MỤC LỤC Trang PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4 3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5 3.1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận 5 3.2. Điều tra, phân tích thực trạng 5 3.3. Đề xuất và thử nghiệm 5 3.4. Đề xuất kiến nghị sư phạm.........................................................................5 4. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 5 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6 1.1.Các định hướng cơ bản của môn Toán THCS 6 1.2. Nội dung kiến thức trong chương trình Toán THCS……………………..8 1.3. Mục đích, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng………………………………...11 1.4. Thực trạng của vấn đề………………………………………………...….12 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 …………17 CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN…………………………………….18 2.1 Biện pháp 1 18 2.2 Biện pháp 2 18 2.3 Biện pháp 3 19 2.4 Biện pháp 4 19 2.5 Biện pháp 5 20 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 23 PHẦN 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm…………………………………………………….24 3.2 Nội dung thực nghiệm…………………………………………………….25 3.3 Kết quả thực nghiệm……………………………………………………...30 3.4 Những bài học kinh nghiệm………………………………………………30 PHẦN 4: KẾT LUẬN 4.1 Kết luận…………………………………………………………………. 32 4.2 Kiến nghị, đề xuất………………………………………………………....32 PHẦN 5: TÀI LIỆU THAM KHẢO 5.1 Tài liệu tham khảo……………………………………………………..…38 Phần 1: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Toán học là môn khoa học nghiên cứu về các số, cấu trúc, không gian và các phép biến đổi. Nói một cách khác, người ta cho rằng đó là môn học về hình và số. Theo quan điểm chính thống, nó là môn học nghiên cứu về các cấu trúc trừu tượng định nghĩa từ các tiên đề, bằng cách sử dụng Luận lý học (lôgic) và ký hiệu toán học. Các quan điểm khác của nó được miêu tả trong Triết học toán. Do khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều khoa học, toán học được mệnh danh là ngôn ngữ của vũ trụ. Chuyên gia trong lĩnh vực toán học được gọi là nhà toán học. Môn Toán là môn khoa học có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành khả năng suy luận đặc trưng của toán học cần thiết cho cuộc sống. Chính vì thế, môn toán cần được khai thác để góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung, và hình thành các phẩm chất trí tuệ. Trong đó, các phẩm chất trí tuệ bao gồm: tính linh hoạt, tính độc lập, tính sáng tạo. Đây là ba phẩm chất trí tuệ cơ bản trong quá trình dạy học, nó đặc biệt quan trọng khi dạy học giải toán. Trong đó, có dạy học phương pháp giải một số bài toán có chứa dấu giá trị tuyệt đối. Dạng toán này là dạng toán tương đối khó, quá trình giải đòi hỏi học sinh phải xét nhiều trường hợp, rồi sau đó biết tổng hợp nghiệm, kết luận bài toán, nên tâm lí e ngại khi gặp phải dạng bài này trở nên phổ biến đa số học sinh. Khi gặp dạng bài toán này, các em còn thụ động, chỉ biết giải các bài được thầy cô hướng dẫn, còn khi đứng trước bài toán mới lạ, thì lúng túng, thiếu kĩ năng giải, chưa biết linh hoạt trong việc nhìn nhận phân tích dữ kiện đầu bài, vận dụng kiến thức đã học vào giải bài toán, chưa biết độc lập suy nghĩ tìm ra hướng giải và sáng tạo ra những bài toán mới, cách giải mới. Điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng và kết quả học tập hình học của các em. Môn Toán là môn học đầy thú vị và rất hay nếu chúng ta biết tận dụng, biết phương pháp học sẽ rất dễ và giúp ích cho học sinh và rất cần thiết trong cuộc sống. Và ngược lại môn Toán làm cho hs sợ trở nên chán ngán, lo sợ, thiếu tự tin gây ức chế trong giờ học Toán và càng ngày khó học các môn học khác. Trong chương trình toán THCS, tuy mức độ hơi khó nhưng kiến thức kỹ năng có tính cơ bản mở đầu, nếu học sinh học kém Toán sẽ hạn chế trong năm học tiếp theo. Cho nên đối với cấp học, bậc học hay môn học nào cũng có mặt mạnh, yếu của nó và điều có học sinh khá giỏi, trung bình yếu, kém nhưng với học sinh khá giỏi thì các em tiếp thu được vốn tri thức được nhanh hơn so với học sinh yếu kém. Vì vậy trong môn Toán việc học sinh giỏi hay khá còn phụ thuộc rất nhiều vào cách truyền đạt kiến thức và khả năng tiếp nhận của học sinh hay do nhiều nguyên nhân khác nhau. Đối với bản thân em là giáo viên mới ra trường công tác được 4 năm tuy không phải thời gian ngắn nhưng kiến thức được học tại trường chưa đảm bảo và với ý tưởng tự trang bị kiến thức trong hoạt động dạy học nên em tiến hành nghiên cứu đề tài này để có biện pháp giúp đỡ học sinh vì trong thực tế thì rất khác so với việc học trong trường, vì vậy em cần phải cố gắng hơn nữa trong giảng dạy và luôn vì nghề mà cống hiến. Cho nên việc dạy trong một lớp có nhiều hs yếu kém là không thể chấp nhận được vì đó là sự bất lực của giáo viên giáo dục, em biết bản thân không thể thực hiện trong thời gian ngắn mà đạt kết quả được mà phải từng bước lập và thực hiện kế hoạch cụ thể đối với từng đối tượng, tìm hiểu nguyên nhân, từng bước góp phần khắc phuc tình trạng học kém Toán của học sinh THCS. Việc lựa chọn đề tài này giáo viên phải đi đúng hướng, tâm huyết với nghề mới đạt được kết quả như mong muốn. Là giáo viên mới ra trường nên chưa thể đi sâu và không có thời gian nhiều để thâm nhập thực tiễn nhưng với lòng yêu nghề mến trẻ, đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ thì em sẽ cố gắng hoàn thành và ra sức trau dồi, không ngừng nâng cao trình độ. Chúng em bây giờ học cho học sinh thân yêu chớ không là học cho bản thân nữa, học sinh biết một, giáo viên biết mười. Từ đó mới có thể giúp đỡ bồi dưỡng học sinh, nắm được điểm mạnh yếu trong môn Toán vì toán tương đối khó và trừu tượng vì vậy sẽ tạo những khó khăn cho học sinh. Cho nên là giáo viên phải biến những khó khăn phức tạp thành những kiến thức đơn giản để truyền thụ cho các em. Và việc giúp đỡ, học sinh kém là việc cấp bách trong giai đọan hiện nay, cho nên có thể nói việc lựa chọn đề tài này được xem như là bước ngoặt đầu tiên để được trực tiếp giảng dạy, tìm hiểu từng học sinh, lớp và đề ra những kế hoạch từng bước làm hạn chế hs kém Toán trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng học toán, để giáo dục Việt Nam sánh ngang tầm với giáo dục thế giới vì : “ Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển ”.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TOÁN TIN
… …
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VỀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
Tên đề tài: Phương pháp giải một số bài toán
chứa dấu giá trị tuyệt đối
Người hướng dẫn: Phạm Hoàng Hà – Nguyễn Văn Trào
Cán bộ giảng dạy Khoa Toán – Tin, ĐHSP Hà Nội
Người thực hiện: Nguyễn Văn Hiếu
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
3.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận 5
3.2 Điều tra, phân tích thực trạng 5
3.3 Đề xuất và thử nghiệm 5
3.4 Đề xuất kiến nghị sư phạm 5
4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 5
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6
1.1.Các định hướng cơ bản của môn Toán THCS 6
1.2 Nội dung kiến thức trong chương trình Toán THCS……… 8
1.3 Mục đích, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng……… 11
1.4 Thực trạng của vấn đề……… ….12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 …………17
CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN……….18
2.1 Biện pháp 1 18
2.2 Biện pháp 2 18
2.3 Biện pháp 3 19
2.4 Biện pháp 4 19
2.5 Biện pháp 5 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 23
PHẦN 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thực nghiệm……….24
3.2 Nội dung thực nghiệm……….25
3.3 Kết quả thực nghiệm……… 30
3.4 Những bài học kinh nghiệm………30
PHẦN 4: KẾT LUẬN 4.1 Kết luận……… 32
4.2 Kiến nghị, đề xuất……… 32
PHẦN 5: TÀI LIỆU THAM KHẢO 5.1 Tài liệu tham khảo……… …38
Trang 3là nhà toán học.
Môn Toán là môn khoa học có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành khả năng suy luận đặc trưng của toán học cần thiết cho cuộc sống Chính vì thế, môn toán cần được khai thác để góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung, và hình thành các phẩm chất trí tuệ Trong đó, các phẩm chất trí tuệ bao gồm: tính linh hoạt, tính độc lập, tính sáng tạo Đây là ba phẩm chất trí tuệ cơ bản trong quá trình dạy học, nó đặc biệt quan trọng khi dạy
học giải toán Trong đó, có dạy học phương pháp giải một số bài toán có chứa dấu giá trị tuyệt đối Dạng toán này là dạng toán tương đối khó, quá trình giải
đòi hỏi học sinh phải xét nhiều trường hợp, rồi sau đó biết tổng hợp nghiệm, kết luận bài toán, nên tâm lí e ngại khi gặp phải dạng bài này trở nên phổ biến đa số học sinh
Khi gặp dạng bài toán này, các em còn thụ động, chỉ biết giải các bài được thầy cô hướng dẫn, còn khi đứng trước bài toán mới lạ, thì lúng túng, thiếu kĩ năng giải, chưa biết linh hoạt trong việc nhìn nhận phân tích dữ kiện đầu bài, vận dụng kiến thức đã học vào giải bài toán, chưa biết độc lập suy nghĩ tìm ra hướng giải và sáng tạo ra những bài toán mới, cách giải mới Điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng và kết quả học tập hình học của các em
Môn Toán là môn học đầy thú vị và rất hay nếu chúng ta biết tận dụng,biết phương pháp học sẽ rất dễ và giúp ích cho học sinh và rất cần thiết trongcuộc sống Và ngược lại môn Toán làm cho hs sợ trở nên chán ngán, lo sợ, thiếu
tự tin gây ức chế trong giờ học Toán và càng ngày khó học các môn học khác.Trong chương trình toán THCS, tuy mức độ hơi khó nhưng kiến thức kỹ năng cótính cơ bản mở đầu, nếu học sinh học kém Toán sẽ hạn chế trong năm học tiếptheo Cho nên đối với cấp học, bậc học hay môn học nào cũng có mặt mạnh, yếucủa nó và điều có học sinh khá giỏi, trung bình yếu, kém nhưng với học sinh khágiỏi thì các em tiếp thu được vốn tri thức được nhanh hơn so với học sinh yếukém Vì vậy trong môn Toán việc học sinh giỏi hay khá còn phụ thuộc rất nhiềuvào cách truyền đạt kiến thức và khả năng tiếp nhận của học sinh hay do nhiềunguyên nhân khác nhau Đối với bản thân em là giáo viên mới ra trường côngtác được 4 năm tuy không phải thời gian ngắn nhưng kiến thức được học tạitrường chưa đảm bảo và với ý tưởng tự trang bị kiến thức trong hoạt động dạyhọc nên em tiến hành nghiên cứu đề tài này để có biện pháp giúp đỡ học sinh vìtrong thực tế thì rất khác so với việc học trong trường, vì vậy em cần phải cốgắng hơn nữa trong giảng dạy và luôn vì nghề mà cống hiến Cho nên việc dạy
3
Trang 4trong một lớp có nhiều hs yếu kém là không thể chấp nhận được vì đó là sự bấtlực của giáo viên giáo dục, em biết bản thân không thể thực hiện trong thời gianngắn mà đạt kết quả được mà phải từng bước lập và thực hiện kế hoạch cụ thểđối với từng đối tượng, tìm hiểu nguyên nhân, từng bước góp phần khắc phuctình trạng học kém Toán của học sinh THCS Việc lựa chọn đề tài này giáo viênphải đi đúng hướng, tâm huyết với nghề mới đạt được kết quả như mong muốn.
Là giáo viên mới ra trường nên chưa thể đi sâu và không có thời gian nhiều đểthâm nhập thực tiễn nhưng với lòng yêu nghề mến trẻ, đầy nhiệt huyết của tuổitrẻ thì em sẽ cố gắng hoàn thành và ra sức trau dồi, không ngừng nâng cao trình
độ Chúng em bây giờ học cho học sinh thân yêu chớ không là học cho bản thânnữa, học sinh biết một, giáo viên biết mười Từ đó mới có thể giúp đỡ bồi dưỡnghọc sinh, nắm được điểm mạnh yếu trong môn Toán vì toán tương đối khó vàtrừu tượng vì vậy sẽ tạo những khó khăn cho học sinh Cho nên là giáo viênphải biến những khó khăn phức tạp thành những kiến thức đơn giản để truyềnthụ cho các em Và việc giúp đỡ, học sinh kém là việc cấp bách trong giai đọanhiện nay, cho nên có thể nói việc lựa chọn đề tài này được xem như là bướcngoặt đầu tiên để được trực tiếp giảng dạy, tìm hiểu từng học sinh, lớp và đề ranhững kế hoạch từng bước làm hạn chế hs kém Toán trong nhà trường, góp phầnnâng cao chất lượng học toán, để giáo dục Việt Nam sánh ngang tầm với giáo
dục thế giới vì : “ Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển ”
Chính vì vậy, giáo viên cần thường xuyên chú trọng việc rèn luyện cho họcsinh các phẩm chất trí tuệ: linh hoạt, độc lập, sáng tạo thông qua giải toán cực trị, nhằm phát triển trí tuệ cho học sinh Với những lí do trên tôi xin được chọn
đề tài nghiên cứu:
“phương pháp giải một số bài toán có chứa dấu giá trị tuyệt đối”
Trang 53.Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về: Hứng thú, hứng thú học tập,
đặc điểm hứng thú học môn Toán của học sinh nói chung, hứng thúhọc môn Toán của học sinh THCS nói riêng; các yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển hứng thú của học sinh THCS
3.2 Điều tra, phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng hứng
thú học môn Toán của học sinh ở một số trường THCS; xác định những đặc điểm của hứng thú học môn Toán ở học sinh THCS
3.3 Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp tâm lý sư phạm nhằm nâng
cao hứng thú học môn Toán cho học sinh
3.4 Đề xuất kiến nghị sư phạm nhằm phát triển hứng thú học môn Toán
của học sinh THCS
4.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Về khách thể nghiên cứu: Do điều kiện hạn chế nên không thể nghiên
cứu HS tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5, chúng tôi chỉ chọn nghiên cứu được học sinhkhối lớp 8 và lớp 9; hai khối lớp đặc trưng của THCS
- Về đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu một số đặc điểm hứng thú học môn Toán của học sinh THCS + Biện pháp tâm lý sư phạm: chủ yếu áp dụng một số tác động tâm lý thông qua phương pháp dạy học của giáo viên nhằm tăng tính chủ động, tìm tòi, sáng tạo và tạo lập bầu không khí tâm lý học sinh tích cực trong quá trình học tập để nâng cao hứng thú học môn Toán
- Địa bàn nghiên cứu:
Triển khai nghiên cứu tại một số trường THCS thuộc Huyện Sông Lô: THCS Cao Phong, THCS Đức Bác, THCS Yên Thạch,
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài đã sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu mà tôi sẽ trình bày chi tiết ở chương 2 của luận án, bao gồm các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học
5
Trang 6PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận thực tiễn cú liờn quan đến đề tài nghiờn cứu
1 Các định hớng cơ bản nhằm nâng cao chất lợng giáo dục:
Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khoá X
về đổi mới chơng trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của đổi mớichơng trình giáo dục phổ thông lần này là “xây dựng chơng trình, phơng phápgiáo dục, SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện chothế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nớc phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cậntrình độ giáo dục phổ thông ở các nớc phát triển trong khu vực và trên thế giới”
Điều đó đã đợc Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo thực hiện bằng việc thay sáchgiáo khoa và tập huấn đổi mới phơng pháp giảng dạy cho giáo viên nhiều lầnthông qua các lớp chuyên đề và các chơng trình bồi dỡng thờng xuyên Sự thay
đổi này đã đợc đội ngũ giáo viên chúng tôi nhiệt tình hởng ứng, rèn luyện vàthực hiện nghiêm túc trong quá trình giảng dạy nhằm tạo ra cho HS nhiều hứngthú trong học tập, đảm bảo mục tiêu giáo dục
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.
– Căn cứ Chỉ thị số 3398/CT-BGDĐT ngày 12.8.2011 của Bộ trưởng Bộ Giỏo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tõm của giỏo dục mầm non, giỏo dục phổ thụng, giỏo dục thường xuyờn và giỏo dục chuyờn nghiệp năm học 2011 -2012;
Cụng văn số 5358/BGDĐT-GDTrH ngày 12.8.2011 của Bộ Giỏo dục và Đào
tạo về việc thực hiện nhiệm vụ giỏo dục trung học năm học 2011 - 2012; Quyết định số 1562/QĐ-UBND ngày 08.7.2011 của Uỷ ban nhõn dõn tỉnh ban hành kế hoạch thời gian năm học 2011 - 2012 của giỏo dục mầm non, giỏo dục phổ thụng và giỏo dục thường xuyờn tỉnh Vĩnh Phỳc; Sở Giỏo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giỏo dục trung học tỉnh Vĩnh Phỳc năm học 2011 - 2012; Chỉ thị
số 21/CT-UBND ngày 24/8/2011 của Ủy ban nhõn dõn tỉnh Vĩnh Phỳc về việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2011 - 2012; Hướng dẫn số: 643/SGDĐT-
GDTrH ngày 24 thỏng 8 năm 2011 Của Sở GD&ĐT Vĩnh Phỳc, V/v hướng dẫn
thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2011 - 2012
– Căn cứ vào cụng văn 961/SGDĐT ngày 30/10/2008 của Sở GD&ĐT Vĩnh Phỳc V.v Qui định mẫu hồ sơ, sổ sỏch trong nhà trường
CÁC ĐỊNH HƯỚNG LỚN ĐỂ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM ĐấN NĂM 2020
Trang 7Việt Nam đang triển khai các chương trình và kế hoạch cụ thể để đổi mới
cơ bản và toàn diện giáo dục đại học nhằm đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêucầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, theo Nghị quyết số 14/2005/NQ-CPngày 2/11/2005 của Chính phủ Đó là các chương trình, đề án sau:
1 Phát triển các chương trình đào tạo tại các trường đại học đạt trình độtiên tiến trong khu vực và thế giới, hình thành các trường đại học có trình độquốc tế
2 Hoàn chỉnh mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học trên phạm vi toànquốc
3 Chương trình 10 năm nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo 5 Gắnkết đào tạo với yêu cầu sử dụng nguồn nhân lực, thực hiện việc đào tạo theo nhucầu xã hội
4 Nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá
5 Đổi mới phương thức triển khai hoạt động khoa học công nghệ và hợptác quốc tế
6 Khắc phục những bất cập trong đào tạo cho đồng bào vùng khó khăn,vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa
7 Đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục, tăng cường thực hiện phươngthức tín dụng cho sinh viên
Trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học Đặc biệt là thực hiện các cuộc
vận động lớn như : "Hai không" , " Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo" , " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" Qua thực hiện
các cuộc vận động này đã làm thay đổi khá nhiều về chất lượng giáo dục Tuy
có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng thật sự của giáo dục hiện nay ở bậc THCS còn khá nhiều yếu kém Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải tìm những những nguyên nhân yếu kém một cách chính xác, phải nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan Từ đó bình tỉnh đưa ra những giải pháp tích cực sát với thực tế để từng bước nâng cao chất lượng Vấn đề này cần phải có thời gian công sức của
mọi người trong toàn xã hội Không nôn nóng nhưng cũng không để kéo dài
làm trì trệ sự phát triển của GD.
Nói đến chất lượng giáo dục là nói đến chất lượng sản phẩm của giáo dục làm ra , để đánh giá sản phẩm của giáo dục thì phải đánh giá một cách toàn diện : gồm cả chất lượng chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học -
kỹ thuật, thể lực
Ai cũng biết là có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Đó
là đội ngũ CBCC làm công tác giáo dục, chương trình- sách giáo khoa, thiết bị dạy học, cơ sở vật chất, ý thức học tập của học sinh, sự quan tâm của cha mẹ học sinh, của các cấp uỷ Đảng chính quyền , của các tổ chức xã hội, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục
7
Trang 8Vậy yếu tố nào là quyết định đến chất lượng giỏo dục? Chỳng ta phải cú trỏchnhiệm trả lời cõu hỏi này một cỏch khỏch quan và chớnh xỏc Chỳng ta sẽ và
phải làm gỡ để xõy dựng một thương hiệu chất lượng giỏo dục cho nhà trường chỳng ta ?
Để đạt đợc điều đó ngời giáo viên không những thực hiện nghiêm túc quy chếchuyên môn mà còn phải có nhiều sáng tạo trong quá trình giảng dạy Trong quátrình giảng dạy tại trờng THCS Cao Phong tôi mạnh dạn đa ra cho học sinhnhiều bài tập nâng cao, mới mẻ với các em và đợc các em rất thích thú, trong đó
có bài tập loại “phương phỏp giải một số bài toỏn cú chứa dấu giỏ trị tuyệt đối”.
2 Nội dung kiến thức trong chương trỡnh mụn toỏn THCS:
2.1 Nhắc lại về giỏ trị tuyệt đối:
Hóy bỏ dấu giỏ trị tuyệt đối cho cỏc biểu thức sau:
Vớ dụ 1: Bỏ dấu giỏ trị tuyệt đối và rỳt gọn cỏc biểu thức
2.2 Giải một số phương trỡnh chứa dấu giỏ trị tuyệt đối:
Xột vớ dụ 1 Giải phương trỡnh sau:
Giải:
thỡ phương trỡnh
0 0
( 3)
x x
Trang 9thì phương trình
(loại)Vậy tập nghiệm của phương trình là:
Phương pháp giải phương rình chứa dấu giá trị tuyệt đối:
• Bỏ dấu giá trị tuyệt đối theo hai trường hợp
• Đưa phương trình đề bài theo từng trường hợp để giải
• So sánh nghiệm thu được với điều kiện của trường hợp đĩ xem cĩ thỏa mãn khơng
• Kết luận nghiệm của phương trình
Ta có: -(x+5)=3x+1 -x-5=3x+1
6 -x-3x=1+5 -4x=6 x= 1,5 (Loại )
4
* Kết luận: Tập nghiệm của pt (3) là S= 2
x
Trang 103.Mục đích, yêu cầu, chuẩn kiến thức, kỹ năng của vùng kiến thức cần nghiên cứu.
Trang 11Như đã nêu trên, mục đích nghiên cứu là mong muốn tập hợp nhiều ý kiến,nhiều giải pháp và kinh nghiệm, để chia sẽ, trao đổi nhằm thực hiện có chấtlượng hơn công tác phụ đạo học sinh yếu; Giúp giáo viên dạy lớp dễ dàng ápdụng mang lại hiệu quả cao hơn trong giáo dục học sinh yếu Góp phần nâng caochất lượng giáo dục toàn diện và hạn chế học sinh lưu ban Thực hiện tốt “ Nóikhông với học sinh ngồi nhầm lớp” , thực hiện đúng mục tiêu giáo dục đã đề ra.Năm học 2011 – 2012, trường THCS Cao Phong có số học sinh yếu là: 21 em /5khối Lên lớp sau thi lại là: 10 em, còn lại 11 em là học sinh lưu ban Đầu nămhọc 2010 - 2011 theo điều tra và báo cáo của các khối hiện có: 63 học sinh họcyếu rải đều các môn học tỉ lệ 17,5 % so tổng số học sinh toàn trường trong đó
đã tính 4 học sinh thuộc dạng hòa nhập do chậm phát triển trí tuệ Sau Hội NghịCBCNVC đầu năm, BGH chúng tôi tiến hành xây dựng kế hoạch phụ đạo họcsinh yếu của trường, đứng trước thực tế khó khăn trên BGH chúng tôi hết sức lolắng về hiệu quả của công tác phụ đạo học sinh yếu Nhưng “trong cái khó lại lócái khôn” Bằng kinh nghiệm quản lí và giảng dạy nhiều năm, qua học hỏi từđồng nghiệp chúng tôi đã rút ra một số kinh nghiệm khi áp dụng thấy có hiệuquả trong việc giáo dục học sinh yếu Mong muốn được chia sẽ cùng giáo viêntrường và cũng tạo điều kiện để thu thập thêm kinh nghiệm, xây dựng kế hoạchphụ đạo HS yếu của trường thiết thực hơn Chúng tôi đã tổ chức trình bày một
số kinh nghiệm của mình với giáo viên và xin ý kiến đóng góp thêm của giáoviên về các giải pháp đã thực hiện thấy có hiệu quả Sau đó tổng hợp viết thànhsáng kiến kinh nghiệm để giáo viên trường tham khảo thêm
- Nhằm thực hiện đúng nội dung, tinh thần của cuộc vận động “Hai không” màđặc biệt là nội dung “không để học sinh ngồi nhầm lớp”, góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục, giảm dần số học sinh yếu, đáp ứng nhu cầu giáo dục trong giaiđoạn hiện nay
- Trong thực tế giảng dạy giáo viên gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trongphụ đạo học sinh yếu, do thiếu kinh nghiệm và thực hiện không đúng quy trình,hoặc quá nôn nóng muốn có ngay kết quả, nên thường thất bại hoặc đạt kết quảkhông cao
- Nhằm tập hợp kinh nghiệm, xây dựng quy trình phụ đạo, giúp giáo
viên có định hướng và giải pháp phụ đạo tốt hơn, có hiệu quả hơn Nhằm chia
sẽ các kinh nghiệm giáo dục học sinh yếu với quý đồng nghiệp và tổng hợpnhiều hơn các giải pháp có thể áp dụng vào giảng dạy, tháo gở khó khăn trongcông tác phụ đạo học sinh yếu trong giai đoạn hiện nay Đó cũng chính là lí dotôi chọn đề tài này để nghiên cứu
4 Điều tra thực trạng việc dạy và học của giáo viên và học sinh tại trường THCS Cao Phong:
11
Trang 12• Cán bộ, Giáo viên, nhân viên :
Tổng số cán bộ GV: 26 trong đó: Quản lý: 2, GV giảng dạy: 22, Tổng phụ trách đội: 1, Thư viện: 1
- Trình độ chuyên dều đạt chuẩn và trên chuẩn
- Xếp loại chuyên môn: Giỏi: 8/25- 32 %, khá: 17/25- 68 % GV tham gia thi giáo viên giỏi cấp trường 4 đạt GVDG 4
- Xếp loại thi đua: Tổ Toán lý đạt danh hiệu tập thể LĐTT, cá nhân LĐTT:
11 đ/c - 42, HTNV: 15 đ/c - 58%
- Công đoàn: Công đoàn trường vững mạnh - LĐLĐ huyện khen, 1 cá nhân được LĐLĐ huyện khen
1 Số liệu chất lượng qua khảo sát chất lượng đầu năm:
Khối TSHS SLGiỏiTL SLKháTL SL TBTL SLYếuTL SLKémTL
2 Kết quả thực hiện được trong học kỳ I đạt được:
Khối TSHS SLGiỏiTL SLKháTL SL TBTL SLYếuTL SLKémTL
3 Kết quả cuối năm học 2009-2010 đạt được:
Trang 138 91 0 0,0 22 24,2 50 54,9 19 20,9 0
* Tồn tại, yếu kém:
- Chất lượng học tập của học sinh còn yếu kém, số lượng học sinh khá giỏi
ít, còn nhiều học sinh xếp loại học lực yếu, không có học sinh giỏi các cấp, học sinh bỏ học nhiều
- Hạnh kiểm học sinh ngày càng xuống cấp, tỉ lệ học sinh có hạnh kiểm yếu tăng
- Tỉ lệ LĐTT thấp, không có chiến sĩ thi đua, Tỉ lệ GV tham gia thi GV dạy giỏi thấp
- Phía nhà trường và giáo viên: Cơ sở vật chất trường lớp phục vụ tốt cho
công tác phụ đạo, ngay đầu năm nhà trường đã có xây dựng kế hoạch phụ đạohọc sinh yếu và được giáo viên hưởng ứng tốt, tích cực tham gia giảng dạy
* Khó khăn: Bên cạnh đó còn những khó khăn bức xúc chung rất khó có thể
giải quyết triệt để nếu không có sự đồng tâm của tập thể giáo viên, cụ thể là:
- Học sinh: Đọc sách còn chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai, học vẹtkhông có khả năng vận dụng kiến thức, nói chung các kĩ năng cơ bản: nghe -đọc–nói -viết của các em chưa hoàn chỉnh Không biết làm tính, yếu các kĩ năngtính toán cơ bản, cần thiết như (cộng, trừ nhân, chia) chủ yếu là học sinh lớp 6.Khả năng phân tích, so sánh còn hạn chế
- Giáo viên: Chưa xác định được cách phụ đạo học sinh, chưa biết phải
bắt đầu từ đâu, luôn lúng túng khi xây dựng nội dung phụ đạo, nên kết quảthường không cao
Chính vì vậy công tác phụ đạo hiện nay luôn được các nhà trường và giáoviên đặc biệt quan tâm
Ngày đầu tiên vào truờng thì số lượng học sinh giỏi, và học sinh kém toán
là bao nhiêu nên em không biết, em hỏi, họ ngại, nên nói có vẻ như ngượng ,nóinhư vậy sợ sẽ đánh giá của lớp cô dạy như thế nào mới như vậy Vì vậy qua quátrình thực tập dạy học và chủ nhiệm em tự mình điều tra hỏi học sinh kết quảhọc tập của từng em như thế nào, qua tìm hiểu em thấy đa số lớp nào cũng có từ
3 đến 4 em, số lượng không nhiều nhưng nó ảnh hưởng đến kết quả của nguyênlớp Cho nên GV cần phải quan tâm nhiều đến HS và cả gia đình Trong quátrình dạy và chủ nhiệm thì em phát hiện trong lớp có em học kém toán như: MỹHạnh, Ngọc Minh, Hồng Châu, Mỹ Anh, các em diều có chung một điểm là:Đối với môn toán các em học rất thuộc các quy tắc, đọc lưu loát, nhưng khi hỏicông thức thì các em không nói được, hoặc không nhớ, nên rất khó vận dụngvào việc giải toán GV hướng dẫn chó em kèm học sinh yếu trong tuần, ngàynào em cũng phải kiễm tra bài và cả lý thuyết, lí thuyết thì các em học thuộc,còn
13
Trang 14em ra đề cho học sinh làm bài tâp thì các em không làm, hoặc nói là quên, mất,làm sai, em hướng dẫn sủa bài thì các em vẫn chú ý lắng nghe, nhưng khi chocác em sửa bài tập lại thì làm cũng không được,các em chỉ học máy móc điềuquan trọng là không tự mình suy nghĩ, đợi chờ chép bài của bạn là xong, lúc nàocũng vậy, các em điều không tự làm, mặc dù em đã nhiều lần nhắc nhở Tronglúc dạy tiết học em được dạy 2 tiết, còn bạn em được dạy 4 tiết toán, lúc dạychúng em luôn cố gắng truyền tải đầy đủ hết nội dung của bài hướng dẫn làmbài tập một cách tận tình để các em yếu có thể theo kịp và làm được đúng cácbài tập, trong lúc học dưới sự hướng dẫn của giáo viên thì học sinh điều có thểhiểu bài, nhưng khi các em làm vào vở bài tập, thì các em lại găp khó khăn vềcách đối các đơn vị do thới gian như ngày đổi ra tháng năm … và đổi ngược lại
vì các em chưa thật sự hiểu sâu, chỉ có nhưng em học giỏi toán thì tiếp thu kiếnthức thật nhanh còn học sinh kém thì càng gặp khó khăn nhiều, tình trạng nàyluôn diễn ra trong lớp học hằng ngày, mặc dù giáo viên chủ nhiệm đã cố gắnghướng dẫn, như sự học yếu toán của học sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau
Vì vậy giáo viên cần phải tìm hiểu và xem xét các nguyên nhân ảnh hưỡng đếnhọc sinh rồi từ đó có thể đề ra các biện pháp thích hợp để giúp đỡ học sinh.Việc học sinh học kém toán ở trường tiểu học luôn có, số lượng học sinh nhiềuhay ít là do mỗi trường có biện pháp giúp đở tốt hay không? Và học sinh yếukém ở mỗi môn học là tất yếu, có lúc học sinh này không thích học nên việc họcđược tốt môn toán là rất hạn chế vì dắc trưng của môn toán là suy luận, tư duy
và khái quát cao nên các em cần phải tự phát hiện, tìm tòi rất khó với học sinh,nhưng nói như vậy không phải là khó hoàn toàn nếu ta biết cách học sẽ học tốt,
nó có nhiều ứng dụng trong cuộc sống Qua việc tìm hiểu ý kiến của học sinh thì
có rất nhiều học sinh không thích học toán, học sinh ngại và sợ tính toán, mặc dùcác em điều dạt điểm 9,10 nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao không thích họctoán mà đạt điểm cao, một câu hỏi khó mà trả lời được, với nhưng lí do đó em tựmình tìm hiểu, thật ra là qua việc tiếp xúc và trò chuyện thì các em nói rằng: “Môn Toán thật lòng các em không thích, em thích Tiếng Việt, Nhạc, Mĩ thuật…học toán phải tính, suy nghĩ mệt mà có lúc không hiểu gì…” rất nhiều ý kiếnnhưng vấn đề ở đây không biết có phải là cách tổ chức dạy học của giáo viênkhông sinh động, hấp dẫn thu hút học sinh không tạo được hứng thú trong họctập, nên các em không quan tâm tới, cứ học từ từ, không cần phải quan tâm đếnkết quả có đúng không khi làm sai, khi gọi các em giải thích tại sao làm như vậythì học sinh không giải thích được mà chỉ im lặng Điều đó cho thấy các em học
mà không hiểu, chứng tỏ là chép bài của bạn nên không lí giải được, nên khôngbiết đúng hay sai chỗ nào, chỉ đối phó với giáo viên Vấn đề ở đây nó thể hiệnhai mặt, một mặt việc học kém toán xuất pháp từ phía học sinh học mà không cốgắng cũng như không chịu tự khám phá, tìm tòi trong lúc học tập hoặc do ý thứchọc tập của các em chưa cao, xác định động cơ chưa đúng… Hay bắt nguồn từphía gia đình, hoặc giáo viên chưa có phương pháp hay hình thức học tập chưalôi cuốn học sinh, chưa tạo điều kiện cho các em thể hiện năng lực của mình,nên hạn chế khả năng sáng tạo của học sinh, việc dạy và hướng dẫn học sinhchiếm lĩnh tri thức là khó khăn đòi hỏi giáo viên phải tận tình giúp đở mới đạtđược kết quả như mong muốn Thực tế cho thấy qua việc em được dự thao giảng
1 tiết toán do thầy Nguyễn Minh Tân dạy ở lớp 8a/2: “Phương trình có chứa
Trang 15dấu giá trị tuyệt đối” tiết dạy cũng tốt nhưng còn nhiều vấn đề ở đây là trong
việc hình thành các kiến thức mới thì qua việc học sinh được học rồi các phépgiải một số phương trình đơn giản thì giáo viên cần dùng những câu hỏi là họcsinh có thể làm được, nhưng giáo viên vẫn hướng dẫn còn học sinh chăm chúlắng nghe không cần phải động nảo vì khi hỏi học sinh, học sinh trả lời khôngđúng ý định, rồi sửa chữa rất mất nhiều thời gian, hướng dẫn xong việc hìnhthành kiến thức rồi qua phần bài tập thì bài đầu tiên tất nhiên giáo viên phảihướng dẫn, đối với bài tập 1 giáo viên nên cho nhắc lại quy tắc, phương phápgiải, sau đó cho học sinh làm bài trong 5 phút rồi cho 4 học sinh lên bảng nếunhư giáo viên có chuẩn bị sẵn 4 bài, ở đây giáo viên cho 2 học sinh lên bảng làmluôn, phải tính toán rất lâu, rồi sửa bài mất nhiều thời gian, rồi tiếp tục làm câub) tương tự như bài a) giáo viên cho học sinh đọc lại Qua bài tập 2 không làm
- Qua học kì 1 và được dạy toán ở lớp 8 a/2 thì tôi thấy tình hình học Toán củahọc sinh lớp 8 a/2 là tốt và số lượng hs giỏi là chiếm phần đông, và trường cũng
đã có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và nề nếp học tập cũng rất tốt, nhưngtrong khi điều tra xin ý kiến những em hs trong lớp thì có một điều rất lạ là họcsinh học toán tróng lớp điều được điểm 9,10 mà lại không thích học toán ,cũngkhông biết học môn Toán dễ hay khó nữa và các em diều cho là không biết, câuhỏi đặt ra tại sao lại như vậy? Phần dông học sinh học được toán có thể là các
em được học thêm hay trên lớp được giáo viên hướng dẫn hết học sinh khôngcần phải suy nghỉ củng như xác định đề yêu cầu làm gì, hỏi gì, chỉ ghi lại kếtquả mà không cần suy luận, mà khi ghi kết quả lại học sinh cũng ghi sai nữa Vìvậy trong lúc thực tập dạy học thì đa số học sinh thích học môn Tiếng Việt, MĩThuật, Âm Nhạc,…các em không thích học toán, nhưng chất lượng học vẫn cao.Đây không phải là chất lương thực sự Trong giáo dục ngành học hay môn họcnào cũng có học sinh giỏi, khá và yếu, nếu trong việc dạy học mà ta chấp nhậnlấy chất lượng học tập của học sinh thật sự thì việc dạy và học có thể nâng cao,nhưng thực tế thì cho thấy trong tất cả các lớp sự yếu kém của học sinh có lẽgiáo viên còn e ngại, cố dấu đi sự yếu kém của học sinh trước sự thăm dò củagiáo viên và cho đó là một số học sinh học vẫn tốt nhưng điểm vẫn trên 5, thật
sự học sinh là không hiểu bài nên không vận dụng vào làm bài tập được, sự tiếpthu của học sinh rất yếu hơn các nên chỉ việc chép bài là xong, đối phó với giáoviên cho không khí nào tự giác làm bài Như thế làm hạn chế sự phát triển của
hs, nếu như giáo viên chúng ta cho học sinh thuộc dạng yếu
kém toán mà qua đó tìm hiểu nguyên nhân, các biện pháp để giúp đỡ học sinhhọc toán như vậy mới tốt………
Nguyên nhân cơ bản:
- Đối với học sinh:
+ Học sinh chưa nắm vững các kiến thức cơ bản trong môn Toán
+ Học sinh còn quá yếu chưa theo kịp bạn bè, trong môn Toán thiếu sự tích cực,chủ động, sáng tạo cũng như sự linh hoạt, không có sự tìm tòi, tự giác giảiquyết các bài tập, phần lớn là chờ vào sự hướng dẫn hay giải của giáo viên.+ Các em còn sợ học môn Toán vì phải tính toán rất nhiều số, các em chưa thíchhọc Toán vì nó phức tạp và suy luận hơi cao
+ Do tâm lý sợ, thiếu tự tin, lười học, cẩu thả, chán ngán e sợ khi học Toán
15
Trang 16+ Các em còn chưa biết cách học, tự tập luyện, đa số là các em học thêm chứchưa tự nghiên cứu bài tập ở nhà.
+ Không có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng cơ bản yếu
+ Các em còn e sợ, ngại bạn bè chê cười khi các em hỏi những thứ mà các emkhông hiểu Như vậy vấn đề không hiểu dẫn đến ngày càng các em bị mất cănbản và rất nguy hiểm cho các lớp học tiếp theo
+ Các em còn chủ quan, ham chơi chưa thật sự quan tâm đến việc học
+ Giáo viên viên ra đề và dặn học sinh về nhà làm nhưng các em vẫn không làm.+ Các em học mà không hiểu, khi nêu các quy tắc là ghi ra dược công thức,nhưng các em đọc được lí thuyết mà ghi công thức không được
+ Học sinh chưa được sự quan tâm từ phía gia đình, gia đình không nhắc nhởhọc sinh trước khi vào lớp là làm bài tập, nhưng qua kiểm tra thì ngày nào các
em yếu kém điều vẫn không làm bài tâp
+ Chưa nắm vững kiến thức nên việc vân dụng vào tính toán, giải toán găp nhiềukhó khăn
+ Vì những kiến thức chỉ được học một lần trên lớp nên học sinh khó mà nắmvững, gây ảnh hưởng đến các kiến thức sau
+ Các lớp tiểu học các em đã bị mất căn bản nên khó mà học tốt các lớp sau.+ Do hoàn cảnh gia đình như: Gia đình không hạnh phúc, ly hôn…Làm cho các
em thiếu tự tin, chán ngán học hành, mà học toán dòi hỏi các em phải tư duy vàsuy luận
+ Các em còn có thái độ trong chờ vào giáo viên, hay vào lớp mượn bài chépcủa bạn là xong, không cần phải suy nghĩ
+Không xác định đuợc mục đích của mình là học để làm gì để cần có sự cốgắng
+ Kiến thức của các em chưa khắc sâu vì khí lên lớp các em hiểu bài,về nhà làmbài tập thì làm không được quên cách đổi, giải toán
+ Vì khi đã thực hiện truy bài đầu giờ hằng ngày, nhắc lại thường xuyến các quýtắc, công thức, cũng như các cách tính của từng bài tập, nhưng do ý thức củatừng học sinh, một số học sinh hiểu bài thì làm bài tốt, một số học sinh đọc vẫnđọc nhưng khi làm bài thì không được, sai rất nhiều mà sai chủ yếu là cách đổiđơn vị, cách tính tỉ số phần trăm, giải toán về chu vi, thể tích…
+ Các em đọc đề nhầm hoặc không kỉ, dẫn đến kết quả sai
+ Do hiện nay công nghệ thông tin phát triển, các em luôn bị lôi cuốn vào chúngnên các em bị chi phối, thời gian học ít, chơi nhiều, dẫn đến kết quả yếu kém
- Đối với giáo viên:
+ Nội dung phương pháp chưa thật sự thu hút và lôi cuốn học sinh vào việc họctoán
+ Phương pháp học không thích hợp
+ Không có phương tiện dạy học hay tổ chức ở trường chưa phù hợp với từngđối tượng học sinh
+ Thời gian không đảm bảo viễc truyền thụ và rèn kĩ năng cho học sinh
+ Giáo viên ôm làm hết và học sinh chỉ biết chép là xong
+ Giáo viên chưa chú ý đến học sinh yếu và chưa bao quát học sinh
Trang 17+ Cách thức hướng dẫn của giáo viên chưa kĩ lắm, nặng về cách giải nên họcsinh không cần suy nghĩ, tìm tòi cách giải nên khó mà giải bằng năng lực thật sựcủa mình.
+ Chưa thật sự quan tâm sâu sát đến học sinh yếu
+ Thời gian trên lớp quá ngắn nên không chú ý nhiều đến học sinh
+ Giáo viên chứa phối hợp tốt đối với gia đình và nha trường tróng việc kèm vàhướngdẩn học sinh kém toán
+ Dạy quá nhiều phân môn nến không có thời gian để hướng củng như ôn luyệnthường xuyên cho học sinh
+ Chưa có biện pháp cụ thể đối với từng học sinh
+ Chưa tạo ra nhiều tình huống học tập để giúp đỡ học sinh học tốt môn Toánhơn
+ Chưa tác động kịp thời đến từng học sinh, để hạn chế khả năng học kém toán
KẾT LUẬN CHƯƠNG I:
Nhìn chung môn toán dạy tốt nếu có phương pháp và hình thức thích hợp,phù hợp với đối tượng thì nó góp phần tạo hứng thú, tích cực và nâng cao chấtlượng dạy và học toán Thực tế học sinh kém toán trong một lớp học khoảng 3đến 4 em chiếm khoảng 13% là ít không đáng ngại như nếu như mỗi một lớpnhư vậy mà toàn trường cộng lại thì là một điều rất đáng quan tâm Nếu nhưkhông biết tìm cách khắc phục tình trạng yếu kém của học sinh nói chung vàmôn Toán nói riêng, làm cho nó ngày càng phát triển hơn thì thật là đáng lo ngại
và có nguy cơ cho các lớp sau của các em.Vì vậy giáo viên phải biết tạo ra tìnhhuống học tập, sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức cũng như biện phápnhằm giúp đỡ học sinh yếu.Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho các em học tập ngàycàng tiến bộ hơn, học sinh học giỏi thì rất khó, nhưng học yếu và dở thì rất dễ,các em dễ bĩ lôi cuốn vào đời sống xã hội, các thế lực bên ngoài, nên chi phốiviệc học tất yếu là dẫn đến học sinh học kém, áp lực cho xã hội Nếu như nhàtrường và giáo viên biết cách quản lý, giáo dục học sinh theo khuôn khổ của nhàtrường, đưa các em vào tâp thể có nề nếp có tính kỉ luật, xây dựng một tập thểvững mạnh và tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập, đóng góp tích cực vàobài học, gia đình quan tâm đến việc học của con em, tạo sự tự tin, hứng thútrong quá trình học tập, tạo đôi ban thân thiện cùng giúp đở lẫn nhau, thân thiệnvới bạn bè, giáo viên chủ nhiệm Tạo điều kiện cho học sinh được thể hiện tronghọc tập, học sinh hiểu bài và làm bài tâp tốt, nắm vững được kiến thức, học tâptiến bộ Ngược lại, thì giáo viên thiếu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưađược chuẩn hóa kịp thời, yếu tay nghề, còn chưa thấy tầm quan trong của việctrồng người, vì vậy về lâu dài thì chưa thật sự tốt lắm và còn nhiều diều trongthực tế cuộc sống dôi khi khó mà diễn ra theo chiều hướng tốt đẹp, và nếu nhưdiễn ra theo hướng tốt đẹp sẽ tạo ra một tương lai sáng ngời cho các em vì các
em là một thế hệ tương lai nói bước cha anh,dất nước có phồn thịnh và phát triển
là nhờ vào các em, như vậy giáo dục Viêt Nam sánh ngang tầm với thế giới
Chương 2: Các biện pháp sư phạm cần thực hiện để góp phần nâng cao chất lượng dạy học nội dung đang quan tâm.
17
Trang 18Trên cơ sở các nguyên nhân trên tôi xin có những đề xuất trên cơ sở lí luận nhưsau:
Biện pháp 1:
Đối với học sinh kém Toán cần bồi dưỡng thêm kiến thức một cách có hệ thống,giáo viên cần quan tâm hướng dẫn thật sát đối với học sinh, tạo điều kiện chocác em có động lực học tập đúng đắn, khuyến khích các em cố gắng học hiểu vàvận dụng các nguyên tắc vào bài tập một cách hợp lí và chính xác Không đểcho học sinh học mà không hiểu (cũng như học thuộc lòng mà không vận dụng).giáo viên cần hướng dẫn cách tự học, lí thuyết và cách học như sau:
+ Về cách học: Cần phân chia thời gian một cách hợp lý giữa các môn học, mỗingày học 3 đến 4 tiếng, mỗi tiếng nghĩ 15 phút thư giản, đối với các bài tập khó,bài tập làm thêm, thì cố gắng làm, giải cho xong, không được ngại và sợ, tạo sựlười biếng…Như vậy các em khó mà học tốt được, gia đình cần nhắc nhở vàkhuyên nhủ các em cố gắng hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
+ Về cách học: Học phải hiểu chớ không học thuộc lòng, máy móc, chỉ hiểu trênlớp còn về nhà thì đã quên mất, làm hạn chế suy nghĩ của học sinh, đọc đề màkhông hiểu, cũng như các em làm biếng suy nghĩ, nghĩ mà không hiểu, làm choviệc học cứ thong thả, từ từ ai học thì cứ học, các em chỉ lo chơi , không tạo ramột cách học tích cực, tự mình tìm hiểu các bài tập, tạo thói quen sợ, ngại, làmbài tập khó vì theo ý nghĩ quá khó của các em nên các em không bao giờ vượtqua sự trở ngại.Cho nên giáo viên và gia đình nên cần động viên học sinh cốgắng hết sức mình trong quá trình học tập của mình
Biện pháp 2:
Thời gian lên lớp là quá ít, cần có thời gian học môn toán như: Dạy thêm,dạykèm học sinh yếu, tăng lượng bài tập cho học sinh, Đối với học sinh giỏi thì bồidưỡng nâng cao, cho thêm các bài tập khó hơn để đáng giá khả năng học tâp củahọc sinh Từ đó sẽ có biện pháp bồi dưỡng từng học sinh trong lớp, đối với họcsinh yếu giáo viên cần:
+ Hướng dẫn bài tập một cách cận kẽ
+ Ra các bài tập cho học sinh yếu kém giải để cải thiện việc học tập của các em + Cần phối hợp với gia đình và nhà trường cho gia đình và nhà trường quantâm hơn đến việc học hành của các em, cũng như kèm và nhắc nhở làm bài tập,hướng dẫn và chỉ bảo phát hiện kịp thời những kiến thức mà học sinh bị hỏng.+ GV cần cho học sinh giỏi theo dõi hoặc kèm học sinh kém toán để các em cóthể kiểm tra lại mức độ kiến thức cũng như sự tiến bộ của học sinh, cần tạo đôibạn thân thiện cùng nhau học tâp để học sinh có sự tự tin trong việc học toán.+ Lợi dụng 15 phút truy bài đầu giờ để kèm học sinh yếu, giáo viên cho bài tậplên bảng gọi học sinh kém toán lên bảng làm bài, giáo viên cần hướng dẫn tậntình nếu làm đúng thì tuyên dương, làm sai thì động viên các em cố gắng lầnsau
+ Luôn động viên khuyến khích sự tiến bộ, cố gắng của học sinh cho dù là nhỏnhất
+ Tạo sự thân thiện giữa giáo viên và học sinh để các em có động cơ học tậpđúng đắn
Trang 19+ Giáo viên luôn theo dõi và quan tâm nhiều đến học sinh để từng bước uốn nắn,
hỗ trợ kiến thức cho các em để các em tự tin trước bạn
+ Giáo viên cần tổ chức các hình thức đa dạng như học nhóm, bồi dưỡng nhauhọc tập để học sinh yếu có thể hòa nhập và tâp thể, tạo sự phấn đấu vươn lên
Biện pháp 4:
Giáo viên cần tìm hiểu các nguyên nhân vì sao mà học sinh lại học kém toán, cóphải bắt nguồn từ gia đình, hay ý thức của các em chưa đúng, lười biếng, cẩuthả…hay còn nhiều nguyên nhân khác nữa Tùy thuộc các nguyên nhân mà cần
có biện pháp thích hợp đối với từng học sinh rồi mới bồi dưỡng học sinh được.+Vì những nguyên nhân do hoàn cảnh: Giáo viên cần tìm hiểu gia đình, trau đổivới gia đình về việc học tập của con em, nếu như gia đình càng không để ý quantâm thì với tư cách là giáo viên chủ nhiệm thì cần chú ý nhiều hơn nữa đối vớihọc sinh yếu kém, vấn đề gia đình có rất nhiều khía cạnh nhưng ở đây chỉ nêulên một vấn đề nhỏ
+ Vì chưa có ý thức học tập đúng đắn: Lứa tuổi các em còn lo ham chơi nhiều
Vì vậy giáo viên cần uốn nắn từ từ, đặt kỉ luật ngay từ đầu, dần dần sẽ tạo ra nềnếp học tập tốt, trong lớp học thấy các bạn học giỏi nếu mình không cố gắng thìcác bạn sẽ chê cười, và thua về mặt thành tích
+ Về lười biếng: Trị bệnh lười biếng bằng cách mỗi ngày giao 1 đến 2 bài tậpcho học sinh làm, giáo viên nhớ kiểm tra và hướng dẫn cho học sinh, nếu họcsinh không hoàn thành thì sẽ phạt, hoặc cho làm bài tập tăng gấp đôi, làm nhiềulần như vậy học sinh sẽ sợ mà phải nghe theo lời của giáo viên mà hoàn thànhbài
+ Về cẩu thả: Học sinh THCS là có tính ẩu làm rồi chẳng xem lại bài đôi lúc làmsai do tính không cẩn thận khi làm bài tập Nếu học sinh cứ như vậy hoài thìgiáo viên nhắc nhở hoặc trừ điểm học sinh
Biện pháp 5:
Việc giáo viên phát hiện học sinh yếu kém hoặc không hiểu về những kiến thứcnào thì giáo viên cần phải có phương pháp, hình thức sao cho việc dạy học đạthiệu quả như việc tính toán học sinh không biết cách đổi m3, dm3… thì giáo
19