MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ........................................................................1 I. Lý do chọn đề tài 1 II. Lịch sử vấn đề 2 III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6 IV. Phương pháp nghiên cứu 7 V. Cấu trúc bài tập 7 Chương I: Cơ sơ lý thuyết 8 I. Cơ sở lý thuyết thể loại 8 1.Khái niệm về truyện cổ tích ............8 2.Loại thể của tác phẩm……………………………. 10 II. Nghĩa của tác phẩm 14 III. Cơ sở lý thuyết phương pháp 20 1. Phương pháp chung 20 1.1. Theo yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học văn…………………………………………………………..21 1.2. Dạy học tác phẩm Văn học theo công nghệ dạy học hiện đại...................................................................................26 1.3 Dạy – học theo đặc trưng loại thể tác phẩm văn học. 26 1.4.Dạy – học theo đặc trưng VHDG 26 2. Phương pháp cụ thể 49 Chương II: Định hướng đọc hiểu 53 I. Thời đại văn hoá 56 II. Tóm tắt tác phẩm 58 III. Khai thác truyện cổ tích “ Cây bút thần” 60 Chương III: Định hướng dạy học 62 I. Thiết kế bài giảng 62 II. Kiểm tra kiến thức 72 III. Một số kiến nghị 98 KẾT LUẬN 107 Tài liệu tham khảo 1 MỞ ĐẦU I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1. Văn học dân gian chiếm một vị trí đầu nguồn, đồng thời là cột mốc đầu tiên của lịch sử văn học của mỗi dân tộc. Vị trí đặc biệt của nó đã quyết định sự có mặt của Văn học dân gian với một quy mô lớn trong chương trình Ngữ văn ở tất cả các cấp học. Riêng ở bậc THCS , trọng tâm chương trình Ngữ văn 6 và một phần của chương trình Ngữ văn 7 là các tác phẩm Văn học dân gian kể cả trong nước và nước ngoài. 2. Cổ tích là một thể tài VHDG phổ biến trên thế giới. Mỗi dân tộc có một kho tàng cổ tích riêng của mình. Tuy nhiên, các chức năng xã hội và thẩm mĩ của cổ tích các dân tộc, về cơ bản là giống nhau. Có lẽ đây là một thể tài văn học biểu hiện tính quốc tế rõ rệt nhất . Điều này tạo thuận lợi cho người “nghe” cổ tích, cũng như lí giải sự hiện diện của không ít các truyện cổ tích nước ngoài trong chương trình văn THCS, trong đó truyện cổ tích Nga do tác giả A.Puskin sáng tác “ Ông lão đánh cá và con cá vàng” là một ví dụ.
Trang 1Lời cảm ơn
Trớc hết em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ văn trờng ĐHSP Hà Nội đã cung cấp kiến thức, kỹ năng, phơng pháp dạy học môn Ngữ văn THCS trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn thầy Đỗ Hải Phong PGS Tiến sĩ khoa–
Ngữ văn trờng ĐHSP Hà Nội đã trực tiếp hớng dẫn và giúp em hoàn thành đề tài này.
Với thời gian và khả năng có hạn, những gì làm đợc ở đề tài này chỉ
là bớc đầu, em chân thành mong nhận đợc sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và các bạn để có thể bổ sung cho đề tài đợc hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn và tiếp thu mọi ý kiến đóng góp cho đề tài của mình với mong muốn tìm ra một phơng pháp hay nhất , tốt nhất nhằm nâng cao chất lợng dạy - học làm văn nói riêng, dạy - học Ngữ văn nói chung trong nhà trờng trung học cơ sở hiện nay
Hng Yên, tháng 06 năm 2009.
Ngời viết
Trịnh Xuân Toàn
Trang 2Mục lục Trang
Mở đầu
1
I Lý do chọn đề tài 1
II Lịch sử vấn đề 2
III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
IV Phơng pháp nghiên cứu 7
V Cấu trúc bài tập 7
Chơng I: Cơ sơ lý thuyết 8
I Cơ sở lý thuyết thể loại 8
1.Khái niệm về truyện cổ tích 8
2.Loại thể của tác phẩm……… 10
II Nghĩa của tác phẩm 14
III Cơ sở lý thuyết phơng pháp 20
1 Phơng pháp chung 20
1.1 Theo yêu cầu đổi mới của phơng pháp dạy học văn……… 21
1.2 Dạy- học tác phẩm Văn học theo công nghệ dạy học
hiện đại 26
1.3 Dạy – học theo đặc trng loại thể tác phẩm văn học 26
1.4.Dạy – học theo đặc trng VHDG 26
2 Phơng pháp cụ thể 49
Chơng II: Định hớng đọc hiểu 53
Trang 3I Thời đại văn hoá 56
II Tóm tắt tác phẩm 58
III Khai thác truyện cổ tích “ Cây bút thần” 60
Chơng III: Định hớng dạy học 62
I Thiết kế bài giảng 62
II Kiểm tra kiến thức 72
III Một số kiến nghị 98
Kết luận 107
Tài liệu tham khảo 1
Trang 4Mở đầu
I.Lý do chọn đề tài.
1 Văn học dân gian chiếm một vị trí đầu nguồn, đồng thời là cột mốc
đầu tiên của lịch sử văn học của mỗi dân tộc Vị trí đặc biệt của nó đã quyết định sự có mặt của Văn học dân gian với một quy mô lớn trong ch-
ơng trình Ngữ văn ở tất cả các cấp học Riêng ở bậc THCS , trọng tâm
ch-ơng trình Ngữ văn 6 và một phần của chch-ơng trình Ngữ văn 7 là các tác phẩm Văn học dân gian kể cả trong nớc và nớc ngoài
2 Cổ tích là một thể tài VHDG phổ biến trên thế giới Mỗi dân tộc có một kho tàng cổ tích riêng của mình Tuy nhiên, các chức năng xã hội và thẩm
mĩ của cổ tích các dân tộc, về cơ bản là giống nhau Có lẽ đây là một thể tài văn học biểu hiện tính quốc tế rõ rệt nhất Điều này tạo thuận lợi cho ngời “nghe” cổ tích, cũng nh lí giải sự hiện diện của không ít các truyện
cổ tích nớc ngoài trong chơng trình văn THCS, trong đó truyện cổ tích
Nga do tác giả A.Puskin sáng tác “ Ông lão đánh cá và con cá vàng” là
một ví dụ
II Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.
1 Đối tợng nghiên cứu của bài tập tốt nghiệp: “ Vấn đề đọc hiểu và dạy học truyện cổ tích Nga theo chơng trình THCS mới qua truyện cổ tích “
Ông lão đánh cá và con cá vàng” sách giáo khoa Ngữ văn 6 – Tập I”.
2 Để nghiên cứu và giải quyết vấn đề trên chúng tôi sử dụng văn bản
Trang 5Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là làm sáng tỏ vấn đề phơng pháp đọc hiểu và dạy học Ngữ văn nói chung, phơng pháp đọc hiểu và dạy học văn bản văn học nớc ngoài trong chơng trình Ngữ văn THCS nói riêng Đặc biệt là phơng pháp đọc hiểu và dạy học văn bản truyện cổ tích
Nga Ông lão đánh cá và con cá vàng “ ” Để thực hiện mục đích trên, chúng tôi đề ra nhiệm vụ cụ thể nh sau:
Xác lập cơ sở lý thuyết cho vấn đề
Định hớng đọc hiểu văn bản truyện cổ tích Ông lão đánh cá và“
con cá vàng”.
Định hớng dạy học văn bản truyện cổ tích Nga Ông lão đánh cá“
và con cá vàng ”
iV Phơng pháp nghiên cứu.
Phơng hớng tiếp cận chủ yếu của tôi là thi pháp học văn bản và vận dụng tri thức liên ngành Ngữ văn Ngoài ra trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi còn sử dụng những phơng pháp cụ thể nh:
v Cấu trúc của bài tập nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài tập này gồm 3 chơng
Chơng I: Cơ sở lý thuyết
Trang 6Chơng II: Định hớng đọc hiểu.
Chơng III Định hớng dạy học
I Cở sở lý thuyết thể loại.
1 Khái niệm và đặc điểm truyện cổ tích.
Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời cổ xa, sau thần thoại Chức năng chủ yếu của truyện cổ tích là phán ánh, cắt nghĩa cuộc sống cá nhân và xã hội trong các mối quan hệ phức tạp của nó Dẫu gần gũi với thần thoại qua việc sự dụng các yếu tố thần linh, hoang đờng: Nhân cách hoá loại vật, hiện tợng tự nhiên nhng truyện cổ tích không thực
sự hoành tráng, bay bổng hớng tới nhiệm vụ giải thích, cắt nghĩa các hiện tợng tự nhiên xã hội ấy mà tập trung phán ánh các mâu thuẫn xã hội và giải quyết các mâu thuẫn theo tinh thần lạc quan : Thiện thắng ác, kẻ xấu phải đền tội Có ba loại truyện cổ tích tiêu biểu: … Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích loài vật và truyện cổ tích thế sự ( Truyện cổ tích sinh
hoạt )
Giống mọi hình thức kể chuyện dân gian khác, truyện cổ bao giờ cũng hớng tới một mục tiêu giáo dục nào đó Mọi truyện cổ tích của nhân loại đều có cùng một triết lí ở hiền gặp lành, ác giả ác báo Do vậy, truyện
cổ tích thờng kết thúc có hậu, chiến thắng và hạnh phúc bao giờ cũng thuộc về ngời tốt Còn kẻ xấu thì phải trả giá cho hành vi bất lơng của mình…
Khi mới ra đời, truyện cổ tích đợc lu truyền trong dân gian dới hình thức truyền miệng Về sau loại truyện này đợc nhiều ngời su tập, ghi chép thành sách Một số nhà văn dựa vào những câu chuyện đợc lu truyền trong
Trang 7dân gian hoặc là dựa vào những truyện đã đợc su tập trong sách để viết
lại .Truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng “ ” do Alechxandrơ Xecghêêvich Puskin kể lại bằng 205 câu thơ trên cơ sở truyện dân gian Nga là một ví dụ sinh động bởi đây là một thể loại truyện cổ tích văn học
2 Loại thể của tác phẩm.
Các đặc điểm về nội dung hình tợng và hình thức hình tợng hay nói khác đi là vấn đề loài thể của văn học cũng đem lại cho qúa trình tiếp nhận và hiểu đúng đắn về tác phẩm Với ngời giáo viên văn việc xác định chính xác loài thể của tác phẩm là một điều cần thiết
Trên cấp độ loài hình Ông lão đánh cá và con cá vàng“ ” là tác phẩm tự sự dân gian nhng do một tác giả kể lại Vì thế thể loại truyện này
là truyện cổ tích văn học Truyện kể chuyện đời, chuyện ngời là phơng thức tái hiện cuộc sống của các tác phẩm tự sự dân gian Phơng thức này
giúp cho ngời đọc ( ngời nghe) hình dung đời sống trong các sự việc với
những con ngời và mối quan hệ qua lại giữa chúng một cách cụ thể Trong các truyện cổ tích thì cuộc sống đợc tái hiện theo cách vừa là hiện thực (
Trong các yếu tố của bản thân cuộc sống ) vừa là siêu thực ( trong các yếu tố hoang đờng kì ảo ) Tuy nhiên, suy tới cùng nó vẫn đem đến cho ngời đọc ( nghe ) những cảm giác, phán đoán đúng về cuộc sống Tác phẩm tự sự ( dù là tự sự dân gian ) đa ngời đọc, ngời nghe vào một thế
giới nghệ thuật gần gũi hơn so với cuộc đời của họ, để họ chứng kiến suy
ngẫm và phán xét đời sống Chính từ đặc điểm này, ngời tiếp nhận ( ở đây
là thầy và trò ) cần phải tiếp cận hàm ý xã hội – ý nghĩa xã hội – của
các cổ tích Về phía thầy, sự tìm kiếm nghĩa của cổ tích sẽ không thể thoát
li các hàm ý xã hội mà chất tự sự của cổ tích tạo nên
Trang 8Mặt khác, trên cấp độ thể tài thì Ông lão đánh cá và con cá“
vàng”thuộc thể tài cổ tích văn học dựa trên chất liệu đời sống và ngôn ngữ dân gian Nga Đi sâu hơn nữa vào thể tài này thì Ông lão đánh cá và“
con cá vàng” theo sự xác nhận của các tác giả sách giáo viên Ngữ văn 6
– Tập I- NXB Giáo dục, Hà Nội năm 2002 trang 135 và sách bồi dỡng Ngữ văn 6 – NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh năm 2005, trang 65: có thể xếp vào nhóm truyện cổ tích sinh hoạt “Truyện cổ tích sinh hoạt thờng
kể về cuộc đời , số phận của những con ngời trong xã hội Truyện lên án lòng tham và sự bội bạc , đồng thời ca ngợi lòng tốt , lòng biết ơn đối với những con ngời nhân hậu Qua đó truyện biểu hiện thái độ rành rẽ của nhân dân đối với lòng tham và sự bội bạc
ở đây, tính chất loại biệt của thể tài cổ tích về sinh hoạt sẽ là căn cứ
định hớng cho cách suy đoán khám phá của ngời đọc ( ngời nghe) về ý nghĩa xã hội của tác phẩm Từ đó tìm ra ý nghĩa xã hội ẩn chứa trong cổ tích này có liên quan mật thiết đến ớc vọng , mơ ớc của con ngời về mối quan hệ nhân quả : Cái Thiện rồi cuối cùng cũng thắng cái ác Ngời hiền lành tử tế rồi cũng đợc hởng hạnh phúc còn những ngời bạc ác sẽ bị trừng trị đích đáng trong một xã hội hiện hành những bất công
Cũng trên cấp độ thể tài, một điểm nữa cần đợc nói đến đó là đặc sắc
nghệ thuật cổ tích phản chiếu trong Ông lão đánh cá và con cá vàng “ ”Nhân vật chính của cổ tích này là Mụ Vợ Là nhân vật phản diện Là nhân vật bộc lộ lòng tham và sự bội bạc ngày càng lớn Còn nhân vật ông lão chỉ là nhân vật phụ – là nhân vật chức năng , cùng với cá vàng , biển cả chỉ làm nền cho nhân vật chính bộc lộ hết những tính cách của mình
Về kết cấu Ông lão đánh cá và con cá vàng “ ” mang hình thức kết cấu phổ biến của cổ tích về sinh hoạt : Phê phán , lên án lòng tham và sự
Trang 9bội bạc , ca ngợi và biết ơn những ngời tốt , nhân hậu Đồng thời trừng trị
kẻ ác, kết thúc truyện rất có hậu
3 Nghĩa của tác phẩm.
Nêu mục đích của một bài học tác phẩm văn học là khơi gợi cho học sinh cách hiểu đúng về tác phẩm, thì giáo viên – ngời tổ chức cho học sinh cảm và hiểu tác phẩm Nắm đợc nghĩa của tác phẩm tức là hiểu tác
phẩm, bởi lẽ nghĩa ( chủ đề hoặc t tởng ) là linh hồn của tác phẩm nghệ
thuật Ngời dạy cha nắm đúng, hiểu đúng nghĩa của tác phẩm sẽ kéo theo ngời học hiểu sai tác phẩm
Thực ra, phơng pháp dạy học dù quan trọng đến đâu cũng chỉ là con
đờng khoa học để ngời dạy tổ chức cho ngời học tiến tới nắm chắc nghĩa của tác phẩm
Nghĩa của tác phẩm nghệ thuật không hiện rõ trên bề mặt tác phẩm
mà chìm sâu trong tác phẩm Một tác phẩm nghệ thuật có thể đơn nghĩa cũng có thể đa nghĩa Chính vì vậy, Việc xác định nghĩa của tác phẩm có thể đúng, sai và theo nhiều hớng Trong thực tế dạy – học tác phẩm văn học, ngời dạy xác định nghĩa tác phẩm nh thế nào thì tìm cách tổ chức cho ngời học đi tìm nghĩa theo hớng ấy Nh vậy, sẽ dẫn đến tình trạng dạy
đúng hoặc sai , nông hoặc sâu về tác phẩm
Vấn đề đặt ra ở đây là cần xác định nghĩa của cổ tích Ông lão“
đánh cá và con cá vàng ” nh thế nào để làm căn cứ kiến thức đúng đắn cho bài học này Theo cuốn sách giáo viên văn 7 của Bộ giáo dục và đào tạo – 1995 các tác giả đa ra cách hiểu với ba nét nghĩa sau:
1 Lên án lòng tham và sự bội bạc ( Lòng tham có thể biến con ngời
thành kẻ bất lơng , bất nghĩa )
Trang 102 Ca ngợi lòng tốt ( sự biết ơn đối với những ngời nhân hậu )
3 Biểu hiện rành rẽ của nhân dân về lòng tham và sự bội bạc
Nhng theo cuốn bài soạn Văn 7 của vụ phổ thông trung học xuất bản
năm 1996, thì bài học Ông lão đánh cá và con cá vàng “ ” cần giúp học sinh hiểu đợc hai nét nghĩa:
1 Ca ngợi lòng tốt ( sự biết ơn đối với những ngời nhân hậu ) , lên
án lòng tham và sự bội bạc
2 Sự trừng phạt của nhân dân về lòng tham và sự bội bạc
Nếu hiểu ý nghĩa của truyện theo một trong hai cuốn sách trên, chúng tôi thấy cha thật đầy đủ Chúng tôi nhận thấy cách xác định nghĩa
của Ông lão đánh cá và con cá vàng “ ” trong Sách Giáo viên Ngữ văn 6 – Tập I của Bộ Giáo Dục và Đào tạo – NXB Giáo dục, Hà Nội, năm
2002 chính xác và đầy đủ hơn khi các tác giả đa ra cách hiểu với bốn nét nghĩa sau:
1 Thể hiện quan niệm của nhân dân về công lý xã hội: Những ngời chăm chỉ, tốt bụng, đợc nhận phần thởng xứng đáng Kẻ độc ác tham lam bị trừng trị.
2 Lên án lòng tham và sự bội bạc ( Lòng tham có thể biến con
ng-ời thành kẻ bất lơng , bất nghĩa )
3 Khẳng định niềm tin , niềm mơ ớc của nhân dân về một xã hội công bằng , không có cái ác , cái tham lam và sự bội bạc
4 Thể hiện rõ thái độ của nhân dân : Kẻ tham lam bội bạc không thể đợc hởng giàu sang phú quý
Chúng tôi tiếp thu kiến thức theo hớng này bằng cách đa ra nét nghĩa 1 và 2 vào nội dung chính của bài học, còn nét nghĩa 3,4 có thể là
Trang 11cao so với năng lực tiếp nhận của học sinh lớp 6 nên cần đợc dạy học theo mức độ bổ sung qua các biện pháp bình giảng, mở rộng của giáo viên.
II Cơ sở lý thuyết phơng pháp.
Nhìn ở góc độ phơng pháp chung thì “ Vấn đề đọc hiểu và dạy học
truyện cổ tích Nga theo chơng trình THCS mới qua truyện cổ tích Ông“
lão đánh cá và con cá vàng ” SGK Ngữ văn 6 – Tập I” cần tuân theo những phơng pháp sau:
1 Theo yêu cầu đổi mới ph ơng pháp dạy học – Văn học.
Truyện cổ tích Ông lão đánh cá và con cá vàng “ ” là một tác phẩm văn học nằm trong chơng trình Ngữ văn 6 – Tập I cải cách giáo dục Nó
đòi hỏi phơng pháp tiếp nhận mới song phơng pháp đọc hiểu và dạy – học tác phẩm này không thể nằm ngoài các yêu cầu cơ bản cuae phơng pháp dạy – học văn hiện đại Sự đổi mới của phơng pháp dạy – học văn
nó càng bộc lộ nhiều hạn chế Cụ thể là phơng pháp dạy – học này lấy thầy giáo là trung tâm Nh vậy, nhiệm vụ truyền đạt kiến thức của thầy hoàn thành nhiệm vụ dạy – học cha đạt, bởi học sinh tiếp nhận tri thức một cách thụ động từ giáo viên, thầy nói – trò nghe, thầy đọc – trò chép Điều này vô hình chung đẫ biến các em thành những cái máy làm
Trang 12việc theo sự vânh hành của thầy giáo Trong giờ học, các em không có sự suy nghĩ, thiếu năng động sáng tạo và nh thế, trí tuệ học sinh không có
điều kiện để phát triển
Công cuộc cải cách giáo dục đòi hỏi viêch giảng dạy văn học trong nhà trờng phải có sự đổi mới Vì thế, một hệ thống lý luận dạy – học mới
ra đời Với hệ thống lý luận này, giáo viên sẽ phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của học sinh Học sinh có thể tự mình chiếm lĩnh tri thức dới sự
tổ chức, hớng dẫn của thầy
Chỉ thị về phơng pháp giảng dạy của Bộ Giáo dục năm 1996 đã chỉ
ra rằng: “ Việc phân tích một cách máy móc hình thức các tác phẩm văn học nghệ thuật vào việc trích dẫn một cách tự nhiên cần phải đợc thay thế bằng các cuộc trao đổi sinh động chân thực giữa thầy và trò Trong các cuộc trao đổi đó, thầy giáo cần phải nêu ra cho học sinh những vấn đề lý thú buộc học sinh phải suy nghĩ, phải trình bày một cách cởi mở và suy nghĩ riêng của cá nhân mình đối với tác phẩm
b Dạy học văn tuân theo sự liên kết, các ph
-ơng pháp dạy – học văn cải cách giáo dục.
Mỗi ngời giáo viên muốn hoàn thành tổ chức hớng dẫn học sinh lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống một cách vững chắc và có đợc những thói quen trực cảm tác phẩm văn chơng, đáp ứng đòi hỏi phát triển thẩm
mĩ, đạo đức và trí tuệ học sinh thì phải có phơng pháp dạy – học phù hợp Đó là một yêu cầu tất yếu
Ngành Giáo học Pháp đã tổng kết đợc 4 phơng pháp khoa học trong hoạt động dạy và học văn đó là:
+ Phơng pháp đọc sáng tạo
+ Phơng pháp gợi tìm
Trang 13Đọc sáng tạo đòi hỏi phải tuy theo nội dung phản ánh và biểu hiện của hình tợng tác phẩm Tuy theo loại thể, biểu hiện cụ thể, sinh động,
độc đáo của từng tác phẩm mà có lối đọc, giọng đọc thích hợp Đồng thời
đọc văn phải có kỹ thuật, phải biết phát âm giữ giọng , ngừng hơi, ngắt nhịp…
Nguồn gốc của sự phát âm trong đọc diễn cảm là tuỳ thuộc vào đọ cảm,
độ hiểu tác phẩm văn học của mỗi cá nhân Cho nên việc đọc sáng tạo khơi dậy tính cá thể của học sinh qua giọng đọc
Qúa trình đọc văn ( Đặc biệt là đọc sáng tạo ) là quá trình hoạt
động nhận thức và t duy, nhất là t duy hình tợng Vì vậy, giáo viên khi đọc văn cho học sinh nghe cũng phải làm cho hình tợng đợc tái sinh trong tâm trí mình lại tái sinh một lần nữa vào tâm trí các em, giúp cho các em cảm thụ đợc cái đợc phản ánh vvà cái đợc biểu hiện – tức là giúp các em
“chứng kiến” và “thể nghiệm” cùng với giáo viên tiếp thu cá thể xác lẫn
linh hồn tác phẩm Muốn vậy thì ngời giáo viên phải có giọng đọc diễn cảm Qua giọng đọc diễn cảm của giáo viên , học sinh có thể thấy tất cả những điều đợc mô tả, đợc nói đến trong các tác phẩm đợc nói đến nh
đang diễn ra trớc mắt mình Việc đọc diễn cảm của thầy sẽ luôn luôn gây
Trang 14đợc ấn tợng sâu sắc về tác phẩm văn học cho học sinh, giúp học sinh hiểu
đợc nội dung biểu cảm của tác phẩm Và nh thế giúp các em chuẩn bị phân tích các tác phẩm sau đó đợc tốt hơn
Trớc CCGD, việc đọc văn nói chung, đọc diễn cảm nói riêng ở trờng phổ thông bị coi nhẹ một cách có hệ thống Nó chỉ đợc coi là yếu tố ở đầu ở
đầu giờ hoặc cuối giờ Đây là một nhợc điểm cơ bản cần phải khắc phục
Chơng trình CCGD với việc xác định rõ vai trò, vị trí của đọc diễn cảm nên đã coi đây là phơng pháp chủ đạo trong dạy – học tác phẩm văn học
Để giúp học sinh tiếp nhận tác phẩm văn học đợc tốt thì giáo viên phải kết hợp nhiều biện pháp Đọc diễn cảm là biện pháp có hiệu quả nhất Ngoài ra, còn phải kết hợp các biện pháp nh: Đọc có hớng dẫn, đọc
có phân tích Tất cả đều nhằm mục đích rèn luyện kỹ năng, động cơ và ý…thức đọc để làm tiền đề cho việc tìm hiểu tác phẩm
b2 Phơng pháp gợi tìm.
Phơng pháp gợi tìm là phơng pháp gợi trí tởng tợng của học sinh dới
sự hớng dẫn của giáo viên, giúp các em đi vào tìm hiểu từng bộ phận trong cấu trúc ntác phẩm và tiến tới đánh giá chung
Nếu nh phơng pháp đọc sáng tạo đợc coi nh một bớc nhận thức cảm tính thì phơng pháp gợi tìm chính là bớc tổ chức hớng dẫn học sinh đi vào
t duy hình tợng Cho nên, phơng pháp gợi tìm tiến hành trên cơ sở của
ph-ơng pháp đọc sáng tạo
Nhiệm vụ của ngời giáo viên là phải biết tổ chức cho học sinh đi tìm hiểu tác phẩm trên cơ sở cảm, tởng tợng và tái hiện cuộc sống một cách sinh động để từ đó tiến hành phân tích, so sánh để tìm ra nét bản chất của
Trang 15chi tiết và cuối cùng tổng hợp chúng lại để làm rõ giá trị cả về nội và hình thức của hình tợng.
Phơng pháp gợi tìm đòi hỏi ngời thầy giáo phải có năng lực tổ chức, hớng dẫn học sinh qua hình thức đàm thoại, gợi mở và những hoạt động
có tính lên môn khác nh nhạc, hoạ…
Bằng con đờng đàm thoại tâm tình về những vấn đề mà không khí lớp sinh động hẳn lên, mối liên hệ giữa thầy – trò và nhà văn đợc hình thành và dần hoà nhập, giúp thầy giáo nắm đợc trình độ hiểu biết và năng lực học tập của học sinh
Bên cạnh đó phơng pháp này còn có tác dụng:
+ Nâng cao cảm thụ của học sinh về tác phẩm từ cảm tính đến lý tính
+ Kích thích nỗ lực trí tuệ của học sinh trong quá trình thởng thức, tiếp nhận tác phẩm
+ Rèn luyện kỹ năng phân tích, khám phá và nhận xét từng mặt, từng bộ phận tác phẩm
+ Bớc đầu giúp học sinh nắm đợc phơng pháp cách thức để tìm tòi, thởng thức, tiếp nhận kiến thức về tác phẩm tức là bớc đầu tiếp nhận khoa học nghiên cứu văn
Đặc biệt, qua đầm thoại, gợi mở ( gợi tìm ) làm cho sự thụ động tiếp
thu kiến thức của học sinh bị giảm bớt, năng lực độc lập suy nghĩ tìm tòi
và thói quen giao tiếp xã hội của các em đợc phát huy
Phơng pháp gợi tìm có mặt mạnh của nó, song nếu ngời thầy không
có đủ trình độ tổ chức hợp lý thì dễ dẫn đến giờ văn khô khan, rời rạc, ít
Trang 16hứng thú Bởi thực chất của phơng pháp nay là một cuộc đàm thoại giữa thầy và trò.
Vì thế, để thực hiện phơng pháp này đạt hiệu quả cao, ngời giáo viên phải có nghệ thuật mà nghệ thuật ở đây là nghệ thuật hỏi để học sinh tự giác, hứng thú trả lời Tức là câu hỏi phải mang tính nghệ thuật, dễ đi vào lòng ngời Câu hỏi tung ra nh một cuộc tâm tình
b3 Phơng pháp tái tạo.
Phơng pháp tái tạo trong dạy – học văn là một hệ thống các biện pháp và hình thức giảng dạy của giáo viên nhằm giúp các em sự nỗ lực trí tuệ, tập trung chú ý,, năng lực t duy để chủ động lĩnh hội trí thức dờng nh
Trớc hết cần phải khẳng định rằng các biện pháp hình thức đã sử dụng trong phơng pháp giảng dạy văn truyền thống mà vẫn có tác dụng tích cực thì vẫn phù hợp với tinh thần mới, chúng ta càng phải tiếp thu và phát triển
Vận dụng phơng pháp tái hiện không những không trái với nguyên tắc chung trong dạy – học văn mà ngợc lại để khám phá và thởng thức các tác phẩm, học sinh cần phải có những kiến thức ngoài tác phẩm nh : kiến thức và tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ,
Bên cạnh đó học sinh cần phải tóm tắt tác phẩm, tóm tắt kể chuyện sáng tạo hình dung tởng tợng bằng lời
Trang 17Những kiến thức ấy, học sinh có thể tìm kiếm trong sách vở, trong tài liệu Nhng ngoài sách giáo khoa và các tài liệu khác, học sinh còn phải đợc giáo viên cung cấp Bởi vì, ngoài yêu cầu thởng thức và tìm tòi khám phá riêng mang tính chủ quan cá nhân, mỗi tác phẩm, mỗi tiết học, học sinh cần phải đạt tới những kiến thức cơ bản có hệ thống về tác phẩm văn chơng.
Việc vận dụng phơng pháp tái hiện trong dạy – học văn là rất cần thiết Vì vậy, giáo viên phải có biện pháp thích hợp để phát huy trí tuệ của học sinh và cung cấp kiến thức cho các em đạt hiệu quả cao
Trớc hết là biện pháp giảng thuật trong phơng pháp tái tạo, giảng thuật là biện pháp giúp các em nắm đợc kiến thức ngoài tác phẩm nhng rất cần thiết để có cơ sở tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm
Theo tinh thần đổi mới việc dạy – học văn hiện nay yêu cầu giáo viên chỉ là ngời hớng dẫn, tổ chức để học sinh chủ động tiếp thu trí thức, hạn chế việc giáo viên thuyết trình, bình giảng Nhng qua thực tế giảng dạy theo phơng pháp mới chúng tôi thấy nêu bỏ qua việc bình giảng và
mở rộng của giáo viên hoàn toàn của học sinh sẽ chỉ hiẻu đợc tác phẩm văn học một cách hời hợt Chúng tôi thiết nghĩ, giảng bình cũng là biện pháp quan trọng trong việc tái tạo tác phẩm văn chơng mà ngời giáo viên
sử dụng để giúp học sinh cảm thụ, khám phá những đặc sắc nghệ thuật và nội dung tác phẩm văn chơng
Tuy nhiên, để chủ thể học sinh đợc phát huy, tránh sự áp đặt thì biện pháp này phải đợc sử dụng có chừng mực và kết hợp các biện pháp khác Những lời giảng dạy, bình phẩm, nhận xét của giáo viên phải ngắn gọn có cảm xúc phải có tác dụng nh một định hớng cho các em
b4 Phơng pháp nghiên cứu.
Trang 18Thực chất của phơng pháp này là sự đòi hỏi nhng nỗ lực trí tuệ của học sinh Phơng pháp nghiên cứu là sự tiếp tục ở trình độ cao của phơng pháp gợi tìm Nêu nh ở phơng pháp gợi tìm, giáo viên đề ra những phơng hớng cụ thể, nhiệm vụ cụ thể, giúp các em nắm đợc các biện pháp để tự phân tích đánh giá từng mặt, từng bộ phận của tác phẩm văn chơng, thì ở phơng pháp nghiên cứu, giáo viên giúp các em nắm đợc các biện pháp để
tự khám phá các vấn đề có tính tổng hợp về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, các mối tơng quan phức tạp đa chiều giữa các vấn đề, các bộ phận bên trong của tác phẩm, phát biểu những ý kiến nhận xét riêng về tác phẩm văn chơng một cách có lý, có căn cứ
ở mức lý tởng, phơng pháp này giúp học sinh bớc đầu xác lập đợc những tiêu chuẩn bình giá tác phẩm, khả năng tự phát huy những điều mới
mẻ cha nói đến về tác phẩm Trên cơ sở đó, các em tự hoàn thiện cho mình thị hiếu thẩm mĩ
Trên đây là bốn phơng pháp chủ yếu hết sức quan trọng nằm trong
hệ thống lý luận dạy – học hiện đại mà ngời giáo viên cần hiểu và nắm vững để áp dụng cụ thể trong bài giảng của mình Bốn phơng pháp này tuy
có chức năng và nhiệm vụ riêng chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, qua lại với nhau, hộ trợ cho nhau Vì vậy, khi áp dụng chúng, giáo viên phải biết kết hợp các biện pháp này sao cho có hiệu quả nhất
c Dạy – học văn tuân theo hệ thống câu hỏi cảm thụ tác phẩm.
Việc tạo nên tác phẩm văn chơng và tiếp nhận tác phẩm văn chơng
là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau Có thể nói, sáng tạo nên tác phẩm là lĩnh vực sản xuất, còn tiếp nhận tác phẩm là lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm Ngời tiêu thụ bao giờ cũng có nhu cầu riêng của mình Nhu cầu đó phụ
Trang 19thuộc vào rất nhiều yếu tố, sở thích, thói quen, tâm lý, sự hớng dẫn giói thiệu Bởi thế, việc tổ chức cho học sinh tiếp nhận tác phẩm văn ch… ơng làm sao cho có hiệu quả là một khâu hết sức quan trọng.
Trong chơng trình CCGD, dạy – học tác phẩm văn chơng bằng hệ thống câu hỏi là cách tốt nhất để đạt hiệu quả dạy – học theo hớng cải cách, thể tinh thần dạy – học hiện đại là tôn trọng chủ thể học sinh Nh-
ng điều mà chúng ta cần quan tâm ở đây là sắp đặt câu hỏi sao cho hợp lý
Câu hỏi đặt ra phải qua hai giai đoạn:
+ Hỏi để học sinh phát hiện ra các chi tiết ( hình thức).
+ Hỏi để gợi ý sự hiểu biết của học sinh ( nội dung ).
Thực hiện điều này không phải theo cách giảng giải nh trớc mà theo cách giáo viên đặt ra một hệ thống câu hỏi để giúp học sinh tự mình chiếm lĩnh tác phẩm Các câu hỏi cần đợc vận dụng theo nguyên tắc liên kết, xen kẽ trên nền câu hỏi hiểu Có các hệ thống câu hỏi sau:
* Hệ thống câu hỏi cảm xúc:
Hệ thống câu hỏi cảm xúc là hệ thống câu hỏi nhằm tác động gợi nên những rung động ban đầu của học sinh đối với nội dung và hình thức tác phẩm
Hệ thống câu hỏi này có 2 loại:
+ Loại câu hỏi cảm xúc vật chất đối với nhng vấn đề thuộc nội dung tác phẩm đặt ra
+ Loại câu hỏi cảm xúc hình thức liên quan tới các vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của tác phẩm
* Hệ thống câu hỏi hình dung t ởng t ởng :
Trang 20Hệ thống câu hỏi hình dung tởng tởng là loại câu hỏi khơi gợi trí ởng tởng trơìng liên tởng của học sinh dới sự tác động của hình tợng văn học, giúp học sinh tái hiện cuộc sống.
t-Loại câu hỏi này gồm:
+ Câu hỏi tái hiện
+ Câu hỏi sáng tạo
* Hệ thống câu hỏi hiểu:
Hệ thống câu hỏi hiểu là hệ thống câu hỏi để học sinh tự đa ra những nhận xét, bình phẩm, đánh giá của mình về vấn đề nào đó của tác phẩm
d Dạy học tác phẩm văn học theo h ớng tích hợp.
Theo quan diểm CCGD hiện nay, thì dạy học phải theo hớng tích hợp: Tích hợp trong từng thời điểm là tích hợp ngang ( tích hợp kiến thức
có liên quan giữa ba phân môn văn – Tiếng Viêt – Tập làm văn ) Tích hợp theo từng vẫn đề – tích hợp dọc
Bên cạnh đó, nh chúng ta đã biết các môn học trong nhà trờng phổ thông đều có một hệ thống kiến thức tổng hợp, cân đối các môn học đó cùng thực hiện một nhiệm vụ chung là truyền đạt kiến thức và hoàn thiện nhân cách cho thế hệ trẻ
Vì thế, ngoài việc tích hợp kiến thức giữa các phân môn trong cùng
bộ môn học, sự kết hợp giữa các kiến thức khác nhau trong nhà trờng ( liên môn ) là một điều cần thiết tất yếu đối với học sinh và nhất là đối với giáo viên
Trang 21Do bản chất đặc trng của môn văn có quan hệ mật thiết với môn học khác thuộc khoa xã hội và nhân văn nh sử, chính trị, đạo đức, đặc biệt là
đối với các môn nghệ thuật Trong qúa trình phát triển, hoạt động t duy nghệ thuật, dù là hình tợng ngôn ngữ hay hình tợng âm thanh, màu sắc, đ-ờng nét đều có tác động lẫn nhau, giúp cho nhau phát huy cao nhất sức…mạnh của mình Ta thờng nói “ Trong thơ có nhạc, trong thơ có hoạ” Vì thế ngời giáo viên văn muốn nâng cao chất lợng, hiệu quả dạy – học văn không thể không chú ý đến qua hệ này
Hiện nay, việc sử dụng các môn thuộc ngành nghệ thuật ( âm nhạc, hội hoạ ) có liên quan nghệ thuật văn chơng để phụ hoạ cho tác phẩm là
điều cần thiết vì văn chơng là nghệ thuật tổng hợp
Giờ văn cải cách thờng nhạy cảm với nghệ thuật hội hoạ Có thể thấy bốn hình thức liên môn văn – hội hoạ nh sau :
+ Sử dụng tranh minh hoạ trong sách giáo khoa
+ Sử dụng tranh vẽ, đồ dùng dạy học
+ Bài tập vẽ tranh minh hoạ của học sinh
+ Vẽ bằng tởng tợng, bằng lời
Liên môn văn với những môn thuộc ngành nghệ thuật có tác dụng phát triển năng khiếu nghệ thuật của các em và tăng cờng một cách gián tiếp sự cảm thụ văn học nghệ thuật
Tuy nhiên liên môn văn – nghệ thuật cần theo nguyên tắc là phù hợp với bản chất loại hình của tác phẩm, vì nó chỉ có ý nghĩa khi quá trình dạy – học biết sử dụng đúng chỗ các hình thức nghệ thuật gần với văn chơng để hỗ trợ, phụ hoạ cho việc tiếp nhận chính tác phẩm văn học đó
Trang 222 Dạy - học tác phẩm theo công nghệ dạy - học hiện đại.
Lý luận dạy hiện đại quan niệm : Dạy – học là một khoa học Là khoa học hiện đại thì cần phải thực hiện một cách có kế hoạch, có tính toán theo kiểu sản xuất công nghệ hiện đại chứ không phải ngẫu hứng tuỳ tiện
Quá trình dạy – học văn cũng vậy Đây là một quá trình có chơng trình, kế hoạc cụ thể hớng vào những mục tiêu yêu cầu thống nhất, đồng thời là một quá trình gắn liền với hoạt động trí tuệ, cảm xúc của giáo viên
và học sinh Quá trình này còn có quan hệ chặt chẽ có những quan điểm
về chính trị và triết học, về đạo đức và thẩm mĩ, về khoa học kĩ thuật, về lịch sử xã hội, văn hoá ở từng giai đoạn Đó còn là một quá trình lao động sáng tạo mạng tính đặc thù của ngời giáo viên Ngời giáo viên phải nghiên cứu tính toán, nghiền ngẫm một cách công phu qua từng giai đoạn trong mỗi khâu, mỗi biện pháp, cách thức, thủ thuật để tổ chức học sinh, khơi…dậy niềm say mê trí tuệ, tam hồn, dẫn dắt t duy học sinh giúp các em chủ
động trực tiếp đối diện với tác phẩm, thởng thức và khám phá ra cái hay, cái đẹp những giá trị về nhiều mặt của tác phẩm văn chơng Có thể nói
đây là một quá trình hoạt động hết sức đa dạng, phức tạp mang tính khoa học và nghệ thuật sâu sắc
Nh vậy, công nghệ dạy – học văn hiện đại quan niệm ngời thầy
đóng vai trò là ngời thiết kế bài học – là trung tâm thiết kế bài học là tạo việc làm cho học sinh tơng ứng với bài văn Tức là, thầy giáo đóng vai trò chỉ đạo – ngời dẫn đờng, tổ chức, hớng dẫn học sinh lĩnh hội tri thức, cảm thụ tác phẩm văn chơng Đồng thời phát huy đợc tính tích cực chủ
Trang 23động sáng tạo của học Nói cách khác là sự khởi động dsao cho năng lực
t duy của học sinh hoạt động một cách tích và có hiệu quả, cao hơn nữa là các em biết lánh mình nghe cho đợc , bắt cho đợc nhịp đập của sự sống
đang nằm im cho chữ nghĩa
3 Dạy – học văn theo đặc tr ng loại thể tác phẩm văn học.
Kho tàng văn học dân tộc cũng nh nhân loại thật là phong phú và đa dạng và gồm nhiều tác phẩm đặc sắc, nhiều kiến thức khác nhau mà mỗi tác phẩm là một công trình sáng tạo độc đáo về nội dung và nghệ thuật
Thực tiễn sáng tácm nghiên cứu, phân tích và giảng dạy văn học đã
đặt ra cho chúng ta những vấn đề cần phải suy nghĩ, trong đó có vấn đề loại thể văn học
Ngời giáo viên muốn đạt hiệu quả cao nhất trong dạy- học thì việc giảng dạy văn học phải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trng của bộ môn văn Nếu không chú ý một cách toàn diện, đúng mức vấn đề này, việc giảng dạy văn rất dễ hoặc thiên về nội dung t tởng một cách gò bó cứng nhắc, hoặc thiên về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ một cách phiến diện trống rỗng Giữ vững thế thăng bằng khi phân tích nội dung và nghệ thuật một tác phẩm văn học là bản lĩnh s phạm của ngời giáo viên
Để làm đợc việc này, trong quá trình giảng dạy, chúng ta phải chú ý
đến vấn đề loại thể văn học
Mỗi tác phẩm văn học tồn tại dới mọi hình thức loại thể nhất định,
đòi hỏi một phơng pháp một cách thức phân tích giảng dạy phù hợp với nóậíTc phẩm văn chơng đợc chia làm 3 loại: Tự sự, trữ tình và kịch Sự
Trang 24cảm thụ, phân tích và giảng dạy một tác phẩm tự sự không giống với sự cảm thụ, phân tích và giảng dạy một tác phẩm trữ tình hay kịch.
Trên cấp độ loại hình, truyện dân gian ( Thần thoại, truyền thuyết,
cổ tích, ngụ ngôn, truyện cời ) là các tác phẩm tự sự.
Tác phẩm thuộc loaị tự sự bao giờ cũng là một tác phẩm có tình tiết – tức là có một câu chuyện làm nòng cốt – trong đó có những sự việc
đang xảy ra, đang diễn ra, có sự tham gia của con ngời với hành động, ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách của họ trong mối quan hệ lẫn nhau Nhờ
đặc điểm đó mà xa nay loại hình tự sự có khả năng nhiều nhất trong việc dựng lên những bức tranh rộng lớn sâu sắc nhiều mặt về đời sống xã hội
và con ngời, về những biến động lịch sử quan trọng
Đặc trng này qui định cách dạy học tơng ứng với tác phẩm thuộc loại hình tự sự sẽ là hoạt động chứng kiến và đánh giá các tính cách con ngời, các bức tranh đời sống đợc miêu tả trong tác phẩm thông qua 3 dấu hiệu hình thức cơ bản của tác phẩm tự sự là : Cốt truyện, nhân vật, lời kể
a Cốt truyện:
Cốt truyện chính là hiện thực đời sống đợc tổ chức trong văn bản Vì vậy, muốn nắm đợc hiện thực phản ánh trong tác phẩm thì phải nắm đợc cốt truyện Mặt khác, cốt truyện còn là sự việc, là biến cố đang vận động,
đang phát triển Nhng trung tâm của sự việc, của biến cố lại là con ngời với cuộc sống bên trong và cuộc đời bên ngoài của họ
Nhà văn Nguyễn Đình Thi trong cuốn “ Công việc của ngời viết tiểu
thuyết” đã từng nói: “ Chỉ khi nào nhà văn tìm đợc ý nghĩa của sự việc
đối vận mệnh những con ngời, nhìn rõ đợc sự diễn biến của những con ngời tham gia vào sự việc ấy thì bấy giờ mới có cốt truyện”.
Trang 25Bởi thế, chúng ta có thể nói chuyện nào cũng đều liên quan tới con ngời, truyện chủ yếu là truyện về con ngời Cho nên nắm đợc cốt truyện là
ta đã bớc đầu hình dung đợc về nhân vật trong tác phẩm
Về phơng diện này cách dạy – học tơng ứng sẽ là biện pháp đọc diễn cảm để tóm tắt truyện, sẽ là phơng pháp độc diễn cảm để tóm tắt truyện, là hệ thống tổ chức trong năm thành phần, trong đó thành phần quan trọng nhất là của tác phẩm là cốt truyện, thắt nút, phát triển, đỉnh
điểm và mở nút Điều này đòi hỏi phơng pháp dạy - học sẽ là dùng gợi tìm, kích thích học sinh chiếm lĩnh các sự việc, nhất là các sự việc quan trọng trong thành phần thắt nút, cao trào và mở nút của cốt truyện
b, Nhân vật.
Nhân vật là hình thức cơ bản nhất của truyện Câu chuyện mà nhà văn kể trong tác phẩm tự sự chính là câu chuyện của nhân vật Trong các truyện dân gian, nhân vật là nơi cuộc sống biểu hiện tập trung nhất, là nơi chứa đựng các chủ đề xã hội, thể hiện t tởng cuả nhà văn Khi đọc truyện, ngời đọc ngẫm nghĩ sự đời thông qua các nhân vật mà mình quan tâm, phê bình một cuốn truyện chủ yếu cũng nhằm vào nhân vật
Điều này chứng tỏ sự cần thiết phải bám vào nhân vật trong khi chiếm lĩnh tác phẩm truyện ở các giờ văn
Yêu cầu đổi mới phơng pháp phân tích nhân vật là khi phân tích phải từ cụ thể đến trừu tợng, từ riêng biệt đến khái quát Nhân vật là hình tợng, phân tích nhân vật là phân tích hình tợng Phân tích, tìm hiểu nhân vật trong sự thống nhất giữa ngoại hình và nội tâm là hớng cần đợc khẳng
định trong quá trình hớng dẫn học sinh tìm hiểu, nhằm giúp học sinh cảm thụ đợc sâu và đánh giá đúng các nhân vật trong truyện
Vì thế, khi phân tích nhân vật chúng ta có thể đi theo qui trình sau:
Trang 26+ Hớng dẫn học sinh xác định nhân vật ( những nhân vật quan trọng )
đồng thời qua lời kể của mình, tác giả trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy t về những gì tác giả đang phản ánh
Trong tác phẩm tự sự ta thờng gặp 2 kiểu ngôn ngữ cơ bản:
+ Ngôn ngữ gián tiếp ( lời kể của tác giả )
+ Ngôn ngữ trực tiếp - có thể là độc thoại, đối thoại ( lời nói của nhân vật ).
Để lĩnh hội tác phẩm tự sự, bên cạnh việc phân tích cốt truyện và nhân vật, còn phải cảm và hiểu đợc ý vị trong lời kể của tác giả Cái hay của lời kể chính là sự tự nhiên sinh động và truyền cảm Phân tích lời kể là phân tích nghệ thuật kể chuyện, là phân tích sự miêu tả cuộc sống một cách tỉ mỉ, tờng tận, cách kết cấu chặt chẽ và sáng sủa, cách sắp xếp khéo léo những chi tiết quan trọng để đẩy dần tới đỉnh điểm những mâu thuẫn Phân tích lời kể còn là phân tích cách dùng từ chọn lọc, cách dùng câu trong sáng, giàu sự biểu cảm