Như vậy Quản lý thu thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước và cơ bản nhất là cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương nhằm thu
Trang 1TRỊNH THỊ THU HIỀN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO HỮU HÒA
Đà Nẵng, Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
TRỊNH THỊ THU HIỀN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Bố cục của luận văn: 3
6 Tổng quan về đề tài nghiên cứu: 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6
1.1.1 Khái niệm và đối tượng thu thuế TNCN 6
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm về quản lý thu thuế TNCN: 9
1.1.3 Vai trò của công tác quản lý thu thuế TNCN [30] 12
1.1.4 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân 14
1.2 NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN 16
1.2.1 Lập dự toán thu thuế TNCN 16
1.2.2 Tổ chức công tác thu thuế TNCN 17
1.2.3 Công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong việc thu thuế TNCN 23
1.2.4 Công tác kiểm soát quản lý thu thuế TNCN 26
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN 28
1.3.1 Nhân tố khách quan 28
1.3.2 Nhân tố chủ quan 29
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT 32
2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
THU THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2 Đặc điểm kinh tế 33
2.1.3 Đặc điểm xã hội 35
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BMT 36
2.2.1 Thực trạng công tác lập dự toán thu thuế TNCN 36
2.2.2 Thực trạng công tác tổ chức thu thuế TNCN 41
2.2.3 Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra: 50
2.2.4 Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ đối với thu thuế TNCN 53
2.3 NHỮNG THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN TP BMT 56
2.3.1 Những thành công 56
2.3.2 Những hạn chế 57
2.3.3 Những nguyên nhân hạn chế: 58
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BMT 61
3.1 CƠ SỞ TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 61
3.1.1 Cơ sở pháp lý 61
3.1.2 Mục tiêu và định hướng hoạt động của ngành thuế 63
3.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN TP BMT 65
3.2.1 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch thu thuế TNCN 65
Trang 53.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế TNCN 66 3.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm tra, xử lý vi phạm về thuế TNCN 74 3.2.4 Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ đối với thu thuế TNCN 75 3.2.5 Các giải pháp khác 77 3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ
3.3.1 Kiến nghị với Tổng cục thuế và Bộ Tài chính 78 3.3.2 Kiến nghị với Cục thuế tỉnh Đắk Lắk 81 3.3.3 Kiến nghị với UBND TP BMT và các ban ngành có liên quan 82
KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 72.5
Chính sách về thuế thu nhập cá nhân nhằm tháo gỡ khó
khăn, hỗ trợ thị trường, bảo đảm an sinh xã hội từ 2009
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế Thu nhập cá nhân là một trong những loại thuế trực thu, đây là một trong những công cụ nhằm đảm bảo công bằng trong việc điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng, đảm bảo huy động nguồn lực để nhà nước giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội Theo thông
lệ của các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, và ngược lại giảm dần thuế gián thu Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và tiến trình chuyển đổi dần cơ cấu tỷ trọng tăng dần của các sắc thuế trực thu đang là xu hướng tất yếu
Thuế thu nhập cá nhân bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam từ năm 2009
và đang dần trở thành nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, thời gian qua công tác quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân vẫn còn rất nhiều hạn chế, gây thất thoát cho ngân sách Vì vậy, việc làm tốt công tác quản lý thu thuế Thu nhập các nhân sẽ góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách
Sau năm năm thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở nước ta nói chung và trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng cho thấy số thu năm sau đều cao hơn năm trước và tỷ trọng số thu từ thuế thu nhập cá nhân chiếm trong tổng thu Ngân sách của thành phố ngày càng tăng; nếu như năm 2009 chỉ chiếm 3,1% thì năm 2013 chiếm 6,2%.[14], [18] Chính vì vậy việc hoàn thiện công tác quản lý thu thuế TNCN để tăng thêm nguồn thu ngân sách càng trở nên cấp thiết
Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Buôn Ma
Trang 9Thuột” vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa mang tính thời sự trong giai đoạn
hiện nay Thông qua đề tài sẽ phần nào lý giải được vấn đề đặt ra cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhằm phát huy hơn nữa công tác quản lý thu thuế thu nhập
cá nhân
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản lý thu thuế TNCN
- Làm rõ thực trạng công tác quản lý thu thuế TNCN trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế TNCN trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân và
tình hình chấp hành của người nộp thuế đối với việc thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, mô tả, thống kê trong
Trang 10quá trình nghiên cứu để khảo sát thực trạng quản lý thu thuế TNCN trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
5 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế thu nhập cá nhân
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
6 Tổng quan về đề tài nghiên cứu:
Vấn đề quản lý thu thuế thu nhập cá nhân nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu đã
đề ra khi ban hành Luật được khá nhiều người quan tâm và thực tế đã có một
số công trình nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện chính sách thuế thu nhập
cá nhân, có thể nêu ra đây một số công trình nghiên cứu tiêu biểu mà tác giả
đã có điều kiện tham khảo, đó là:
PGS.TS Nguyễn Thị Bất (2003), Đề tài khoa học cấp Bộ “Giải pháp
hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay” Đề tài
thống hóa những lý thuyết cơ bản về Quản lý thuế và phân tích thực trạng Quản lý thuế ở Việt Nam Đồng thời, đề tài đã đưa ra các giải pháp mang tính đột phá, tình hình thực tiễn ở Việt Nam Tuy nhiên nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại mốc thời gian năm 2003
Nguyễn Thị Mai Phương (2003), đề tài khoa học cấp Viện của Viện
Khoa học Tài chính “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống thu thuế ở Việt Nam”
Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã khái quát thực trạng công tác Quản lý thuế Việt Nam và đánh giá thực trạng công tác Quản lý thuế trên 2 góc độ: Thực
Trang 11trạng công tác tổ chức bộ máy quản lý và thực trạng công tác hành thu Từ phân tích kinh nghiệm Quản lý thuế của một số nước trên thế giới và thực trạng của Việt Nam, đề tài rút ra một số bài học kinh nghiệm và nêu ra các giải pháp phù hợp với Việt Nam Tuy nhiên, đề tài chưa có những giải pháp đột phá để cải thiện về công tác quản lý thuế ở Việt Nam, đồng thời đề tài nghiên cứu cũng chưa chuyên sâu đến lĩnh vực công tác thu thuế thu nhập cá nhân và chỉ dừng lại đến năm 2003
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), “Giáo trình Luật Thuế Việt Nam”,
Nhà xuất bản Công an nhân dân Nội dung sách nghiên cứu, hệ thống hóa những lý thuyết cơ bản về pháp luật thuế, giới thiệu đến người đọc những khái niệm – nội dung của từng loại thuế trong đó có thuế Thu nhập cá nhân
Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính (2012), “Kiến thức khái quát về thuế, ngành thuế, đạo đức, tác phong cán bộ thuế”, Nhà xuất bản Tài chính Nội dung sách giới thiệu về nguồn gốc và bản chất thuế, lịch sử hình thành của thuế Việt Nam qua các thời kỳ, sau đó giới thiệu về tổ chức bộ máy ngành thuế Thông qua sách, người đọc có thể hiểu được nguồn gốc lịch sử và cơ cấu tổ chức của ngành thuế Việt Nam và các định hướng phát triển của ngành trong tương lai giai đoạn 2011 – 2020
Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính (2014), “Một số vấn đề về Kinh tế tài chính Việt Nam 2013 – 2014”, Nhà xuất bản Tài chính Nội dung sách nghiên cứu và cập nhật những kiến thức kinh tế tài chính mới trong năm 2013 – 2014: Kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2013 và các tác động ảnh hưởng đến chính sách tài khóa; Những nội dung mới về sửa đổi, bổ sung Luật thuế Giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Thu nhập cá nhân kể từ ngày 01/07/2013; Kỹ năng cập nhật và áp dụng pháp luật trong công tác quản
lý thu thuế… thông qua các chuyền đề này, người đọc có thể nắm bắt được
Trang 12những thay đổi của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua, đồng thời có thể cập nhật đƣợc những kiến thức mới để phục vụ cho công việc
Nhƣ vậy cho đến thời điểm viết đề tài này, bản thân chƣa đọc đƣợc đề tài nào khác có nghiên cứu về quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột
Trang 13Thuế TNCN được khái niệm như sau: “Thuế TNCN là một loại thuế
trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc theo từng lần phát sinh Thuế TNCN ngoài mục tiêu tạo lập nguồn thu cho NSNN còn mục tiêu quan trọng là điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, bảo đảm sự công bằng xã hội” [28]
Hiện nay, thuế thu nhập cá nhân đã trở thành một loại thuế phổ biến, được áp dụng ở gần 180 nước trên thế giới với những thay đổi nhất định về phương thức đánh thuế Trước đây từ thời kỳ trung cổ, ở một số thành phố ở Italia đã tiến hành đánh thuế đối với thu nhập của các cá nhân Cho đến nửa cuối thế kỷ 19, luật thuế TNCN đã trở nên phổ biến trên thế giới với hàng loạt các nước Châu Âu cũng như Australia, New Zealand, Nhật Bản đưa ra các đạo luật về thuế TNCN của mình Ở Trung Quốc, thuế TNCN ra đời từ năm 1941 nhưng đến năm 1955 mới trở thành một sắc thuế độc lập Ở Pháp, thuế TNCN
ra đời năm 1961, Liên Xô năm 1922, Hàn Quốc năm 1974…
b) Đối tượng thu thuế:
Đối tượng thu Thuế TNCN nhân có rất nhiều loại khác nhau, theo thông lệ trên thế giới hiện nay người ta chia đối tượng này thành các nhóm chủ yếu sau đây:
Trang 14- Thu theo cá nhân
Tại các nước như: Anh, Nhật, Thụy Điển, các nước Châu Phi, các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô áp dụng cách thức thu thuế hoàn toàn theo từng cá nhân nộp thuế Cách thức này quy định từng đối tượng nộp thuế phải kê khai thu nhập và đóng thuế theo từng cá nhân [33]
Ưu điểm của cách thức này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước
Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứng được sự công
bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều khẩu ăn theo
- Thu theo hộ gia đình
Tại một số nước như: Pháp, Hà Lan… lại áp dụng cách thức thu thuế theo hộ gia đình Cách thức thu này cho phép những người trong một hộ gia đình (có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống) được kê khai theo tổng thu nhập của hộ gia đình và sau đó khoản thu nhập này được chia cho mọi người trong đó có cả người không có thu nhập Các khoản thu nhập này sau
đó sẽ được tính thuế cho từng suất và từng suất thuế lại nhân với số suất để xác định số thuế phải nộp [33]
Ưu điểm của cách thức này là công bằng hơn về mặt đạo đức xã hội Nhược điểm là không kịp thời vì mỗi gia đình đều phải có ít nhất hai người trở lên Ðã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập khác nhau,
do đó phải mở sổ sách kế toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải đối chiếu với nơi phát sinh thu nhập Quy định này chỉ được thực hiện tốt với điều kiện là gia đình ổn định Do cách tính và thực thi phức tạp như vậy nên
có rất ít nước áp dụng phương thức thu thuế theo cách này
- Theo nơi cư trú và không cư trú
Trang 15Hiện nay, đa số các nước xác định người nộp thuế TNCN theo tiêu thức
“nơi cư trú” Tuy nhiên, thế nào là một cá nhân cư trú tại một nước lại được
quy định khác nhau trong luật thuế TNCN của các nước
Thông thường, pháp luật các nước xác định đối tượng cư trú là những người cư trú ở nước đó trong một khoảng thời hạn nhất định (thường là một năm) Chẳng hạn, pháp luật Nhật Bản đưa ra định nghĩa tương đối phức tạp, trong đó có 3 khái niệm khác nhau là cá nhân cư trú thường xuyên, cá nhân cư trú không thường xuyên và cá nhân không cư trú Cụ thể là:
+ Cá nhân cư trú thường xuyên là cá nhân định cư thường xuyên ở Nhật Bản liên tục từ 1 đến 5 năm trở lên
+ Cá nhân cư trú không thường xuyên là cá nhân không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có nơi thường trú ở Nhật từ 1 năm trở lên và không được quá 5 năm
+ Cá nhân không cư trú là cá nhân không có nơi định cư tại Nhật Bản
và sống tại Nhật Bản ít hơn 1 năm
Ngược lại, đối tượng không cư trú thường được quy định là những người cư trú tại nước sở tại trong thời hạn dưới 1 năm Các đối tượng này thường không phải nộp thuế đối với những thu nhập không có nguồn gốc tại nước sở tại Ví dụ, pháp luật của Hàn Quốc quy định những đối tượng không cư trú chỉ phải chịu thuế đối với khoản thu nhập nhận được có nguồn gốc từ Hàn Quốc
Ngoài ra, cũng có những nước không có sự phân biệt giữa đối tượng
cư trú và đối tượng không cư trú trong việc xác định khoản thu nhập chịu thuế Chẳng hạn, ở Malaysia, Singapore, Hồng Kông, cả đối tượng cư trú
và đối tượng không cư trú đều không phải chịu thuế đối với các khoản thu nhập có từ nước ngoài (đánh thuế trên cơ sở lãnh thổ) Ngược lại, pháp luật của Thái Lan lại quy định cả đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú đều phải chịu thuế đối với các thu nhập của mình mà không phụ thuộc vào
Trang 16việc thu nhập đó phát sinh trong hay ngoài Thái Lan [33]
Trên cơ sở kế thừa, học hỏi, Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định, đối tượng thu thuế thu nhập cá nhân bao gồm: cá nhân cư trú và không cư trú Trong đó, cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn
- Cá nhân cư trú phải nộp thuế TNCN đối với tất cả các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh bất kể trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam
Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng những điều kiện của cá nhân cư trú nêu trên, họ chỉ phải nộp thuế TNCN đối với khoản thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm về quản lý thu thuế TNCN:
a) Khái niệm về quản lý thu thuế TNCN:
Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất
Về phương thức tác động: quản lý dựa vào pháp luật và các thể chế, quy chế, nguyên tắc, mô hình đã định trước
Về nội dung: quản lý bao gồm các việc như xây dụng kế hoạch xắp xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động
Về phạm vi tác động và hình thức thể hiện: quản lý là một phạm trù rộng, để tiến hành quản lý, chủ thể quản lý phải tiến hành đồng bộ rất nhiều
chức năng, trong đó có chức năng lãnh đạo
Trang 17Như vậy Quản lý thu thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước và cơ bản nhất là cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương nhằm thu đúng và thu đủ số tiền thuế thu nhập cá nhân để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra.[29]
b) Đặc điểm của quản lý thu thuế TNCN [30]
Thứ nhất, về chủ thể quản lý thu thuế TNCN: Nhà nước trao quyền hạn,
trách nhiệm quản lý thuế TNCN cho Bộ Tài chính mà trực tiếp là hệ thống cơ quan thuế Cơ quan thuế chịu trách nhiệm chính trong thực thi nhiệm vụ quản
lý thuế TNCN Công tác quản lý thuế TNCN được nhiều tổ chức, cá nhân tham gia, từ tham gia xây dựng ban hành pháp luật thuế TNCN đến quá trình thực hiện pháp luật trong cuộc sống Từ đó, góp phần xây dựng chính sách thuế TNCN, quản lý thuế TNCN một cách dân chủ, minh bạch, nâng cao các quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế, quyền giám sát của người dân; đồng thời, tạo ra sự thay đổi cơ bản về nhận thức của xã hội, nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với nghĩa vụ thuế TNCN, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội đối với công tác quản lý thuế TNCN
Thứ hai, về đối tượng quản lý thu thuế TNCN: Đối tượng chủ yếu chịu sự
quản lý thuế TNCN của nhà nước là người nộp thuế TNCN được xác định trong Luật thuế TNCN do nhà nước ban hành Để tạo thuận lợi cho công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng, trong Luật Quản lý thuế của Việt Nam hiện nay có mở rộng hơn về đối tượng chịu sự quản lý thuế của Nhà nước Trong một số trường hợp đối tượng chịu sự quản lý thuế của nhà nước còn bao gồm: tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế và cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế
Trang 18Thứ ba, về mục tiêu quản lý thu thuế TNCN: Quản lý thu thuế TNCN thực
chất là để đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
- Tập trung huy động đầy đủ và kịp thời các khoản thu về thuế TNCN cho NSNN dựa vào khai thác cơ sở thuế hiện tại và tìm kiếm, khuyến khích cơ sở thuế tiềm năng
- Tối thiểu hóa chi phí quản lý thu thuế TNCN của nhà nước và chi phí tuân thủ của người nộp thuế
- Phát huy tốt nhất vai trò của công cụ thuế TNCN trong nền kinh tế thị trường như: ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập
và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu của nhà nước đã định trong từng thời kỳ
- Tăng cường sự tuân thủ thuế TNCN của người nộp thuế một cách đầy đủ, kịp thời và tự nguyện theo quy định của luật thuế TNCN
- Góp phần bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế TNCN của các chủ thể nộp thuế khác nhau Công bằng trong thuế không chỉ là bảo đảm tính công bằng ở các nội dung pháp luật thuế TNCN về nghĩa vụ
và số thuế phải nộp cho Nhà nước Nếu công bằng chỉ dừng lại ở các quy định của pháp luật thì chỉ là sự công bằng hình thức, sẽ tạo nên sự nghi ngờ, sự bất hợp tác
từ phía người nộp thuế Tính công bằng của thuế TNCN còn đặt ra yêu cầu phải bảo đảm sự công bằng khi thuế TNCN được áp dụng trong thực tiễn, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển
- Quản lý thuế TNCN không chỉ có mục tiêu bảo đảm những quyền và lợi ích cho nhà nước mà còn bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế TNCN
Trang 19Trong các mục tiêu nói trên, mục tiêu tăng cường sự tuân thủ thuế TNCN là mục tiêu cơ bản nhất để đạt được các mục tiêu còn lại trong quản lý thu thuế TNCN Khi sự tuân thủ thuế của người nộp thuế ở mức cao nhất, người nộp thuế sẽ nộp đầy đủ, đúng hạn và tự nguyện, thì đây chính là cơ sở
để duy trì những nguồn thu hiện tại và mở rộng nguồn thu trong tương lai Khi sự chấp hành luật thuế TNCN của người nộp thuế được thực hiện sẽ giúp Nhà nước sử dụng tốt nhất công cụ thuế TNCN trong việc điều tiết quản lý nền kinh tế thị trường Sự tuân thủ thuế của đại bộ phận người dân sẽ góp phần xây dựng một nền văn hóa tuân thủ thuế TNCN Khi sự tuân thủ thuế TNCN của người nộp được thực hiện một cách tự nguyện, tự giác sẽ làm giảm chi phí quản lý của cơ quan quản lý thuế và chi phí tuân thủ của người nộp thuế
Công tác quản lý thu thuế TNCN là một nhu cầu tất yếu của quản lý nhà nước về thuế Công tác quản lý thu thuế TNCN phải tuân thủ chặt chẽ quy trình kiểm tra, thanh tra nói chung và Luật QLT nói riêng, quản lý từ việc đăng ký thuế, kê khai thuế đến việc nộp tiền thuế vào NSNN, miễn giảm thuế
và hoàn thuế … công tác quản lý thu thuế TNCN phải có đối tượng riêng, mục đích riêng, yêu cầu riêng và có phương pháp quản lý riêng
1.1.3 Vai trò của công tác quản lý thu thuế TNCN [30]
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu người nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế; có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội; luôn gắn với chính sách xã hội; thường được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần và không tác động nhiều đến giá cả hàng hóa dịch vụ
Dựa vào những đặc điểm nêu trên của thuế TNCN, công tác quản lý thu thuế TNCN cần đảm bảo vai trò của mình nhằm phát huy được những ưu điểm của loại thuế này trong thực tiễn:
Trang 20+ Thông qua quản lý thu thuế TNCN, Nhà nước sẽ tạo lập nguồn thu tài chính cho ngân sách nhà nước Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn chính vì vậy công tác quản lý thu thuế TNCN góp phần giúp Chính phủ điều hành nền kinh tế vĩ mô, đồng thời góp phần ổn định nguồn thu ngân sách
+ Góp phần đảm bảo công bằng an ninh xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo: Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế luỹ tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế Qua tài liệu, số liệu về thuế thu nhập cá nhân giúp cho Chính phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp
+ Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: Thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế TNCN sẽ góp phần phát hiện ra các khoản thu nhập bất hợp pháp như: tham ô, nhận hối lộ, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân và của Nhà nước… Do đó cần phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp trong quản lý thu thuế TNCN để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên
+ Góp phần hạn chế sự thất thu thuế Thu nhập doanh nghiệp: Thông qua công tác quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nhằm trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá
Trang 21nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.4 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân
Kết quả của công tác quản lý thu thuế là kết quả thực hiện các chính sách về thuế, việc chấp hành pháp luật về thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ công tác quản lý các đối tượng nộp
Bên cạnh đó, kết quả của công tác quản lý thu thuế còn thể hiện ở kết quả thu ngân sách nhà nước hàng năm theo chỉ tiêu pháp lệnh, kết quả của công tác thanh tra kiểm tra, kết quả hoàn thuế, và miễn giảm thuế theo quy định
Để đánh giá được kết quả của công tác quản lý thu thuế TNCN cần phải căn cứ vào một số tiêu chí đánh giá như:
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu thuế thu nhập cá nhân: Tỷ lệ hoàn
thành kế hoạch thu thuế thu nhập cá nhân hàng năm thể hiện kết quả thu thuế TNCN so với chỉ tiêu pháp lệnh được giao Phản ánh trình độ quản lý trong khâu hành thu, tích cực kiểm soát thất thu thuế và phát triển nguồn thu bền vững của cơ quan thuế, chỉ tiêu này còn đánh giá việc hoàn thành hay không hoàn thành nhiệm vụ chính trị của một cơ quan thuế trong một kỳ
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu thuế TNCN hàng năm được tính:
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch
Số thu thuế TNCN trong năm
Số dự toán thu thuế TNCN trong năm
Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 100%, tức là đơn vị không hoàn thành kế hoạch thu thuế Trong thực tiễn thực hiện công tác quản lý thu thuế, việc phải nghiên
Trang 22cứu các giải pháp tích cực nhằm đảm bảo tỷ lệ này luôn cao hơn 100% là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan thuế
- Tỷ lệ nợ thuế thu nhập cá nhân trong năm: Tỷ lệ này cho thấy nỗ lực
của cơ quan thuế trong việc đảm bảo thu đúng, thu đủ các khoản nghĩa vụ thuế phát sinh từ thu nhập của người dân
Tỷ lệ nợ thuế TNCN (%)
=
Số thuế TNCN nợ tồn đọng trong năm
Số dự toán thu thuế TNCN trong năm
Khi thực hiện trong thực tế, tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt Tuy nhiên, chi tiết hơn người ta thường xét đến các khoản nợ mới phát sinh trong kỳ đánh giá và các khoản nợ tích lũy từ các kỳ trước đó Việc giảm tỷ lệ nợ phát sinh mới cho thấy sự thành công của công tác lập dự toán thu, sự thành công trong công tác tuyên truyền vận động người dân nộp thuế, và sự thành công của công tác tổ chức thu thuế Trong khi đó, việc giảm tỷ lệ nợ thuế tồn đọng lại cho thấy tính hiệu quả trong các biện pháp thu thuế mà cơ quan thuế đã triển khai trong năm
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra thu thuế thu nhập cá
nhân: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra thu thuế TNCN thể hiện
bằng số cuộc thanh tra, kiểm tra thuế đã hoàn thành trong năm so với số cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch đã xây dựng từ đầu năm
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế được tính:
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch
Số cuộc thanh tra, kiểm tra thực hiện trong năm
Số cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch
Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 100%, tức là đơn vị không hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thu thuế, không phải lúc nào tỷ lệ này cao hơn 100% cũng là tốt
Trang 23Trong trường hợp các đơn vị thu thuế làm tốt công tác được giao, việc thu thuế đã đảm bảo thu đúng, thu đủ… thì có thể việc thanh tra sẽ giảm đi.
1.2 NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN
1.2.1 Lập dự toán thu thuế TNCN
Lập dự toán thu thuế là việc xác định các chỉ tiêu thu thuế và xây dựng các biện pháp thực hiện các chỉ tiêu đề ra Xét về mặt kỹ thuật nghiệp vụ, lập
dự toán thu thuế chính là quá trình dự báo, tính toán mức độ và các biện pháp
tổ chức động viên nguồn thu thuế cho NSNN Dự toán thu thuế thường chia làm 03 loại: dự toán năm, dự toán quý, và dự toán tháng Các bước lập dự toán:
Bước 1: Tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện dự toán năm trước: Căn
cứ vào kết quả ước thực hiện thu thuế của năm báo cáo, tốc độ tăng thu của năm trước đối với từng loại sắc thuế của thuế TNCN để lập dự toán thu thuế
Bước 2: Phân tích tình phát triển kinh tế xã hội của địa phương; tình
hình biến động về thu nhập và mức sống của dân cư để xác định đúng phạm
vi đối tượng thu thuế TNCN theo đúng chế độ hiện hành, đồng thời quan tâm đến các chính sách mới sẽ có hiệu lực thi hành trong năm dự toán
Bước 3: Dự kiến khả năng tăng số thu thuế do tăng thêm đối tượng chịu
thuế theo quy định mới đồng thời phải dự kiến được số hụt thu do áp dụng các chính sách giảm, miễn thuế để kích cầu đầu tư, tiêu dùng của Nhà nước đối với từng giai đoạn
Bước 4: Đề ra các biện pháp và lộ trình cụ thể để xử lý các khoản nợ
đọng thuế; chống thất thu, trốn và gian lận thuế; tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm nhằm đảm bảo dự toán thu được triển khai có tính khả thi cao
Trang 241.2.2 Tổ chức công tác thu thuế TNCN
a) Tổ chức bộ máy thu thuế
Nhìn tổng thể trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nước trên thế giới đều được tổ chức thành một hệ thống bao gồm nhiều cấp Tại nhiều nước, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước và bao gồm: cơ quan thuế trung ương, cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện như Trung Quốc, Việt Nam… Ngoài ra, ở một số quốc gia thì hệ thống ngành thuế còn được tổ chức theo các dạng khác, ví dụ như:
Hệ thống thuế của Anh gồm hai tổ chức chịu trách nhiệm quản lý thu thuế là Cơ quan thu nội địa và Cơ quan hải quan Trong đó Cơ quan thu nội địa (cơ quan thuế) chịu trách nhiệm quản lý thu các loại thuế trực thu, Cơ quan hải quan chịu trách nhiệm quản lý thu các loại thuế gián thu và thuế tiêu thụ đặc biệt Các sắc thuế trực thu do Cơ quan thu nội địa thực hiện quản lý thu gồm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế đánh vào lãi tài sản chuyển nhượng, thuế đánh vào các khoản thu từ dầu khí, thuế thừa kế, lệ phí chứng thư, đóng góp bảo hiểm xã hội Số thu của thuế TNCN chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu nội địa của Anh Cơ quan thu nội địa đã áp dụng quản
lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế năm 1996 Anh đã thực hiện công tác chuẩn bị và tập dượt trong hai năm trước khi chuyển đổi sang cơ chế quản lý
tự khai, tự nộp nhằm đảm bảo sự thành công của cơ chế này
Hiện nay tại Việt Nam, tổ chức bộ máy quản lý thuế được tổ chức chủ
yếu theo mô hình chức năng “Tổ chức bộ máy quản lý thuế theo chức năng
là việc tổ chức bộ máy trong đó cơ cấu bao gồm các bộ phận (Phòng, Vụ, Tổ), mỗi bộ phận thực hiện một chức năng quản lý thuế cơ bản đối với hầu hết các loại thuế và đối với tất cả các đối tượng nộp thuế theo thẩm quyền được phân công” [30] Thực hiện quản lý thuế theo chức năng là nhằm thực
Trang 25hiện cơ chế quản lý theo hướng: Cơ sở kinh doanh tự kê khai, tự tính thuế và
tự nộp thuế vào NSNN
b) Tuyên truyền phổ biến chính sách thuế TNCN
Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không thì sự thành công trong việc thực hiện chính thuế TNCN còn phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế cũng như người nộp thuế Để nội dung của chính sách thuế TNCN đến với mọi người dân trong xã hội, cơ quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế TNCN Công tác này cần phải được
thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, sau đó tới mọi người dân trong xã hội
Đối với cán bộ thuế: tổ chức tập huấn nghiệp vụ thuế TNCN cho các
cán bộ ngành thuế, đặc biệt là các cán bộ cơ sở Thông qua tập huấn, các cán
bộ thuế có thể nắm chắc được chính sách thuế TNCN từ mục đích, ý nghĩa đến nội dung của chính sách, để làm tốt công việc chuyên môn được giao
Đối với mọi người dân trong xã hội: Việc tuyên truyền phổ biến thuế
TNCN được thực hiện thông qua thông tin đại chúng, phát hành các ấn phẩm,
tờ rơi, áp phích, tổ chức cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN để nhân dân nắm bắt được các quy định về đối tượng thuộc diện nộp thuế, đồng thời hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình với việc nộp thuế, có ý thức tự giác chấp hành quy định của Luật
c) Quản lý đối tượng nộp thuế
Đây là khâu đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý thu thuế TNCN Quản lý đối tượng nộp thuế sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác quản lý thu thuế TNCN Trước hết, cần thực hiện tốt việc quản lý công tác đăng ký thuế của người nộp thuế TNCN để trên cơ sở đó quản lý tất cả mọi nội dung liên quan đến thuế TNCN của người nộp thuế đó Mọi thông tin cần thiết
Trang 26về đối tượng nộp thuế được nạp vào máy tính, lưu vào hệ thống toàn ngành thuế Khi cần kiểm tra một đối tượng nộp thuế, cơ quan quản lý chỉ cần gõ mã
số thuế của đối tượng đó, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các đối tượng nộp thuế đồng thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế Ngoài ra, việc quản lý công tác đăng ký thuế tạo điều kiện cho cơ quan thuế, cán bộ thuế nắm được tất cả các cơ sở kinh doanh thuộc các ngành nghề, các thành phần kinh tế hiện có trên địa bàn; nắm được những yếu
tố cơ bản của từng cơ sở kinh doanh, như: Địa điểm kinh doanh, mặt hàng, vốn, tài sản, lao động, phương thức và tổ chức kinh doanh để có căn cứ lập
sổ bộ thuế kiểm tra, quản lý thu thuế đúng chính sách, sát thực tế
d) Quản lý khai thuế TNCN [20]
Việc kê khai, tính thuế, nộp thuế được thực hiện trên sơ sở sự tuân thủ pháp
luật thuế của người nộp thuế Người nộp thuế tự căn cứ vào các quy định pháp luật thuế TNCN để xác định loại thu nhập phải chịu thuế, số thuế phải nộp, thực hiện kê khai và tự nộp số thuế đã tính vào ngân sách nhà nước Tại một số nước như Nhật Bản, Mỹ, Đan mạch, Thụy điển, cơ chế tự khai tự nộp đã được áp dụng
từ rất sớm nhằm xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại hóa
Hiện nay Việt Nam đang thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp
thuế Trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế, người nộp thuế được chủ động tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình theo quy định của pháp luật và phải tự chịu trách nhiệm về việc kê khai, tính thuế, quyết toán thuế của mình Cơ quan thuế không can thiệp trực tiếp vào việc kê khai, quyết toán của người nộp thuế trừ khi phát hiện ra các sai sót, vi phạm hoặc có các dấu hiệu không tuân thủ pháp luật
Khai thuế, quyết toán thuế TNCN là việc người nộp thuế tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai, quyết toán thuế theo quy định của pháp luật thuế TNCN Về nguyên tắc, việc khai thuế, quyết toán thuế TNCN phải thực hiện theo các quy định:
Trang 27- Người nộp thuế tự khai, tự tính số tiền thuế TNCN phải nộp trong hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế của mình nộp cơ quan quản lý thuế, trừ trường hợp bị
ấn định thuế hoặc nộp thuế theo phương pháp khoán thuế
- Người nộp thuế có trách nhiệm phải kê khai, quyết toán thuế TNCN chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế theo mẫu và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế với cơ quan quản lý thuế Nếu trong kỳ tính thuế TNCN không phát sinh nghĩa vụ thuế thì người nộp thuế vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế đúng thời hạn
- Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế TNCN được quy định thống nhất và phù hợp với kỳ tính thuế của thuế TNCN là loại thuế khai theo tháng hoặc theo quý, khai theo năm, khai quyết toán năm hoặc khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế tùy thuộc từng trường hợp cụ thể
Sau khi đã xác định số lượng người nộp thuế thuộc diện quản lý thuế,
cơ quan thuế thực hiện theo dõi, đôn đốc người nộp thuế nộp tờ khai và xử lý kết quả kê khai để xác định số phải nộp vào ngân sách một cách nhanh chóng, kịp thời Công tác xử lý tờ khai thực hiện qua các bước như: Tiếp nhận và xử
lý kịp thời tờ khai thuế của người nộp thuế gởi đến, phát hiện các lỗi trong kê khai để liên hệ người nộp thuế yêu cầu giải trình hoặc hướng dẫn họ sửa lỗi
kê khai để nhanh chóng xác định nghĩa vụ thuế phải nộp của người nộp thuế
Trong quá trình xử lý tờ khai thuế, cơ quan thuế cập nhật kịp thời các trường hợp có sai sót trong kê khai để cung cấp thông tin cho các bộ phận chức năng khác trong quy trình quản lý để có biện pháp hỗ trợ pháp luật thuế, đôn đốc thu nợ hoặc tiến hành thanh, kiểm tra thuế để ngăn chặn, xử lý kịp thời các vi phạm về thuế có thể xảy ra
Trang 28e) Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế [21]
Quản lý nợ thuế: là một khâu của quy trình quản lý thuế được thực hiện theo quy trình quản lý nợ thuế từ năm 2005 Cán bộ được giao nhiệm vụ này phải nắm vững nghiệp vụ phân loại nợ thuế, xác định tuổi nợ, nguyên nhân nợ của từng đối tượng nợ để tham mưu cho lãnh đạo có biện pháp thu hồi nợ thuế kịp thời vào ngân sách
Cưỡng chế nợ thuế: Sau khi thực hiện các biện pháp đôn đốc thu thuế,
hồ sơ nộp thuế quá thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế nhưng người nộp thuế vẫn không nộp đủ số tiền thuế còn nợ thì cơ quan thuế sẽ tiến hành các biện pháp cưỡng chế theo quy định tại điều 93 Luật quản lý thuế Các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Thông tư 215/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ tài chính hướng dẫn về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế: có 06 biện pháp, gồm:
- Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản
- Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập
- Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng
- Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước
- Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ
- Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề
Trang 29Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế trên chấm dứt hiệu lực kể từ khi tiền thuế, tiền phạt đã được nộp đủ vào ngân sách nhà nước
f) Giải quyết hồ sơ hoàn thuế [22]
Hoàn thuế TNCN là một khâu trong quy trình quản lý thuế nói chung, thuế TNCN nói riêng Cá nhân được hoàn thuế trong trường hợp quyết toán thuế cuối năm của cá nhân có số thuế phải nộp thấp hơn số thuế đã khấu trừ hoặc không phát sinh số thuế phải nộp
Sau khi nhận được hồ sơ hoàn thuế, cán bộ được giao nhiệm vụ này sẽ tiến hành:
- Đối chiếu thông tin trên hồ sơ hoàn thuế với dữ liệu đăng ký thuế trên
hệ thống tin học của CQT;
- Đối chiếu số thuế đề nghị hoàn và các số liệu liên quan đến số thuế hoàn trên hồ sơ hoàn thuế với dữ liệu khai thuế hàng tháng của người nộp thuế có liên quan trên hệ thống ứng dụng tin học của cơ quan thuế (chương trình ứng dụng QLT , QLT – TNCN, );
- Trong quá trình phân tích hồ sơ hoàn thuế:
+ Đối với số thuế chưa đủ điều kiện được hoàn thuế, còn thiếu thông tin cần giải trình, bổ sung tài liệu: Thông báo giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu gửi người nộp thuế
+ Đối với số thuế đã xác định đủ điều kiện được hoàn thuế: Lập Phiếu đề xuất hoàn thuế và thực hiện tiếp các công việc như thẩm định pháp chế và ra quyết định hoàn thuế
Trang 301.2.3 Công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong việc thu thuế TNCN
a) Công tác kiểm tra, thanh tra
Kiểm tra thuế là một trong những nội dung quan trọng trong việc thi hành luật thuế Càng quan trọng hơn khi thực hiện chính sách tự tính tự khai,
tự chịu trách nhiệm đối với NNT Các tổ chức, cá nhân kinh doanh các ngành nghề, thuộc các thành phần kinh tế phải thực hiện nghiêm chỉnh quy định hiện hành về thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm về thuế theo đúng các luật thuế hiện hành
- Công tác kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế: Trên cơ sở hồ sơ kê khai thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế tiến hành kiểm tra xem xét hồ sơ có đảm bảo khai đầy đủ chỉ tiêu, tính hợp lý, chính xác của thông tin, tài liệu, có dấu hiệu vi phạm hay không, từ đó có quyết định chấp nhận số liệu đã kê khai hay chuyển sang kiểm tra hoặc thanh tra thực tế tại trụ sở người nộp thuế để làm sáng tỏ các nghi vấn trong hồ sơ kê khai của NNT [20], [24]
- Công tác kiểm tra, thanh tra tại trụ sở người nộp thuế: Thực hiện quản
lý thuế theo cơ chế “tự khai, tự nộp thuế” là nhà nước trao cho người nộp thuế quyền tự tính thuế và nộp thuế Để quản lý chặt chẽ việc tự tính và nộp thuế của người nộp thuế TNCN, tránh tình trạng vi phạm pháp luật thuế TNCN như khai sai dẫn đến làm giảm số thuế phải nộp, trốn lậu thuế, nợ đọng thuế pháp luật đã sử dụng hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế TNCN như một công
cụ để kiểm soát và quản lý một cách hiệu quả
Những nguyên tắc xuyên suốt, cơ bản trong quá trình cơ quan thuế thực hiện hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế TNCN gồm:
Nguyên tắc thứ nhất, mặc dù việc kiểm tra, thanh tra thuế TNCN là công cụ hữu hiệu để hạn chế hành vi vi phạm pháp luật thuế TNCN của người nộp thuế, hạn chế thất thu cho NSNN nhưng cũng cần tránh lợi dụng thanh
Trang 31tra, kiểm tra để gây khó khăn, cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế TNCN, tổ chức chi trả thu nhập
Nguyên tắc thứ hai, việc kiểm tra, thanh tra thuế TNCN phải được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin của người nộp thuế Dựa vào cơ sở thông tin về người nộp thuế TNCN, cơ quan thuế đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế và xác định những trường hợp nào cần tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế TNCN Việc xác định đúng những trường hợp cần kiểm tra, thanh tra giúp cho cơ quan thuế phát hiện sai phạm và xử lý kịp thời, đồng thời tránh được tình trạng kiểm tra, thanh tra tràn lan, gây phiền hà cho những đối tượng chấp hành tốt pháp luật thuế TNCN, gây tốn kém cho nhà nước Cũng trên cơ sở thông tin về người nộp thuế TNCN, cơ quan thuế sẽ xác định cần thanh tra hay kiểm tra, xác định quy mô và phạm vi tiến hành
Cơ quan thuế có thể điều chỉnh về thành phần cán bộ tham gia và thời gian kiểm tra, thanh tra để phù hợp với từng người nộp thuế TNCN
Tuy nhiên, hiện nay hệ thống thông tin người nộp thuế chưa đầy đủ, chính xác, toàn diện và chưa có những tiêu thức để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế TNCN Vì vậy sẽ không tránh khỏi sự xét đoán chủ quan của cán bộ thuế tham gia kiểm tra, thanh tra thuế TNCN
Nguyên tắc thứ ba, Luật sửa đổi, bổ sung luật quản lý thuế đã bổ sung thêm nguyên tắc quản lý rủi ro trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế Trên
cơ sở những thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế đã thu thập được
và sử dụng nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra về thuế
Và nguyên tắc cuối cùng, hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế TNCN phải tuân thủ quy định của pháp luật quản lý thuế, pháp luật thuế TNCN và các quy định khác của pháp luật có liên quan Bên cạnh đó, hoạt động kiểm
Trang 32tra, thanh tra thuế TNCN còn phải thực hiện đúng quy trình kiểm tra, thanh tra thuế do Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế ban hành
Các quy định của pháp luật quản lý thuế TNCN đã có sự phân định rõ ràng giữa hoạt động kiểm tra thuế TNCN và thanh tra thuế TNCN Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên mang tính nghiệp vụ, được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan thuế dựa trên hồ sơ khai thuế, chỉ khi cơ quan thuế phát hiện sai sót, đã yêu cầu nhưng người nộp thuế không tự giác sửa đổi, bổ sung thì việc kiểm tra thuế thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế; Ưu tiên kiểm tra các đơn vị, cá nhân chi trả có số thuế TNCN lớn tăng, giảm đột biến; các đơn
vị, cá nhân có luỹ kế nợ đọng về thuế TNCN lớn, nợ liên tục nhiều tháng và các đối tượng nộp thuế khác nếu xét thấy có biểu hiện nghi ngờ trong việc chấp hành khai, nộp, quyết toán thuế TNCN [24] Thanh tra thuế được thực hiện theo định kỳ đối với người nộp thuế có nhiều khoản thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế TNCN hoặc để giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế TNCN [25]
b) Xử lý vi phạm trong việc thu thuế TNCN
Xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN là công cụ mang tính răn đe để hướng người nộp thuế thực hiện sự tuân thủ pháp luật thuế TNCN nhằm đảm bảo sự công bằng trong việc đối xử giữa các đối tượng tuân thủ và không tuân thủ pháp luật thuế TNCN Tùy theo mức độ, tính chất vi phạm pháp luật thuế TNCN của các hành vi mà pháp luật quy định những biện pháp xử lý khác nhau
Xử lý hình sự được áp dụng đối với những cá nhân vi phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực thuế TNCN gây nên những hậu quả xấu cho xã hội, tác động và ảnh hưởng rất nghiêm trọng cho các quan hệ xã hội được điều chỉnh trong lĩnh vực thuế TNCN mà xét thấy rằng chỉ có biện pháp xử lý hình sự mới tương ứng với hành vi và hậu quả đó gây ra Còn đối với những hành vi
Trang 33vi phạm trong lĩnh vực thuế TNCN nhưng chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử lý hành chính
Như vậy có thể hiểu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế TNCN là biện pháp cưỡng chế mang tính quyền lực Nhà nước, áp dụng đối với những hành vi vi phạm trong lĩnh vực thuế TNCN chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Pháp luật quản lý thuế TNCN hiện hành quy định rõ các nội dung như các hành vi vi phạm pháp luật thuế TNCN của người nộp thuế, hình thức xử
lý vi phạm, nguyên tắc xử phạt, mức xử phạt, thẩm quyền xử phạt, thời hiệu
xử phạt, thủ tục xử phạt
Các hành vi vi phạm pháp luật thuế TNCN bao gồm: vi phạm các thủ tục về thuế TNCN như chậm nộp hồ sơ thuế, khai không đầy đủ các chỉ tiêu trong hồ sơ thuế ; chậm nộp tiền thuế TNCN; khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế TNCN phải nộp hoặc tăng số tiền thuế TNCN được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế TNCN.[8]
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính thuế TNCN gồm phạt cảnh cáo và phạt tiền
Việc xử phạt vi phạm hành chính về thuế TNCN phải đảm bảo đúng với các nguyên tắc được pháp luật quy định Cụ thể như mọi hành vi vi phạm pháp luật về thuế được phát hiện phải được xử lý kịp thời, công minh, triệt để, tuy nhiên không vì vậy mà xử phạt không “đúng người, đúng tội” Các hình thức xử phạt VPHC thuế TNCN gồm phạt cảnh cáo, phạt tiền và truy tố
1.2.4 Công tác kiểm soát quản lý thu thuế TNCN
Kiểm soát là thuật ngữ được dùng để chỉ những hoạt động của cá nhân,
tổ chức trong và ngoài tổ chức giao nhiệm vụ, quyền hạn xem xét, đánh giá,
xử lý đối với hành vi thực hiện các quy định chung của cá nhân tổ chức hữu
Trang 34quan Theo quan niệm này, kiểm soát có những đặc điểm chung với quản lý
Đó là sự tác động có tính tổ chức và mục đích của chủ thể kiểm soát (cá nhân,
tổ chức thực hiện kiểm soát đối với đối tượng kiểm soát) [32] Trên thế giới, mỗi nước đều có phương pháp để kiểm soát quản lý thu thuế TNCN, một trong những nước đã áp dụng thành công và hiệu quả trong việc kiểm soát này là Singapore [33]:
Để ngăn chặn, đề phòng sai phạm của nhân viên, Cục thuế Singapore
đã xây dựng hàng loạt chế độ làm việc nội bộ có hiệu quả Trong đó, phân tách rõ ràng trách nhiệm xử lý từ khâu tính thuế, miễn thuế, xử lý hoàn thuế
và kiểm toán cho đến việc thu, hoàn thuế Tất cả các khâu của quá trình thu thuế để được vi tính hoá
Hiện nay, tại Việt Nam công tác kiểm soát quản lý thu thuế nói chung, thuế thu nhập cá nhân nói riêng ở các địa phương được Tổng cục Thuế giao cho bộ phận kiểm tra nội bộ thuộc Cục Thuế cấp tỉnh hoặc Chi cục Thuế cấp huyện Theo đó, tại Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của chi cục thuế trực thuộc Cục thuế đã xác định: Tổ chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chức thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của pháp luật Tại chi cục thuế, bộ phận đảm nhiệm chức năng nhiệm vụ này là Đội Kiểm tra nội bộ
Trang 351.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN
1.3.1 Nhân tố khách quan
a) Tình hình kinh tế - xã hội
Hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào mức độ phát triển kinh tế và đời sống dân cư Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực, số đối tượng nộp thuế thu nhập nhiều, cơ sở hạ tầng phát triển (giao thông, thông tin liên lạc, ngân hàng ) sẽ giúp cho công tác quản lý thu thuế TNCN hiệu quả hơn nhờ tăng nguồn thu, giảm chi phí trên một đồng thuế thu được Ngược lại, nếu địa bàn có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao, thậm chí có nhiều nơi chi lớn hơn thu Vì vậy, chính sự phát triển kinh tế, sự phát triển của cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng đến công tác quản lý nói chung và công tác quản lý thu thuế TNCN nói riêng, khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả hơn
b) Trình độ dân trí của người nộp thuế
Trình độ của người dân tác động mạnh mẽ tới ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế TNCN nói riêng, tỷ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế Khi người dân có ý thức chấp hành thuế TNCN tốt, họ
sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra Chính vì vậy, việc kiểm tra, thanh tra thuế trong công tác quản lý thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn Tóm lại, trình độ dân trí của người dân càng cao thì
ý thức chấp hành pháp luật thuế TNCN của người nộp thuế càng lớn, vì vậy
nó cũng ảnh hưởng một phần tới công tác quản lý thuế TNCN
c) Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư
Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn đến việc quản lý thu thuế và thanh tra, kiểm tra thuế Quản lý thu thuế thu nhập cá
Trang 36nhân chủ yếu gặp khó khăn trong việc quản lý thu nhập của các đối tượng Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản séc cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ quan thuế trong việc giám sát Vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu có thể thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế TNCN
1.3.2 Nhân tố chủ quan
a) Tổ chức bộ máy thu thuế
Bộ máy quản lý thu thuế có vai trò quyết định đến sự vận hành toàn bộ
hệ thống thuế Bộ máy quản lý thu thuế được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ các mặt công tác quản lý thuế thì sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ
hệ thống thuế và hiệu quả quản lý sẽ cao Từng bộ phận trong tổ chức bộ máy thu thuế thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình sẽ tạo nên sự phối hợp đồng bộ trong việc thực hiện mục tiêu hoàn thành kế hoạch thu của Nhà nước Lựa chọn một cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp và sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý là nhân tố quan trọng để thực hiện thiết lập hệ thống quản lý ngành thuế nói chung, hệ thống quản lý thu thuế TNCN nói riêng có hiệu quả Ngược lại, nếu bộ máy tổ chức cồng kềnh thì hiện tượng sách nhiễu, hành chính gây phiền hà, khó khăn cho NNT không những hoạt động thu NSNN và quản lý thuế không hiệu quả, mà còn ảnh hưởng lớn đến hình tượng của một
cơ quan công quyền
b) Trình độ của đội ngũ cán bộ thu thuế
Để quản lý thuế TNCN tốt, người cán bộ thuế phải là người nắm rõ các quy định chính sách thuế TNCN và có khả năng ứng dụng trên thực tế như cách xác định người nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế, giảm trừ, kê khai, khấu trừ, quyết toán thuế TNCN Chính vì vậy trình độ đội ngũ cán bộ thu thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là
Trang 37thuế TNCN Nó ảnh hưởng tới tất cả các nội dung của công tác quản lý thu thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh tra thuế Đội ngũ cán bộ thuế cấp cao (ở tầm hoạch định chính sách) cần phải
có trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như cơ bản liên quan đến thuế thì mới
có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Hiện nay nước ta đã và đang tập trung cho công cuộc cải cách hành chính, gỡ bỏ những rào cản về thủ tục hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính Vì vậy càng đòi hỏi cán bộ, công chức thuế phải không ngừng nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức công vụ, văn hóa ứng xử để có thể đáp ứng yêu cầu của quản lý hành chính nhà nước nói chung, quản lý hành chính về thuế nói riêng
c) Tính nghiêm minh của pháp luật
Luật pháp được thực hiện nghiêm minh sẽ đảm bảo việc vi phạm pháp luật giảm đi Các đối tượng nộp thuế cũng như cơ quan thu thuế cũng sẽ thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ biết rằng khi vi phạm họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt Như vậy, công tác quản lý thuế TNCN sẽ đạt được hiệu quả
d) Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thu thuế TNCN Những quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế… phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành thuế Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế Các yêu cầu về trang thiết bị, phần mềm ứng dụng quản
lý trên máy tính, các phương tiện đi lại, máy ghi hình, thu âm, phát thanh…
Trang 38được đáp ứng đầy đủ sẽ phục vụ tích cực cho công tác quản lý thu thuế, đưa công tác quản lý thu thuế từng bước hiện đại, văn minh so với yêu cầu hội nhập quốc tế
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2,87% diện tích tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk Là thủ phủ của tỉnh Đăk Lăk, trung tâm của Tây Nguyên nên Buôn Ma Thuột có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh
tế xã hội thông qua việc kết nối với các địa phương khác ở Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung bộ và các nước bạn Lào, Campuchia [37]
Theo kết quả điều tra thành lập bản đồ đất của tỉnh Đắk Lắk và quy hoạch sử dụng đất của TP Buôn Ma Thuột đến 2010 cho thấy, đất ở Buôn Ma Thuột chủ yếu là nhóm đất nâu đỏ trên đá mẹ bazan, ước chiếm khoảng trên 70% tổng diện tích của Thành phố Đây là loại đất tốt rất phù hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu và các loại cây trồng khác
Thời tiết khí hậu thành phố Buôn Ma Thuột vừa chịu chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu cao nguyên nên tương đối mát mẻ quanh năm Tuy nhiên, do theo chế độ mưa đặc trưng của Tây Nguyên nên Buôn Ma Thuột cũng có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa mưa có lượng mưa lớn, tập trung kết hợp với địa hình đồi dốc nên dễ xảy ra lũ lụt, sạt lở đất làm hư hỏng đường sá, các công trình thủy lợi…Mùa khô thường kéo dài với lượng mưa rất ít gây nên tình trạng hạn hán, thiếu nước tưới, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân
Trang 40Buôn Ma Thuột có vị trí giao thương rất thuận lợi, có các Quốc lộ 14,
26, 27 nối liền với các tỉnh trong cả nước, nhất là với TP HCM, Nha Trang, Đà Nẵng và các tỉnh lân cận như Lâm Đồng, Đăk Nông, Gia Lai, với Campuchia
Hệ thống đường quốc lộ, liên tỉnh và hệ thống đường giao thông nội tỉnh được nối liền với trung tâm tất cả các huyện trong tỉnh Đắk Lắk Đặc biệt thành phố Buôn Ma Thuột có cảng hàng không nối liền với Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, từ năm 2010 có thêm đường bay thẳng đi thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Như vậy, hệ thống giao thông đường bộ và đường hàng không nêu trên rất thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội; đặc biệt là cho phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch và văn hoá với các vùng miền trong
cả nước
Tóm lại, với các đặc điểm về vị trí địa lý, về điều kiện thổ những, điều kiện thời tiết khí hậu và mạng lưới giao thông, Buôn Ma Thuột đã cho thấy có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng cho tỉnh Đăk Lăk nói riêng và khu vực Tây Nguyên, cả nước nói chung Tuy nhiên, đo đặc điểm và chế độ mưa nên cũng tạo ra một số bất lợi cho sự phát triển của địa phương nếu không có giải pháp hữu hiệu để hạn chế Điều này cũng có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân ở Buôn Ma Thuột Một mặt người dân phát triển kinh tế tốt, tạo ra thu nhập cao là đối tượng thu của cơ quan thuế, mặt khác do thời tiết bất thường có thể dẫn đến nguồn thu không ổn định theo thời gian nên gây khó khăn cho công tác quản lý
2.1.2 Đặc điểm kinh tế
Trong những năm qua (2010 – 2013), kinh tế thành phố đạt mức tăng trưởng khá, bình quân tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2010 - 2013 tăng 9,89%, trong đó nông, lâm, thủy sản tăng 3%; công nghiệp – xây dựng tăng 9,42%; thương mại – dịch vụ tăng 13,69% (xem Bảng 2.1)