1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI

496 458 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 496
Dung lượng 11,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế trên đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo khẩn thiết, buộc tất cả những người có lương tâm và trách nhiệm xã hội, từ những cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đoàn thể tới

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KN&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC

KX.03/06-10

“Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong tiến trình

Đổi mới và hội nhập quốc tế”

CƠ QUAN CHỦ TRÌ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

8416

Hà Nội - 2010

Trang 2

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KN&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC

KX.03/06-10

“Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong tiến trình

Đổi mới và hội nhập quốc tế”

CƠ QUAN CHỦ TRÌ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2010

Trang 3

CÁC THÀNH VIÊN CỦA ĐỀ TÀI

GS.TS NGUYỄN VĂN KHÁNH PGS.TS NGUYỄN VŨ HẢO PGS.TS LÂM BÁ NAM

TS HOÀNG THU HƯƠNG

TS LẠI QUỐC KHÁNH

THƯ KÝ KHOA HỌC

TS LẠI QUỐC KHÁNH

Trang 4

1

MỤC LỤC

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 6

2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10

2.1 Ý nghĩa lý luận 10

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 11

3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11

3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 11

3.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 14

4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 17

4.1 Mục đích nghiên cứu 17

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 17

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 18

6 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

6.1 Phương pháp luận 20

6.2 Phương pháp nghiên cứu 20

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu của triết học 20

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu của sử học 20

6.2.3 Phương pháp nghiên cứu của xã hội học 21

7 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÍ TUỆ, NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ, XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ 25

I TỔNG QUAN QUAN NIỆM VỀ TRÍ TUỆ VÀ NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ 25

1 Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ trong lịch sử tư tưởng phương Đông 25

1.1 Nguồn gốc, bản chất của trí tuệ 25

1.2 Phát huy nguồn lực trí tuệ 29

2 Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ trong lịch sử tư tưởng phương Tây 33

2.1 Quan niệm về trí tuệ trong lịch sử tư tưởng phương Tây trước Mác 33

2.2 Quan niệm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về trí tuệ và nguồn lực trí tuệ 37

3 Xung quanh vấn đề khái niệm trí tuệ 45

3.1 Khái niệm 45

3.2 Trí tuệ và một số khái niệm liên quan 49

3.2.1 Trí tuệ và trí thông minh 49

3.2.2 Chất xám, trí lực, lý tính 50

3.2.3 Tài năng, thiên tài 51

3.2.4 Tri thức, trí thức 52

3.3 Đo lường trí tuệ 54

3.3.1 Trí thông minh và chỉ số thông minh IQ 54

3.3.2 Trí sáng tạo và chỉ số sáng tạo CQ 57

3.3.3 Trí tuệ cảm xúc và chỉ số trí tuệ cảm xúc EQ 60

Trang 5

2

4 Vai trò của nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp phát triển đất nước 62

5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và phát huy vai trò của trí thức - bộ phận trung tâm trong nguồn lực trí tuệ Việt Nam 64

5.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về trí thức và trí thức tinh hoa 64

5.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng trí thức 65

II MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ CỦA ĐỀ TÀI 69

1 Trí tuệ, trí tuệ Việt Nam 69

2 Nguồn lực trí tuệ, nguồn lực trí tuệ Việt Nam 70

3 Chấn hưng đất nước 75

4 Giải pháp xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước 78

4.1 Đặc điểm của giải pháp 78

4.2 Cơ sở xác định các giải pháp 79

4.3 Xây dựng giải pháp 83

5 Chủ thể tham gia xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước 85

CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 89

I NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM 89

1 Nguồn lực trí tuệ Việt Nam: Tiếp cận lịch sử 89

2 Nguồn lực trí tuệ Việt Nam: Tiếp cận bộ phận 94

2.1 Đội ngũ trí thức - tầng lớp tinh hoa của trí tuệ Việt Nam 95

2.2 Nguồn lực trí tuệ phụ nữ Việt Nam từ góc nhìn Giới (Gender Study) 99

2.3 Nguồn lực trí tuệ các dân tộc thiểu số Việt Nam 110

2.3.1 Về trình độ học vấn 112

2.3.2 Về cơ cấu ngành nghề 113

2.3.3 Về giới tính 114

2.3.4 Phân bố ở các địa phương 114

3 Một số đặc điểm nổi bật của nguồn lực trí tuệ Việt Nam 117

3.1 Chủ nghĩa yêu nước - sợi dây gắn kết tạo nên sức mạnh nổi trội của trí tuệ Việt Nam 118

3.2 Lòng nhân ái, ý thức về lẽ phải, công bằng - một đặc trưng quan trọng của trí tuệ và nguồn lực trí tuệ Việt Nam 120

3.3 Nguồn lực trí tuệ Việt Nam chưa tích lũy nhiều tri thức khoa học hiện đại nhưng thông minh và có khả năng tiếp thu nhanh chóng tri thức hiện đại của nhân loại .121

3.4 Năng lực tư duy, nhất là khả năng phân tích, phán đoán và suy luận chưa cao .122

3.5 Năng lực sáng tạo cao trong chính trị - quân sự nhưng trong hoạt động kinh tế, khoa học và văn hóa nghệ thuật năng lực này vẫn còn nằm ở dạng tiềm năng 124

II KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ 126

1 Kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử 126

Trang 6

3

1.1 Vấn đề đào tạo, phát triển và sử dụng nhân tài trong thời kỳ phong kiến Việt

Nam 126

1.1.1 Nhận thức về vai trò của nhân tài và việc dùng người 127

1.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn hiền tài 130

1.1.3 Các hình thức đào tạo, tuyển chọn nhân tài 131

1.2 Khai thác và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và đế quốc Mỹ (1954-1975) 134

1.2.1 Sự lãnh đạo của Đảng là hiện thân cao nhất của trí tuệ Việt Nam, là động lực khơi nguồn trí tuệ Việt Nam 134

1.2.2 Trí tuệ của toàn dân và toàn quân được phát huy cao độ 137

1.2.3 Phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ là một trong những biểu hiện rõ nét của trí tuệ Việt Nam 140

1.3 Khai thác và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam thời kỳ cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới (1975 đến nay) 143

1.3.1 Quan điểm và phương hướng phát huy nguồn lực trí tuệ 143

1.3.2 Khai thác, phát huy nguồn lực trí tuệ từ 1975 đến nay 145

2 Kinh nghiệm phát huy nguồn lực trí tuệ ở một số quốc gia 146

2.1 Nhật Bản Minh Trị duy tân tự cường bắt đầu từ giáo dục 146

2.2 Chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” - tầm vóc trí tuệ của dân tộc Trung Hoa trước sự phát triển của quốc gia và thời đại 149

2.2.1 Phát triển phải bắt đầu từ đào luyện nhân lực, giáo dục là kế lớn căn bản, lâu dài của một dân tộc 150

2.2.2 Nhận rõ vai trò vi trí của trí thức, khoa học kỹ thuật là lực lượng sản suất hàng đầu 151

2.2.3 Chính sách đào tạo sử dụng, đãi ngộ, tôn trọng tri thức nhân tài 153

2.3 Chính sách giáo dục và vấn đề đào tạo nguồn nhân lực của Hàn Quốc 154

2.3.1 Truyền thống và sự phát triển cất cánh 154

2.3.2 Người Hàn Quốc và tố chất hiếu học, tôn sư trọng đạo, truyền thống và hiện tại 155

2.3.3 Giáo dục và chính sách luôn nhắm mục tiêu phục vụ kinh tế - xã hội, đáp ứng đào tạo nguồn nhân lực tri thức 157

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM TRONG CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 164

I TỔNG QUAN VỀ NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM HIỆN NAY 164

1 Nguồn lực trong nước 164

1.1 Lĩnh vực khoa học, công nghệ 164

1.2 Lĩnh vực giáo dục 172

1.3 Lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật 175

1.4 Lĩnh vực kinh tế - kinh doanh 180

1.5 Lĩnh vực quân sự, ngoại giao 183

2 Nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài 186

3 Nguồn nhân lực tiềm năng 192

3.1 Nguồn nhân lực tiềm năng có trình độ đại học 192

Trang 7

4

3.2 Nguồn nhân lực tiềm năng có trình độ sau đại học 196

3.3 Nguồn nhân lực tiềm năng đang được đào tạo ở nước ngoài 197

II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ HIỆN NAY 201

1 Tính hợp lý của sự phân công công việc 201

2 Mức độ phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ 204

3 Đánh giá của đội ngũ cán bộ về việc thực hiện cơ chế, chính sách trong các cơ quan hiện nay 209

III NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ HIỆN NAY 211

1 Mức độ phù hợp giữa đào tạo và việc làm 211

2 Quá trình hoạt động nghề nghiệp 215

3 Mức độ gắn bó với nghề nghiệp 223

IV ĐÁNH GIÁ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM HIỆN NAY 229

1 Nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay - thế mạnh và hạn chế 230

2 Những điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển nguồn lực trí tuệ 234

2.1 Những thuận lợi từ văn hóa truyền thống Việt Nam 234

2.1.1 Lòng yêu nước hay cao hơn là chủ nghĩa yêu nước là một trong nét truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam 234

2.1.2 Việt Nam có truyền thống trong dụng nguồn lực trí tuệ và mục đích xây dựng, phát triển đất nước phù hợp với việc phát huy và trọng dụng các nguồn lực trí tuệ 235

2.1.3 Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo cũng là một điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay 236

2.2 Những thuận lợi của công cuộc Đổi mới 239

3 Những khó khăn trong việc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay 242

3.1 Những khó khăn từ văn hóa Việt Nam 242

3.2 Những khó khăn thuộc điều kiện kinh tế - xã hội 246

CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC 252

I CÁC GIẢI PHÁP CHUNG 252

1 Thống nhất và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nguồn lực trí tuệ 252

1.1 Xây dựng và thống nhất nhận thức của toàn xã hội về mẫu hình người lao động trí tuệ trong sự nghiệp chấn hưng đất nước hiện nay 254

1.2 Thống nhất và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối với phát triển 259

1.3 Thống nhất và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về những hậu quả mà việc phát triển nguồn lực trí tuệ có thể gây ra 265

2 Đo lường, đánh giá toàn diện thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam, quy hoạch nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong tương lai 272

3 Đẩy mạnh cải cách, nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục Việt Nam phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ 279

3.1 Phải đặc biệt coi trọng giáo dục tri thức khoa học nhân văn 284

Trang 8

5

3.2 Chính sách đầu tư cho giáo dục cần phải dựa trên nền tảng “kinh tế học giáo

dục” 290

3.3 Cần phải đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục đại học trong việc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ 294

4 Xây dựng môi trường thuận lợi cho việc phát huy vai trò của nguồn lực trí tuệ Việt Nam 300

4.1 Xác lập mô hình tăng trưởng theo chiều sâu 300

4.2 Nâng cao trình độ công nghệ một cách hợp lý 305

4.3 Xây dựng môi trường kích thích tính tích cực của người lao động trí tuệ 313

II MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ 325

1 Chống “chảy máu chất xám” 325

2 Hoàn thiện chính sách bảo hộ tài sản trí tuệ 333

2.1 Một số bất cập trong chính sách bảo hộ tài sản trí tuệ Việt Nam 333

2.2 Một số giải pháp bảo hộ tài sản trí tuệ nhằm mang lại lợi ích cho Việt Nam và phù hợp với các điều ước quốc tế 337

3 Chú trọng xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ phụ nữ, nguồn lực trí tuệ đồng bào dân tộc thiểu số và nguồn lực trí tuệ Việt kiều 340

3.1 Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ phụ nữ 340

3.2 Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ đồng bào dân tộc thiểu số 344

3.3 Phát huy nguồn lực trí tuệ Việt kiều 347

KẾT LUẬN CHUNG 355

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 359

PHỤ LỤC 369

Trang 9

6

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cho đến nay nhân loại đã và đang trải qua ít nhất ba giai đoạn, ba thời đại trong

lịch sử phát triển các nền văn minh trên trái đất

Giai đoạn thứ nhất là thời đại của nền văn minh nông nghiệp đã diễn ra từ

hàng ngàn năm trước đây mà nhờ đó, loài người đã thoát khỏi tình trạng bấp bênh của lối sống săn bắn, hái lượm và đạt được trạng thái ngày càng phát triển như ngày nay trong công cuộc chinh phục tự nhiên đáp ứng những nhu cầu cuộc sống của con người

Giai đoạn thứ hai là thời đại của nền văn minh công nghiệp bắt đầu từ hàng

trăm năm trước, dựa trên những phát minh vĩ đại của loài người như máy hơi nước, các công cụ cơ khí, các nguồn năng lượng khác nhau như than, dầu mỏ, sức gió, sức nước v.v Nền văn minh công nghiệp đã làm thay đổi về chất sức mạnh của con người, khiến năng suất lao động tăng lên hàng chục, thậm chí hàng trăm lần, đem lại cho con người một nguồn khổng lồ của cải, vật chất và tinh thần so với thời đại trước

Điểm chung của nền văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp là ở chỗ đều dựa trên những điều kiện vật chất, điều kiện tự nhiên, coi việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên là cơ sở quan trọng nhất để tạo ra của cải vật chất cho đời sống xã hội Nói một cách khác, nền tảng chính của nền văn minh nông nghiệp và nền văn minh công nghiệp là nguồn lực vật chất (đất đai, bờ biển, tài nguyên, khoáng sản, khí hậu và những yếu tố thiên nhiên ưu đãi, nguồn của cải vật chất, nguồn vốn v.v.)

Giai đoạn thứ ba mà chúng ta đang trải qua và chứng kiến, là một trong những

giai đoạn đặc thù nhất của lịch sử văn minh nhân loại Đó là giai đoạn chuyển tiếp từ

nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh trí tuệ bắt đầu từ những thập kỷ cuối thế

kỷ XX đầu thế kỷ XXI với những thành tựu vĩ đại của các cuộc cách mạng trong khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là cuộc cách mạng về công nghệ thông tin Đặc trưng cơ bản của thời đại văn minh trí tuệ là ở chỗ nó chủ yếu không dựa vào nguồn lực vật chất, mà chủ yếu dựa vào nguồn lực tinh thần của con người, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ gắn liền với tri thức và “chất xám” với tính cách là yếu tố cơ bản chi phối mọi hoạt động của nền kinh tế và với tính cách là một trong những động lực cơ bản cho sự phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đây là một nguồn lực vô tận

có thể khai thác so với nguồn lực vật chất - tự nhiên đang ngày càng trở nên cạn kiệt

Trang 10

7

Một thời đại khác về chất so với thời đại của nền văn minh nông nghiệp và thời đại của nền văn minh công nghiệp đang bắt đầu

Xu hướng cơ bản của giai đoạn chuyển tiếp sang nền văn minh trí tuệ là sự tích

tụ và liên kết tri thức trên quy mô toàn cầu và bước chuyển dần dần sang nền kinh tế tri thức Chính trong giai đoạn này, lý tính con người, trí tuệ con người thể hiện được tiềm năng và sức mạnh vĩ đại của nó trong việc chinh phục tự nhiên đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về mọi mặt của con người Cũng chính trong giai đoạn nay, sự tiên đoán của C Mác về khoa học với tính cách là lực lượng sản xuất trực tiếp đã và đang trở thành hiện thực

Sau 25 năm Đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và hai chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (1991-

2000 và 2001 - 2010), sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, quá trình phát triển cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm, yếu kém, không chỉ ở năng lực thực tiễn, mà cả ở năng lực tư duy lý luận, ở cả năng lực hoạch định đường lối, chính sách

Trong bối cảnh nhân loại đang tiến bước mạnh mẽ vào nền văn minh trí tuệ, đến năm 2020 xây dựng nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải huy động đến mức cao nhất tất cả các nguồn lực, trong đó có nguồn lực trí tuệ Việt Nam

Tuy nhiên, thực tế xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam đang tồn tại nhiều vấn đề cần được nhận thức và giải quyết thấu đáo

Nhìn từ thực tiễn, có thể cảm nhận được một thực trạng đáng lo ngại về chất

lượng nguồn lực lao động Việt Nam Lao động Việt Nam hiện nay đa phần vẫn là lao

động phổ thông giản đơn, lao động chưa được đào tạo phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế Với trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng các yêu cầu khắt khe của nền kinh tế thị trường, nền giáo dục và đào tạo Việt Nam kể từ mầm non, phổ thông và dạy nghề đến đại học và sau đại học đang đứng trước hàng loạt những vấn đề bức xúc liên quan đến chất lượng đào tạo, đến chương trình lạc hậu không phù hợp và quá tải, đến những hiện tượng tiêu cực trong việc dạy, học và thi cử, v.v

Trong bối cảnh đương đại của xu hướng phát triển kinh tế tri thức và hội nhập

Trang 11

8

quốc tế, việc xây dựng và đào tạo nguồn lao động chất lượng cao, việc phát huy nguồn

lực trí tuệ Việt Nam đã và đang trở thành vấn đề hết bức thiết của xã hội Nhiều lĩnh

vực quan trọng của nền kinh tế như ngân hàng, chứng khoán, tài chính, thương mại, du lịch, dầu khí, các ngành công nghệ kỹ thuật cao như công nghệ thông tin, công nghệ nanô, công nghệ sinh học, v.v., đang có nhu cầu rất lớn đối với những chuyên gia, những nhà khoa học có trình độ cao Hiện tượng xuất khẩu lao động giản đơn và nhập khẩu lao động có trình độ cao là một thực tế đáng buồn, không thể chấp nhận được đối

với Việt Nam trong “sân chơi” toàn cầu

Trong khi đó hiện tượng coi thường “chất xám”, lãng phí “chất xám” và đặc biệt chảy máu “chất xám” đang diễn ra ở mức độ khá nghiêm trọng Môi trường, điều kiện làm việc và chính sách tiền lương trong khu vực Nhà nước vẫn còn nhiều bất cập, chưa đủ sức thu hút và lôi cuốn nhân tài và lao động trí tuệ Mặc dù có những tiến bộ, các chính sách chiêu hiền đãi sĩ nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam ở trong và ngoài nước còn gặp khá nhiều bất cập, chưa phát huy được tác dụng

Thực tế trên đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo khẩn thiết, buộc tất cả những người có lương tâm và trách nhiệm xã hội, từ những cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đoàn thể tới mỗi người Việt Nam yêu nước phải suy nghĩ nghiêm túc về thực trạng nguồn lực trí tuệ và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam, phải hiểu rõ tính tất yêu không chỉ phát triển nguồn nhân lực nói chung, mà là xây dựng, đào tạo, sử dụng và phát huy nguồn lực trí tuệ như một nguồn lực quý giá và vô tận so với các nguồn lực khác trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế Việc xây dựng và phát triển chiến lược đối với nguồn lực trí tuệ Việt Nam ở cả trong và ngoài nước để nhanh chóng khắc phục thực trạng đáng lo ngại nói trên là điều có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI

Tóm lại, chính bản thân thực tiễn cuộc sống đang đặt ra đòi hỏi bức thiết phải

có những nghiên cứu, khảo sát khoa học nghiêm túc trên phạm vi cả nước nhằm phản ánh đúng thực trạng trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam, nhận thức được những yếu tố cơ bản tác động về mọi mặt đến nguồn lực trí tuệ Việt Nam, những mặt mạnh và hạn chế của nguồn lực ấy, từ đó, đưa ra được chiến lược và chính sách phù hợp để khích lệ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, khơi nguồn trí tuệ để phát triển

Xét trên phương diện chính sách, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng

Trang 12

9

việc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ của dân tộc Nhiều tư tưởng, đường lối, chính sách về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, về đội ngũ trí thức, về công tác cán bộ, về cải cách chế độ tiền lượng, v.v., đã ra đời và đi vào thực tiễn cuộc sống Tư tưởng, đường lối, chính sách ấy đã phát huy tác dụng to lớn trong việc khơi dậy và phát huy sức mạnh trí tuệ của toàn thể dân tộc, không chỉ trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong hai cuộc khánh chiến chống Pháp và chống Mỹ, mà cả trong sự nghiệp Đổi mới ngày nay Đó là một thực tế không thể phủ nhận Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, trong toàn bộ quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng và Nhà nước ta cũng có lúc mắc phải sai lầm, cũng có lúc Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa hoàn chỉnh, đôi lúc quá trình tổ chức thực hiện đường lối, chính sách có vấn đề Quan trọng hơn, trước giai đoạn phát triển mới của lịch sử nhân loại và dân tộc, nhiều vấn đề mới đang đặt ra đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải xem xét giải quyết trên cơ sở lối tư duy mới, không thể dừng lại ở lối tư duy truyền thống Chính vì thế, những đường lối, chính sách, pháp luật luôn luôn được điều chỉnh, bổ sung, phát triển cho phù hợp với nhu cầu phát triển của thực tiễn Không chỉ chính sách ở cấp vĩ

mô mà chính sách ở cấp vi mô cũng đang có vấn đề Đó là quan niệm, và từ quan niệm đến chính sách đầu tư cho xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ của các tổ chức vi

mô và các cá nhân đang còn nhiều bất cập Thống kê cho thấy, đầu tư cho nghiên cứu - phát triển (R&D) của các doanh nghiệp Việt Nam thuộc loại thấp trong khu vực, sự phối hợp giữa trường đại học và doanh nghiệp trong nghiên cứu - đào tạo - ứng dụng còn rất chưa chặt chẽ, chính sách đầu tư của các gia đình cho con cái sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học chưa được đặt trên cơ sở khoa học, v.v Chính sách ở cấp

vĩ mô là rất quan trọng, nhưng chính sách ở cấp vi mô lại càng quan trong hơn, bởi đây chính là mảnh đất mà toàn bộ các vấn đề xây dựng, phát huy nguồn lực trí tuệ diễn ra

Những vấn đề về chính sách ở cấp độ vĩ mô hay vi mô đã góp phần tạo nên tính cấp thiết cho đề tài nghiên cứu đánh giá về nguồn lực trí tuệ Việt Nam

Trên phương diện học thuật, như sẽ khảo sát kỹ dưới đây, những nghiên cứu

về các vấn đề có liên quan (chẳng hạn về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức), hoặc là những bộ phận, phương diện (chẳng hạn về trí thức, về nhân lực chất lượng cao, v.v ) của nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong sự nghiệp chấn hưng đất nước thì khá phong phú và có nhiều giá trị khoa học Tuy nhiên, những nghiên cứu trực diện vào vấn đề nguồn lực trí tuệ thì còn rất ít ỏi, và đang ở giai đoạn khởi động

Trang 13

10

Thực trạng nghiên cứu học thuật đang đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu cả về phương diện lý thuyết, lẫn phương diện thực tế, và cả về phương diện tư vấn chính sách về nguồn lực trí tuệ Việt Nam

Nhận thức được đòi hỏi khách quan trên cả ba phương diện: thực tiễn, chính sách và học thuật, Đảng và Nhà nước đã đầu tư kinh phí để xây dựng và triển khai đề

tài khoa học cấp Nhà nước: “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục

vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI” (mã số KX.03.22/06 - 10, thuộc

Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX.03/06 - 10 “Xây dựng con

người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”)

2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Ý nghĩa lý luận

Trên phương diện lý luận, các vấn đề trí tuệ, nguồn lực trí tuệ và phát huy

nguồn lực trí tuệ được quan tâm, đề cập tới trong vô số các công trình nghiên cứu trên thế giới Trong thời kỳ chuyển tiếp sang thời đại của văn minh trí tuệ, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và phát triển kinh tế tri thức, đặc biệt vào thập niên cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, vấn đề lý luận liên quan đến bản chất, cấu trúc, vị thế và vai trò của nguồn lực trí tuệ, vốn trí tuệ, giới tinh hoa trí tuệ đã trở thành những vấn đề nóng ở nhiều quốc gia phương Tây Xuất hiện nhiều trường phái, nhiều quan niệm và các cách tiếp cận mới khảo cứu về nguồn lực trí tuệ, vốn trí tuệ của các quốc gia, các khu vực, các ngành, các doanh nghiệp, các tổ chức, v.v., không chỉ ở tầm vĩ mô, mà còn cả ở tầm vi mô, trong bối cảnh ngày càng suy giảm vai trò của yếu tố vật chất và gia tăng ý nghĩa của yếu tố trí tuệ, tri thức với tính cách là nguồn lực chủ yếu của sản xuất, của phát triển kinh tế - xã hội Việc nghiên cứu đề tài này có thể xem là sự bắt nhịp về lý luận với giới học thuật quốc tế về những đề tài có giá trị khoa học và thực tiễn cao trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay Đây là cơ sở lý luận chiến lược không thể thiếu cho một nền kinh tế cất cánh của mỗi quốc gia trong thế giới đương đại

Đây là một đề tài nghiên cứu mang tính liên ngành, được tiếp cận trên các góc

độ triết học, sử học, xã hội học, khoa học chính sách và khoa học dự báo Cách tiếp cận liên ngành khoa học xã hội đã định hướng cho toàn bộ nghiên cứu Nghiên cứu này có điều kiện kết hợp và vận dụng các lý thuyết của các ngành khoa học xã hội khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề về nguồn lực trí tuệ Việt Nam, đem lại cái nhìn đa

Trang 14

tố thúc đẩy, cản trở việc phát huy nguồn lực này, để từ đó đề xuất những khuyến nghị

về mặt chính sách đối với Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI Những kết quả của đề tài sẽ cung cấp những luận cứ quan trọng cho việc hoạch định chiến lược và chính sách của Đảng, Nhà nước ở tầm vĩ mô đối với trí tuệ và nguồn lực trí tuệ Việt Nam, đồng thời góp phần xây dựng chiến lược phát triển con người trong thời kỳ đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức Đồng thời, các nhà nghiên cứu, các học viên sau đại học, sinh viên và những người quan tâm tới vấn đề về nguồn lực trí tuệ Việt Nam sẽ có một nguồn tư liệu tham khảo

có giá trị từ kết quả nghiên cứu của đề tài

3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU1

3.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Những vấn đề liên quan đến trí tuệ và nguồn lực trí tuệ con người đã dành được

sự quan tâm nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại ở cả phương Đông

và phương Tây với nhiều quan niệm, cách tiếp cận, nhiều tư tưởng, lý thuyết được đề xướng Tuy nhiên chỉ từ cuối thế kỷ XIX, nghiên cứu chuyên sâu về trí tuệ có được bước phát triển mới trên cơ sở khoa học

Có vô số các công trình nghiên cứu về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, phát huy nguồn lực trí tuệ Tuy vậy, chúng tôi có thể phân chia các tư liệu về đề tài này thành các loại

sau: Thứ nhất, là các công trình nghiên cứu về các quan niệm, các cách tiếp cận về trí

tuệ trong lịch sử tư tưởng nhân loại ở cả phương Tây và phương Đông2 Thứ hai, là

1 Ở đây, chúng tôi chỉ nêu một cách tổng quan về tình hình nghiên cứu Những nội dung cụ thể sẽ được trình bày chi tiết trong chương 1 dưới đây

2 Thuộc nhóm này, có thể nhắc đến những công trình sau: Gardner, Howard, Cơ cấu trí khôn - Lý thuyết về

nhiều dạng trí khôn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998; Gardner, H (1983) Frames of mind: The theory of multiple intelligences New York: Basic Books; Eysenck, H J (1982) Introduction In H J Eysenck (Ed.), A model for intelligence (pp 1 - 10) New York: Springer - Verlag; Guilford, J P (1967) The nature of human intelligence

New York: McGraw - Hill; Sternberg, R J., & Gardner, M K (1982) A componential interpretation of the

general factor in human intelligence In H J Eysenck (Ed.), A model for intelligence (pp 231 - 254), New York: Springer - Verlag; Sternberg, R J (1985), Beyond IQ: A triarchic theory of human intelligence, New York: Cambridge University Press; Thurstone, L L (1924) The nature of intelligence New York: Harcourt Brace;

Trang 15

12

các công trình nghiên cứu về một số khái niệm liên quan đến trí tuệ, các loại hình trí tuệ, các mô hình trí tuệ, đo lường trí tuệ3 Thứ ba, là các công trình nghiên cứu về gien,

môi trường, văn hóa và các yếu tố tác động đến việc phát triển trí tuệ4 Thứ tư là các

công trình về một số khái niệm liên quan đến nguồn lực trí tuệ và phát huy nguồn lực trí tuệ5 Thứ năm, các lý thuyết chung về nguồn lực trí tuệ được phát triển mạnh trong

of "intelligence" and the principles of cognition, New York: Arno Press.; Roedell, Jackson & Robinson (1980), Hochbegabung in der Kindheit, Heidelberg: Roland Asanger Verlag; Tettenborn, A (1996) Familien mit hochbegabten Kindern, Münster / New York: Waxmann; Süß, H - M (1996), Intelligenz, Wissen und Problemlösen, Göttingen: Hogrefe.; Goleman, Daniel, Trí Tuệ Xúc Cảm - Ứng Dụng Trong Công Việc, Nxb Tri Thức, 2007; Abroms, K.I, Social giftedniss and its relationship with intellectual giftedniss in J Freeman: The psychology of gifted children, Chicherter: Sohn Wiley & Sens, 1985; Kaiser, H.J., Soziale Intelligenz,Verlag W Kohlhammer, Stuttgart, 1998; Spariosu, Mihai, Global Intelligence and Human Development, MIT Press Ltd, 2004; Sternberg, R J., & Grigorenko, E L, (in press), Intelligence applied, New York: Oxford University Press, 2002; Sternberg, Robert J (Ed.), Encyclopedia of human intelligence, Macmillan, New York, 1994; Armstrong, Thomas, Multiple Intelligences in the Classroom Alexandria, VA: Association for Supervision and Curriculum

Development, 1994; Armstrong, Thomas, Multiple Intelligences: Seven Ways to Approach Curriculum,

Educational Leadership, November, 1994; Gates, Bill; Collins Hemingway, Bill Gates - Tốc độ tư duy, (Nguyễn

Văn Phước, Vũ Tài Hoa, Lê Hiền Thảo dịch), Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2002 ; Eysenck, H.J, The nature and

measurement of intelligence in The psychology of gifted children, Chicherter, New York , 1985; Hunt, T, The measurement of social intelligence, Journal of Applied Psychology, 1928; Jensen, A R., Why is reaction time correlated with psychometric g? Current Directions in Psychological Science, 2 (1993), 53 - 56; Jensen, A R., The psychometrics of intelligence, in H Nyborg (Ed.), The scientific study of human nature: Tribute to Hans J Eysenck at eighty (pp 221 - 239), New York: Elsevier, 1997; Spearman, C., General intelligence objectively determined and measured, American Journal of Psychology, 15 (1904), 201 - 293; Sternberg, R J., Beyond IQ:

A triarchic theory of human intelligence, New York: Cambridge University Press, 1985; Sternberg, Robert J.; Lautrey, Jacques; Lubart, Todd I., Models of Intelligence, American Psychological Association, 2003; Eysenck,

H J., Introduction In: H J Eysenck (Ed.), A model for intelligence (pp 1 - 10) New York: Springer - Verlag,

1982; Sternberg, R J., & Gardner, M K., A componential interpretation of the general factor in human

intelligence, In: H J Eysenck (Ed.), A model for intelligence (pp 231 - 254), New York: Springer - Verlag,

1982; Holocher - Ertl, S., Kubinger, K.D., Förderungsorientierte Hochbegabungsdiagnostik: Das Wiener

Diagnosemodell zum Hochleistungspotenzial, Report Psychologie, 3 (2009), 116 - 129; Jäger, A.O., Intelligenzstrukturforschung: Konkurrierende Modelle, neue Entwicklungen, Perspektiven, Psychologische Rundschau, 35 (1984), 21 - 35

4 Thuộc nhóm này, có thể nhắc đến những công trình sau: Fetzer, James H., Evolution of Intelligence, 2004; Klix, F., Zur Evolution der Menschlichen Intelligenz, Verlag W Kohlhammer, Stuttgart, 1998; Доналдсон ,М., Мыслительная деятельность детей, М., 1985; Carraher, T N., Carraher, D., & Schliemann, A D., Mathematics in the streets and in schools, British Journal of Developmental Psychology, 3 (1985), 21 - 29; Holocher - Ertl, S., Kubinger, K.D & Hohensinn, C., Hochbegabungsdiagnostik: HAWIK - IV oder AID 2 Kindheit und Entwicklung, 17 (2008a), 99 - 106

5 Thuộc nhóm này, có thể nhắc đến những công trình sau: Dahlman, C J & Aubert, J., China and the knowledge economy: Seizing the 21st century, Washington, DC: The World Bank, 2001; Drucker, P., Post - Capitalist Society, Oxford: Butterworth Heinemann, 1993; Edvinsson, L & Malone, M S., Intellectual capital, London, Piatkus, 1997; Guthrie and R Petty, Intellectual capital: Australian annual reporting practices, Journal of Intellectual Capital (3), pp 241–251, 2000; Drucker P., Beyond the Information Revolution //The Atlantic Monthly, October 1999 Vol 284, № 4; Drucker P.F., Post - Capitalist Society, Oxford Butterworth: Heinemann,

1993; Brooking, A., The components of intellectual capital?(1997), in: http://www.tbroker.co.uk/ intellectual_

Trang 16

13

Kinh tế học, đặc biệt là kinh tế học phát triển (trường phái Tư bản con người) từ khoảng giữa thế kỷ XX trở lại đây6

Trong những năm gần đây, trước những “kỳ tích” kinh tế của các “con rồng”,

“con hổ” châu Á, nhiều nghiên cứu chuyên sâu của các nhà kinh tế học phát triển, của các tổ chức quốc tế như World Bank (WB), Internatinal Money Foundation (IMF),

capital/components html; Skyrme D (1998) Measuring The Value of Knowledge, London Business Intelligence Ltd; Roos, J and Roos, G ‘Valuing intellectual capital?, FT Mastering Management, No, 3 (1997), July -

Aug.,pp 6 - 10; Karl Erik Sveiby "The Intangible Asset Monitor", J of Human Resource Casting and

Accounting, 2 (1997); Paolo Magrassi, A Taxonomy of Intellectual Capital, Research Note COM - 17 - 1985;

Сергеев А Л Интеллектуальный капитал когнитивной микроэкономики: тезаурус и структура

//Экономический анализ: теория и практика, 2005 № 11 С 50 - 55; Сергеев А Л., Категории в теории интеллектуального капитала //Экономический вестник РГУ 2005, № 1., С 53 - 58; Сергеев А Л., Методологические знания в интеллектуальном капитале организации.//Научная мысль Кавказа, 2004, №

4 С 47 - 50; Сергеев А Л Типология ресурсов интеллектуального капитала фирмы //Экономический вестник РГУ, 2005, № 1 С 59 - 64; Stewart T.A Intellectual Capital: The New Wealth of Organizations - N.Y - L.: Doubleday / Currency, 1997; Марковская Елизавета Игоревна, Интеллектуальные ресурсы в обеспечении конкурентоспособности предприятия, in: http://www.lib.ua - ru.net/diss/cont/80217.html; Klein, David A., Strategic Management of Intellectual Capital, Elsevier: Science & Technology, 1998, Skyrme, David, Measuring Knowledge and Intellectual Capital, Business Intelligence, 2003; Dahlman, C J & Aubert, J China and the knowledge economy: Seizing the 21st century, Washington, DC: The World Bank, 2001; Edvinsson, L & Malone, M S., Intellectual capital, London, Piatkus, 1997; Guthrie and R Petty, “Intellectual capital: Australian annual reporting practices”, Journal of Intellectual Capital (3), pp 241–251, 2000; Marr, B., Gray,D and Neely,A., Why do firms measure their intellectual capital, Journal of Intellectual Capital, Vol.4 No.4, pp.441 - 64, 2003; O'Donnell, Henriksen, and Voelpel, "Becoming critical on intellectual capital", Journal

of Intellectual Capital, Vol 7 No.1, 2006; Mouritsen, Jan, Per Nikolaj Bukh, Mette Rosenkrands Johansen & Heine T Larsen, Developing and Managing Knowledge through Intellectual Capital Statements, Journal of Intellectual Capital 3(1):10 - 29.2002; Brooking, A., Intellectual Capital: Core Assets for the Third Millennium Enterprise, Thompson Business Press, London 1996; Brooking, A., The management of intellectual capital, Long Range Planning, Vol 30 No 3 (1997); Edvinsson, L., The knowledge capital of nations, Knowledge Management, April (2002), pp 27 - 30; Edvinsson, L., Stenfelt, C., IC of nations for future wealth creation, Journal of Human Resource Costing & Accounting, Vol 4 No 1 (1999); Edvinsson, L., “Developing intellectual

capital at Skandia”, Long Range Planning, Vol.30 No 3 (1997), pp.320 - 31; Hall, R., “The Strategic Analysis of Intangible Resources”, Strategic Management Journal, Vol 13, No 2 (1992), pp 135 - 144; Hall, R., “A Framework linking Intangible Resources and Capabilities to Sustainable Competitive Advantage”, Strategic

Management Journal, Vol.14 (1993); Hudson, W.J., Intellectual Capital: How to Build It, Enhance It,Use It,

Wiley, New York, NY, 1993; Malhotra, Y “Knowledge assets in the global economy : assessment of national

intellectual capital” , in Malhotra, Y (eds), Knowledge Management and Business Model Innovation, Idea Publishing Group, London, 2001; Roos, G., Roos, J., “Measuring your company’s intellectual performance”, Long Range Planning, Vol 30 No 3 (1997); Sullivan, P.H (1998, eds), Profiting from intellectual capital: extracting value from innovation, Wiley, New York; Sveiby, K.E., “The Intangible Asset Monitor”, Journal of Human Resource Costing & Accounting, Vol 2 No 1 (1997)

6 Thuộc nhóm này có thể nhắc đến các nhà kinh tế học đoạt giải thưởng Nobel như Théodore W Schultz

(1902-1998) với các tác phẩm: Investment in Human Beings, Chicago: University of Chicago Press, 1962; Investment

in Human Capital: The Role of Education and of Research, New York: Free Press, 1971; Investment in Education: Equity-Efficiency Quandary, Chicago: University of Chicago Press, 1972; Human Resources (Human Capital: Policy Issues and Research Opportunities), New York: National Bureau of Economic Research, 1972; Economics of the Family: Marriage, Children, and Human Capital, Chicago: University of Chicago Press, 1974; Investing in People, University of California Press, 1981 Ngoài ra còn có Gary Becker với các tác phẩm: Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education, (National Bureau

of Economic Research, 1964, 2nd ed., 1975, 3rd ed., 1993); Economic Theory, (Alfred A Knopf, 1971, new ed., 2007; The Economic Approach to Human Behavior, (University of Chicago Press, 1976; A Treatise on the Family, (Harvard University Press, 1981, Enl ed., 1991; An Economic Analysis of the Family, (Economic and Social Research Institute, 1986; Economic Growth, Inequality and Population Growth: the Family and the State,

(Institute of Economics, Academia Sinica, 1987; v.v

Trang 17

14

World Economic Forum (WEF)7, v.v., đã cung cấp nhiều khung lý thuyết và bài học kinh nghiệm về xây dựng và phát huy nguồn lực con người, về nguồn lực khoa học công nghệ, về xây dựng kinh tế tri thức trong phát triển quốc gia Đây thực sự là những cơ sở khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam

Ở các nước Đông Âu, trong đó có nước Nga, khái niệm nguồn lực trí tuệ, thường được sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, ở các nước phương Tây, khái niệm nguồn lực trí tuệ (intellectual resources) này được coi là đồng nghĩa với khái niệm vốn trí tuệ (intellectual capital) Khái niệm vốn trí tuệ thường sử dụng rộng rãi trong nhiều công trình nghiên cứu và sách báo ở các nước phương Tây, nhất là kể từ cuối thế kỷ

XX đầu thế kỷ XXI Ở đây có thể kể đến tên tuổi của các nhà nghiên cứu về bản chất, cấu trúc, vai trò của nguồn lực trí tuệ hay vốn trí tuệ như C J Dahlman, J Aubert; P Drucker; L Edvinsson; M S Malone; Guthrie and R Petty, A Brooking, David Skyrme D; J.Roos; G Roos; A Stewart Thomas; Paolo Magrassi; Сергеев А Л.;, David A Klein; Guthrie and R Petty; B Marr; D Gray, A Neely, Jan Mouritsen, Per Nikolaj Bukh, Mette Rosenkrands Johansen & Heine T Larsen, R Hall; W.J.Hudson; G.Roos; J Roos; K.E Sveiby8, v.v Các công trình này bước đầu mang đến cho độc giả các nước một bức tranh khái quát về bản chất, vị thế của nguồn lực trí tuệ trong bối cảnh của xu hướng phát triển kinh tế tri thức

Nhìn chung, đa số các công trình này nói trên chủ yếu xem xét nguồn lực trí tuệ dưới góc độ kinh tế, đặc biệt liên quan nguồn lực trí tuệ của một doanh nghiệp, chứ chưa đi sâu nghiên cứu nguồn lực trí tuệ và những vấn đề về xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ của quốc gia

3.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp về đề tài trí tuệ, nguồn lực trí tuệ nói chung và nguồn lực trí tuệ Việt Nam nói riêng trong bối cảnh hội nhập hiện nay vẫn ở tình trạng rất khiêm tốn Đây là lĩnh vực đề tài còn chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo, đặc biệt dưới giác độ nghiên cứu tổng hợp có tính liên ngành

Trang 18

15

Tuy nhiên, liên quan gián tiếp đến đề tài này cũng đã có khá nhiều công trình

được công bố ở trong nước Có thể tạm chia những công trình đó thành các nhóm sau đây:

Nhóm thứ nhất là nhóm các công trình nghiên cứu về bản chất của trí tuệ nói

chung và trí tuệ người Việt Nam nói riêng, chủ yếu tiếp cận dưới góc độ nhân học và tâm lý học9 Đây là loại công trình có liên quan đến vấn đề con người và nguồn nhân lực nói chung, trong đó có nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam Một vài công trình đã phân tích những đặc trưng về thể chất, những vấn đề liên quan đến đặc điểm, cấu trúc, cơ chế y - sinh học của người Việt Nam Nhóm công trình này cũng gián tiếp góp phần chỉ ra đặc tính tâm lý học của trí tuệ của người Việt Nam, nhất là quá trình diễn biến của tâm lý người Việt Nam trong các môi trường sống trong từng lứa tuổi khác nhau Đây là những nghiên cứu có giá tham khảo ở mức độ nhất định đối với đề tài Trong

nhóm này, đáng chú ý là công trình của Bùi Thị Ngọc Lan: “Nguồn lực trí tuệ trong sự

nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2002) Đây là một trong những

công trình đi tiên phong vào lĩnh vực nghiên cứu nguồn lực trí tuệ Việt Nam, tuy nhiên, công trình còn khá sơ lược, nhiều quan điểm mà công trình đề xuất cần được tranh luận, trao đổi, nhất là khi đứng từ góc tiếp cận liên ngành

Nhóm thứ hai là những nghiên cứu về kinh tế học phát triển, về lý thuyết, mô

hình và kinh nghiệm tăng trưởng, phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Á, ASEAN, và Việt Nam10 Các công trình thuộc nhóm này đã cung cấp khung khổ lý thuyết, bài học kinh nghiệm thực tế và những gợi mở chính sách về xây dựng và phát huy nguồn lực con người, trong đó có những vấn đề về nguồn lực trí tuệ

9 Thuộc loại này phải kể đến chương trình nghiên cứu cấp nhà nước KX - 07: “Con người, mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội” do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, mà kết quả nghiên cứu được công bố trong kỷ

yếu Hội thảo khoa học Con người Việt Nam và công cuộc đổi mới tại Hà Nội vào năm 1994; Chương trình KHCN cấp Nhà nước KHXH 04 - 04: Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước cũng do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm; cuốn Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực (Hà Nội, 2001) và cuốn Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007) đều do Phạm Minh Hạc làm chủ biên Thuộc loại này, cũng không thể bỏ qua được cuốn Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế "Nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI" thuộc chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước KX - 05, được tổ chức vào

tháng 11 năm 2003 trong đó có báo cáo tham luận của Nguyễn Quang Uẩn về phát triển con người, phát triển

nguồn nhân lực và giáo dục; cuốn Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam do Lê Nam Trà làm chủ biên (Hà Nội, 1997), v.v Bên cạnh đó, có thể kể đến cuốn sách dịch đang thịnh hành hiện nay ở Việt Nam Phương Pháp 3 Tri thức về Tri thức - Nhân Học về Tri thức của Edgar Morin (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006),

trong đó tác giả chủ trương "tổ chức lại tri thức luận", xây dựng lại tri thức luận phức hợp, tránh quan niệm cắt xén, đơn giản, một chiều mối quan hệ giữa triết học với khoa học

10 Chẳng hạn như công trình của Trần Văn Tùng (chủ biên): Chất lượng tăng trưởng nhìn từ Đông Á (Nxb Thế giới, H, 2003); Trần Thị Nhung: Tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới 2 đến nay (Nxb Khoa học xã hội, H., 2002), v.v

Trang 19

16

Nhóm thứ ba, bao gồm một số nghiên cứu về tài năng, nhân tài, đào tạo, phát

triển nhân tài ở Việt Nam11 Tiếp cận chủ yếu dưới góc độ giáo dục học, tâm lý học và

sử học đối với vấn đề nhân tài, nhóm các nghiên cứu này đã góp phần không nhỏ vào việc chỉ ra những bài học kinh nghiệm của lịch sử Việt Nam trong việc xây dựng, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực tài năng được xem là nguyên khí quốc gia ở Việt Nam

Nhóm thứ tư bao gồm nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, về phong tục,

truyền thống Việt Nam, có liên quan ít nhiều đến đặc tính, vai trò và đóng góp của trí tuệ Việt Nam trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc12 Trong nhóm này

có khá nhiều công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề phương thức tư duy, trí tuệ, nhân cách và tài năng của người Việt Nam dưới góc độ văn hoá học, góp phần làm rõ những chiều cạnh của văn minh trí tuệ, tinh thần Việt Nam trên cả bình diện cá nhân và cộng đồng Gần đây, trên báo Tiền phong và một số diễn đàn đã xuất hiện những cuộc thảo

luận về “thói hư, tật xấu của người Việt Nam”, trong đó có nhiều ý kiến tiếp cận các

nhược điểm trong lối tư duy, cách ứng xử và bộc lộ tài năng của người Việt Nam

Nhóm thứ năm là những nghiên cứu thuộc dạng “tủ sách danh nhân” chuyên

khảo cứu về dựng chân dung, sự nghiệp, nhân cách, tài năng của nhiều cá nhân xuất chúng là người Việt Nam13.Loại công trình này ít nhiều khảo sát về trí tuệ của những nhân vật, vì thế có giá trị tham khảo quan trọng đối với đề tài, đặc biệt là trong việc nhìn nhận, đánh giá về những năng lực vượt trội và những đóng góp đã được thừa

11 Thuộc nhóm công trình này, phải kể đến cuốn của Nguyễn Trọng Bảo, Nguyễn Huy Tú, Phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng tài năng Kết quả của đề tài Nhà nước KX - 07 - 08/1992 - 1994; cuốn Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994) do Phan Hữu Dật làm chủ biên; cuốn Trí thức với Đảng, Đảng với tri thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước (Nguyễn Văn Khánh chủ biên, Nxb Thông Tấn, Hà Nội, 2004); cuốn Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Bồi dưỡng nhân tài phục vụ CNH - HĐH đất nước do Bộ Giáo dục và đào tạo ấn hành tháng 8/2000; cuốn Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước của Nguyễn Đắc Hưng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội); cuốn Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài của Nghiêm Đình Vỳ, Nguyễn Đắc Hưng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) ; cuốn Khảo lược về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam do Phạm Hồng Tung làm chủ biên (Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2005), v.v

12 Thuộc nhóm này, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như cuốn Tuổi trẻ nhân tài và tài năng quân sự của Nguyễn Trọng Bảo (Nxb Quân đội nhân dân, 1993); cuốn Tính cộng đồng, tính cá nhân và cái tôi của thanh niên Việt Nam của Đỗ Long và Phan Thị Mai Hương (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002); cuốn Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh (Nxb Bốn Phương, Hà Nội, 1995); cuốn Văn hóa và con người của Nguyễn

Trần Bạt (Nxb Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, 2005), v.v

13 Thuộc nhóm các công trình này, phải kể đến cuốn của Trương Bá Cần Nguyễn Trường Tộ - Con người và Di thảo (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1988); cuốn của Đinh Thị Minh Hằng: Lê Quý Đôn trên tiến trình ý thức văn học dân tộc (Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996); cuốn Nguyễn Công Trứ: Về tác gia và tác phẩm do Trần Nho Thìn giới thiệu và tuyển chọn (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003); cuốn Những người đi qua hai thế kỷ do Đinh Xuân Lâm chủ biên (Nxb Lao Động, Hà Nội, 2001); cuốn Lịch sử và văn hoá Việt Nam - Những gương mặt trí thức do Nguyễn Quang Ân chủ biên (Nxb Văn hoá Thông Tin, 1998), v.v

Trang 20

17

nhận của các cá nhân xuất chúng, trong việc phân tích, đánh giá về tiềm năng, đặc điểm của nguồn lực trí tuệ Việt Nam đã được phát huy trong những lĩnh vực cụ thể

Nhóm thứ sáu là các công trình nghiên cứu về chiến lược, chính sách và thực

trạng phát triển khoa học công nghệ và giáo dục Việt Nam14 Đây là nhóm công trình nghiên cứu đề cập khá nhiều vấn đề liên quan đến xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam

Ngoài ra, không thể không kể đến các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước về văn hóa, trí thức, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đặc biệt

là trong thời kỳ Đổi mới; các tác phẩm của Hồ Chí Minh và một số đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v Đây là nguồn cung cấp các cơ sở tư tưởng, cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý cho việc triển khai nghiên cứu về nguồn lực trí tuệ Việt Nam

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước cho thấy, đề tài

“Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI” là một đề tài mới Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài là phong phú và có giá trị khoa học to lớn, là cơ sở quan trọng đảm bảo tính khả thi của đề tài

4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ thực trạng, đề xuất giải pháp và kiến nghị về xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, Đề tài xác định các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, phát huy nguồn lực trí tuệ: Các vấn đề lý luận về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, phát huy

14 Thuộc loại công trình này, không thể không nhắc đến cuốn Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia của Nguyễn Đức Hưng, Phan Xuân Dũng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004); cuốn Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI - kinh nghiệm của các quốc gia của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002); cuốn Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 Đổi mới và sự nghiệp phát triển con người của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001); cuốn Những quan điểm của các nhà kinh điển mácxít về tầng lớp trí thức và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta đối với đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội, 2000), Trí thức Khoa học xã hội và nhân văn trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước (Luận án

Tiến sĩ triết học của Ngô Thị Phượng, Hà Nội, 2006); gần đây còn phải kể đến đề tài “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” (Mã số: KX.04.16/06 - 10) do Đàm Đức Vượng chủ trì; v.v

Trang 21

- Khảo sát, đánh giá thực trạng, tiềm năng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong một

số lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là của khoa học và nghệ thuật

- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong những năm đầu thế

kỷ XXI

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn lực trí tuệ Việt Nam Mặc dù đề tài KX.03.22/06-10 là đề tài cấp nhà nước, song trong khuôn khổ của một đề tài nghiên cứu, với giới hạn về kinh phí và thời gian, để đảm bảo tính khả thi của đề tài, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau15:

Thứ nhất, trí tuệ, điều kiện hình thành và phát triển trí tuệ, môi trường phát huy

trí tuệ bao gồm hai mặt cơ bản là tự nhiên và xã hội Trong nghiên cứu này, chúng tôi

giới hạn tập trung tìm hiểu những biểu hiện về mặt xã hội của trí tuệ Việc đo lường chỉ số trí tuệ của người Việt Nam mặc dù sẽ đem lại những thông tin tham khảo có ích cho đề tài, song hiện nay, thang đo chỉ số trí tuệ của người Việt chưa được xây dựng riêng, việc đo lường trí tuệ vẫn chỉ dừng ở việc áp dụng những thang đo của Phương Tây đối với cá nhân hoặc một vài nhóm nhỏ Do nội dung nghiên cứu của đề tài quá nhiều, hơn nữa cần nhấn mạnh về những biểu hiện xã hội của trí tuệ vì điểm cốt lõi trong nghiên cứu này cần tập trung là làm thế nào để xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam, nên trong nghiên cứu này chúng tôi không đi vào biểu hiện tự nhiên của trí tuệ, đo lường trí tuệ cá nhân mà trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nghiên cứu có trước trong và ngoài nước và lựa chọn đề cập đến trong chừng mực phục vụ cho nghiên cứu về mặt xã hội của trí tuệ

15 Ở đây chúng tôi chỉ nêu khái quát phạm vi nghiên cứu, lý do xác định phạm vi nghiên cứu như trên sẽ được trình bày cụ thể ở những mục có liên quan trong báo cáo này

Trang 22

19

Thứ hai, nói đến “nguồn lực trí tuệ Việt Nam” chủ yếu là nói đến nguồn lực trí

tuệ của “người Việt Nam” Khái niệm “người Việt Nam” phản ánh một chỉnh thể với cấu trúc phức tạp và biến đổi qua thời gian Chính vì thế, bên cạnh việc nghiên cứu tổng quát diễn tiến, đặc điểm chung của nguồn lực trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam, chúng tôi đi sâu nghiên cứu một số bộ phận đặc thù của nguồn lực trí tuệ Việt Nam, đó là sinh viên, phụ nữ, trí thức trong nước, trí thức Việt kiều Ngoài ra, chúng tôi cũng đề cập đến nguồn lực trí tuệ của dân tộc thiểu số - một đối tượng chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam

Thứ ba, “sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI” là một quá trình phát

triển đất nước trong một khoảng thời gian dài, với nhiều chặng đường và mục tiêu phát triển khác nhau, trong bối cảnh khu vực và thế giới biến chuyển mạnh mẽ và khó lường Do vậy, trong nghiên cứu này, những giải pháp nhằm xây dựng và phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI

mà chúng tôi đề xuất tuy mang tính dài hạn, song tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ nay đến năm 2020

Thứ tư, các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu cũng được lựa chọn sử dụng

cho phần điều tra khảo sát thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng được giới hạn để phù hợp với đối tượng, không gian, thời gian nghiên cứu đã được giới hạn như trên, cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát 2 nhóm khách thể nghiên cứu như sau:

- Nhóm 1: đội ngũ cán bộ - những người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên

hiện đang công tác trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội bao gồm: khoa học, giáo dục, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, trong đó tập trung chính vào 2 lĩnh vực là khoa học và nghệ thuật Nhóm khách thể khảo sát này là cơ sở

để đánh giá thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam

- Nhóm 2: đội ngũ sinh viên của các khối ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã

hội và nhân văn, quân sự, ngoại giao, kinh tế, nghệ thuật, trong đó tập trung vào 2 lĩnh vực là khoa học và nghệ thuật Nhóm khách thể khảo sát này là cơ sở để đánh giá tiềm năng nguồn lực trí tuệ Việt Nam Bởi lẽ tiềm năng nguồn lực trí tuệ là những nguồn lực trí tuệ còn ẩn giấu, chưa bộc lộ, là một nguồn lực cụ thể, có thể hiện thực hóa Tìm hiểu về tiềm năng nguồn lực trí tuệ Việt Nam tức là tìm hiểu về đội ngũ trí thức tương lai trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Hay nói cách khác đó chính là đội ngũ sinh

Trang 23

20

viên - những người đang trong quá trình học hỏi, tích lũy tri thức, kinh nghiệm và chính là đôi ngũ cán bộ kế cận trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Nghiên cứu về nguồn lực trí tuệ của đội ngũ sinh viên sẽ góp phần giúp chúng ta hình dung được về

xu hướng phát triển của nguồn lực trí tuệ trong tương lai

Để có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu của đề tài hơn nữa, cần có sự đầu tư thêm về kinh phí, thời gian

6 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp luận

Đề tài được triển khai trên cơ sở phương pháp luận triết học duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin với các quan điểm phương pháp luận cơ bản là quan điểm khách quan, quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận nói trên, Đề tài sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu của các khoa học xã hội và nhân văn, đồng thời, sử dụng phương pháp nghiên cứu của một số chuyên ngành phù hợp với yêu cầu của các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu của triết học

Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu triết học như khái quát hoá, trừu tượng hoá, hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, kết hợp lịch sử - lôgic, so sánh - đối chiếu, phân tích văn bản học, v.v., khi nghiên cứu vấn đề trí tuệ, nguồn lực trí tuệ lịch sử tư tưởng phương Đông và phương Tây, xây dựng các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu của đề tài

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu của sử học

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp lịch sử - cụ thể sẽ được sử dụng đậm nét khi tìm tòi tư liệu, nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch

sử (ở các triều đại phong kiến, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trong

20 năm đổi mới, v.v )

- Phương pháp so sánh - đối chiếu sẽ được dùng trong quá trình khảo sát kinh nghiệm một số nước trong việc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ; phân tích,

Trang 24

6.2.3 Phương pháp nghiên cứu của xã hội học

Các phương pháp nghiên cứu của xã hội học như phỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc, phân tích tài liệu được sử dụng nhằm đánh giá thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay, cụ thể như sau:

Phương pháp phỏng vấn sâu: chúng tôi đã thực hiện 9 cuộc phỏng vấn sâu với

cán bộ quản lý của các sở, ban, ngành, cán bộ công tác trong lĩnh vực nghệ thuật và du học sinh ở nước ngoài

Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: chúng tôi thực hiện 39 cuộc phỏng vấn

với các cán bộ và 28 sinh viên thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: do phạm vi của đề tài nghiên cứu rộng,

nên chúng tôi đã xây dựng 3 bộ bảng hỏi độc lập dành cho 3 nhóm đối tượng khác nhau, đáp ứng yêu cầu đề tài đặt ra đó là: 1, Nhóm cán bộ nói chung (bao gồm những người hiện đang công tác trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, kinh tế - kinh doanh, ngoại giao, quân sự); 2, Nhóm cán bộ nghệ thuật (do đây là lĩnh vực đặc thù, nên có riêng bảng hỏi cho những người công tác trong lĩnh vực nghệ thuật); 3, Nhóm sinh viên thuộc các khối ngành tương tự như nhóm cán bộ

Quá trình tổ chức điều tra, khảo sát được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 8/2009 Địa bàn khảo sát theo yêu cầu của đề tài: Hà Nội (900 phiếu), thành phố Hồ Chí Minh (600 phiếu), Đà Nẵng (300 phiếu), Bình Dương (200 phiếu) Cơ cấu mẫu khảo sát thực tế thu được như sau:

Bảng 1: Cơ cấu mẫu khảo sát phân theo lĩnh vực chuyên môn

Trang 25

22

Phương pháp phân tích tài liệu: Những phương pháp điều tra xã hội học cũng

có những hạn chế nhất định về mặt thông tin để khắc phục những hạn chế đó, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp Phương pháp này cho phép chúng tôi tiếp cận với những nguồn số liệu về nguồn nhân lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau

Do vậy, để đánh giá thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay, chúng tôi kết hợp

sử dụng các số liệu thống kê chính thức và số liệu điều tra, khảo sát của đề tài

7 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài KX.03.22/06 - 10 được triển khai trong 02 năm (2009 - 2010) Về mặt khảo sát: đề tài đã tiến hành một cuộc khảo sát kinh nghiệm nước ngoài và điều tra khảo sát trong nước trên địa bàn 04 tỉnh/thành phố là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đà Nẵng Về mặt tư liệu, đề tài đã tập hợp và nghiên cứu một số lượng lớn các tài liệu, tư liệu dưới nhiều hình thức, nhiều nguồn thông tin có uy tín trong và ngoài nước Về mặt lực lượng, đề tài đã huy động được sự tham gia đông đảo của gần

100 nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị - xã hội ở cấp Trung ương và địa phương, ở trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội, trong và ngoài nước, ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau từ khoa học xã hội và nhân văn đến khoa học tự nhiên, ở các lĩnh vực hoạt động từ chính trị, đến kinh tế, văn hóa, xã hội

Các sản phẩm nghiên cứu của Đề tài rất phong phú, bao gồm:

- Bộ số liệu điều tra xã hội học (định lượng gồm 2122 phiếu đã qua xử lý, 1 bộ biên bản phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc)

- 03 kỷ yếu Hội thảo khoa học của 3 Hội thảo khoa học cấp quốc gia

- 70 chuyên đề khoa học và 04 báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của các nhánh

- 05 bài nghiên cứu đã công bố trên tạp chí chuyên ngành, 01 sách chuyên khảo

đã xuất bản, 01 bản dịch tài liệu tiếng nước ngoài, 01 bản thảo công trình nghiên cứu

100 gương mặt trí tuệ Việt Nam trong thế kỷ XX

- 5 học viên cao học và 1 nghiên cứu sinh đã và đang triển khai nghiên cứu những vấn đề mà Đề tài đã vạch ra

Về nội dung khoa học: Thông qua toàn bộ những hoạt động và sản phẩm khoa

học nói trên, Đề tài KX.03.22/06 - 10 đã có những đóng góp như sau16:

16 Chúng tôi nhấn mạnh các chữ: “thông qua toàn bộ những hoạt động và sản phẩm khoa học”, bởi Báo cáo tổng hợp này, dù những người chấp bút đã rất cố gắng, song vẫn không thể bao quát và thể hiện được toàn bộ những kết quả nghiên cứu vốn rất phong phú và mang đậm dấu ấn của nhiều chuyên ngành khác nhau

Trang 26

23

Một là, Đề tài đã khảo sát một cách công phu, có hệ thống các tư tưởng, học

thuyết về trí tuệ và nguồn lực trí tuệ từ Đông sang Tây, từ lịch sử đến hiện tại, đặc biệt

là các lý thuyết hiện đại về trí tuệ và nguồn lực trí tuệ Đề tài cũng đã nghiên cứu một cách có hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như chính sách của Nhà nước Việt Nam về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ nói chung và nguồn lực trí tuệ Việt Nam nói riêng Trên cơ sở đó, Đề tài đã rút ra nhiều nhận định, đánh giá khoa học mới về một số vấn đề tư tưởng, lý luận

về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ, nguồn lực trí tuệ Việt Nam Đề tài cũng đã nêu lên được một số định nghĩa mới cho các khái niệm chủ yếu của đề tài là “Trí tuệ”, “nguồn lực trí tuệ” Trong bối cảnh những nghiên cứu về nguồn lực trí tuệ Việt Nam còn rất ít ỏi hiện nay, đây là một đóng góp đáng ghi nhận của Đề tài

Hai là, Đề tài đã nghiên cứu một cách công phu nhận thức và thực tiễn xây

dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước

và giữ nước của dân tộc ta Nhiều quan điểm của tập thể tác giả về đặc điểm, bản chất, vai trò của trí tuệ và nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử là những quan điểm mới Đặc biệt, những nghiên cứu về nguồn lực trí tuệ của đồng bào các dân tộc thiểu số, nguồn lực trí tuệ từ góc nhìn giới và vị nữ ở Việt Nam, nguồn lực trí tuệ người Việt Nam ở nước ngoài, hoặc về những hạn chế của đặc điểm tư duy truyền thống đối với quá trình hình thành nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện đại, những khảo sát kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, v.v., là những nghiên cứu mang đã tổng hợp được nhiều thành tựu nghiên cứu có liên quan hiện có, đồng thời rút ra những nhận định, đánh giá mới, có giá trị tham khảo hữu ích cho những người hoạch định đường lối, chính sách về nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam hiện nay

Ba là, những số liệu điều tra xã hội học được tập hợp qua thực tế điều tra trên

bốn địa bàn phát triển năng động của đất nước ta là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,

Đà Nẵng, Bình Dương là những số liệu cập nhật, cung cấp nhiều thông tin hữu ích về các vấn đề đang đặt ra, cần được giải quyết cũng như những xu hướng vận động cần được thúc đẩy nhằm hình thành và phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam Các kết quả này đã được xử lý theo phương pháp khoa học, đã được khai thác trong quá trình thực hiện Đề tài, nhưng vẫn có thể cung cấp thêm nhiều thông tin khác cho những ai quan tâm

Trang 27

24

Bốn là, Đề tài đã đề xuất được một số quan điểm, giải pháp mới nhằm đẩy

mạnh công cuộc xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam Một số giải pháp

có tính mở, nêu lên những vấn đề cần tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới Một điểm nổi bật, mà theo chúng tôi là một đóng góp của đề tài này, là ở những giải pháp về nhận thức, trong đó đặt ra những vấn đề về sự cần thiết phải xây dựng mẫu hình người lao động trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, về việc phải nhận thức một cách toàn diện về tác động nhiều mặt khi đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam, của việc phải coi trọng phát triển khoa học và giáo dục tri thức khoa học nhân văn trong bối cảnh xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ, của việc lựa chọn định hướng phát triển khoa học, công nghệ “mang bộ mặt nhân bản”, v.v

Tất nhiên, cần phải nói thêm rằng, do khuôn khổ một đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, với những hạn chế trong việc huy động nguồn lực (tài lực, nhân lực, thời gian, v.v ), trong khi đó vấn đề nghiên cứu lại quá lớn và mới, nên Đề tài KX.03.22/06 - 10

có một số kết quả nghiên cứu bước đầu, cần tiếp tục có sự quan tâm, đầu tư kinh phí

để triển khai nghiên cứu tiếp

Trang 28

25

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÍ TUỆ, NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ, XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ

I TỔNG QUAN QUAN NIỆM VỀ TRÍ TUỆ VÀ NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ

1 Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ trong lịch sử tư tưởng phương Đông

1.1 Nguồn gốc, bản chất của trí tuệ

Các nhà tư tưởng phương Đông nghiên cứu trí tuệ xuất phát từ cái nhìn thực tiễn, nhằm đáp ứng những yêu cầu của đời sống xã hội Do đó, tùy từng nhà triết học, từng dân tộc khác nhau mà những kiến giải về trí tuệ cũng có sự khác biệt

Ở Ấn Độ, triết học và tôn giáo đều tập trung giải đáp một vấn đề cơ bản nhất,

đó là bản chất và giá trị đời sống tâm linh con người Hàng loạt trường phái triết học - tôn giáo ra đời đều nhằm truy tìm nguồn gốc nỗi khổ của con người, vạch ra cách thức, con đường để giải thoát khỏi nỗi khổ của cuộc đời trên bình diện tâm lý, đạo đức, tâm linh Do đó, khái niệm trí tuệ trong tư tưởng Ấn Độ gắn liền chặt chẽ với khái niệm tinh thần, tâm linh Chúng ta sẽ nhận thấy điều này rõ rệt khi tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của trí tuệ theo các nhà tư tưởng Ấn Độ Chẳng hạn theo phái Samkhya, trí tuệ của con người là kết quả của sự quan chiếu của Parusha (bản nguyên tinh thần) vào Prakriti (bản nguyên vật chất) với yếu tố tamas mà thành Trí tuệ còn được xem là chiếc cầu nối, là cơ sở quan hệ của Purusha với hình thể, để hình thể trở thành thực thể

có sinh mệnh và có ý thức Cùng quan điểm với Samkhya, phái Yoga cũng cho rằng, bên cạnh các thực thể vật chất, trong vũ trụ còn vô số những linh hồn - những thực thể tinh thần, gọi là “ya” Ý thức là thuộc tính của thực thể tinh thần, mang đặc tính là mong muốn, chán ghét, vui thích, đau đớn, ý chí và biểu tượng Tuy nhiên, ý thức chỉ phát sinh khi nào tinh thần có liên hệ với cảm giác, mà cảm giác lại chỉ xuất hiện trong khi tiếp xúc với khách thể mà thôi Phật giáo thì cho rằng, trí tuệ siêu việt và đại từ bi chính là Phật tính, tồn tại ở hết thảy chúng sinh Phật tính là bản chất tuyệt đối thanh tịnh, siêu việt mọi đối đãi, mọi phân biệt, mọi hình tướng Như vậy, trong lịch sử tư tưởng Ấn Độ cổ đại không sử dụng khái niệm “Trí tuệ” như theo như cách hiểu của phương Tây

Ở Trung Hoa cũng diễn ra hiện tượng tương tự Thuật ngữ thường được nhắc đến trong triết học Trung Hoa khi bàn về trí tuệ chính là “Tâm” (nghĩa đen là “Quả tim”) Điều này cho thấy, trong ngôn ngữ Trung Hoa không có sự phân tách như

Trang 29

26

truyền thống Phương Tây giữa “Trí khôn” như là cơ quan tri thức và “Quả tim” như là trung tâm của đam mê và tình cảm chủ quan, giữa “nhận thức” và “tình cảm” Triết gia Mạnh Tử cho rằng, tâm là cái thần minh có đủ mọi lý, trời phú cho ta để hiểu biết, ứng đối với vạn vật, vạn sự Tâm là cơ quan để suy nghĩ (tâm chi quan tắc tư), nhờ có tâm

mà ta biết được những điều phải trái, nhân nghĩa Kế thừa quan điểm của Mạnh Tử, Tuân Tử cũng xem Tâm là chủ tể tinh thần trong con người, có thể điều khiển các quan năng như tai, mắt,mũi, miệng, thân Không chỉ vậy, ông còn khẳng định, tâm còn

có khả năng “Trưng tri”, nghĩa là tổng hợp, phân tích, khái quát hoá, trừu tượng hoá những cảm giác, tri giác do giác quan mang lại Phái hậu Mặc cũng xem “Tâm” chính

là hoạt động tư duy trừu tượng của con người, tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp các thuộc tính, các mặt, các bộ phận của sự vật mà cảm giác đã thu nhận, cho ta một tri thức chính xác và sâu sắc về chúng Về sau này, khái niệm Tâm được các triết gia bổ sung, làm sâu sắc thêm như Phạm Chẩn (thời Nguỵ Tấn), Thiệu Ung, Chu Hy (thời

Tống), Vương Thủ Nhân (thời Minh) Như vậy, khái niệm trí tuệ trong lịch sử tư

tưởng phương Đông không chỉ bó hẹp ở khía cạnh nhận thức luận mà còn mở rộng sang phương diện đạo đức, tâm lý, tinh thần Tuy nhiên, cũng giống như ở phương Tây, các nhà tư tưởng phương Đông phân biệt rạch ròi các tầng bậc khác nhau của trí tuệ con người, tương ứng với các cấp độ nhận thức

Hầu hết các trường phái tư tưởng Ấn Độ đều phân chia trí tuệ, nhận thức con người làm hai tầng bậc, hai cấp độ Chẳng hạn như trong kinh Upanisad có đề cập đến trình độ nhận thức ở bậc hạ trí (apara - vidya) và trình độ nhận thức ở bậc thượng trí (para - idya) hay “minh giác siêu việt” Theo kinh Mundaka Upanisad, chỉ ở trình độ thượng trí hay “minh giác siêu việt” con người mới có thể nhận thức được “Tinh thần

vũ trụ tuyệt đối tối cao” Brahman Ngay cả Phật giáo - trường phái được xem là phi chính thống - cũng đồng nhất quan điểm với Upanisad Quan niệm Phật giáo cho rằng

có hai trình độ nhận thức: tầng cao có thể hòa nhập vào Tuyệt đối, được gọi là Trí tuệ siêu việt hay Thánh trí là Bát nhã/trực giác (Prajna) và tầng thấp là trí phân biệt, tức nhận thức kinh nghiệm thông thường Thậm chí kinh Kim Cương của Phật giáo còn khẳng định Trực giác (Bát nhã) có thể nhận thức được “Không - diệu hữu” và con đường nhận thức chính là vô ngôn, siêu vượt mọi khái niệm Tuy nhiên, để nhận thức được bản chất, quy luật của vũ trụ, vạch ra thực tướng của vạn vật, nhận ra chân bản tính con người, các trường phái triết học tôn giáo Ấn Độ đều phủ nhận vai trò của cảm

Trang 30

27

giác và lý trí (trừ trường phái Lokayata) Thậm chí, trường phái Mimansa còn cho rằng, trí óc và ý thức con người luôn là một khí cụ nhỏ bé, hạn hẹp, không toàn diện, không thể lý giải nổi cái tuyệt đối, vô hạn, tối cao và các vấn đề siêu hình - thần học Theo các nhà tư tưởng Ấn Độ, cảm giác chỉ lôi kéo con người sa vào thế giới vật dục, biến ảo; còn lý trí tuy sâu sắc nhưng lại là một cái gì đó hạn hẹp, luôn bất lực trước những cái tuyệt đối vô hạn

Trong dòng chảy tư tưởng Trung Hoa, chúng ta cũng bắt gặp sự phân biệt giữa hai cấp độ nhận thức, trí tuệ, nổi bật là ở tư tưởng Trang Tử Theo Trang Tử, nhận thức con người được chia làm hai tầng khác nhau: tiểu trí và đại trí Nhận thức ở bậc tiểu trí bị giới hạn trong tính tương đối của tồn tại, chỉ đạt tới sự phiến diện, không đầy

đủ Bên cạnh đó, ở bậc tiểu trí, con người thường phân biệt chủ thể nhận thức với đối tượng nhận thức Trong khi đó, ở bậc đại trí, con người có thể đạt tới chân lý tuyệt đối, hoà làm một với “đạo” Nó vượt qua mọi giới hạn về không gian, thời gian, thoát khỏi mọi ràng buộc của trí tuệ cũng như sự ràng buộc hữu hình của tồn tại Tuy nhiên, Trang Tử lại cho rằng quá tin vào trí tuệ con người là một điều hết sức lầm lẫn và nguy

hại; sự trực giác trên đây chỉ có được ở bậc thánh nhân Như vậy, trong lịch sử tư

tưởng phương Đông chúng ta thấy có sự phân tách thành hai tầng bậc, cấp độ của trí tuệ; trong đó đặc biệt đề cao trí siêu việt, trí bát nhã Khái niệm trí tuệ trong tư tưởng

phương Đông không hoàn toàn trùng khít với quan niệm của phương Tây Ở đây, trí tuệ cũng được coi là bộ phận tinh tuý nhất trong tinh thần con người Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, trí tuệ đối với người phương Đông còn bao hàm cả yếu tố đạo đức, tâm linh Về điểm này, chúng tôi thấy khái niệm “trí tuệ” của phương Đông gần gũi với thuật ngữ “thông thái” trong truyền thống tư duy phương Tây

Trong quan niệm về trí tuệ của phương Đông, yếu tố đạo đức và tâm linh vì thế đóng một vai trò hết sức quan trọng Chẳng hạn như ở Ấn Độ, trong những bản Upanisad chủ yếu, người ta thấy nhắc đến những triết gia nổi tiếng như Aruni, Yajnavalkya, Uddalaka, Svetaketu, Sandilya Đặc biệt có hai nữ triết gia là Gargi Vacaknavi và Maitrey Đó là những bậc thấu thị (rishi), tức là những người đắc đạo nhờ cốt cách tu luyện, thực nghiệm tâm linh và ơn thiên khải, có thể nhận thức được lẽ huyền vi sâu kín của vũ trụ vạn vật - cái không hình, không sắc, không danh, không tướng nhưng lại là bản nguyên của tất cả Hình mẫu trí tuệ lý tưởng đối với người Ấn

Độ mang đậm yếu tố tâm linh, trong khi ở Trung Hoa, đạo đức chiếm vị trí cốt yếu

Trang 31

28

Chúng ta thấy các tư tưởng của Trung Hoa đều đề cập đến Thánh nhân với sứ mệnh là dùng đạo đức và trí năng siêu việt của mình để dìu dắt và cảm hóa con người và xã hội

sống theo quan niệm của họ Sách Quản Tử tương truyền là của Quản Trọng thế kỷ

VII TCN có ghi: “Là thánh nhân thì sáng tỏ ở đạo trị loạn, làm chủ được sự trước sau của việc người” (Quản Tử, Chính Thế) Hàn Phi trong phái Pháp gia thì cho rằng

“Thánh nhân thì dẹp được loạn của quần sinh, trừ khử được họa hại của thiên hạ” (Hàn Phi Tử, Gian kiếp thí thần) Đối với các nhà Nho thì thánh nhân được xây dựng trên phương diện đạo đức và tài năng Về đạo đức, thánh nhân là người có phẩm chất tột đỉnh, là điển phạm cho mọi ứng xử của con người trong các mối quan hệ Về tài năng, thánh nhân cũng là người có trí năng tột đỉnh, hiểu được hết lẽ của đạo, xét đoán được mọi tình người, điều khiển được con người và xã hội Tuân Tử nói: “Người đại thánh thì trí thông với đại đạo, ứng biến đến vô cùng, biện biệt được tính tình của vạn

vật” (Tuân Tử, Ai Công) Tác giả cuốn Trung Dung nói: “Chí Thánh” gồm hết các đức

tính thông minh, khoan nhu, cường nghị, tề chính, cẩn mật uyên bác như trời, danh tiến khắp nơi Đối với thánh nhân thì nhân luân được xem là cơ sở và trí năng là điều kiện để nhân luân được lưu hành trong thiên hạ Như vậy, đối với các nhà tư tưởng phương Đông, vấn đề trí tuệ còn được xem xét trong mối tương quan với thực tiễn Hơn nữa, trí tuệ chỉ được xem là nguồn lực khi nó được vận dụng vào trong đời sống

xã hội, đáp ứng nhu cầu của con người Theo đó, những người thông hiểu và hành động theo quy luật của vạn vật, xã hội thường được gọi là Thánh nhân hay Bậc giác

ngộ Theo quan niệm phương Đông, chỉ riêng một số cá nhân mới có thể đạt đến tuệ

giác (theo tư tưởng Ấn Độ) hay còn gọi là Thánh trí (theo tư tưởng Trung Hoa) Mặc

dù vậy, điều này không có nghĩa tư duy phương Đông phủ nhận năng lực trí tuệ (thông thường) ở con người Hơn thế, khi nói đến trí tuệ, người phương Đông còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc khi khẳng định tính bẩm sinh, thiên phú của trí tuệ ở con người Theo họ, năng lực trí tuệ luôn ẩn hiện trong con người, nhưng con người lại không hay biết, và nó chỉ hiện ra, nếu chúng ta gạt bỏ được được mọi chướng ngại, những ràng buộc trong cuộc đời, là những cám dỗ, tham đắm dục vọng Những dục vọng này làm cho con người chúng ta chìm đắm và không phát huy Trí tuệ được Tuy nhiên việc khai phá khả năng trí tuệ của con người là việc làm hết sức khó khăn, gian khổ với nhiều mồ hôi, nước mắt và sự hy sinh Nói cách khác, trí tuệ hiện hữu trong mỗi chúng

Trang 32

29

ta, chỉ có điều làm sao chúng ta "đánh thức" được nó dậy mà thôi Đây cũng chính là một trong những vấn để mà triết học phương Đông quan tâm, luận giải

1.2 Phát huy nguồn lực trí tuệ

Trong quan niệm của các nhà tư tưởng phương Đông trí tuệ tồn tại với tư cách

là một năng lực bẩm sinh, nhưng cần phải có sự tu dưỡng, rèn luyện thì trí tuệ đó mới phát huy tác dụng của nó Và tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá - tư tưởng của từng dân tộc, quốc gia mà quan điểm về việc phát huy trí tuệ có sự khác nhau

Trước hết đối với tư tưởng Ấn Độ, hầu hết các trường phái đều đề cao sự tu tập thiền định, xem đó là phương tiện hữu hiệu để con người đạt tới giải thoát, đồng thời

có được trí tuệ siêu việt (Bát nhã) Chúng ta có thể thấy điều này ngay ở trường phái Yoga Yoga theo tiếng Phạn có nghĩa là “hợp nhất tâm thể về một mối” hay còn gọi là cái ách cột vào sự tu luyện khổ hạnh theo giới luật mà người tu hành tự chấp nhận để tinh thần trút hết được mọi ràng buộc với nhục thể Thông qua đó linh hồn, tinh thần trở nên trong sạch thanh tịnh và có khả năng đạt đến sự hiểu biết trực giác sáng suốt và năng lực siêu nhiên, thể nhập vào Đấng tối cao Song để đạt tới những điều này, phái Yoga cho rằng cần phải kiên trì rèn luyện, khổ tu, thực hành kỷ luật thể xác và trí tuệ dần dần từng bước, theo từng giai đoạn bằng tám phương pháp tu luyện gọi là “Bát bảo tu pháp” Cùng quan điểm với phái Yoga, Nyaya cũng khẳng định con người cần phải triệt để tu luyện trì giới, thiền định xoá bỏ vô tri, mê lầm (nithyajarana: tự ngộ trí) Nhờ đó, mới có thể tịch diệt được mọi dục vọng, đưa tâm trí đến sự trong sáng, thanh tịnh bằng phương pháp nhận thức đúng đắn để đạt tới giác ngộ Sở dĩ triết học Ấn Độ chú trọng đến phương pháp tu tập, thiền định trong việc khơi dậy, phát huy tiềm năng, nguồn lực trí tuệ là do ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Đối với người Ấn Độ cổ, giải thoát được coi là lý tưởng sống, triết lý sống Hầu hết các trường phái đều cho rằng linh hồn con người về bản chất là thanh tịnh, bất diệt nhưng lại bị những cảm giác, ý chí, dục vọng của nhục thể giam hãm, làm cho nó không còn giữ được sự thuần khiết nữa Cũng chính vì thế mà phái Vaisesika đề cao con đường tu luyện đạo đức và trí tuệ để con người có thể giải thoát linh hồn ra khỏi vòng vây tỏa của thế giới vật dục Mặt khác, chính sự hành trì, thiền định cũng là cách thức để con người củng cố, phát huy năng lực trí tuệ tiềm ẩn trong mình Các nhà tư tưởng Ấn Độ còn cho rằng, để đạt tới năng lực trí tuệ siêu việt, con người còn cần phải dấn thân vào

Trang 33

30

đời sống thực tiễn, áp dụng những tri thức, hiểu biết của mình phục vụ cho xã hội Theo đó, để diệt trừ vô minh, con người cần phải hướng mình vào trong đời sống xã hội, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để rèn giũa cái tâm, từ đó khởi phát nên cái Đức để

đi đến nâng cao trí tuệ Chẳng hạn như theo giáo lý nhà Phật, để đạt tới Pháp lực tức Trí Bát nhã, con người cần phải đạt tới Tâm lực và Trí lực, đồng thời vận dụng những hiểu biết ấy của mình để mang lại lợi ích cho mình và người Phật giáo gọi con đường

tu luyện đạo đức theo giới luật (sila) và tuy luyện tri thức (jâna), trí tuệ bằng “thực nghiệm tâm linh”, “trực giác” đó chính là “Bát chính đạo” Có thể nói, trong tư tưởng

Ấn Độ cổ đại, đạo đức và trí tuệ có sự gắn bó chặt chẽ, mật thiết; cho nên muốn phát huy trí tuệ không thể không rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nơi con người Hơn nữa, xuất phát từ quan niệm thể xác giam hãm tinh thần, trí tuệ nên các trường phái tư tưởng Ấn

Độ đều cho rằng, cần phải giải thoát con người khỏi thể xác để có thể đạt tới trí tuệ siêu việt, bát nhã

Trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại, việc phát huy nguồn lực trí tuệ của con người lại bắt nguồn từ những đòi hỏi trong đời sống chính trị - xã hội Mục tiêu của việc rèn luyện, tu dưỡng trí tuệ suy cho cùng là nhằm đưa xã hội từ “loạn” về “trị”,

ổn định trật tự xã hội thời bấy giờ Chẳng phải mục tiêu phấn đấu của người học Nho

là tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ đó sao? Với họ, rèn luyện trí tuệ chính là để thi đỗ, ra làm quan, vừa là để có điều kiện giúp vua, đem lại ơn huệ cho dân nhưng cũng là để thoả mãn tâm lý danh lợi Nét đặc trưng nơi các nhà hiền triết Trung Hoa là nhấn mạnh đến khuynh hướng “làm” hơn là “biết”, tri thức đích thực về các vấn đề quan trọng nhất là thuộc loại thứ nhất (làm) chứ không thuộc loại thứ hai (biết) Do đó, khi nói đến vấn đề phát huy nguồn lực trí tuệ, họ cũng đề cập nhiều đến hoạt động thực tiễn hơn là các lý thuyết trừu tượng, chung chung Triết gia Khổng Tử còn yêu cầu người quân tử trong suy nghĩ và hành vi không được bất cập cũng không được thái quá, hay nói cách khác, người quân tử phải có nhận thức và việc làm phù hợp với đạo

“trung dung” Hiền tài theo quan niệm của Khổng Tử là hiền đức chứ không phải là hiền tài phú quốc cường binh Do đó, trong quan niệm của Khổng Tử, ý niệm về tri không vượt ra ngoài lễ và đức Ông không chú ý nhiều đến tri thức tự nhiên; trong Luận ngữ 15 lần nói đến tri thức tự nhiên nhưng cũng là để đề cập tới các vấn đề xã hội Do đó, theo Khổng Tử, phương thức để phát huy nguồn lực trí tuệ trước hết phải bắt đầu từ tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Các vật cản cho việc khơi dậy tiềm năng trí tuệ

Trang 34

31

theo ông chính là việc không tu sửa đức, không chịu giảng tập điều đã học, không hướng tới nghĩa, không thay đổi điều bất thiện “đức mà không tu sửa, học mà không giảng tập, thấy nghĩa mà không hướng tới, thấy bất thiện mà không thay đổi, đó là sự

lo lắng của ta” (Đức chi bất tu, học bất chi giảng, văn nghĩa nhi bất năng tỷ, bất thiện,

bất năng cải, thị ngõ ưu dã - Luận Ngữ, Thuật nhi) Hơn nữa, theo Khổng Tử, người

quân tử còn phải xác lập được các chuẩn mực cho tư duy và hành động của mình, qua

đó mới có thể vận dụng trí tuệ của mình vào trong đời sống thực tiễn Sau này, Mạnh

Tử kế thừa và tiếp tục tư tưởng của Khổng Tử, cũng nhấn mạnh đến sự tu dưỡng rèn luyện đạo đức để phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ Thậm chí, nhà tư tưởng của phái Nho gia còn cho rằng, chỉ cần “tồn tâm dưỡng tính” là con người có thể thấu đạt mọi

lý lẽ, rằng “vạn vật đều có đầy đủ trong ta” Theo ông, với cái biết “tiên thiên” trời phú, trong tâm con người ta vốn có lòng nhân nghĩa, chỉ vì ta đắm đuối vào sự đam mê vật dục nên cái tâm bản nhiên thuần hậu của ta lu mờ đi, không còn phân biệt được phải trái, tốt xấu nữa, khiến ta bỏ mất cái tính thiện cao quý trong con người mình Do đó, con người bất tất phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới vật chất khách quan mà cần

“Thành ý” “Chính tâm”, quay trở về với nội tâm chủ quan bên trong Trường phái Đạo gia cũng tán đồng quan điểm này của Mạnh Tử, thể hiện ở tư tưởng của Trang Tử Theo Trang Tử, để đạt tới bậc đại trí trước hết cần phải hóa đồng hay huyền hóa vào

vũ trụ vạn vật, hòa nhập giữa chủ thể nhận thức với đối tượng nhận thức Sự cảm nhận

ở bậc đại trí cũng chính là bản thân cuộc sống hòa đồng tự nhiên của bậc thánh nhân Tiêu chuẩn thứ hai để đạt tới bậc đại trí, đó là hạng người “vô kỷ, vô công, vô danh”, tức vượt ra khỏi những thiên kiến của nhận thức thông thường cũng như mọi sự ràng buộc của đời sống để có thể hòa nhập làm một với “đại nhất”, với “đạo” Sự cảm nhận

ở đây của bậc đại trí là một trạng thái tinh thần mang tính chất thần bí, biết mà không nói được, cảm nhận mà không lý giải được Tương tự, Thiền tông Trung Hoa cũng khẳng định mạnh mẽ vai trò của đạo đức đối với việc phát huy nguồn lực trí tuệ trong con người Theo phái này, muốn giải thoát con người cần phải có được cái trí tuệ Bát nhã - là thứ tri thức thần bí, do trực giác đưa lại, không the dùng ngôn ngữ, khái niệm

để nói về nó được Muốn vậy, Thiền Tông đòi hỏi con người cần phải có sự tu tập, rèn luyện để diệt trừ, phá tan “vô minh”, đưa “tâm” trở về trạng thái yên tĩnh, trong trẻo ban đầu; trước thế giới khách quan, không còn có sự hoạt động của tâm ý Như vậy, theo các nhà tư tưởng Trung Hoa, để khơi dậy nguồn lực trí tuệ ở con người, trước hết

Trang 35

32

cần phải hướng tới việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Bên cạnh đó, hoạt động thực tiễn cải biến tự nhiên và xã hội của con người cũng là cơ sở thúc đẩy quá trình hình thành

và phát triển của trí tuệ Giáo dục chính là con đường ngắn nhất và có tác động mạnh

mẽ nhất để quá trình hình thành và phát triển trí tuệ của mỗi cá nhân cũng như nguồn lực trí tuệ của toàn xã hội Trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa, hầu hết các nhà tư tưởng đều đề cập đến chính giáo dục - đào tạo - bồi dưỡng nhân tài Về phương pháp giáo hóa, Khổng Tử đã đề ra một hệ thống với nhiều hình thức phong phú, đặc sắc, tập

trung ở ba phương pháp sau đây: thứ nhất, là phương pháp gợi mở, đối thoại giữa thầy

và trò nhằm phát huy tính năng động chủ quan và tính độc lập sáng tạo của người học

(Luận ngữ, Thuật Nhi, 8); thứ hai, là phương pháp gắn học đi đôi với hành, lời nói kết hợp với việc làm, phản đối nói suông và học suông (Luận ngữ, Thuật Nhi, 27), việc học còn phải kết hợp với tự đào sâu suy nghĩ (Luận Ngữ, Vi Chính, 15); thứ ba là phương pháp thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng học tập (Luận Ngữ, Vi Chính, 11), phải có thái độ khách quan, không được vị kỷ tư dục, võ đoán, cố chấp (Luận ngữ, Tử

Hãn, 4) Sau này, Mạnh Tử đã tiếp tục tư tưởng trên đây của Khổng Tử, khẳng định vai trò của giáo dục đối với việc phát huy trí tuệ của con người Một mặt, Mạnh Tử đòi hỏi người dạy và người học phải luôn chuyên tâm, trì chí, khiêm tốn, có thái độ cầu tiến Đặc biệt, trong việc giáo dục khơi dậy tiềm năng trí tuệ, Mạnh Tử cho rằng cần phân biệt các loại đối tượng khác nhau, căn cứ theo khả năng cũng như sở trường từng người mà đưa ra phương pháp và nội dung thích hợp: “Quân tử dạy người có năm hạng Có năm hạng người đã học cao, thì cách dạy như là trận mưa phải thời, để thấm nhuần mà cảm hoá cho Có hạng người tính chất thuần hậu, dạy cho họ được thành đức hạnh Có hạng người thiên tư sáng suốt, dạy cho họ được thành tài năng Có hạng người đến hỏi điều gì thì trả lời cho, để giải thích cho những điểm nghi hoặc Có hạng người chỉ trộm nghe những điều hay lẽ phải mà tự tu tỉnh lấy mình Năm hạng ấy,

quân tử tuỳ tài năng mỗi hạng mà dạy” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng, 40) Trong quan

niệm của các nhà tư tưởng Trung Hoa, giáo dục rõ ràng đóng một vai trò hết sức quan trọng, là phương thức hữu hiệu nhằm khai thác, phát huy nguồn lực trí tuệ nơi con người Mặc dù vậy, trong nội dung giáo dục, chủ yếu vẫn chỉ bó hẹp trong các tri thức

về đạo đức, chính trị - xã hội Mục đích của việc nâng cao trí tuệ chủ yếu vẫn nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn chính trị - xã hội đương thời

Trang 36

33

Tóm lại, các nhà tư tưởng phương Đông mà tiêu biểu là Ấn Độ và Trung Quốc

đều cho rằng con người cần phải rèn giũa, nỗ lực không ngừng thông qua con tu tập, học tập thì nguồn lực trí tuệ mới có thể được phát huy Họ cũng đề ra những cách thức, biện pháp cụ thể nhằm khơi dậy những năng lực trí tuệ tiềm ẩn trong tâm hồn con người Có lẽ chính vì thế mà trong lịch sử cổ đại, Phương Đông đã trở thành một

trong những cái nôi lớn của nền văn minh nhân loại

2 Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ trong lịch sử tư tưởng phương Tây

2.1 Quan niệm về trí tuệ trong lịch sử tư tưởng phương Tây trước Mác

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đề cao tri thức và trí tuệ con người, cho rằng

chỉ có trí tuệ thông thái mới có thể tiếp cận và nắm bắt được bản chất đích thực của các sự vật cảm tính, rằng tri thức và trí tuệ con người là nền tảng cho mọi hành vi đạo đức

Theo Parmenít, tồn tại chân thực chỉ có thể được khám phá bởi trí tuệ và tư duy, chứ không phải bằng nhận thức cảm tính thông qua các giác quan với tính cách là năng lực chủ quan, không thực và không đáng tin cậy Chỉ nhờ trí tuệ và tư duy, con người mới có được tri thức đích thực Kêu gọi con người thực hiện phương châm: “Hãy nhận thức chính bản thân mình”, Xôcrát nhấn mạnh vai trò của tri thức và trí tuệ trong cuộc sống xã hội Theo ông, nhiệm vụ tối cao của tri thức và trí tuệ không phải là ở tính lý luận, mà ở tính thực tiễn: tri thức và trí tuệ giúp con người có được nghệ thuật sống Tri thức được ông xem là tư tưởng hay khái niệm về cái chung, được bộc lộ thông qua các định nghĩa và sự khái quát Nguyên nhân của cái ác, theo ông, chính là ở chỗ thiếu tri thức, thiếu sự điều khiển của trí tuệ

Cách tiếp cận của Platôn đối với vấn đề trí tuệ gắn liền với học thuyết của ông

về ý niệm Xem cảm giác như một năng lực hạn chế của con người chỉ nhận thức các

sự vật cảm tính và mang lại những tri thức không đáng tin cậy, Platôn cho rằng chỉ có

tư duy và trí tuệ con người - thông qua các khái niệm với tính cách là sự mô phỏng của các ý niệm - mới có thể giúp khám phá bản chất thực sự và nguyên nhân siêu cảm tính của các sự vật cảm tính (các sự vật được nhận biết qua các giác quan con người) Theo quan niệm của Platôn, nguồn gốc của năng lực nhận thức đó là sự hồi tưởng của linh hồn bất tử về thế giới ý niệm được nó cảm nhận trước khi nhập vào thể xác Như vậy, trí tuệ gắn liền với linh hồn bất tử Vận dụng học thuyết về ý niệm và học thuyết nhân học về linh hồn trong lĩnh vực xã hội, Platôn còn đưa ra học thuyết về một nhà nước lý

Trang 37

34

tưởng, một nhà nước được điều hành bởi vị vua được đồng nhất với nhà thông thái hay

là người có trí tuệ đặc biệt

Là ông tổ của Lôgíc học, Arixtốt có xu hướng tiếp cận đến vấn đề trí tuệ con người chủ yếu từ góc độ hoạt động tư duy và các hình thức của tư duy, do vậy chưa thực sự được xác định quy chế của trí tuệ Trong tác phẩm “Bàn về linh hồn”, ông cho rằng, linh hồn là nơi trú ngụ của các hình thức, nhưng không phải toàn bộ linh hồn, mà chỉ có bộ phận tư duy mới có các hình thức và các hình thức này là ở trong khả năng, chứ không phải trong hiện thực17 Arixtốt chia trí tuệ thành 2 loại: trí tuệ kiềm chế và trí tuệ hoạt động Trí tuệ kiềm chế tiếp nhận và bao hàm dấu vết hình thức của đối tượng được tư duy, còn trí tuệ hoạt động tuy không được coi là một bộ phận của linh hồn, nhưng lại có vai trò tích cực trong việc vận hành quá trình tư duy

Nhìn chung, trong các quan niệm và phương pháp tiếp cận của các nhà tư

tưởng Hy Lạp cổ đại, trí tuệ được xem xét không chỉ với tính cách là năng lực nhận thức, mà còn với tính cách là năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong cuộc sống xã hội Người có trí tuệ được đồng nhất với nhà thông thái có khả năng siêu việt trong việc nhìn thấu bản chất của các sự vật cảm tính, từ đó có khả năng vận dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn của xã hội một cách thích hợp và hiệu quả

Phương pháp tiếp cận về vấn đề trí tuệ trong triết học Tây Âu Trung cổ gắn liền

với thần học Kitô giáo Đưa ra quan niệm về sự có mặt của Chúa ba ngôi trong con người, Augustin cho rằng, nhận thức của con người là có thể nhờ ánh sáng của lý tính của Chúa được liên tục soi rọi vào linh hồn con người, cho phép nhận thức được bản chất của các sự vật trong thế giới xung quanh Kết quả nhận thức của trí tuệ chứa đựng

trong nó sự phản chiếu của ánh hào quang của đấng tối cao tôn kính Như vậy, ở

Augustin, trí tuệ của con người có nguồn gốc từ Chúa và gắn liền chủ yếu với năng lực nhận thức của lý tính con người

Trong tác phẩm Về bản chất của từ trí tuệ, Tômát Đacanh (hay có sách còn gọi

là Tômát Akinô) đã phân biệt trí tuệ người với trí tuệ của Chúa Khác với sự hoàn hảo, hoàn thiện và thống nhất của trí tuệ Chúa, trí tuệ người còn nhiều khiếm khuyết Theo ông, trong trí tuệ của Chúa, trí nhớ lưu giữ các hình mẫu của các sự vật, tác động và tạo ra tên gọi của các sự vật đó Về bản chất, từ Chúa không phân biệt với sự vật mà Ngài đặt tên, tức là hoàn toàn phản ánh bản chất của sự vật đó Còn trí tuệ người lại

17 Xem: Аристотель О душе, trong: Аристотель Собр.соч.: В 4 т М., 1976 Т.1 Кн 1 Гл 1 tr 374

Trang 38

35

được chia thành các bộ phận và quá trình tạo các từ cũng bao gồm một số giai đoạn Theo Tômát Đacanh, trong trí tuệ của Chúa có sự thống nhất của ba thành tố: sự sáng tạo, sự duy trì và sự tác động đến các hình mẫu Trong khi đó, ở con người, trí tuệ được thôi thúc hoạt động bởi hình dạng mô phỏng của đối tượng bên ngoài

Quan niệm về trí tuệ trong tư tưởng Tây Âu thời kỳ Phục hưng, đặc biệt thời kỳ

cận đại thế kỷ XVII - XVIII gắn liền với việc tôn vinh lý tính và các năng lực tinh thần

của con người Francis Bêcơn, một triết gia lớn người Anh thế kỷ XVII - XVIII cho rằng, tri thức là sức mạnh, là quyền lực của con người trong việc chinh phục giới tự nhiên và trong việc xây dựng nền văn hóa Khi nói đến vị thế của trí tuệ con người, Pascal đề cập đến vấn đề “tạo ra sự vĩ đại của con người”

B Spinoza cho rằng, mục tiêu của tri thức và trí tuệ là ở chỗ giành được sự thống trị của con người đối với tự nhiên và ở sự hoàn thiện của con người để đạt được

tự do với tính cách là hành động dựa trên việc nhận thức được cái tất yếu Phân biệt trí tuệ thành trí tuệ vô hạn và trí tuệ hữu hạn, Spinôda khẳng định, rằng nếu trí tuệ vô hạn

có thể nhận thức thực thể vô hạn trong tất cả các loại hình và các bình diện của nó, thì trí tuệ hữu hạn của con người có thể nhận thức được bản chất của thực thể với tư cách

là quảng tính và tư duy Là người theo chủ nghĩa duy lý, Spinôda đề cao tri thức trí tuệ, tức là tri thức đạt được trên cơ sở trí năng cao hơn so với tri thức cảm tính đạt được bởi các giác quan Loại hình tối cao của tri thức trí tuệ, theo Spinôda, là sự suy xét trực tiếp chân lý hay sự linh cảm trí tuệ hay còn được gọi là trực giác trí tuệ, trong

đó sự hiển nhiên và rõ ràng được ông xem là tiêu chuẩn chân lý Spinôda chính là một

trong những nhà tư tưởng phương Tây nhấn mạnh trực giác trí tuệ với tính cách là một

năng lực đặc biệt của trí tuệ con người, năng lực thấu hiểu bản chất của các sự vật hiện

tượng một cách trực tiếp Trong tác phẩm Luận văn về sự hoàn thiện trí tuệ, Spinôda

cho rằng trí tuệ là biến thể trực tiếp của thuộc tính được chúng ta gọi là tư duy hay là ý niệm vô hạn bao gồm trong nó toàn bộ giới tự nhiên như nó đang tồn tại hiện thực18

Như vậy, ở Spinôda, trí tuệ liên quan không chỉ đến những năng lực nhận thức của lý trí thông qua các khái niệm, các quy tắc hình thức, mà còn đến năng lực trực giác siêu cảm tính của con người

Trong thời kỳ Khai sáng ở châu Âu, lý tính và trí tuệ con người được tôn vinh

đề cao với tư cách là phương tiện vĩ đại của con người trong việc chinh phục giới tự

18 Xem: http://caute.net.ru/am/tex/origin.html

Trang 39

36

nhiên Các nhà Khai sáng Pháp như Đ Đidrô, F M Vônte, Ch Môngtexkiơ, J.J Rútxô là những người đi tiên phong trong việc mở rộng và phát triển quan niệm về trí tuệ như một công cụ hữu hiệu của con người không chỉ trong lĩnh vực nhận thức, mà còn trong lĩnh vực thực tiễn chính trị xã hội, đặc biệt trong quá trình xây dựng các thiết chế chính trị Tuy nhiên, họ dường như có xu hướng đồng nhất trí tuệ với lý tính của con người, cả ở phương diện lý luận và thực tiễn

Với tư cách là người khởi xướng của triết học Cổ điển Đức, I Cantơ, là một trong những nhà tư tưởng để lại dấu ấn đậm nét nhất cho các trào lưu tư tưởng phương Tây thế kỷ XIX và XX Quan niệm và cách tiếp cận của I Cantơ về trí tuệ có tính hai mặt Một mặt, ông là người ủng hộ nồng nhiệt cho đường lối của chủ nghĩa duy lý trong triết học, đề cao vai trò của trí tuệ không chỉ với tư cách là các năng lực nhận thức của con người như cảm tính, giác tính (lý trí) và lý tính, mà còn với tư cách là năng lực thực tiễn hay lý tính thực tiễn Mặt khác, Cantơ tìm cách xác định giới hạn

mà lý tính và trí tuệ con người không thể vượt qua được Theo ông, nguyên nhân sâu

xa của sự hạn chế trí tuệ con người chính là ở chỗ, ở con người không có năng lực trực giác trí tuệ, năng lực cảm nhận trực tiếp bản chất của sự vật bằng trực giác siêu cảm tính (không cần các giác quan), không phụ thuộc vào cảm tính, không gian và thời gian Chính vì vậy, con người theo ông không thể nhận thức được bản chất khách quan của sự vật hay cái mà ông gọi là vật tự nó Mọi cố gắng của lý tính và trí tuệ con người khắc phục tình trạng này chỉ đưa đến các mâu thuẫn không thể giải quyết (các antinômi)

Phê phán quan niệm của Cantơ về vật tự nó, về sự giới hạn của lý tính và trí tuệ con người, Hêghen đặc biệt tôn vinh trí tuệ con người trong khái niệm lý tính thế giới hay ý niệm tuyệt đối, tức là ý niệm tự vận động trong lòng nó, ý niệm tự tha hóa mình thành cái khác nhưng cũng chính là nó và ý niệm quay trở về với chính nó trong quá trình tự nhận thức bản thân Ông đề cao vai trò không thể thiếu được của trí tuệ trong việc nhận thức tính quy luật Theo ông, trong kinh nghiệm, cái quan trọng là trí tuệ mà người ta dùng để tiếp xúc với hiện thực Một trí tuệ vĩ đại thực hiện được những kinh nghiệm vĩ đại, và thấy được cái căn bản trong sự vận động muôn vẻ của các hiện tượng

Trang 40

37

2.2 Quan niệm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về trí tuệ

và nguồn lực trí tuệ

Về trí tuệ, với phương pháp luận biện chứng duy vật, Ph Ăngghen chỉ ra rằng,

tư duy, ý thức và bản thân con người với trí tuệ của mình, suy cho cùng chẳng qua

cũng có nguồn gốc từ giới tự nhiên và là sản phẩm của sự phát triển của giới tự nhiên

hay thế giới vật chất Hoạt động của trí tuệ con người không thể tách rời, mà hoàn toàn phải dựa trên hoạt động của bộ não người với tính cách là một dạng vật chất có tổ chức cao và suy cho cùng cũng là sản phẩm của sự phát triển của giới tự nhiên Trải qua quá trình tiến hóa lâu dài của lịch sử hàng triệu năm, bộ não con người đã phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và ngày càng hoàn thiện, nó là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên và là cơ quan vật chất của trí tuệ Qua quá trình hoạt động thực tiễn, thế giới vật chất được phản ánh vào bộ não người và trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu cần thiết, không thể thiếu và vô tận cho sự hình thành và phát triển của trí tuệ Nói cách khác, thế giới vật chất cũng là nguồn gốc tự nhiên của trí tuệ Nhờ có nguồn gốc

và cơ sở tự nhiên này mà hoạt động trí tuệ mới thực hiện được một cách bình thường, liên tục, từ đó năng lực trí tuệ không ngừng được bổ sung, mài sắc và phát triển Tuy nhiên, ngoài nguồn gốc tự nhiên, trí tuệ còn hình thành từ hoạt động lao động sản xuất,

từ hoạt động thực tiễn xã hội, hoạt động hướng đến việc biến đổi và cải tạo giới tự nhiên nhằm phục vụ lợi cho con người Theo Ăngghen, chính lao động và thực tiễn xã hội đã tạo ra con người cùng với tư duy và trí tuệ của mình Ông viết: “Chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”19 Như

vậy, trí tuệ còn có nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên chỉ là điều kiện cần chứ chưa

phải là điều kiện đủ của trí tuệ20 Xét trên bình diện nhân loại, lịch sử phát triển trí tuệ con người gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Mỗi bước tiến lên trong lịch sử sẽ ghi dấu lại trong kho tàng tri thức nhân loại những bước tiến vượt bậc của trí tuệ con người

Tri thức vừa là sản phẩm, vừa là chất liệu của hoạt động trí tuệ của con người

Thông qua hoạt động thực tiễn, tri thức mà con người tích lũy được đã dần phát triển

19 Sđd, t.20, tr 720

20 Xem: C Mác, Ph Ănghen: Toàn tập, t 12, Nxb CTQG, H, 1993, tr 855 - 856

Ngày đăng: 29/06/2015, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Đặng Hữu, Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
24. Đặng Hữu, Phát triển kinh tế tri thức - Rút ngắn quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tri thức - Rút ngắn quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
25. Đặng Thị Thanh Huyền, Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng nguồn nhân lực, Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng nguồn nhân lực, Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
26. Điều tra thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Đề tài cấp Bộ - Uỷ Ban dân tộc. H., 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
27. Đỗ Huy, Nhân cách văn hoá trong bảng giá trị Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân cách văn hoá trong bảng giá trị Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
28. Đỗ Long, Phan Thị Mai Hương, Tính cộng đồng, tính cá nhân và cái tôi của thanh niên Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cộng đồng, tính cá nhân và cái tôi của thanh niên Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
29. Đỗ Mười, Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
30. Đỗ Quang Hưng (chủ biên), Nhà nước và Giáo hội, Nxb. Tôn giáo, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và Giáo hội
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
31. Đỗ Quang Hưng, Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
32. Đỗ Thị Thạch, Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
34. Frank H. T. Rhodes, Tạo dựng tương lai - Vai trò của các Viện đại học Hoa Kỳ. Nxb. VHSG, Tp. Hồ Chí Minh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo dựng tương lai - Vai trò của các Viện đại học Hoa Kỳ
Nhà XB: Nxb. VHSG
35. Gardner, Howard, Cơ cấu trí khôn - Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn, Nxb. Giáo dục, H., 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu trí khôn - Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
36. Gates, Bill và Hemingway, Collins, Thành công trong kinh doanh nhờ tốc độ tư duy, Sử dụng hệ thần kinh kỹ thuật số, Nxb. Thống kê, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành công trong kinh doanh nhờ tốc độ tư duy, Sử dụng hệ thần kinh kỹ thuật số
Nhà XB: Nxb. Thống kê
37. Goleman, Daniel, Trí tuệ xã hội, Nxb. Lao động - Xã hội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ xã hội
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
38. Goleman, Daniel, Trí tuệ xúc cảm - Ứng dụng trong công việc, Nxb. Tri Thức, H., 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ xúc cảm - Ứng dụng trong công việc
Nhà XB: Nxb. Tri Thức
39. Goleman, Daniel, Trí tuệ xúc cảm, Nxb. Lao động - Xã hội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ xúc cảm
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
40. Helga Nowotny, Peter Scott Michael Gibbons, Tư duy lại khoa học - Tri thức và công chúng trong kỷ nguyên bất định. Nxb. Tri thức, H, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy lại khoa học - Tri thức và công chúng trong kỷ nguyên bất định
Nhà XB: Nxb. Tri thức
41. Hồ Anh Dũng, Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
42. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1 - 12. Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
43. Hồ Chí Minh, Về vấn đề trí thức và cách mạng, Nxb. Sự thật, H., 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề trí thức và cách mạng
Nhà XB: Nxb. Sự thật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình I - 4: Tư duy phân kỳ và tư duy hội tụ - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
nh I - 4: Tư duy phân kỳ và tư duy hội tụ (Trang 60)
Hình I - 5: Tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
nh I - 5: Tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề (Trang 61)
Hình I - 7: Quá trình giải quyết vấn đề ≈ quá trình sáng tạo (Theo Pippig, 1989) - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
nh I - 7: Quá trình giải quyết vấn đề ≈ quá trình sáng tạo (Theo Pippig, 1989) (Trang 62)
Hình I - 8: Bản chất sự phát triển trí tuệ của xã hội ảnh hưởng đến các nguồn lực  lao động như thế nào? (Nguồn: Camola Pylatova và Narzullaeva Dupdona) - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
nh I - 8: Bản chất sự phát triển trí tuệ của xã hội ảnh hưởng đến các nguồn lực lao động như thế nào? (Nguồn: Camola Pylatova và Narzullaeva Dupdona) (Trang 66)
Bảng III-13: Tỷ lệ nữ sinh viên cao đẳng, đại học  năm học 2007 - 2008 và năm học 2008 - 2009 - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
ng III-13: Tỷ lệ nữ sinh viên cao đẳng, đại học năm học 2007 - 2008 và năm học 2008 - 2009 (Trang 198)
Bảng III-20: Khác biệt giới trong mức độ đánh giá sự phân công công việc - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
ng III-20: Khác biệt giới trong mức độ đánh giá sự phân công công việc (Trang 207)
Bảng III-21: Khác biệt giới trong phát huy năng lực làm việc - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
ng III-21: Khác biệt giới trong phát huy năng lực làm việc (Trang 208)
Bảng III-22: Đánh giá về mức độ phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
ng III-22: Đánh giá về mức độ phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học (Trang 209)
Bảng III-23: Đánh giá về mức độ phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
ng III-23: Đánh giá về mức độ phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ (Trang 210)
Bảng III-28: Đánh giá của đội ngũ cán bộ về những khó khăn trong hoạt động - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
ng III-28: Đánh giá của đội ngũ cán bộ về những khó khăn trong hoạt động (Trang 218)
Bảng III-33: Lý do đội ngũ cán bộ đi làm thêm - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
ng III-33: Lý do đội ngũ cán bộ đi làm thêm (Trang 223)
Bảng III-34: So sánh thu nhập làm thêm và làm chính - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
ng III-34: So sánh thu nhập làm thêm và làm chính (Trang 224)
Đồ thị trên giả định rằng chúng ta bắt đầu đi học đại học ở tuổi 18 và học xong  khi 22 tuổi - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
th ị trên giả định rằng chúng ta bắt đầu đi học đại học ở tuổi 18 và học xong khi 22 tuổi (Trang 295)
BẢNG PHỎNG VẤN CÁ NHÂN (1) - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
1 (Trang 441)
BẢNG PHỎNG VẤN CÁ NHÂN (2)  (Dành cho cán bộ hoạt động nghệ thuật) - đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ VIỆT NAM PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CHẤN HƯNG ĐẤT NƯỚC TRONG THẾ KỶ XXI
2 (Dành cho cán bộ hoạt động nghệ thuật) (Trang 447)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w