thể hóa trong các kếhoạch 5 năm Trên cơ sở mục tiêu chung của sự phát triển công nghiệp trongmỗi giai đoạn của quá trình công nghiệp hoá, tuỳ theo tình huống cụ thể,chính phủ đã cụ thể hoá mục tiêu , địng hớng và nhiệm vụ cụ thể của các kếhoạch 5 năm Trong suốt thời kỳ công nghiệp hoá, Hàn Quốc đã thực hiện 7

kế hoạch 5 năm và chính phủ luôn luôn có những điều chỉnh thích hợp cácngành công nghiệp trọng điểm, cơ cấu ngành, cơ cấu sản phẩm đảm bảo chocông nghiệp hoá mang lại kết quả tăng trởng kinh tế

Nhằm tạo những điều kiện thuận lợi, tìm kiếm các động lực để các tổchức kinh doanh đợc lựa chọn tham gia vào các chơng trình phát triển cácngành công nghiệp mũi nhọn trong từng giai đoạn công nghiệp hoá, chínhphủ đã sử dụng những công cụ chính sách khác nhau nh chính sách cụ thể

Trang 19

nh thuế, chính sách tín dụng Các chính sách này có tác dụng định hớng pháttriển các ngành sản xuất, bảo hộ sản xuất, tìm kiếm nguồn vốn đầu t trong nớc

và ngoài nớc Trong quá trình thực hiện các chính sách này chính phủ luôn cócác giải pháp kiểm tra giám sát và khuyến khích việc tuân thủ các chính sáchcủa giới kinh doanh Sự mềm dẻo và linh hoạt trong hoạch định chính sách vàkiểm soát thực hiện chính sách một cách chặt chẽ chính là yếu tố đảm bảothành công của chính sách đối với quá trình công nghiệp hoá Ví dụ nh khicần bảo hộ công ty trong nớc, chính phủ đã sử dụng chính sách thuế nhậpkhẩu, đồng thời trợ cấp việc trả lãi ngân hàng cho các công ty Nhng khi công

ty đã đủ mạnh thì việc trợ cấp này cũng bị bãi bỏ nếu không thì chính phủphải phát hành tiền, dễ gây lạm phát cao Thuế nhập khẩu cũng bỏ từng phầntừng thời kỳ Khi cần phát triển công nghiệp nặng với những công ty quy môlớn, chính phủ đã chọn một vài công ty mạnh để áp dụng những khuyến khích

u đãi riêng Nhng khi các công ty này đã vững mạnh trong cạnh tranh thìchính phủ một mặt bãi bỏ các u đãi đó, mặt khác chuyển sang việc chống cáccông ty này lũng đoạn , độc quyền thậm chí phải bảo hộ các công ty vừa vànhỏ khi bị các công ty lớn thôn tính

Chính phủ trực tiếp quản lý một số ngành công nghiệp có ảnh hởngquyết định đến an ninh và lợi ích công cộng, đầu t vào các lĩnh vực kinh tế ,xã hội có ít hoặc không có lợi nhuận trực tiếp nh hạ tầng kinh tế, xã hội, giáodục , y tế, khoa học…

Vai trò của chính phủ cũng đợc phản ánh qua các chính sách, biện pháptrong việc thúc đẩy thu hút đầu t nớc ngoài, tạo lập nguồn vốn cho các doanhnghiệp Do chiến lợc phát triển hớng ra bên ngoài dựa trên đẩy mạnh xuấtkhẩu, trong khi Hàn Quốc là quốc gia nghèo tài nguyên, vì vậy để phát triểnHàn Quốc phải dựa vào nguồn vốn nớc ngoài ở Hàn Quốc nhà nớc đứng ravay hoặc bảo lãnh trách nhiệm đối với nguồn vốn vay cho khu vực t nhân

Điều đáng chú ý trong hoạt động điều chỉnh của Chính phủ Hàn Quốc lànhững biện pháp, chính sách can thiệp vào thị trờng tài chính Để thực hiệnviệc kiểm soát, Chính phủ nắm toàn bộ các ngân hàng thơng mại (từ 1961).Việc quản lý, phân bổ nguồn vốn đợc kiểm soát tới từng dự án , từng công ty.Chính vì vậy vai trò và ảnh hởng của Chính phủ đến đờng hớng kinh doanhcủa khu vực t nhân là rất lớn

Trang 20

Tóm lại, sự thành công hay không thành công của Hàn Quốc hoàn toàntuỳ thuộc vào việc Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện vai trò của mình nh thếnào đối với việc vợt qua đợc các nguy cơ, chớp đợc các thời cơ trong phát triển

đất nớc, lợi ích của dân tộc trong từng thời kỳ

1.2.3.2 Vai trò của chính sách tín dụng đối với công nghiệp hoá

Chính sách tín dụng đợc chính phủ Hàn Quốc xem là một công cụ quanttrọng để thực hiện công nghiệp hoá vì những lý do sau:

+ Hàn Quốc bắt đầu sự phát triển kinh tế của mình với sự thiếuhụt nguồn vốn và kỹ thuật ở trong nớc ở Hàn Quốc, tỷ lệ đầu t / GNP luônluôn ở mức cao hơn tỷ lệ tiết kiệm Do đó, quan điểm chỉ đạo là phải làm thếnào để sử dụng chính phủ cho việc huy động vốn và hỗ trợ đầu t cho côngnghiệp hoá Chính phủ phải sử dụng công cụ tín dụng một cách đắc lực để

đáp ứng nhu cầu về vốn của các tôt chức kinh doanh tham gia các chơng trìnhcông nghiệp của chính phủ Các chính sách tín dụng của Hàn Quốc đã có tácdụng rất hiệu quả đối các thay đổi trong chính sách công nghiệp Chính phủ

đã điều chỉnh các chơng trình tín dụng có chỉ đạo của mình để đáp ứng cácyêu cầu cấp bách của lĩnh vực kinh doanh Chính phủ đã tạo ra các chơngtrình tín dụng mới để hớng các nguồn tài chính vào các cơ hội công nghiệpnơi cần một lợng vốn đầu t rất lớn

+ Một nguyên nhân khác dẫn đến sự cần thiết phải sử dụng công cụchính sách tín dụng đó là nhu cầu kiểm soát hành vi của các nhà công nghiệp,bắt buộc họ phải phục vụ cho lợi ích quốc gia Trong quá trình công nghiệphoá, khi lựa chọn các doanh nghiệp thuộc khu vực t nhân là ngời tham giathực hiện chơng trình phát triển công nghiệp, chính phủ muốn kiểm soát hành

vi của các nhà công nghiệp, bắt buộc họ phải phục vụ cho lợi ích quốc gia vìthế chính phủ cần một công cụ quản lý các nhà công nghiệp và công cụ tàichính đợc lựa chọn là công cụ chủ yếu để thực hiện các ý tởng công nghiệphoá của các nhà làm chính sách Hàn Quốc Về phía các nhà công nghiệp, họcũng cần sự trợ giúp tín dụng rẻ từ chính phủ để củng cố cấu trúc tài chính

đòn bẩy cao của họ

+ Hàn Quốc phải huy động vốn chủ yếu từ nguồn tài trợ và cáckhoản vay tín dụng từ nớc ngoài (của Mỹ và Nhật Bản) Hàn Quốc là mộttrong rất ít nớc trên thế giới nhận đợc một lợng vốn lớn từ nớc ngoài Cáckhoản vay t nhân nớc ngoài là các khoản then chốt cho phép Hàn Quốc theo

Trang 21

đuổi sự phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất của mình Mặc

dù mức độ tiết kiệm nội địa đã tăng nhanh từ những năm 70 nó cũng không đủchi cho các chi phí khổng lồ cho sự phát triển của công nghiệp nặng và côngnghiệp hóa chất Đầu t nh là một phần của GNP thờng giao động trong khoảng30% trong những năm 70 nhng tiết kiệm nội địa vẫn rất thấp Vì vậy, chínhphủ phải hỗ trợ các doanh nghiệp khai thác nguồn vốn này thông qua thựchiện việc bảo lãnh cho các khoản vay nớc ngoài và kiểm soát việc sử dụngnguồn vốn từ nớc ngoài Hầu hết việc vay mợn nỡc ngoài cả các khoản vay th-

ơng mại và công cộng đợc chính phủ bảo đảm và nhiều khoản vay đơn lẻ đã

đ-ợc chính phủ phê duyệt Nhng sau khi cung cấp các bảo đảm cho việc táithanh toán chính phủ cũng phải giám sát việc sử dụng vốn vay của các nhà đivay

+ Do các ngân hàng nằm dới sự kiểm soát của chính phủ nên chínhphủ có thể thực hiện đợc việc kiểm soát tài chính đối với các tổ chức kinhdoanh để buộc các tổ chức này thực hiện các kế hoạch của chính phủ trongsuốt qua trình công nghiệp hoá Tổng thống Park Chung Hee đã tăng cờngviệc kiểm soát của chính phủ với việc sử dụng tài chính Điều khiển các ngânhàng trong một nền kinh tế dựa vào các khoản tín dụng nh Hàn Quốc là công

cụ quyền lực nhất để điều khiển các nhà công nghiệp

Trang 22

Chơng 2

Phân tích thực trạng chính sách tín dụng của hàn quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá.

2.1 Khái quát chung về hệ thống ngân hàng của Hàn Quốc.

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Hàn Quốc.

Trong thời gian Nhật Bản xâm chiếm Hàn Quốc, một hệ thống tài chínhhiện đại đã đợc xây dựng Sau khi giành đợc độc lập năm 1945, chính phủHàn Quốc đã tiếp nhận các ngân hàng do Nhật Bản làm chủ Với sự trợ giúpcủa các chuyên gia Mỹ, hệ thống tài chính đã đợc tái cấu trúc lại vào năm

1950 Vào cuối những năm 40, Arthur Bloomfield, một chuyên gia kinh tếcùng với Ngân hàng Dự trữ Liên bang của New York đã tới Hàn Quốc để giúp

đỡ chính phủ Hàn Quốc thiết lập một hệ thống tài chính với Ngân hàng Trung

ơng độc lập na ná với Hệ thống Dự trữ Liên bang của Mỹ Căn cứ vào cáckhuyến cáo của Mỹ, Ngân hàng Trung ơng Hàn Quốc (BOK) đã đợc thànhlập Sau đó một số các ngân hàng khác cũng đợc thành lập theo luật ngânhàng nh Ngân Hàng Nông nghiệp ( năm 1956), Ngân hàng Phát triển HànQuốc (KDB) v.v

Năm 1957, sau những áp lực của Mỹ, Hàn Quốc đã có bớc đi đầu tiêncủa quá trình t nhân hoá các ngân hàng thơng mại Một số ngân hàng đẫ đựoc

t nhân hoá Nhng đến năm 1961, chính quyền Park đã thực hiện quốc hữu hoácác ngân hàng thơng mại Việc quốc hữu hoá các ngân hàng thơng mại đợcthực hiện bằng cách tịch thu các tài sản phi pháp đã đợc tích luỹ ở chế độ trớc.Hầu hết các nguồn vốn của ngân hàng thơng mại mà trớc đây thuộc sở hữucủa một số ít nhà công nghiệp đã đợc chuyển cho chính phủ, mở đờng chochính phủ áp dụng việc quản lý trực tiếp các ngân hàng thơng mại

Cùng với việc quốc hữu hoá các ngân hàng thơng mại, chính phủ cũngthực hiện các giải pháp buộc Ngân hàng Trung ơng lệ thuộc vào chính phủ.Việc sửa đổi đối với Luật hoạt động của BOK năm 1962 đã chuyển quyềnquyết định về chính sách tiền tệ từ BOK sang Bộ tài chính (MOF) Đây làbuớc đi quyết định đối với chiến lợc tài chính của chính phủ cho các dự án

Trang 23

phát triển công nghiệp khi những dự án này phụ thuộc chủ yếu vào việc mởrộng tiền tệ của BOK Theo Luật đã đợc sửa đổi, thống đốc ngân hàng trung -

ơng đợc Tổng thống chỉ định theo khuyến cáo của Bộ trởng bộ Tài chính.Thêm vào đó, MOF có quyền yêu cầu xem xét lại các giải pháp do Uỷ banTiền tệ là bộ phận làm chính sách của BOK đa ra Quyền về chính sách và sự

độc lập của BOK đã bị thu hẹp lại MOF đã nắm lấy việc điều khiển tỷ giá hối

đoái từ BOK và thu giữ quyền lực hành chính để vừa giám sát công việc kinhdoanh của BOK vừa điều khiển chi phí và ngân sách của BOK Bản sửa đổiLuật năm 1962 cũng đã cho phép MOF đợc chỉ thị BOK mua trái khoán cóbảo đảm hoàn trả do các cơ quan chính phủ phát hành Các biện pháp này chophép kế hoạch phát triển kinh tế sẽ đợc cấp vốn dễ dàng

Đến năm 1961, toàn bộ hệ thống ngân hàng Hàn Quốc đã trở thànhthuộc sở hữu nhà nớc Đây là những biện pháp nhằm đẩy mạnh việc quản lýcủa nhà nớc trong lĩnh vực tài chính của chính phủ

Trong những năm 60, một số ngân hàng chuyên dụng khác cũng đợcthiết lập để cung cấp các khoản vay chính sách và hỗ trợ các lĩnh vực đặcbiệt nh: Hiệp hội Liên hiệp Nông nghiệp Quốc gia (NACF) năm 1961; Ngânhàng Công nghiệp Hàn Quốc (IBK) năm 1961 (cho các công ty cỡ vừa vànhỏ), Hiệp hội Quốc gia Liên hiệp Thuỷ sản (NFFC) năm 1962 , Ngân hàngCông dân Quốc gia (CNB) năm 1963 ( cho các khoản vay nhỏ của các hộdân), Ngân hàng Ngoại hối Hàn Quốc (KEB) năm 1967 và Ngân hàng Nhà

đất Hàn Quốc năm 1969

Đầu năm 1967, chính phủ thuyết phục các ngân hàng thuơng mại cấpcác khoản vay chính sách dài hạn thông qua chỉ đạo các ngân hàng thơng mạigửi các quỹ của họ trong KDB để mua các trái phiếu dài hạn do KDB pháthành và mở rộng các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp có bảo lãnh cáckhoản vay từ KDB

Tiếp sau đó, luật pháp đã quy định hạn chế cổ phần t nhân bất kỳ loạihình nào ( mức trần đựoc quy định tối đa là 10%) Từ thời điểm đó đó cho

đến những năm 1980, chính phủ vẫn luôn là ngời giữ cổ phần chính trong cácngân hàng thơng mại trong toàn quốc( trung bình khoảng 20% tổng cổ phầncủa các ngân hàng này)

Luật hoạt động của KDB cũng đợc sửa đổi để đẩy mạnh vai trò củaKDB trong phát triển kinh tế KDB đã tăng cơ sở vốn của mình lên và đợc

Trang 24

phép cung cấp các bảo lãnh thanh toán cho các khoản vay nớc ngoài, đợc phépcung cấp các khoản vốn vay và cấp các khoản vay dài hạn cho chính phủ vàcác doanh nghiệp thuộc sở hữu của KDB KDB cũng cho phép mợn các nguồnquỹ của BOK

Đặc điểm chung nhất trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng ở HànQuốc là mỗi ngân hàng đều duy trì một tài khoản uỷ thác tách biệt với tàikhoản ngân hàng Kinh doanh uỷ thác của ngân hàng có hai loại: uỷ thác tiền

tệ và uỷ thác đầu t chứng khoán Uỷ thác tiền tệ là một loại khế ớc tơng tự nhtiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn Chính phủ Hàn Quốc cho phépngân hàng kinh doanh uỷ thác tiền tệ để duy trì sức cạnh tranh của chúng trênthị trờng Trong trờng hợp uỷ thác đầu t chứng khoán, các ngân hàng thơngmại chỉ có thể hoạt động nh ngời giám sát các khoản tiền trong tay các công

ty uỷ thác đầu t chứng khoán

Hệ thống ngân hàng Hàn Quốc bao gồm các ngân hàng thuộc cấp tỉnh

và các ngân hàng thuộc cấp quốc gia

Do nguồn tích lũy vốn trong nớc là rất thấp, các ngân hàng huy động vốnchủ yếu từ các khoản vay nớc ngoài - phần lớn là các khoản vay ngắn hạn –

và thu nhập của ngân hàng chủ yếu đợc hình thành từ chênh lệch của lãi xuấtvay vốn trên thị trờng trong nớc và lãi xuất vay vốn của nớc ngoài

2.1.2 Vai trò của hệ thống ngân hàng

* Vai trò huy động tiết kiệm

Cho đến giữa những năm 1960, vai trò huy động tiết kiệm của cácngân hàng thơng mại ít có ý nghĩa do tiết kiệm trong nớc không đáng kể Mục

đích cơ bản của các ngân hàng là chuyển các nguồn vốn viện trợ đến các dự

án khôi phục kinh tế và cho nông dân vay Có hai ngân hàng chuyên dụng làthực hiện nhiệm vụ này là KDB và Ngân hàng Nông nghiệp Hai ngân hàngnày chiếm 70% số d nợ của toàn bộ hệ thống ngân hàng

Vai trò của các tổ chức tài chính là huy động tiết kiệm chỉ đợc thấy rõsau khi áp dụng chính sách lãi suất cao vào tháng 9/1965 Hiệu quả của cảicách lãi suất năm 1965 đối với việc động viên các nguồn vốn trong nớc là rấtlớn Tiền gửi ngân hàng thời kỳ này tăng rất nhanh Tỷ số M2/GNP tăng từ18,5% trong giai đoạn 1965-1970 đến 30,2% trong giai đoạn 1971-1973.Trong vòng 5 năm số d nợ của ngân hàng thơng mại tăng từ 27% năm 1964lên 55% Tuy nhiên thời gian thực hiện cải cách lãi suất là quá ngắn để duy

Trang 25

trì động lực mà cải cách ban đầu đã tạo ra Sau năm 1968, lãi suất ngân hànglại hạ xuống theo nhiều giai đoạn và xuống thấp nhất trớc khi vào cải cáchnăm 1972 do đó, chức năng huy động tiền tiết kiệm của hệ thống ngân hàng

là rất yếu

Trang 26

*Tạo điều kiện cho các nguồn vay vốn từ n ớc ngoài chảy vào Hàn Quốc:

Một vai trò quan trọng khác của hệ thống ngân hàng Hàn Quốc là tạo

điều kiện cho các nguồn vốn vay từ nớc ngoài chảy vào bằng cách các ngânhàng phải đứng ra đứng ra bảo lãnh cho các khoản vay Từ năm 1966, cácngân hàng thơng mại đã ra nhập ngân hàng KDB và trở thành thành viên tíchcực trong các hoạt động bảo lãnh vay vốn nớc ngoài trên quy mô lớn Theo chỉ

đạo của chính phủ, từ năm 1960, các tổ chức tài chính mới nh đã đề cập ởphần trên đợc thành lập để tham gia vào các hoạt động chuyên dụng này

2.2 Chính sách tín dụng của Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá.

Chính sách tín dụng Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá luôn

đợc thay đổi cho phù hợp với những thay đổi của mục tiêu của chính sáchcông nghiệp hoá Trên cơ sở thảo luận định kỳ với các nhà lãnh đạo côngnghiệp, chính phủ đã luôn tiến hành điều chỉnh các chơng trình tín dụng trựctiếp của mình để đáp ứng nhu cầu của các nhà kinh doanh Chính phủ cũngtạo dựng các chơng trình tín dụng mới để hớng các nguồn tài chính phục vụcho các cơ hội công nghiệp đồng thời với việc sửa đổi các chơng trình cũ vớinhững định hớng khác nhau

Vì vậy, việc phân tích thực trạng các chính sách tín dụng của chính phủ

đợc xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với những thay đổi của chính sáchcông nghiệp hoá của Hàn Quốc trong thời kỳ từ sau chiến tranh Triều tiên

đến thời điểm kết thúc quá trình công nghiệp hoá vào năm 1980 Các chínhsách tín dụng của chính phủ Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá đợcphân tích tơng ứng với 3 giai đoạn của những điều chỉnh của chính sách côngnghiệp hoá Ba giai đoạn đó là :

(1) Giai đoạn tái thiết sau cuộc chiến tranh Triều tiên (đến năm 1960) (2) Giai đoạn thực hiện định hớng đẩy mạnh xuất khẩu (1961-1971) (3) Giai đoạn thực hiện định hớng phát triển công nghiệp nặng và côngnghiệp hoá chất (1972-1979)

2.2.1 Chính sách tín dụng của chính phủ Hàn Quốc trong thời kỳ tái thiết nền kinh tế ( từ sau chiến tranh Triều Tiên đến trớc 1960)

Trang 27

Khi cuộc chiến tranh Triều tiên chấm dứt năm 1953, chính phủ đầu tiêncủa Hàn Quốc do tổng thống Rhee Syng Man lãnh đạo cha có một chiến lợcphát triển kinh tế rõ ràng Những nỗ lực của chính phủ đã tập trung chủ yếuvào việc phục hồi nền kinh tế đã bị tàn phá sau chiến tranh và kìm hãm tốc độlạm phát Để theo đuổi các mục tiêu này, chính phủ Hàn Quốc đã áp dụngmức tín dụng trần và thực hiện một chính sách tín dụng có lựa chọn (SCPs).Một hệ thống phân chia tín dụng đợc hình thành mà trong đó các u đãi đợcphân bổ theo mức độ khẩn cấp và vai trò quan trọng của các ngành đối vớinền kinh tế.

Chính sách tài chính của Hàn Quốc trong thời gian này đợc đặc trngbởi sự can thiệp không có mục đích kinh tế rõ ràng và sự thiếu vắng các công

cụ Tỷ lệ lãi suất cho các khoản vay đợc ấn định trong khoảng từ 14 đến 17%trong khi tỷ lệ lạm phát trung bình của thời kỳ 1953-1957 là khoảng 35%/năm

Nguồn ngoại tệ Hàn Quốc thu đợc chủ yếu ở thời kỳ này là từ nhữngviện trợ của nớc ngoài và chi tiêu của quân đội Mỹ tại Hàn Quốc Kim ngạchxuất khẩu ở thời kỳ này thấp Đến năm 1960, tổng giá trị xuất khẩu chỉ là 32triệu USD (chủ yếu là vonfram và các sản phẩm nông nghiệp)

Để tối đa hoá thu nhập bằng ngoại tệ từ nguồn chi tiêu của quân đội

Mỹ, chính phủ đã duy trì một tỷ giá hối đoái cao (xem bảng 1 ) Với nguồnngoại tệ hiếm hoi chính phủ, chính phủ đã giảm bớt tiêu dùng, hạn chế nhậpkhẩu hàng tiêu dùng, thực hiện đầu t vào xây dựng các nhà máy sản xuấthàng tiêu dùng

Bảng 1: Tỷ giá hối đoái của đồng USD ở Hàn Quốc thời kỳ 53-60.

Trang 28

(1) các khoản tín dụng đợc hởng chiết khấu cho các hoá đơn thanh toán

đợc thực hiện tại BOK

(2) các khoản tín dụng không đợc hỗ trợ bởi tái chiết khấu của BOK.(3) các khoản tín dụng bị cấm cho vay

Các khoản tín dụng cung cấp cho các ngành hoá chất, dệt may, cơ khí,khai thác quặng kim loại, chế biến thực phẩm nằm trong nhóm thứ nhất ; Cáckhoản tín dụng không đợc hỗ trợ bởi tái chiết khấu là những khoản tín dụng

đợc cung cấp cho các ngành nh các ngành dịch vụ các ngành cung cấp các sảnphẩm tiêu dùng nh nớc giải khát, đồ gỗ, mỹ phẩm và thơng mại bán lẻ.Nhóm thứ 3 đợc xác định để nắm bắt đợc mạng lới rộng lớn những ngời đivay

Trong tổng vốn cho vay của ngân hàng, quy mô của các khoản vay u

đãi cho xuất khẩu là không đáng kể

Sau 1955, các ngân hàng đợc yêu cầu chỉ cho vay khi có các phê duyệttrớc của các nhà chức trách trong lĩnh vực tiền tệ đối với lĩnh vực t nhân trênmột lợng nhất định và cho tất cả các khoản vay cho các dự án công cộng.Chính sách này đợc thực hiện để duy trì việc quản lý việc cung ứng tiền Bấtchấp việc sử dụng chính sách tín dụng có lựa chọn (SCP), tỷ lệ lạm phát vẫn ởmức cao chủ yếu do ngân sách của chính phủ liên tục thâm hụt Bắt đầu từnăm 1957, chính phủ thực hiện các chơng trình ổn định tài chính và ngân sáchchặt chẽ Chơng trình này đã làm giảm tỷ lệ lạm phát từ 35.4% trong nhữngnăm 1953-1957 xuống 2.5% trong những năm 1958-1960

Năm 1954 chính phủ thiết lập KDB để cấp các khoản vay trung và dàihạn cho các ngành Theo Luật hoạt động của KDB, các quỹ hoạt động củaKDB sẽ đợc hình thành chủ yếu từ trái phiếu dài hạn do KDB phát hành vàvay từ chính phủ Tuy nhiên KDB đã quyết định phụ thuộc nhiều vào BOK đốivói việc gây dựng các quỹ bởi vì việc đối mặt với điều kiện lạm phát, cáckhoản tiết kiệm t nhân có hạn và mức trần tỷ lệ lãi suất thì KDB không thể chophép lĩnh vực công cộng có những khoản nợ dài hạn

Trong thời kỳ trớc 1960, mặc dù những chính phủ điều chỉnh về lãi xuất

và các khoản tín dụng u tiên nhng các nghiệp vụ của ngân hàng không phải là

đôí tợng can thiệp mạnh mẽ của chính phủ

2.2.2 Thời kỳ 1962 - 1971.

2.2.2.1 Nội dung chính sách tín dụng

Trang 29

Năm 1961, chính quyền độc tài Park thiết lập một định hớng mớicho sự phát triển kinh tế của quốc gia Định hớng này đợc xác định là chuyển

từ chiến lợc ổn định sang chiến lợc tăng trởng và chuyển từ thay thế nhậpkhẩu sang đẩy mạnh xuất khẩu Chính phủ cho rằng sự tăng trởng kinh tế chỉ

có thể thành công nếu chính phủ nắm vai trò là ngời ngời quyết định việc huy

động và phân bổ vốn Nhằm thực hiện mục đích này, chính phủ đã xây dựng

kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và áp dụng 2 biện pháp cơ bản để tăng cờng sựkiểm soát về tài chính Hai biện pháp đó là quốc hữu hoá các ngân hàng thơngmại và điều chỉnh luật về ngân hàng trung ơng, đặt ngân hàng trung ơng dới

sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ

Đồng thời với những biện pháp này, chính phủ cũng 3 cải cách về chínhsách Đó là:

- Mở rộng chơng trình tín dụng cho xuất khẩu

- Điều chỉnh mức lãi xuất để huy động các khoản tiết kiệm

- Sửa đổi những quy định đối với vốn từ nớc ngoài để mở ra các dòngchảy của vốn nuớc ngoài vào Hàn Quốc

* Mở rộng chơng trình tín dụng cho xuất khẩu.

Ban đầu, xuất khẩu đợc đẩy mạnh nh một cách tạo thu nhập từ ngoại

th-ơng Để có hàng hoá xuất khẩu đòi hỏi phải xây dựng các nhà máy và cácngành công nghiệp xuất khẩu Nhng khi việc tăng trởng xuất tạo ra công ănviệc làm cho ngời lao động và tạo khả năng sử dụng các những yếu tố bênngoài phục vụ cho việc tăng trởng kinh tế thì chính phủ đã quyết tâm thựchiện chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của mình một cách mạnh mẽ hơn

Trong những năm 1964-1966, một loạt cuộc cải cách đợc thực hiện.trong đó trong tâm là chiến lợc tăng trởng xuất khẩu Một hệ thống khuyếnkhích xuất khẩu đợc thiết lập Hệ thống này quy định các điều khoản u đãi đốivới các nhà xuất khẩu trực tiếp cũng nh gián tiếp và các khoản tín dụngchuyển nhợng

Vào đầu năm 1961, BOK đã sắp xếp lại hệ thống tín dụng xuất khẩu ngắnhạn để hỗ trợ các nhà xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp với tỷ lệ lãi xuất u đãi.Thực chất của hệ thống mới là thực hiện sự phê duyệt một cách tự động cáckhoản cho vay của ngân hàng thơng mại đối với các th tín dụng xuất khẩu(LC) Ban đầu, chơng trình này chỉ đủ để bù đắp đợc một phần nhất định chi

Trang 30

phí sản xuất Nhng, khả năng bù đắp này đã đợc mở rộng nhanh chóng từnăm 1961 đối với hoạt động bán hàng cho lực lợng quân sự của Liên HiệpQuốc ở Hàn Quốc, đối với xuất khẩu theo điều kiện D/P, D/A, đối với cácdịch vụ xây dựng do chính phủ nớc ngoài hoặc các cơ quan của họ thuê, đốivới nhập khẩu các nguyên liệu thô và các sảnphẩm chế biến dùng cho sản xuấthàng xuất khẩu và v.v

Việc thực hiện các quy định mới này cho phép các nhà xuất khẩu có thểkhai thác các cơ hội xuất khẩu và đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu Cácchơng trình mới này đều đuợc thiết lập sau khi có sự tham khảo chặt chẽ giữachính phủ và các nhà xuất khẩu Các kế hoạch xuất khẩu đợc thống nhất trongQuy tắc tài chính xuất khẩu đợc công bố năm 1962 Sự xuất hiện của cáccông ty thơng mại tổng hợp đã dẫn đến việc áp dụng nguyên tắc chỉ cấp tíndụng cho các công ty sau khi chúng đạt đợc những kết quả xuất khẩu Điềunày bắt buộc các nhà xuất khẩu muốn nhận đợc các khoản tín dụng xuất khẩuthì phải đạt đợc mức xuất khẩu ít nhất là bằng mức của những năm trớc Vớicách làm nh vậy, chính phủ đã gắn việc thực hiện xuất khẩu với cơ hội sửdụng tín dụng của các nhà xuất khẩu Các công ty thơng mại tổng hợp đã cócơ hội sử dụng các khoản tín dụng u đãi cho xuất khẩu nhng hàng năm phảixác định lại quyền hởng những u đãi này Những công ty không đạt mức xuấtkhẩu nh mức đạt đợc của những năm trớc sẽ bị sẽ bị rút giấy phép đợc hởngcác khoản tín dụng u đãi

* Điều chỉnh lãi xuất vay vốn.

Nh đã trình bày ở trên, năm 1965 chính phủ đã thực hiện điều chỉnhchính sách tỷ lệ lãi suất Chỉ sau một đêm, tỷ lệ lãi xuất danh nghĩa đối vớicác khoản vay trong thời hạn một năm tăng từ 15%/ năm lên 30%/ năm, và

đối với các khoản vay khác từ 16%/ năm lên 26%/năm, trong khi đó tỷ lệ lãixuất trên các khoản vay dành cho xuất khẩu không thay đổi Nh vậy, khoảngcách về tỷ lệ lãi xuất giữa các giữa các khoản vay xuất khẩu và các khoảnvay thông thờng đợc mở rộng nhanh chóng ( xem bảng ) Theo bảng có thểthấy tỷ lệ lãi xuất vay vốn áp dụng cho các nhà xuất khẩu chỉ bằng một phần

t tỷ lệ lãi xuất đối với các khoản cho vay thông thờng khác Trong lúc tỷ lệlạm phát thời kỳ này là 8%, tỷ lệ lãi xuất của các khoản cho vay cho các nhàxuất khẩu thực tế là bằng âm Trong thời kỳ những năm 60, khoảng cách trungbình giữa hai tỷ lệ lãi xuất vay vốn luôn luôn nằm trong khoảng hơn 20%

Trang 31

Thêm vào đó, các ngân hàng thơng mại đợc phép thực hiện các hoạt

động nghiệp vụ bằng nguồn vốn đặc biệt cho xúc tiến xuất khẩu và cho việcsản xuất các yếu tố đầu vào cho xuất khẩu Vì thế, có thể nói rằng các giảipháp này của chính phủ đã tạo những động lực cho các công ty xuất khẩutrong việc tài trợ vốn mà không phải gánh chịu sự gia tăng chi phí về vốn

Bảng 2: Tỷ lệ lãi xuất thời kỳ 1961-1972

- Đối với các khoản cho vay cho xuất khẩu (A)

- Đối với các khoản vay khác

- Chênh lệch (B) – (A)

9,318,28,9

6,123,217,1

Nguồn: Thống kê kinh tế hàng năm của BOK.

Chính sách cải tổ tỷ lệ lãi xuất đã có tác dụng thu hút nguồn tiền tiếtkiệm của dân c vào các ngân hàng Trong những tháng đầu tiên, tổng số tiềngửi đã tăng lên 50% Sau 4 năm thực hiện chính sách này,tổng số tiền gửi đãtăng 100% Do huy động đợc nguồn tiền tiết kiệm nên tỷ lệ tăng trởng củacác khoản tín dụng của các ngân hàng tăng từ 10,9% thời kỳ 1963-1964 lên61,0% thời kỳ 1965-1969 Dự trữ M2 liên quan đến GNP tăng từ 8.9% năm

1964 lên 31.8% năm 1971 Hơn nữa, nhờ cải tổ lãi xuất, chính phủ đã có thểthu hút đợc vào khu vực ngân hàng và kiểm soát đợc nguồn vốn không chínhthức của xã hội vốn không nằm trong tầm kiểm soát của chính phủ Trên thực

tế, chính sách cải tổ lãi xuất năm 1965 đã tăng cờng vai trò của chính phủtrong việc kiểm soát tài chính

* Khuyến khích dòng chảy của vốn nớc ngoài

Để bù cho lợng thiếu hụt của vốn trong nớc, chính phủ đã bình thờnghoá quan hệ với Nhật Bản năm 1965 và sửa đổi luật khuyến khích vốn nớcngoài năm 1966 với nội dung cho phép các ngân hàng của nhà nớc bảo lãnhcho các khoản vay của khu vực t nhân Các khoản vay nớc ngoài đóng một vaitrò lớn trong chính sách tài chính của Hàn Quốc Bớc đi này đã tạo một dòngchảy lớn của vốn nớc ngoài đặc biệt từ Nhật Bản vào Hàn Quốc Vì ít công tyHàn Quốc có cơ hội trực tiếp sử dụng các khoản vay nớc ngoài trong nhữngnăm 1960, việc bảo lãnh tái thanh toán của chính phủ cho khu vực t nhân đốivới hầu nh tất cả các khoản vay nớc ngoài thông qua các ngân hàng của nhà n-

ớc nh KDB và KEB đã tạo thuận lợi và giảm chi phí cho các khoản vay nớcngoài của khu vực t nhân Khi tỷ lệ lãi suất trong nớc cao, các khoản vay nớc

Trang 32

ngoài với mức lãi xuất thấp đã rất hấp dẫn các doanh nghiệp Vì mỗi khoảnvay nớc ngoài đều phải đợc chính phủ phê chuẩn, nên chúng cũng đợc sửdụng có chọn lọc để hỗ trợ các mục tiêu của chính sách công nghiệp hoá Nhvậy chính phủ có thể sử dụng việc phân bổ các khoản vay nớc ngoài nh mộtcông cụ chính sách cho tài chính công nghiệp mà không cần can thiệp chínhtrị

Các doanh nghiệp Hàn Quốc muốn vay vốn nớc ngoài phục vụ nhu cầu

đầu t cho các dự án kinh doanh theo quy định của các kế hoạch kinh tế 5 nămyêu cầu phải có phê chuẩn của EPB MOF đã giám giát chặt chẽ tất cả cáckhoản vay từ nớc ngoài đã đợc phê chuẩn cũng nh việc trả nợ của họ Năm

1966, chính phủ đã sửa đổi luật khuyến khích nguồn vốn nớc ngoài cho phépcác ngân hàng cung cấp các bảo lãnh mà không cần có sự phê chuẩn của quốchội KEB ( một trong những ngân hàng đặc biệt ở Hàn Quốc) và các ngânhàng thơng mại có thể phát hành các bảo lãnh trả nợ cho các khoản vay nớcngoài của t nhân mà không cần có sự ủy quyền trớc của quốc hội Đặc biệt,các khoản vay mà các ngân hàng thơng mại cho là khó bảo lãnh ( ví dụ nh cáckhoản vay lớn cho các doanh nghiệp nhà nớc) sẽ đợc chính phủ bảo lãnhthông qua KDB Bởi vì chính phủ nắm phần lớn cổ phần ở các ngân hàng th-

ơng mại, KDB và KEB nên chính phủ, trong phạm vi ảnh hởng của mình, đãcung cấp các bảo lãnh đối với các khoản vay của các công ty Nh vậy chínhphủ có thể sử dụng việc phân bổ các khoản vay nớc ngoài nh một công cụchính sách cho phát triển công nghiệp mà không cần can thiệp về chính trị.Việc mở rộng dòng chảy của vốn nớc ngoài vào Hàn Quốc đã dẫn đến kết quả

là trong các năm từ 1962 đến 1966, 53% tổng mức đầu t đợc cấp vốn từ nguồnvốn nớc ngoài

Bảng 3: Các khoản nợ nớc ngoài của Hàn Quốc thời kỳ 1962- 1970.

Đơn vị tính : triệu USD

Năm Nợ trung và dài

hạn (a)

Nợ ngắnhạn(b)

Tổng nợ Tổng nợ (% của

GNP)1962

89(100.0)206(100.0)2,277(100.0)

3.86.923.7

Trang 33

(a) gồm các khoản vay công cộng, các khoản vay t nhân, các khoản vayngân hàng, các trái phiếu tiền nớc ngoài, các khoản vay IMF, các quỹtiền nớc ngoài do các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài mựơn từ trụ sởchính ( với kỳ hạn hơn 1 năm)

(b) Các khoản vay ngắn hạn do lĩnh vực tài chính và t nhân vay (với kỳ hạn

ít hơn 1 năm )

(c) Tỷ lệ dịch vụ nợ

Nguồn: Ministry of Finance and BOK.

Nếu năm 1962, tổng các khoản nợ nớc ngoài của Hàn Quốc chỉ là 89triệu USD và chiếm 3.8% GNP thì đến năm 1970, con số tơng ứng là 2.3 tỷUSD và 23.7%.( xem bảng )

* Mở rộng các khoản vay nớc ngoài cho các doanh nghiệp.

Tăng trởng kinh tế cao sau giai đoạn kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất

(1962-1966) đã làm cho các nhà công nghiệp Hàn Quốc lạc quan về tơng laicủa nền kinh tế Từ sự lạc quan này đã dẫn đến sự bùng nổ đầu t quá mứcchủ yếu dựa vào tín dụng trên thị trờng trong nớc và vay nớc ngoài trong nửasau của thập kỷ 60 dẫn đến kết quả là tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của các doanhnghiệp tăng lên Do tỷ lệ lãi suất vay vốn cao nên các khoản thu nhập đợc giữlại của các tập đoàn giảm đi đáng kể Khả năng sinh lợi của chúng cũng vì thế

mà sút kém ( xem bảng 4) Các công ty đã phải vay thêm ở các ngân hàngngoài các khoản vay theo chính sách để trả các khoản tiền lãi cao và để mởrộng việc xuất khẩu của họ Việc tiếp tục thực hiện chính sách lãi xuất nội địacao, sự phá giá đồng Won và thắt chặt sự kiểm soát tín dụng làm cho cáccông ty hoạt động trên thị trờng trong nớc gặp khó khăn, đặc biệt là nhữngcông ty vay vốn của nớc ngoài Các khoản vay không sinh lãi của các ngânhàng có chiều hớng gia tăng Do bị kiểm soát tín dụng chặt chẽ, các ngânhàng trong nớc không thể giúp các doanh nghiệp trong việcthanh toán cáckhoản vay nớc ngoài đang gia tăng Một khi công việc kinh doanh gặp nhữngkhó khăn tài chính thì tổ chức kinh doanh sẽ phải đối mặt với nguy cơ phásản Trớc tình hình đó, năm 1969, chính phủ đã thực hiện những điều chỉnhtrong quản lý cho 30 doanh nghiệp, cho phép các công ty có khó khăn dễ dàngnhận đợc các khoản vay nớc ngoài Đến năm 1971, số lợng cáccông ty cónguy cơ phá sản đã đợc nhận các khoản vay nớc ngoaì lên tới 200 HànQuốc đã đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ lần thứ nhất

Trang 34

9.18.67.97.76.76.04.33.31.2

Nguån: BOK, Financial Statements Analysis, 1981

2.2.2.2 Quy m« c¸c kho¶n cho vay theo chÝnh s¸ch

Do kÕt qu¶ cña c¶i tæ l·i xuÊt tiÕt kiÖm, møc M2 cña Hµn Quèc t¨ng tõ8,9% n¨m 1964 lªn 31% n¨m 1971 nªn tæng c¸c kho¶n cho vay cña ng©nhµng còng t¨ng lªn t¬ng øng Tû lÖ t¨ng trëng hµng n¨m cña c¸c kho¶n chovay cña ng©n hµng t¨ng tõ 10,9% trong thêi kú 1961-1964 lªn 61% trong thêi

tû lÖ nµy t¨ng lªn 7, 6% trong nh÷ng n¨m 1966-1972

Trang 35

Bảng 5 : Quy mô các khoản cho vay xuất khẩu thời kỳ 1963-1971.

Đơn vị tính: Tỷ Won Năm Quy mô các khoản cho vay xuất khẩu1963

19641965196619671968196919701971

3,910,012,116,632,443,480,4161,6248,5

vay của DMB

Các khoản vay xuất khẩu của BOK/các khoản vay xuất

khẩu của DMB

4.5-

7.666,3

Nguồn: BOK, Economic Statistics Yearbook

2.2.2.3 Mối quan hệ của chính sách tín dụng với các chính sách khác

Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, chính sách tỷgiá hối đoái đã đợc chính phủ sử dụng nh là một công cụ chủ yếu để hỗ trợcho công nghiệp xuất khẩu Bằng việc thực hiện chiến lợc theo hớng xuấtkhẩu vào đầu những năm 60, chính phủ đã chuẩn hoá hệ thống tỷ giá hối đoái

Trang 36

và hợp nhất hệ thống tỷ giá hối đoái nhiều cấp phức tạp thành một hệ thống tỷgiá đơn nhất Khi chính phủ tiến hành phá giá đồng Won tới gần 100% vàonăm 1964, các sản phẩm của Hàn Quốc đã có đợc khả năng cạnh tranh về gíatrên thị trờng quốc tế và điều này giúp cho xuất khẩu của Hàn Quốc tăng tr-ởng nhanh

Việc cải cách hệ thống tỷ giá hối đoái cùng với các chính sách tài chính

và tiền tệ trong giai đoạn 1964-1967 đã thúc đẩy sự tăng trởng của các ngànhcông nghiệp xuất khẩu Hàn Quốc Việc cải thiện hệ thống tỷ giá hối đoái hiệuquả này đã góp phần duy trì sức cạnh tranh quốc tế về giá của hàng xuất khẩuHàn Quốc trong suốt thời kỳ mở rộng nhanh xuất khẩu và tăng trởng GNPcao

Bên cạnh chính sách tỷ giá hối đoái, chính phủ cũng sử dụng các chínhsách khác để đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu Các chính sách này bao gồm

giảm thuế quan và miễn thuế Đối với các sản phẩm nhập khẩu là các

nguyên liệu cho sản xuất xuất khẩu, chính phủ thực hiện miễn giảm thuế Cácdonh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu trong 4 năm đầu hoạt động đ-

ợc giảm thuế từ 50% đến 100%, 2 năm tiếp theo là 20 đến 30% đối với cáckhoản thu nhập từ hoạt động xuất khẩu Thực hiện một sự kết nối giữa xuấtkhẩu và nhập khẩu làm cho thu nhập của các nhà xuất khẩu tăng lên khi họ

có thể nhập các yếu tố đầu vào cho sản xuất với những u đãi Cùng với chínhsách giảm thuế chính phủ cũng thực hiện việc bảo vệ thị trờng nội địa trớccác đối thủ cạnh tranh nớc ngoài

Để thực hiện trên thực tế việc kiểm soát chơng trình tín dụng cho xuất

khẩu, chính phủ đã củng cố quyền lực của mình đối với hệ thống ngân

hàng, triển khai cung cấp các khoản tín dụng u đãi cho các nhà xuất khẩu

thông qua các giải pháp nh:

- Quốc hữu hoá các ngân hàng thuơng mại

- Thiết lập một số ngân hàng chuyên dụng của nhà nớc

- Sửa đổi luật ngân hàng trung ơng

Các giải pháp chính sách của chính phủ đợc thực hiện trong thời kỳnày cho phép đạt đợc các mục tiêu của định hớng xuất khẩu Tỷ lệ xuất khẩutrong GNP đã tăng từ 2,4% năm 1961 lên 6,8% vào năm 1966 và 11,2% vàonăm 1971 Nếu nh trong năm 1964, trong số các quốc gia đang phát triển châu

Trang 37

á, Hàn Quốc là nớc đạt kim ngạch xuất khẩu thấp nhất chỉ đạt 120 triệu USD( trong khi ấn Độ đạt 1,7 tỷ USD, Malaysia 1,1 tỷ USD) thì mời năm sau, vàonăm 1973, xuất khẩu Hàn Quốc tăng lên đạt 3,23 tỷ USD ( trong khi Malaysia

đạt 3,05 tỷ USD và ấn Độ đạt 2,92 tỷ USD) Kết quả tốt đẹp của chiến lợc

định hớng xuất khẩu làm cho GNP đầu ngời của Hàn Quốc đã tăng hơn gấp batrong giai đoạn 1962-1971 (từ 87 USD lên 289 USD)

2.1.3 Thời kỳ 1972-1979

2.1.3.1 Nội dung chính sách tín dụng của chính phủ

Chính sách tín dụng của chính phủ trong giai đoạn này là chính sách

tín dụng có lựa chọn Chính sách này của chính phủ Hàn Quốc có 2 điểm đặc

trng chính khác biệt khi so sánh với chính sách tín dụng của Nhật Bản hoặc

Đài loan (Trung Quốc)

Một là: Nguồn của các khoản vay chính sách phụ thuộc chủ yếu vào

các khoản tín dụng ngân hàng trung uơng và các khoản tiền gửi do DMBs huy

động đợc và không phụ thuộc nhiều vào ngân sách quốc gia hoặc các quỹ dochính phủ huy động ( nh các khoản tiết kiệm bu điện)

Hai là: không chỉ các ngân hàng chuyên biệt mà cả các ngân hàng

th-ơng mại liên quan nhiều đến việc cho vay theo chính sách Chỉ các tổ chức tàichính phi ngân hàng và các ngân hàng nớc ngoài không bị yêu cầu mở rộngcác khoản vay chính sách Tuy nhiên họ cũng khó tránh khỏi các yêu cầu cáckhoản vay cho danh mục đầu t của các công ty cho SMC từ đầu những năm80

* Cung cấp các khoản vay với tỷ lệ lãi xuất thấp.

Trong những năm 70, để phục vụ cho mục đích phát triển côngnghiệp nặng và công nghiệp hoá chất (HCI), chính phủ trở lại sử dụng công

cụ tỷ lệ lãi suất thấp đồng thời với việc tăng cờng kiểm soát đối với việc cấptín dụng

Bảng 7:Tỷ lệ lãi xuất thời kỳ 1972-1979

lạm phát

Lãi xuấttiết kiệm

Các khoản cho vay chính sáchcủa ngân hàng

Lãi xuấttrên thịtrờng

khẩu1972

1973

11,7

3,1

15,012,6

15,515,5

-

-6,07,0

39,033,2

Trang 38

12,012,014,014,016,016,0

9,09,08,08,09,09,0

40,647,940,538,141,742,4

Nguồn: Thống kê kinh tế hàng năm của BOK.

Các chính sách tín dụng đợc áp dụng đối với các đối tợng có lựa chọnhơn Sự trở lại chính sách lãi xuất thấp đợc đánh dấu bằng sắc lệnh khẩn cấpcủa Tổng thống năm 1972 để cứu giúp các tập đoàn đang cỡi trên những đống

nợ Các điều khoản trong săc lệnh bao gồm việc cho phép hoãn trả nợ ngay

đối với tất cả các khoản nợ của tập đoàn đối với các ngân hàng trong nớc, vàtái lập lại toàn bộ các khoản vay ngân hàng với một mức lãi suất giảm xuống.Việc hoãn trả nợ sẽ kéo dài 3 năm Sau đó, các khoản nợ phải đợc chuyểnthành các khoản vay kỳ hạn 5 năm với mức lãi suất tối đa hàng năm là 16.2%(trong khi tại thời điểm này tỷ lệ lãi suất phổ biến trên thị trờng là hơn 40%)

Tỷ lệ lãi suất ngân hàng trên các khoản vay trên 1 năm đợc giảm xuống từ19% còn 15.5% Xấp xỉ 30% các khoản vay ngắn hạn của ngân hàng thơngmại cho kinh doanh đợc chuyển thành các khoản vay dài hạn và sẽ đợc trảtrong thời hạn trên 5 năm với tỷ lệ lãi suất giảm còn 8%/ năm

Các biện pháp này đã chuyển gánh nặng trong việc thanh toán các khoản

nợ nớc ngoài của các tập đoàn (gây ra bởi sự phá giá đồng won để hỗ trợ tínhcạnh tranh của xuất khẩu) cho các nhà cho vay trong nớc và các ngân hàng.Gánh nặng lãi suất cho các doanh nghiệp kinh doanh đã đợc nhẹ bớt đi đáng

kể Tỷ lệ chi phí lãi suất trên tổng doanh thu của các doanh nghiệp chế tạogiảm mạnh từ 9.9% năm 1971 xuống 7.1% năm 1972, và sau đó 4.6% năm1973) Do tình trạng tài chính của các tập đoàn đã đợc cải thiện nên tình trạngcác khoản vay không sinh lãi của các ngân hàng cũng giảm từ 2.5% năm

1971 xuống 0.92% năm 1973 và 0.6% năm 1974 ( xem bảng 8)

* Hình thành Quỹ đầu t quốc gia (NIF).

Phát triển HCI đòi hỏi phải đầu t một lợng vốn lớn Tháng 12 năm

1973, chính phủ đã thành lập NIF nhằm tài trợ cho những đầu t dài hạn vào

Trang 39

việc xây dựng các nhà máy và mua sắm thiết bị cho ngành công nghiệp nặng

và công nghiệp hoá chất

Bảng 8 Tỷ lệ NPL và khả năng sinh lợi của các ngân hàng thơng mại (%)

Tỷ lệ NPL

Thu nhập thực trong tổng tài sản

2,460,28

2,240,21

0,920,30

0,630,78Nguồn: BOK,

Nguồn vốn của NIF đợc huy động từ các tổ chức tài chính trung gian vàcủa chính phủ chứ không phải từ nguồn tiền của BOK và từ các khoản vay nớcngoài Các dự án đầu t trong lĩnh vực HCI thờng là những dự án dài hạn và cómức độ rủi ro cao nên chúng không thể đợc tài trợ thông qua thị trờng tàichính Vì vậy, trong giai đoạn phát triển HCI, chính phủ phải can thiệp vàoviệc phân bổ nguồn vốn hiện có Việc thành lập NIF không nhằm mục đíchhuy động tiền tiết kiệm mới của dân c mà nhằm sử dụng nguồn tài chính đanghiện có phục vụ cho việc đầu t vào các dự án chiến lợc Chơng trình hoạt độngcủa NIF đợc đặt dới sự giám sát trực tiếp của Bộ tài chính BOK có tráchnhiệm kiểm soát một số nghiệp vụ mà NIF thực hiện Hoạt động của NIF phụthuộc rất lớn vào sự tài trợ của các tổ chức ngân hàng Trong thời kỳ 1974-

1982, nguồn vốn huy động từ các tổ chức ngân hàng chiếm khoảng 57 – 66%trong tổng vốn huy động, trong khi trong cùng thời kỳ, tỷ lệ vốn huy động từcác quỹ của chính phủ chiếm khoảng 15-20% trong tổng vốn huy động củaNIF( xem bảng )

Bảng 9: Nguồn vốn huy động của NIF.

41,0(58,7)99,8(47,4)208,8(60,6)317,2(60,6)528,8(63,6)802,0(66,5)

17,3(24,8)45,8(26,3)82,1(23,8)107,0(20,5)145,8(17,6)185,1(15,4)

69,8(100)173,9(100)344,5(100)523,2(100)828,3(100)1205,2(100)

Trang 40

1981

1982

309,4(21,1)385,0(20,7)422,4(17,4)

922,5(63,0)1226,0(65,8)1739,7(71,7)

233,1(15,9)251,4(13,5)263,4(10,9)

1465,0(100)1862,4(100)2425,5(100)

( Lu ý: Số trong dấu ngoặc là tỷ lệ phần trăm).

Nguồn: BOK, Đánh giá chung về Quỹ đầu t quốc gia, 1989.

Xuất phát từ những đặc trng của đầu t trong lĩnh vực HCI, thời hạn chovay của NIF đợc xác định tối đa là 8 đến 10 năm, trong đó bao gồm cả thời kỳgia hạn từ 2 đến 3 năm Trong suốt thời kỳ 1974 - 1982, tỷ lệ lãi xuất cho vaycủa NIF đợc xác định thấp hơn lãi xuất vay vốn chung của các ngân hàngkhoảng 4 đến 6,5% (xem bảng 10) Tỷ lệ này cho phép làm giảm bớt chi phítài chính của các doanh nghiệp vay vốn

Bảng 10: Tỷ lệ lãi xuất cho vay của NIF trong thời kỳ 1974- 1982

- Các khoản cho vay của NIF(A)

- Các khoản cho vay chung của

các ngân hàng (B)

- Chênh lệch :(A)- (B)

9,015,56,5

14,018,54,5

16,021,05,0

22,026,0

4,0

( Lu ý: tỷ lệ này chỉ tính đối với các khoản cho vay có thời hạn lớn hơn

3 năm ).Nguồn: BOK, Đánh giá chung về Quỹ đầu t quốc gia, 1989

Mặc dù tỷ trọng các khoản cho vay của NIF phục vụ cho HCI chiếm tỷtrọng không lớn trong tổng các khoản cho vay của ngân hàng ( xem bảng 10 )nhng NIF đã cung cấp khoảng 70% nhu cầu vốn đầu t cho việc mua sắm thiết

bị phục vụ cho HCI Bảng 11 cho thấy nếu năm 1974, NIF tỷ trọng cáckhoản cho vay của NIF phục vụ cho HCI chỉ chiếm 6% trong tổng các khoảncho vay của ngân hàng thì đến những năm cuối của thập niên 70 tỷ lệ này là20% Tỷ trọng các khoản cho vay của NIF cho nhu cầu mua sắm thiết bị trongtổng các khoản cho vay của ngân hàng ở mức cao cuối những năm 70 chothấy NIF đã đóng góp rất lớn trong việc mở rộng đầu t mua sắm thiết bị trongthời kỳ xây dựng các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất

Bảng 11: Tỷ trọng của các khoản cho vay của NIF trong

tổng các khoản vay do các ngân hàng cung cấp

công nghiệp khí đốtTổng Các khoản vay cho

mua sắm thiết bị

Ngày đăng: 10/04/2013, 21:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4:. Các chỉ số tài chính trong ngành công nghiệp chế tạo (%) - Nghiên cứu kinh nghiệm của hàn quốc trong việc sử dụng chính sách tín dụng
Bảng 4 . Các chỉ số tài chính trong ngành công nghiệp chế tạo (%) (Trang 39)
Bảng 6: Các khoản cho  vay xuất khẩu của các ngân hàng tiền gửi - Nghiên cứu kinh nghiệm của hàn quốc trong việc sử dụng chính sách tín dụng
Bảng 6 Các khoản cho vay xuất khẩu của các ngân hàng tiền gửi (Trang 41)
Bảng 7:Tỷ lệ lãi xuất thời kỳ 1972-1979. - Nghiên cứu kinh nghiệm của hàn quốc trong việc sử dụng chính sách tín dụng
Bảng 7 Tỷ lệ lãi xuất thời kỳ 1972-1979 (Trang 44)
Bảng 15:    Tỷ giá hối đoái  thời kỳ 1973-1980 - Nghiên cứu kinh nghiệm của hàn quốc trong việc sử dụng chính sách tín dụng
Bảng 15 Tỷ giá hối đoái thời kỳ 1973-1980 (Trang 53)
Bảng 20: Quá trình phát triển ngân hàng thơng mại Việt Nam giai đoạn 1991-1995 - Nghiên cứu kinh nghiệm của hàn quốc trong việc sử dụng chính sách tín dụng
Bảng 20 Quá trình phát triển ngân hàng thơng mại Việt Nam giai đoạn 1991-1995 (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w