BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC TH
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THUỘC ĐỊA BÀN CÓ ĐIÊU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở NƯỚC TA
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lê Ngọc Thắng
9151
HÀ NỘI, NĂM 2012
Trang 2BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THUỘC ĐỊA BÀN CÓ ĐIÊU KIỆN
K INH TẾ - XÃ HỘI ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở NƯỚ C TA
Chủ nhiệm đề tài Cơ quan chủ trì
GIÁM ĐỐC
PGS.TS Lê Ngọc Thắng PGS.TS Lê Tất Khương
HÀ NỘI, NĂM 2012
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIÊT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
DTTS ĐBKK Dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
KHĐT Kế hoạch Đầu tư
KTXHĐBKK Kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn
MNPB Miền núi Phía Bắc
NGO Tổ chức phi chính phủ
MTQG Mục tiêu quốc gia
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 4NSTƯ Ngân sách Trung ương
UBDT Uỷ ban Dân tộc
UBND Uỷ ban nhân dân
WTO Tổ chức thương mại thế giới
VSMT Vệ sinh môi trường
Trang 5MỤC LỤC BẢNG BIỂU
trang
1 Bảng số 1: Thống kê số lượng các dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Ma
2 Bảng số 2: Thống kê số lượng các dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Nậm
3 Bảng 3: Tỷ lệ người biết được các chính sách tại vùng MNPB 106
4 Bảng 4: Tỷ lệ người biết được các chính sách tại một số tỉnh vùng MNPB 107
5 Bảng 5: Giá trị vốn vay của các hộ dân tại một số tỉnh vùng MNPB 108
6 Bảng 6: Mục đích sử dụng vốn vay của các hộ dân tại một số tỉnh vùng MNPB 108
7 Bảng 7: Các hình thức tập huấn tại các địa phương một số tỉnh vùng MNPB 109
8 Bảng 8: Tỷ lệ người biết đến các lĩnh vực giáo dục, tuyên truyền về y tế
9 Bảng 9: Giá trị vốn vay của các hộ dân tại một số tỉnh vùng Tây Nguyên 114
10 Bảng 10: Mục đích dùng vốn vay tại một số tỉnh vùng Tây Nguyên 114
11 Bảng 11: Tỷ lệ người dân tham gia tập huấn tại một số tỉnh vùng Tây Nguyên 115
12 Bảng 12 Tỷ lệ người biết đến các lĩnh vực giáo dục, tuyên truyền về y tế tại một
13 Bảng 13: Nguồn gốc nhà tại một số tỉnh vùng Tây Nam Bộ 121
14 Bảng 14: Mức vốn vay của các hộ tại một số tỉnh vùng Tây Nam Bộ 122
15 Bảng 15: Kết quả điều tra trình độ học vấn của người dân tại một só tỉnh
16 Bảng 16: Lí do nghỉ học của học sinh tại một số tỉnh vùng Tây Nam Bộ 126
17 Bảng 17: Tỷ lệ người được tiếp cận với các nội dung tuyên truyền về y
Trang 6MỤC LỤC SƠ ĐỒ
trang
4 Sơ đồ 4: Quản lý mô hình phát triển các DTTS gắn với vùng 201
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Chính sách dân tộc là một loại hình trong hệ thống chính sách ở các quốc gia gồm nhiều thành phần tộc người trên thế giới và ở nước ta Từ khi ra đời đến nay, Đảng và Nhà nước ta, xuất phát từ bản chất giai cấp, hệ tư tưởng chính trị của mình đã ban hành nhiều hệ thống chính sách nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, phát triển giữa các thành phần dân tộc ở nước ta
Do đặc điểm liên ngành, đa lĩnh vực của công tác dân tộc nên quá trình
hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hơn 60 năm qua đến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra trên các bình diện nghiên cứu, lý luận và thực tiễn; hoạch định và tổ chức thực hiện Các nhà khoa học, quản lý trong
nước và quốc tế đều đánh giá cao những hệ thống chính sách dân tộc nói chung
và chính sách đối với các dân tộc thiểu thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nói riêng hàng chục năm qua; đánh giá tốt những hiệu
quả và tác động của chính sách dân tộc đối với các cộng đồng tộc người thiểu
số đồng thời cũng thấy được nhiều vấn đề bất cập trước xu thế và thời kỳ phát triển mới của đất nước
Trong từng thời kỳ phát triển của đất nước, chính sách dân tộc luôn có những đòi hỏi phải hoàn thiện đáp ứng nhu cầu phát triển mới của các dân tộc, địa phương
và quốc gia Từ 1986 đến nay, chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn có những đổi mới, là sáng tạo của nước ta trong tư duy hoạch định chính sách, tạo ra cơ hội để đồng bào các dân tộc trên địa bàn có điều kiện tốt hơn hòa nhập vào sự phát triển chung Thực tiễn cho thấy các chính sách đó trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần bước đầu làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, được đồng bào các dân tộc và bạn bè quốc tế ghi nhận
Tuy nhiên, trước xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hiện đại
hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nói riêng tiếp tục đặt ra những vấn đề mới về chính sách trên các phương diện đổi mới tư duy, tầm nhìn nội dung và các vấn đề khác Vì vậy Bộ Khoa học và
Công nghệ đã giao Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đánh giá chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở nước ta” nhằm rà soát, đánh
giá thực trạng, đề xuất các nội dung đổi mới, hoàn thiện nhằm nâng cao chất
Trang 8lượng và hiệu quả của hệ thống chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở nước ta
1 Thời gian thực hiện: 30 tháng (từ tháng 1/2009 đến tháng 6/2011) tính từ
khi có quyết định phê duyệt đề tài
2 Kinh phí: 2.350 triệu đồng
- Ngân sách sự nghiệp khoa học TW: 2.350 triệu đồng
- Ngân sách sự nghiệp khoa học địa phương: 0 triệu đồng
3 Tổ chức chủ trì thực hiện đề tài:
Trung tâm Nghiên cứu và phát triển vùng
Điện thoại : 04.39424357 Fax: 04.39421078
Địa chỉ: Số 70 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, TP.Hà Nội
4 Các cán bộ thực hiện đề tài:
1 PGS.TS Lê Ngọc Thắng Viện Dân tộc - Ủy Ban dân tộc Chủ nhiệm đề tài
2 PGS.TS Lê Tất Khương Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Phó chủ nhiệm đề tài
3 CN Phạm Đức Nghiệm Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Thư ký đề tài
4 TS Đinh Đức Sinh Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Thành viên
5 KS Quách Ngọc Ân Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Thành viên
6 CN Lê Ngọc Bình Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Thành viên
7 KS Tạ Quang Tưởng Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Thành viên
8 CN Phùng Thị Hiệp Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Thành viên
9 GS.TS Tô Duy Hợp Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Thành viên
10 Th.s Nguyễn Lâm Thành Vụ trưởng vụ địa phương I - Uỷ ban Dân tộc Thành viên
11 TS Lê Hải Đường Dân tộc Quốc hội Phó Vụ trưởng Vụ dân tộc, VP Hội đồng Thành viên
12 TS Phan Văn Hùng Viện trưởng Viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc Thành viên
13 TS Đoàn Minh Huấn Phó GĐ -Học viện Chính trị Quốc gia khu vực I Thành viên
14 TS Hoàng Hữu Bình Phó Hiệu trưởng, Trường Cán bộ dân
15 CN Nguyễn Xuân Đức Vụ trưởng Vụ địa phương II - Ủy ban Dân tộc Thành viên
16 CN Phạm Văn Thới Phó vụ trưởng, vụ địa phương III - Ủy ban dân tộc Thành viên
17 GS.TS Hoàng Nam Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam Thành viên
18 Ths Trần Kim Chung Ban chính sách - Viện Quản lý Kinh tế TW Thành viên
Trang 95 Mục tiêu của đề tài:
* Mục tiêu chung:
Trên cơ sở rà soát, đánh giá thực trạng, đề xuất các nội dung đổi mới, hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở nước ta (sau đây gọi tắt là địa bàn đặc biệt khó khăn)
b) Về thực tiễn
¾ Đánh giá các nhóm hệ thống chính sách của nước ta đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn (nội dung, phương pháp, hiệu quả…), nêu rõ những mặt được, chưa được và nguyên nhân của những mặt đó, chủ yếu trong thời kỳ đổi mới
¾ Từ kết quả đánh giá xác định một số vấn đề chủ yếu, cụ thể đặt ra đối với việc đổi mới, xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn trong thời gian tới
c)Về giải pháp trong thời gian tới
¾ Nêu rõ quan điểm và mục tiêu của việc đổi mới, xây dựng và hoàn thiện chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
ở nước ta
¾ Xác định các nội dung đổi mới, xây dựng và hoàn thiện một số chính sách có tính chất trụ cột cho phát triển các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn trên các phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường
6 Nội dung của đề tài
NỘI DUNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THUỘC ĐỊA BÀN CÓ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ –
XÃ HỘI ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở NƯỚC TA
Trang 103) Vai trò của chính sách đối với dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
4) Các lý thuyết phát triển kinh tế xã hội và phát triển bền vững và khả năng vận dụng cho nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn ở nước ta
5) Các tiêu chí đánh giá chính sách và quy trình xây dựng chính sách
II) Cơ sở thực tiễn
1) Đặc điểm tình hình dân tộc ở nước ta (chú trọng phân tích sự phát triển không đồng đều giữa các vùng và các dân tộc)
¾ Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
¾ Đặc điểm kinh tế
¾ Đặc điểm xã hội
¾ Đặc điểm văn hóa
¾ Đặc điểm môi trường
¾ Quan hệ dân tộc
¾ Mối quan hệ giữa địa bàn đặc biệt khó khăn với các địa bàn khác 2) Đặc điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta qua các thời kỳ (Chú trọng các chính sách trong thời kỳ đổi mới)
3) Các yếu tố chi phối, ảnh hưởng tới chính sách đối với dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
4) Các yếu tố cấu thành các loại hình chính sách đối với dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
5) Kinh nghiệm của một số quốc gia về xây dựng chính sách đối với dân tộc thiểu số thuộc các địa bàn đặc biệt khó khăn (chú ý mô hình Trung Quốc, Thái Lan)
NỘI DUNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC
DÂN TỘC THIỂU SỐ THUỘC ĐỊA BÀN CÓ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ – XÃ HỘI ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA
Trang 11I) Tổng quan hệ thống chính sách đối với các dân tộc tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
1) Bối cảnh ra đời của chính sách
III) Đánh giá hệ thống chính sách: hiệu quả, tồn tại và những vấn đề đặt ra
1) Hệ thống văn bản chính sách: Cơ cấu, số lượng chính sách và nhu cầu của thực tiễn Tính phù hợp, tính cập nhập với bối cảnh chung của đất nước và tình hình quốc tế
2) Phương pháp và quy trình xây dựng chính sách
3) Tác động thành tựu của chính sách (phân nhóm tác động kinh tế, xã hội, môi trường)
4) Hạn chế của hệ thống chính sách
5) Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
6) Những vấn đề đặt ra cho việc đổi mới, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách trong thời gian tới
NỘI DUNG III: ĐỔI MỚI TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THUỘC ĐỊA BÀN CÓ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI
I) Quan điểm đổi mới, xây dựng và hoàn thiện chính sách
1) Chính sách phải lấy đối tượng con người, cộng đồng các dân tộc làm trọng tâm, phù hợp với trình độ và điều kiện cụ thể của các địa bàn
2) Chính sách phải đảm bảo các dân tộc trên địa bàn bình đẳng, đoàn kết tôn trọng nhau trong quá trình phát triển
3) Chính sách phải đặt trong chiến lược phát triển chung của quốc gia và từng vùng
4) Chính sách cần có những đột phá và mô hình mới để tổ chức thực hiện
Trang 12II) Mục tiêu đổi mới, xây dựng và hoàn thiện chính sách
1) Khắc phục, giảm nhẹ tiến tới xóa bỏ những các yếu tố cản trở sự phát triển các dân tộc thiểu số thuộc các địa bàn có điều kiện đặc biệt khó khăn
2) Giảm dần khoảng cách phát triển giữa các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn so với các địa bàn khác
3) Thiết thực cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần các dân tộc thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
4) Tăng tính hiệu quả, tính phù hợp của chính sách đối với các nhóm dân tộc thiểu số ở địa bàn đặc biệt khó khăn
III) Định hướng đổi mới, xây dựng và hoàn thiện chính sách
1) Chính sách kinh tế: Tập trung vào xóa đói giảm nghèo bền vững và khởi
động cho việc thực hiện làm giàu của đồng bào, cụ thể là:
¾ Nhóm các chính sách nâng cao năng lực sản xuất của các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
¾ Nhóm các chính sách nâng cao năng lực quản lý kinh tế của cán bộ
cơ sở thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
¾ Nhóm các các chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng
¾ Nhóm các chính sách về định cư và quy hoạch bố trí dân cư
¾ Nhóm các chính sách về phát triển sản xuất cho đồng bào dân tộc sống trên địa bàn đặc biệt khó khăn
¾ Nhóm các chính sách về thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
2) Chính sách xã hội
¾ Nhóm các chính sách về nâng cao dân trí
¾ Nhóm các chính sách về chăm sóc sức khỏe cộng đồng, khắc phục và hạn chế các tệ nạn xã hội
¾ Nhóm các chính sách về cải thiện chất lượng nguồn nhân lực
¾ Các chính sách về bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hóa
¾ Nhóm chính sách về ổn định chính trị và đảm bảo an ninh quốc phòng
¾ Một số chính sách về bảo trợ xã hội nhằm giảm thiểu nguy cơ rủi do cho nhóm xã hội dễ bị tổn thương
Trang 13¾ Nhóm chính sách về nâng cao năng lực và sự tham gia của các cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện hiện chính sách
3) Chính sách môi trường: Tập trung vào một số vấn đề bức xúc nhất:
¾ Nhóm các các chính sách tạo môi trường xanh, sạch, đẹp tại thôn, bản, khu dân cư tập trung
¾ Nhóm các chính sách về quản lý khai thác tổng hợp và sử dụng hợp
lý các nguồn tài nguyên
¾ Nhóm các chính sách đảm bảo quyền lợi của cộng đồng bản địa trong việc thụ hưởng các lợi ích do hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn mang lại
Kết luận và khuyến nghị
1) Đổi mới nhận thức, phương pháp hoạch định chính sách
2) Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền
3) Hoàn thiện cơ chế chính sách, phân cấp quản lý nhà nước
4) Lộ trình đổi mới, xây dựng và hoàn thiện chính sách
5) Đề xuất một dự án đầu tư mô hình thực nghiệm đổi mới công tác thực thi chính sách dân tộc
Triển khai nội dung trên, đề tài sẽ thực hiện 6 đề tài nhánh sau đây:
* Đề tài nhánh I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng chính sách đối với
các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn ở nước ta ( gồm 14 chuyên đề
và 01 báo cáo nhánh I)
* Đề tài nhánh II: Quan điểm và kinh nghiệm của một số quốc gia và tổ chức
quốc tế về xây dựng chính sách đối với dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn ( gồm 3 chuyên đề và 01 báo cáo nhánh II)
* Đề tài nhánh thứ III Một số vấn đề về hiện trạng kinh tế, xã hội, môi trường
và tác động của nó đến sự phát triển của các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn ( gồm 16 chuyên đề và 01 báo cáo nhánh III)
* Đề tài nhánh thứ IV Phân tích thực trạng chính sách đối với các dân
tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn ở nước ta ( gồm 19 chuyên đề và 01
báo cáo nhánh IV)
* Đề tài nhánh thứ V Đổi mới, xây dựng và hoàn thiện chính sách theo
quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển bền vững đối với các dân tộc thiểu
Trang 14số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn ở nước ta trong thời gian tới ( gồm 29 chuyên
đề và 01 báo cáo nhánh V)
* Đề tài nhánh thứ VI Những kiến nghị chủ yếu của đề tài về nghiên cứu
chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn ở nước ta trong thời gian tới ( gồm 9 chuyên đề và 01 báo cáo nhánh VI)
Tóm lại : Ba vấn đề lớn được đề cập trong công trình là: Những vấn đề
cơ bản về chính sách dân tộc trong nền kinh tế thị trường; Thực trạng hệ thống chính sách dân tộc ở nước ta; Phương hướng giải pháp xây dựng và hoàn thiện
hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam đến 2015, tầm nhìn 2030
7 Cách tiếp cận trong nghiên cứu đề tài:
* Tiếp cận nội dung nghiên cứu của đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu đánh giá chính sách liên quan đến quan điểm, chủ trương, mục tiêu chính sách của một Đảng, lãnh đạo, Nhà nước cầm quyền, do vậy đề tài tiếp cận trên hai bình diện cơ bản là Lý luận và thực tiễn vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta
- Trên bình diện lý luận đề tài tiếp cận nhằm nhận diện và giải mã nhân sinh quan của tổ chức ban hành chính sách, những căn cứ lý luận để xác định đối tượng, hình thành luận điểm và nội dung của các chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở nước ta
- Trên bình diện thực tiễn hay đối với những vấn đề thực trạng, đề tài tiếp cận từ các văn bản chính sách, nội dung và quá trình tổ chức thực hiện, những kết quả và hạn chế của các loại hình chính sách, nội dung chính sách và sức sống của nó trong thực tiễn đời sống xã hội mà các chính sách hướng tới
Đề tài tiếp cận từ việc rà soát, sàng lọc những chính sách hiện hành đối với các dân tộc thiểu số để từ đó rút ra những chính sách có các thuộc tính: dành cho đối tượng là các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, có nguy cơ thua thiệt về cơ hội phát triển Những chính sách có các thuộc tính này sẽ là đối tượng phân tích và đánh giá của đề tài
- Trong đánh giá thực trạng, đề tài tiếp cận từ tình hình và kết quả thực hiện chính sách trên thực tiễn, trong đó kết hợp đánh giá từ những tư liệu đã được công
bố với những tư liệu do các cuộc điều tra, khảo sát trực tiếp của đề tài
- Đối với những vấn đề đề xuất, đề tài dựa vào 3 trụ cột sau:
9 Những căn cứ lý luận và thực tiễn đã đúc kết được của đề tài;
Trang 159 Bối cảnh, chủ trương, thể chế, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian tới;
9 Tư duy sáng tạo của các Tổ chức và cá nhân thực hiện đề tài
* Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách của Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
9 Phạm vi về thời gian: Phần thực trạng, với các số liệu thống kê trong
hệ thống thông kê quốc gia đề tài lấy mốc thời gian từ năm 1998 đến nay Tuy nhiên, có tham chiếu với các tài liệu nghiên cứu đánh giá của các giai đoạn trước (1945-1998); Phần đề xuất, đề tài lấy mốc thời gian 2010-2015, tầm nhìn 2020
9 Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu chung trong phạm vi cả nước, trong đó tập trung vào một số địa bàn đại diện: miền núi phía Bắc (Tuyên Quang, Lai Châu), Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai), Tây Nam Bộ (An Giang, Sóc Trăng)
9 Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu chung trong phạm vi toàn bộ các chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trong đó tập trung đề xuất một số chính sách chủ yếu - có tính chất trụ cột cho phát triển trên các lĩnh vực: Phát triển kinh tế; Phát triển xã hội; Bảo vệ môi trường
8 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra xã hội học: Đề tài đã thiết kế một hệ thống các bảng
hỏi, để thu thập các thông tin sống động từ thực tiễn, phục vụ cho các yêu cầu chính của nội dung đề tài đặt ra Các bảng hỏi sẽ tập chung cho các nhóm vấn đề:
Hệ thống chính sách đã và đang triển khai trên địa bàn Những tác động về chính sách, về kinh tế xã hội và môi trường trên địa bàn Những vấn đề về kết quả, hạn chế và yêu cầu đặt ra bổ sung và hoàn thiện chính sách Đối tượng phỏng vấn là cán bộ quản lý, người đân, nhà hoạch định chính sách phụ vụ cho nội dung nghiên cứu đánh giá của đề tài
Để tiến hành điều tra và trong điều kiện của kinh phí cho phép, đề tài đã nghiên cứu và chọn điểm trên địa bàn 3 khu vực: Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên
và Tây Nam Bộ
Trang 16Trên địa bàn miền núi phía Bắc, đề tài phối hợp với các tỉnh, huyện, xã đã chọn 02 tỉnh Tuyên Quang và Lai Châu, mỗi tỉnh 02 huyện, mỗi huyện 02 xã với tiêu chí: Là xã thuộc diện có địa bản đặc biệt khó khăn, có đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống Tỉnh Tuyên Quang được chọn với lý do là tỉnh thực hiện tốt CT 135 trong giai đoạn 1, có nhiều kinh nghiệm và bài học quan trọng liên quan đến phương pháp tổ chức thực hiện và triển khai làm tiêu chí, nội dung so sánh với tỉnh Lai Châu – tỉnh mới tách ra cùng với tỉnh Điện Biên từ tỉnh Lai Châu cũ Lai Châu được chọn làm địa bàn điều tra là để thấy trong những địa phương thuộc loại khó khăn nhất nước thì tình hình quán triệt và triển khai chính sách đạt được hiệu quả như thế nào
Trên địa bàn khu vực Tây Nguyên đề tài chọn 2 tỉnh Đăk Lăk và Gia Lai làm điểm điều tra Đây là 2 tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và nhiều xã thuộc diện khu vực đặc biệt khó khăn Đăk Lắk được chọn là tỉnh “thủ phủ” của Tây Nguyên có nhiều tiếp cận và sự phát triển nhanh với nền kinh tế-xã hội mới cũng như chịu nhiều tác động của chinh sách khác trên địa bàn Việc điều tra trên địa bàn Đăk Lăk là nhằm xem xét những tác động của các chính sách nói chung và chính sách đối với các dân tộc có điều kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trên địa bàn có những gì khác biệt và mang đặc trưng của vùng trong sự so sánh với với tỉnh ít chịu những tác động của bối cảnh kinh tế - xã hội mới như Gia Lai
Khu vực Tây Nam Bộ được chọn 2 tỉnh: Sóc Trăng và An Giang để điều tra
vì các tiêu chí: Tỉnh có đông đồng bào Khơ me là Sóc Trăng, và An Giàng là tỉnh
có đồng bào Chăm sinh sống Việc tiếp cận chính sách của 2 tộc người có tính dặc trưng này của vùng Tây Nam Bộ sẽ góp thêm những vấn đề có tính đặc trưng vùng trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, là thước đo để kiểm chứng
và phát hiện các vấn đề chính sách đặt ra
Việc điều tra xã hội học ngoài việc thu thập thông tin vào các bản hỏi, đề tài coi việc tọa đàm với cán bộ các ban ngành cấp tỉnh, huyện, xã Cấp tỉnh và huyện trước khi tọa đàm có đặt văn đè để viết các báo cáo tham luận, cấp xã tạo đàm trực tiếp kết hợp nêu và thảo luận với các vấn đè điều tra và khảo sát từ thực tiễn Các thông tin được cung cấp từ các cuộc tọa đàm, trao đổi là những thong tin quan trọng và là luận cứ cơ bản để kiểm chứng và xây dựng các luận khoa học của đề tài trên các bình diện, nội dung, tính bền vững của chính sách cũng như những vấn
đề đặt ra cần được hoàn hiện, đổi mới trong gian tới
Phương pháp điều tra xã hội học và điền giã dân tộc học được lựa chọn làm phương pháp thu thập thống tin chính phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài Ngoài
việc tổ chức phỏng vấn tiêu chuẩn 1632 phiếu, phỏng vấn sâu 210 người là các nhà
Trang 17- Điền dã dân tộc học: Đề tài đã tiến hành chọn điểm liên quan đến các
địa bàn ở các vùng cũng như các nhóm dân tộc khác nhau để tiến hành khảo sát thu thập các thông tin thực tế Đề tài cũng đã tiếp cận với người dân, với cán bộ
để quan sát những kết quả thực tiễn về việc thực hiện chính sách trên địa bàn
Đề tài cũng đã tổ chức các cuộc tòa đàm tại các địa phương tại các địa bàn điền giã ở cấp thôn bản, xã, huyện, tỉnh để trao đổi về vững vấn đề nảy sinh trong quá trình nghiên cứu, về những vấn đề bức xúc, tâm tư nguyện vọng, mong muốn đề xuất của người dân và cán bộ quản lý đối với những kết quả và những bất cập của chính sách tại địa phương, chọn điểm ở các vùng ở các xã đặc biệt khó khăn và có đối chứng so sánh với điểm xã ở vùng 2 Đồng thời, đề tài cũng
đã phân tích đánh giá các tác động của chính sách đến đối tượng người kinh trên địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp xử lý thông tin: các thông tin thu thập được qua phiếu
điều tra và kết quả phỏng vấn sâu đã được xử lý thống kê và phân tích theo nhiều phương pháp khác nhau Hai phương pháp sẽ được sử dụng chính là xử
lý phiếu điều điều tra theo phương pháp Spssfor Windows và tổng hợp thống
kê tư liệu, số liệu
- Phương pháp chuyên gia: Để đảm bảo về chất lượng chuyên môn, đề
tài đã sử dụng đội ngũ cán bộ nghiên cứu là chuyên gia đa ngành gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như: lập pháp, phân tích chính sách, chuyên gia chuyên ngành kinh tế, xã hội, nông nghiệp, phát triển nông thôn, môi trường, quy hoạch phát triển Với suy nghĩ không ai hiểu và trăn trở với sự nghiệp phát triển các dân tộc ít người bằng chính người dân đang sống và làm việc tại địa bàn đặc biệt khó khăn, đề tài đã thiết lập một “kênh” trao đổi thông tin thường xuyên giữa các chuyên gia trung ương và chuyên gia địa phương, giữa Ban Chủ nhiệm đề tài và các cơ quan phối hợp triển khai mà cầu nối quan trọng nhất là Ban Dân tộc các tỉnh Những ý kiến của các chuyên gia góp phần nâng cao giá trị của các kết luận khoa học, đồng thời nó cũng bổ sung cho tính hiện thực của các chính sách do đề tài đề xuất
- Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của người dân: Đây là hệ
phương pháp thu hút cộng đồng vào quá trình phân tích các câu hỏi nghiên cứu, những mâu thuẫn, những xung đột nằm trong hiện trạng có liên hệ với hoàn cảnh, môi trường xung quanh, nhằm tìm ra những chính sách tối ưu cho phát triển của cộng đồng dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, hạn chế được các các xung đột về mặt lợi ích Trong nghiên cứu này chúng tôi thu hút sự tham gia của cộng đồng thông qua các cuộc thảo thuận nhóm tập trung, đánh giá nhanh nông thôn (PRA) và nghiên cứu tham dự (PAR) Nền tảng của hệ thống các
Trang 18phương pháp này là lấy dân làm gốc, lấy cộng đồng thôn bản làm trung tâm với phương châm nhà nghiên cứu và thành viên cộng đồng cùng học hỏi lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu để đưa ra các kết luận có tính chân thực, chính xác cao
- Phương pháp hệ thống, phân tích, so sách, tổng hợp: Được sử dụng để
phân tích tài liệu, văn bản, công trình nghiên cứu liên quan Phương pháp phân tích hệ thống cho phép đi sâu tìm hiểu những mặt ưu điểm và hạn chế của các chính sách từ nội dung văn bản chính sách đến quá trình tổ chức triển khai chính sách theo một cấu trúc hệ thống Từ đó lựa chọn đề xuất các hướng ưu tiên cần tập trung xây dựng và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ tạo ra sự phát triển bền vững Các ký thuật phân tích SWOT, lập bảng ma trận chính sách đã được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu này Phương pháp tổng hợp cho phép tổng kết khái quát hóa thực trạng chính sách, từ đóp xây dựng các khung chính sách cho từ lĩnh vực cụ thể
- Phương đánh giá tác động chính chính sách PAM và phương pháp xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng cụ thể: Đây là phương pháp được sử
dụng rộng rãi ở các nước châu Âu, tuy nhiên lại còn khá mới mẻ ở Việt Nam Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng để luận chứng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bổ sung và hoàn thiện chính sách
Công trình nghiên cứu này là một sản phẩm kết quả của nghiên cứu đề
tài “Nghiên cứu đánh giá chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở nước ta” Với nỗ lực của nhóm
tác giả và được sự công tác của các nhà khoa học thuộc các cơ quan khoa học, các cơ quan hoạch định chính sách trong nước (Ủy ban Dân tộc, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện quản lý Kinh tế Trung ương, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và công nghệ, Tạp chí Cộng sản, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn…) và các nhà khoa học ngoài nước ( Đại học Dân tộc Vân Nam, Viện hàn lâm khoa học Vân Nam, Viện Đông Nam Á đại học Quảng Tây… Trung quốc; Đại học Chiềng Mai, Thái Lan…)
Ban chủ nhiệm đề tài, nhóm tác giả hy vọng được cung cấp thêm một số khía cạnh về cái nhìn chính sách, cung cấp những thông tin nhằm giúp cho các
cơ quan hoạch định chính sách, các nhà quản lý, nhà khoa học…về chính sách dân tộc nói chung đối với địa bàn đặc biệt khó khăn nói riêng ở nước ta hiện nay; cùng góp phần và nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững đối với sự phát trển của đồng bào các dân tộc thiểu số trong bối cảnh mới, trong xu thế phát triển từ nay đến 2015 và đến 2020
Trang 19Tính mới của đề tài: Sau hơn 2 năm thực hiện (từ 2009 đến tháng
6/2011) về cơ bản đề tài đạt được mục tiêu đã đề ra trong đề cương, bên cạnh
đó đề tài còn có tính mới như sau:
a Về mặt lý luận Đề tài đã luận chứng, xác định rõ vấn đề tổng luận về
“chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn” bao gồm các vấn đề cấu thành sau đây:
¾ Xây dựng được luận chứng về đối tượng “Dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn”: Một số vấn đề khái niệm và nhận thức; tiêu chí xác định
¾ Xây dựng được luận chứng về “Chính sách đối với các dân tộc thiểu số”: Một số vấn đề khái niệm và nhận thức; vai trò; đặc điểm; mục tiêu của chính sách
¾ Tìm hiểu tình hình quan điểm, chính sách đối với các dân tộc của Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á làm luận cứ tham khảo để hiểu
rõ hơn chính sách của Nhà nước ta đối với các dân tộc nói chung và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nói riêng
¾ Xây dựng luận chứng về quan điểm, phương hướng và các điều kiện đảm bảo để thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc
¾ Xác định các căn cứ khoa học và thực tiễn cho việc đổi mới xây dựng và hoàn thiện chính sách đối với dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn
b Về mặt thực tiễn Đề tài đã đánh giá thực trạng chính sách của Việt Nam
những năm qua đối với phát triển các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn Việc đánh giá này bao gồm những vấn đề cụ thể sau đây:
¾ Đề xuất thay đổi tư duy trong xây dựng nội dung và tổ chực thực hiện chính sách dân tộc trong bối cảnh tình hình mới của đất nước
¾ Đề xuất xây dựng mô hình thực hiện chính sách dân tộc với các kết quả nghiên cứu phát hiện, làm điểm cho việc thay đổi tư duy xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc cho các cơ quan trung ương và địa phương
Trang 20Phần 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THUỘC ĐỊA BÀN CÓ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ – XÃ HỘI ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN Ở NƯỚC TA
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1.Quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc
Từ khi ra đời đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc
có vị trí chiến lược của cách mạng trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Trong từng giai đoạn cách mạng, vấn đề dân
tộc, chính sách dân tộc luôn được nhận thức và giải quyết theo các quan điểm
cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra
Ngay từ khi thành lập Đảng (3/2/1930), trong “Chánh cương vắn tắt”
“Sách lược vắn tắt” Đảng ta đã đề ra quan điểm rất cơ bản về vấn đề dân tộc, đó
là quan điểm giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân và quan điểm đoàn kết dân tộc: “làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập” Từ Đại hội I đến Đại hội lần thứ X của Đảng, vấn đề dân tộc luôn được quan tâm và không thể thiếu trong định hướng quan điểm, đường lối giải quyết vấn đề dân
tộc: Đại hội Đảng lần thứ I (1935): “Nghị quyết về công tác trong các dân tộc
thiểu số” xác định “cho các dân tộc thiểu số được quyền tự quyết” và “lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn”; chống địa phương
chủ nghĩa, chống miệt thị dân tộc mà không thấu rõ tinh thần quốc tế… Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2 năm 1951) đã nêu chính sách dân tộc của
Đảng ta là: “1 Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; đoàn kết, giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc 2 Chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bài trừ mọi hành động gây hằn thù, chia rẽ giữa các dân Tháng 8 năm 1952, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về chính sách dân tộc thiểu
số, nêu lên phương châm vận động dân tộc thiểu số là: “Kiên nhẫn, thận trọng và chắc chắn”, “vận động quần chúng tự giác, tự nguyện thi hành, không được dùng
mệnh lệnh ép buộc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960), tiếp tục khẳng
định các quan điểm về chính sách dân tộc trước đó và bổ sung tư tưởng mới
“Cần phải có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn hóa ở miền núi… làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân tộc
Trang 21đa số” Đại hội Đảng lần thứ IV (1976,) Đảng nêu quan điểm, chính sách dân tộc
là: “Giải quyết đúng vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam Phải tăng cường khối đại đoàn kết không gì lay chuyển nỗi giữa các dân tộc trong cả nước, phát huy tinh thần cách mạng và năng lực sáng tạo của các dân tộc ít người trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Để thực hiện chính sách dân tộc, Đảng chủ trương: đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế và văn hóa ở các vùng dân tộc, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc, tích cực đào tạo bồi dưỡng cán bộ dân tộc ít người; giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của các dân
tộc ít người; lãnh đạo hướng dẫn đồng bào dân tộc xây dựng nếp sống mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định: “Đảng ta
cần phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh cách mạng kiên cường, dũng cảm của các dân tộc thiểu số ở nước ta” “Thực hiện đúng chính sách giai cấp
và chính sách dân tộc Trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau, cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp
hòi” Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã viết: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, tạo
điều kiện thuận lợi để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến
bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia
rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”
Tổng kết thực tiễn nhiều năm thực hiện đường lối, chính sách dân tộc và
công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ưởng Đảng khóa IX về công tác dân tộc ngày 12 tháng 3 năm
Trang 222003 đã khẳng định những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về vấn
đề dân tộc hiện nay là:
Thứ nhất, Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản,
lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam
Thứ hai, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng, giúp đỡ cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc
Thứ ba, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh
- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc; quan tâm phát triển nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng Việt Nam thống nhất
Thứ tư, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và
miền núi; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường hỗ trợ của Trung ương
và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước
Thứ năm, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị:
“Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006) tiếp tục bổ sung, hoàn
thiện quan điểm chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay:
- Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong
sự nghiệp cách mạng nước ta
- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc
- Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định, canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại
Trang 23dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh quốc phòng, củng cố nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số,…
- Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức
là người dân tộc thiểu số, cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần dân tộc, làm công tác dân vận
- Chống biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (tháng 1/2011) tiếp tục khẳng định:
“Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước
ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”(1)
Nếu như Đại hội Đảng lần thứ X, các định hướng nội dung về vấn đề dân tộc được đề cập tương đối cụ thể, thì Đại hội Đảng lần thứ XI vấn đề được đề cập khái quát hơn, chú trọng đến cơ chế chính sách nói chung và chính sách dân tộc nói riêng; vấn đề các dân tộc thương yêu nhau và dân chủ được chú trọng trong phương châm và định hướng của vấn đề dân tộc giai đoạn tới
Nói vấn đề dân tộc không chỉ đề cập đến các vấn đề thuộc khái niệm dân tộc là đủ mà cần xem xét vai trò và quan điểm của giai cấp cầm quyền nhìn nhận và giải quyết nội dung dân tộc như thế nào trên hai phương diện lý luận
và thực tiễn Nhiều công trình khi đề cập đến vấn đề này chỉ dừng lại ở khái
niệm, tình hình quan niệm về các vấn đề dẫn đến sự hình thành dân tộc mà chưa chú ý đúng mức đến bối cảnh và tình hình xuất hiện vấn đề dân tộc và việc giải quyết vấn đề dân tộc về lý luận và thực tiễn như thế nào qua các thời
Trang 24Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước có liên quan đến các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều thể hiện rõ các nội dung sau:
- Giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta là giải phóng con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh; thực hiện dân chủ, tự do cho các dân tộc; phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc
- Thực hiện chính sách dân tộc là nghiên cứu, thấm nhuần và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ sao cho phù hợp
- Thực hiện chính sách dân tộc là quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, các chương trình của Chính phủ vì sự phát triển của đồng bào các dân tộc
- Chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay chủ yếu là ban hành và thực hiện chính sách phát triển kinh tế, chính sách xã hội kết hợp với an ninh quốc phòng.
- Nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam là căn cứ vào đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội, văn hoá của các dân tộc; vào trình độ phát triển của các dân tộc và của từng vùng đồng bào dân tộc sinh sống
- Chính sách dân tộc phải xuất phát từ yêu cầu chung và yêu cầu cụ thể của cách Việt Nam trong từng thời kỳ
Tuy nhiên vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong suốt quá trình lãnh đạo và quản lý đất nước không phải là sự nhận thức và chỉ đạo cứng nhắc mà là một quá trình nhận thức khoa học khách quan, sáng tạo, tương ứng với từng thời kỳ cách mạng cụ thể Mỗi thời kỳ cách mạng, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng cụ thể đặt ra khác nhau là thể hiện các sách lược cách mạng trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược đã được đề ra
Chính sách dân tộc thường được chia thành các nhóm :
- Các chính sách về phát triển kinh tế: Gồm các chính sách về sở hữu,
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển khoa học công nghệ, phát triển kinh tế hàng hóa, đây là lĩnh vực quan trọng nhất trong chính sách dân tộc, vấn đề phát triển kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta lại càng trở nên quan trọng và bức thiết hơn vì vùng dân tộc thiểu số thường là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Từ năm 1996 đến nay các chính sách về phát triển kinh tế trên địa bàn miền núi được tập trung vào các nội dung sau:
Từng bước điều chỉnh và ổn định quan hệ sản xuất vùng miền núi, dân
Trang 25đôi với xác lập cơ cấu kinh tế mới đảm bảo tôn trọng quyền quyết định của đồng bào dân tộc trong việc lựa chọn các hình thức của kinh tế, tôn trọng quyền
tự chủ sản xuất, kinh doanh
Xây dựng cơ cấu kinh tế ở vùng miền núi dân tộc: Xây dựng cơ cấu kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng giao lưu kinh tế tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa các vùng, miền núi vào công cuộc xây dựng vùng dân tốc; Giải quyết vấn đề lương thực cho miền núi, vùng thiếu đói trên cơ sở phát triển kinh tế hàng hóa, từng bước xóa bỏ kinh tế tự cung, tự cấp; Xây dựng các trung tâm công nghiệp, dịch vụ ở miền núi giúp đỡ các ngành nghề thủ công cổ truyền ở các dân tộc, chú ý các nghề dịch vụ chế biến tại chỗ phục vụ sản xuất và đời sống đồng bào dân tộc; Xây dựng cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phải gắn bó với đưa tiến bộ kỹ thuật khoa học và công nghệ vào miền núi phục
vụ chăn nuôi, trồng trọt, nghề rừng, từng bước hình thành các trung tâm dịch
vụ kỹ thuật ở các vùng trọng điểm
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: xây dựng và nâng cao một số trục giao thông, phát triển giao thông miền núi, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất gắn với kinh doanh, tự do lưu thông trao đổi hàng hóa trong vùng
và cả nước
Điều chỉnh các chính sách, biểu thuế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lưu thông hàng hóa Nhà nước thống nhất quản lý kinh tế nhiều thành phần ở miền núi thông qua luật thuế
- Chính sách chính trị - xã hội: Là những chính sách gắn liền với chính
sách kinh tế, văn hóa như chính sách định canh định cư, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách ưu đãi, khuyến khích trong đào tạo và sử dụng cán bộ
là người dân tộc, chính sách xây dựng, củng cố an ninh trật tự ở vùng biên cương, hình thành các trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của từng địa phương (ở tỉnh, huyện, xã), các chính sách trong phân cấp giữa chính quyền trung ương và địa phương
- Chính sách phát triển văn hóa: nhằm giữ gìn, phát triển những yếu tố
về truyền thống , ngôn ngữ, chữ viết, những yếu tố cơ bản, đặc trưng của từng dân tộc trên cơ sở ban hành các chính sách cụ thể để từng bước nâng cao đời sống tinh thần của các dân tộc như xuất bản các ấn phẩm văn hóa bằng tiếng dân tộc dựa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông; nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn các bộ sách văn hoá dân gian, coi trọng các hình thức thông tin phát hành và truyền hình vùng dân tộc thiểu số,
Trang 26- Chính sách tôn giáo: Chính sách đặc trưng với đồng bào dân tộc thiểu
số, bởi đại đa số tộc người trên đất nước ta đều có đời sống tâm linh, tín ngưỡng tôn giáo phong phú Chính sách tôn giáo phải tôn trọng tự do tín ngưỡng nhưng cũng phải đủ sức ngăn chặn không cho phép kẻ xấu lợi dụng tự
do tín ngưỡng làm tổn hạn đến tình hình đoàn kết dân tộc
1.1.2 Cơ sở lý thuyết nhân học liên quan đến vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc
Lý thuyết nhân học là căn cứ khoa học để nhận thức về con người, các cộng đồng tộc người - đối tượng của các chính sách và vấn đề cần quan tâm giải quyết của các Nhà nước ở những quốc gia đa dân tộc Đó là những căn cứ khoa học tạo cơ sở vững chắc để xác lập các căn cứ lý luận và thực tiễn trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc nói chung và đối với địa bàn có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn nói riêng Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi đề cập đến những khái niệm nhân học cơ bản sau:
- Dân tộc:
Dân tộc là một thuật ngữ từ khi xuất hiện đến nay đã có nhiều ý kiến bàn
luận về nội dung của nó Đây là một khái niệm đến nay còn những ý kiến, quan điểm khác nhau Thuật ngữ dân tộc hiện nay ở nước ta được hiểu trên nhiều bình diện và giác độ khác nhau như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Kinh, dân tộc Hmông, dân tộc Gia Rai, dân tộc Khmer, dân tộc đa số, dân tộc thiểu số, dân tộc ở đồng bằng, dân tộc ở miền núi v.v…
Các nhà khoa học đã tìm hiểu và nghiên cứu các quan điểm của C.Mác
và Ph.Ăng ghen trong tác phẩm kinh điển "Biện chứng của tự nhiên", khi bàn
về Vấn đề dân tộc, nhà nước… Ph.Ăngghen đã viết : “Cuối cùng nghệ thuật và khoa học ra đời bên cạnh thương nghiệp và thủ công nghiệp, các bộ lạc biến
thành những dân tộc và quốc gia…” Trong các tác phẩm Thời kỳ Phrăngcơ,
Ăng ghen cũng chứng minh cho sự ra đời của nhà nước gắn liền với sự hình
thành dân tộc Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Ăng ghen cũng chứng minh các dân tộc cũng vốn được hình
thành từ sự liên quan các bộ lạc Ph.Ăng ghen đã kế thừa các tài liệu dân tộc
học của nhà khoa học người Mỹ L.H.Morgan qua tác phẩm Xã hội cổ đại nổi tiếng theo cách phân kỳ xã hội nguyên thủy thành hai thời kỳ: mông muội và dã man và sau đó mới bước vào thời đại văn minh Thời đại dã man tương ứng với chế độ thị tộc bộ lạc của loài người, còn thời đại văn minh tương ứng với xã hội
có nhà nước
Trang 27Các tác giả trong Giáo trình Triết học Mác - Lênin do Khoa Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn có đưa ra khái niệm về dân tộc như sau: “Dân tộc là một cộng đồng xã hội - tộc người ổn định, bền vững,
được thành lập trong lịch sử phát triển xã hội và phát triển các hình thức cộng đồng người Quan hệ dân tộc được hình thành từ các quan hệ cộng đồng ngôn ngữ, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế, tâm lý, tính cách, đời sống văn hóa và là sự kết tinh độc đáo của các quan hệ ấy"
Cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “1 Dân tộc (Nation) hay
quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (Ethnie) của bộ phận tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau… 2 Dân tộc (Ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người … Cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (Nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa,
và nhất là ý thức tự giác tộc người”
- Dân tộc thiểu số (Ethnic minority)
Cơ sở lý thuyết về dân tộc thiểu số (Ethnic minority): là khái niệm chỉ những cộng đồng tộc người có dân số ít hơn một cộng đồng nào đó trong điều
kiện cụ thể của một quốc gia Khi đề cập đến dân tộc thiểu số người ta thường
đề cập đến dân tộc đa số Trong điều kiện của một quốc gia, đó là việc lấy tiêu
chí dân số của cộng đồng tộc người làm tiêu chí để so sánh với nhau
Ở nước ta thời gian qua có nhiều thuật ngữ khác nhau khi sử dụng liên quan đến dân tộc thiểu số và đa số Trong các công trình khoa học, báo chí hoặc các phương tiện thông tin đại chúng còn có những cách gọi khác nhau:
Dân tộc thiểu số - Dân tộc ít người - Dân tộc đặc biệt ít người… Dưới chế độ
cũ, nhiều thuật ngữ chỉ các dân tộc thiểu số do chính quyền thực dân đặt ra mang tính miệt thị như: Mọi, Xá, Mán… Phong kiến Trung Hoa gọi người Việt
và các dân tộc ở nước ta là Man, Di, Mọi, Rợ…
Khái niệm dân tộc thiểu số hiện nay còn được dùng chưa thống nhất, có lúc gọi là dân tộc ít người, dân tộc thiểu số … Tuy nhiên trong các văn cảnh cụ thể nó có giá trị nhất định, song về mặt khoa học cần có tiêu chí nhận thức thống nhất Dưới góc độ dân tộc học (Ethnography), nhân học xã hội (Anthropology social) hay nhân học văn hóa (Anthropology culture) hay quản
lý nhà nước thì từ trước đến nay chưa đề cập chính thức khái niệm Dân tộc
Trang 28thiểu số Mọi người đều hiểu đó là những cộng đồng có dân số từ trên một triệu
xuống đến hàng chục vạn, hàng vạn, hàng ngàn, hàng trăm ở nước ta khi so sánh với cộng đồng dân tộc đa số - người Kinh (Việt) có số dân hàng chục triệu Song về mặt khái niệm thì chưa được đề cập đến cụ thể
Vậy dân tộc thiểu số là gì? Ở đây, bước đầu chúng tôi tạm nêu như sau: Dân tộc thiểu số ở nước ta là các thành viên thuộc cộng đồng các dân tộc Việt Nam có số dân ít hơn dân tộc Kinh; cư trú trên một địa bàn rộng lớn chủ yếu ở các vùng miền núi, biên giới, vùng có có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; có quá trình gắn bó đoàn kết với nhau và với dân tộc đa số trong quá trình dựng nước và giữ nước Từ sau khi có Đảng, cộng đồng các dân tộc thiểu số tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết đóng góp quan trọng và to lớn vào thành quả của cách mạng giải phóng dân tộc, đổi mới xây dựng, hội nhập và phát triển đất nước
Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 về Công tác dân tộc Trong " Điều 4 Giải thích từ ngữ " đã đưa ra khái niệm ngắn gọn nhưng nêu bật nội hàm liên quan đến công tác dân tộc như sau:
- " Dân tộc thiểu số" là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa
số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ” ;
- " Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt" là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau:
1) Tỷ lệ hộ nghèo trong đơn vị thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước;
2) Các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khỏe cộng đồng và chất lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước;
3) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mới tối thiểu phục vụ đời sống dân cư."
- Vấn đề dân tộc
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin rất quan tâm đến vấn đề dân tộc, khi trên thế giới xuất hiện các cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức chống lại sự thống trị của chủ nghĩa tư bản, đế quốc Trong những năm vừa qua ở
nước ta có không ít công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề cập đến vấn
đề dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin từ lòng yêu nước
và hoài bão giải phóng dân tộc của mình đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin
Trang 29con đường giải phóng dân tộc Khi tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
dân tộc có thể thấy nổi lên một số nội dung sau: Vấn đề dân tộc chỉ có thể được giải quyết triệt để bằng con đường cách mạng vô sản: Nội dung này đặt trong
hoàn cảnh của một nước thuộc địa nửa phong kiến Sau khi bắt gặp Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa và từ người yêu nước trở thành người cộng sản trong những năm hai mươi của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã rút ra kết
luận: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả
hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản”(2) Khi
đề cập đến vấn đề dân tộc và cách mạng vô sản thì đồng thời Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp; khẳng định con đường đi đến thực hiện quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam trong việc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa; khẳng định tương lai của các dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc tình hình phát triển không đồng đều giữa dân tộc đa số và thiểu số, giữa miền xuôi và miền núi Người chỉ rõ, sau khi giải phóng đất nước, chính quyền của nhân dân phải có trách nhiệm chăm lo đời sống của đồng bào các dân tộc, từng bước phát triển kinh tế - xã hội, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, các dân tộc…
Từ khi ra đời đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc
có vị trí chiến lược của cách mạng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Trong từng giai đoạn cách mạng, vấn
đề dân tộc được nhận thức và giải quyết theo các quan điểm cụ thể, phù hợp với
tình hình thực tiễn đặt ra Từ Đại hội Đảng lần thứ I đến Đại hội Đảng lần thứ lần thứ XI của Đảng, vấn đề dân tộc luôn được xác định như sau:
Một, các vấn đề thuộc về bản chất, nội hàm của các yếu tố cấu thành dân tộc, cấu thành vấn đề dân tộc như: sự hình thành dân tộc trên thế giới và trong nước; các khối cộng đồng người; dân tộc và chủng tộc; yếu tố lịch sử, kinh tế, văn hoá, tâm lý, tập quán, địa vực cư trú…;
Hai là , vấn đề dân tộc được hiểu là vấn đề nổi lên cần được giải quyết của các dân tộc trong thời đại tư bản và đế quốc chủ nghĩa với các vấn đề liên quan: sự giải phóng các dân tộc khỏi sự thống trị của ngoại xâm, quyền tự quyết của các dân tộc, sự đoàn kết giữa các dân tộc, sự bình đẳng giữa các dân tộc, vấn đề lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, quan điểm của giai cấp cầm quyền về vấn đề dân tộc, chính sách đối với các dân tộc…
Trang 30
Ba là, vấn đề thuộc về cộng đồng tộc người (Ethnic) và cộng đồng quốc gia (Nation) khi đặt nó trong sự đối sánh với vấn đề giai cấp, vấn đề tôn giáo, vấn đề quan hệ phát triển gắn với lợi ích kinh tế, chủ quyền, văn hóa…trong thời đại ngày nay (3)
- Chính sách dân tộc
Chính sách dân tộc là loại chính sách đối với lĩnh vực, đối tượng đặc thù
của giai cấp cầm quyền trong điều kiện của các quốc gia đa dân tộc Chính sách dân tộc từ trước đến nay có một số ý kiến đề cập đến trên tinh thần và nguyên
lý chung của khái niệm chính sách được áp dụng đối với một đối tượng cụ thể
Có ý kiến cho rằng, theo nghĩa chung nhất: “Chính sách dân tộc là tập hợp những quan điểm, đường lối, chính sách và những giải pháp thực hiện của nhà nước, tác động trực tiếp đến các dân tộc và mối quan hệ dân tộc đang tồn tại”
Chính sách dân tộc được đề cập đến trên hai phương diện: quốc gia (theo định nghĩa trên) và quốc tế Trên bình diện quốc tế, Chính sách dân tộc thể hiện qua quan điểm, thái độ của nhà nước đối với các dân tộc và quốc gia dân tộc khác trên thế giới
Trên thế giới, đối với các quốc gia đa dân tộc cũng như trong trường hợp
cụ thể ở nước ta, thường gồm có dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Dân tộc đa
số thường có vị trí chủ đạo chi phối tiến trình phát triển của quốc gia nói chung
và tác động quan trọng đến Chính sách dân tộc nói riêng Chính sách dân tộc trong các quốc gia đó có quan hệ nhiều đến mối quan hệ giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với nhau thể hiện cụ thể thông qua các chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa… và được xây dựng trên một quan điểm, nguyên tắc nhất định Ở nước ta các Chính sách dân tộc được xây
dựng trên các nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển Do vậy Chính sách dân tộc còn được hiểu là: “ tổng hợp những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra, tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc Chính sách dân tộc mang bản chất giai cấp của nhà nước trong phạm vi đối nội và đối ngoại.”
Có ý kiến khác cho rằng: “Chính sách dân tộc giải quyết mối quan hệ trong cộng đồng dân cư đa dân tộc của một quốc gia theo quan điểm của giai cấp cầm quyền Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản là một hệ thống các chủ trương, giải pháp, nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn
(3) - Xem thêm Lê Ngọc Thắng: Quan điểm và chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta
về dân tộc, trong Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay (Đậu Tuấn Nam
Trang 31hóa, xã hội giữa các dân tộc, trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu số
có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc và bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc, giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích giữa các dân tộc trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn Việt Nam
Một số công trình khác khi đề cập đến chính sách dân tộc, các tác giả không đưa ra khái niệm cụ thể chính sách dân tộc là gì mà chỉ tập trung đề cập đến các đặc điểm của các dân tộc ở Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta như là các điều kiện tất yếu mà chính sách dân tộc cần quan tâm giải quyết; hoặc trình bày một số nội dung để người đọc hiểu thực chất của Chính sách dân tộc là giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc…
Từ những phân tích trên đây có thể nhận thấy: Chính sách dân tộc là sách lược và kế hoạch cụ thể của Đảng và Nhà nước ta về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… tác động đến các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc, tương ứng với từng giai đoạn cách mạng dựa trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam phát triển, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
Chính sách dân tộc phản ánh bản chất của giai cấp cầm quyền và có tính lịch sử: Chính sách dân tộc trong chế độ tư bản lấy lợi ích của số ít người giàu
có trong xã hội làm mục tiêu, đó là việc khai thác tài nguyên và sức lao động của các quốc gia, dân tộc chậm phát triển về làm giàu cho chính quốc cũng như chính sách phân biệt đối xử với các dân tộc chậm phát triển trong chính các nước đó Chính sách dân tộc của Nhà nước do giai cấp vô sản cầm quyền khác
về bản chất so với giai cấp tư sản Nhà nước của giai cấp vô sản đứng về phía lợi ích của đại đa số quần chúng nhân dân lao động, của cộng đồng các tộc người trong một quốc gia Chính sách dân tộc của giai cấp vô sản do vậy không nhằm bóc lột, khai thác các tộc người mà tạo điều kiện để các tộc người cùng phát triển, lợi ích của các tộc người cũng là lợi ích của quốc gia và ngược lại
Chính sách dân tộc là chính sách có nội dung sâu sắc và toàn diện: Nếu
chính sách kinh tế - xã hội cụ thể chỉ tác động và điều chỉnh đến một bộ phận,
lĩnh vực hay một mặt nào đó của đời sống con người thì chính sách dân tộc liên quan đến tất cả mọi tầng lớp, giai cấp, mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội
của một hoặc nhiều tộc người trong một quốc gia Bản chất và nội dung của
Trang 32tộc nên nội dung của chính sách dân tộc thường mang tính tổng hợp, toàn diện
Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở một tộc người cụ thể thì không thể triển khai như một số vùng phát triển khác, là chỉ có giải pháp về kinh tế , mà còn phải có các giải pháp đồng bộ khác thì mới đạt hiệu quả Chính sách dân tộc không chỉ biểu hiện sự quan tâm một mặt nào đó mà còn là biểu hiện sự quan tâm toàn diện đến các dân tộc thiểu số về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, môi trường…
Chính sách dân tộc là chính sách đa ngành: Tính đa ngành của chính
sách dân tộc thể hiện ở loại hình chính sách, ở việc thực hiện chính sách liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều cơ quan trong xã hội trong thể chế bộ máy nhà nước, trong hệ thống chính trị Các ngành các cấp đều phải tham gia thực hiện chính sách dân tộc, quán triệt nội dung chính sách dân tộc trong hoạt động của mình Mặt khác khi xây dựng chính sách dân tộc phải bao hàm trong
đó các nội dung chính sách ngành, lĩnh vực cụ thể
Chính sách dân tộc có quan hệ với chính sách tôn giáo: Vấn đề dân tộc
và tôn giáo là hai vấn đề có tính độc lập tương đối trong đời sống của các tộc người, quốc gia song lại có mối quan hệ mật thiết với nhau trong đời sống tâm linh của con người và cộng đồng Tuỳ điều kiện và tình hình cụ thể của mỗi
quốc gia hay tộc người mà vấn đề tôn giáo hay dân tộc nổi lên ở những mức độ khác nhau, khiến giai cấp cầm quyền phải quan tâm xử lý cụ thể mang tính sách lược hay trong một chiến lược lâu dài, Khi hoạch định chính sách dân tộc không thể không chú trọng đến yếu tố tôn giáo trong đời sống của các tộc người, nhất là những tộc người theo những tôn giáo lớn Giải quyết chính sách dân tộc là giải quyết các vấn đề của các tộc người trong đó có vấn đề tôn giáo Chính sách tôn giáo trong phạm vi quốc gia hay đối với các tộc người có thể xem như chính sách “chuyên đề” về đời sống tâm linh của các dân tộc… Mặt khác, khi hoạch định chính sách tôn giáo không thể không căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, văn hoá,… của các tộc người
Chính sách dân tộc có quan hệ với chính sách giai cấp: Khi xã hội có
giai cấp, mỗi thành viên của của một dân tộc đồng thời là thành viên của một giai cấp nhất định Trong mỗi dân tộc, tuỳ theo sự phát triển mà hình thành nên những thành phần giai cấp và tầng lớp khác nhau Trong quá trình vận động của các hiện tượng xã hội và của mỗi thành viên thì thành phần giai cấp của họ
có thể thay đổi nhưng thành phần dân tộc không thay đổi… Giai cấp nào cầm quyền thì giai cấp đó nắm tư liệu sản xuất chủ yếu và chi phối sự vận hành của
xã hội trên nhiều bình diện trong đó có vấn đề dân tộc Chính sách dân tộc do
Trang 33vậy phụ thuộc vào quan điểm, lợi ích của giai cấp cầm quyền… Ngược lại, việc giải quyết vấn đề dân tộc cũng tác động đến việc thực hiện chính sách giai cấp
Chính sách dân tộc trên đây một lần nữa cho thấy là một loại chính sách đặc thù trong mọi giai đoạn cách mạng; quan hệ mật thiết, chi phối và có tác động quan trọng đến toàn bộ tiến trình phát triển của quốc gia
Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc, ban hành ngày 14 tháng 01 năm 2011 vừa qua đã giành Chương II đề cập đến
“Chính sách dân tộc” Có thể thấy lần đầu tiên, Chính phủ có định hướng cụ thể
về các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói chung trong đó có định hướng cho liên quan đến các đối tượng chính sách đặc thù 13 nhóm chính sách dân tộc được nêu trong Nghị định trên là định hướng thuận lợi cho công tác dân tộc giai đoạn sắp tới ở nước ta:
- Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực
- Chính sách đầu tư phát triển bền vững
- Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo
- Chính sách cán bộ người dân tộc thiểu số
- Chính sách đối với người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số
- Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa
- Chính sách phát triển thể dục thể thao vùng dân tộc thiểu số
- Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số
- Chính sách y tế, dân số
- Chính sách thông tin - truyền thông
- Chính sách phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý
- Chính sách bảo vệ môi trường sinh thái
- Chính sách quốc phòng, an ninh
Mười ba nhóm chính sách nêu trong Nghị định trên đây là những vấn đề gắn với nhu cầu thực trạng, tình hình thực tiễn của đồng bào các dân tộc trong xu thế phát triển của đất nước giai đoạn 2011-2015 và đến 2020 Tuy nhiên, đối với từng vấn đề chính sách trên đây trong quá trình xây dựng còn liên quan đến đến các nhóm đối tượng cụ thể ở các khu vực, vùng miền, tộc người Dưới góc độ công tác
dân tộc, Nghị định trên của Chính phủ là một dấu mốc cần thiết, tạo điều kiện và tiền đề cho công tác dân tộc nói chung và chính sách dân tộc nói riêng
Trang 34- Địa bàn đặc biệt khó khăn
Thuật ngữ “Khu vực khó khăn” được đề cập đến trong chính sách dân tộc
lần đầu trong Thông tư số 41.UB-TT của ủy ban Dân tộc và miền núi (1996) trong việc phân định 3 khu vực (khu vực I: khu vực bước đầu phát triển; khu vực II: khu vực tạm ổn định; khu vực III: khu vực khó khăn) Việc phân định các khu vực trên dựa theo 5 tiêu chí của trình độ phát triển: (1) Điều kiện tự nhiên, địa bàn cư trú; (2) Cơ sở hạ tầng; (3) Các yếu tố xã hội; (4) Điều kiện sản xuất; (5) Về đời sống
Ngoài ra thuật ngữ “vùng khó khăn” cũng được nêu ra để phân biệt với
vùng “miền núi” và “vùng cao” trong Nghị quyết số 22/NQ-TW (1989) và
Quyết định số 72/HĐBT (1990) Trong các văn bản quan trọng trên “vùng khó khăn” được quan niệm là địa bàn dân cư của dân tộc thiểu số, trình độ phát triển kinh tế - xã hội vào loại thấp nhất; đời sống có nhiều khó khăn (phân loại theo tiêu chí thu nhập và cơ sở hạ tầng kỹ thuật)
Những năm 90 của thế kỷ XX, trong việc thực hiện chính sách dân tộc xuất
hiện thuật ngữ mới liên quan đến địa bàn trên, đó là “xã đặc biệt khó khăn miền núi
và vùng sâu, vùng xa” (1998) theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ
Thuật ngữ “dân tộc đặc biệt khó khăn” (1998) lần đầu tiên được đề cập trong
một dự án được phê chuẩn bởi Quyết định số 133/1998/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về sau thuật ngữ này được nhắc lại và bổ sung thêm hai chữ “thiểu số”
(dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn) trong một số văn bản và chính sách cụ thể liên
quan đến nhóm đối tượng này
Thuật ngữ “hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo” (2004) được đề cập trong
chính sách dân tộc lần đầu theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo Quyết định trên, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn là
“hộ dân tộc thiểu số tại chỗ, định cư thường trú tại địa phương; là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn
về nhà ở, nước sinh hoạt”
Trong thực tế, để chính sách dân tộc ngày càng đi vào cuộc sống và có hiệu
quả thì vấn đề “đánh giá chính sách dân tộc” là vấn đề quan trọng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hiện nay ở nước ta Tuy nhiên, “đánh giá chính sách dân tộc” còn ít người bàn đến ở cả phạm vi khái niệm, nội dung và phương pháp thực hiện
Cho đến nay chính sách dân tộc đã được ban hành không ít, đã đạt được những thành tựu nhất định song cũng còn nhiều hạn chế Nhưng hiện nay chưa có công trình của các viện khoa học, của các cơ quan hoạch định chính sách, quản lý nhà
Trang 35nước về công tác dân tộc đề cập đến việc đánh giá chính sách dân tộc một cách toàn diện
Nhìn chung các thuật ngữ liên quan đến các đối tượng chính sách dân tộc trong thời gian qua là thể hiện sự tiếp cận, thay đổi nhất định trong tư duy về chính sách dân tộc của Nhà nước ta Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, tổng kết và đánh giá chính sách, phát hiện vấn đề ở tầm quốc gia còn chưa được quan tâm, thực hiện đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao và to lớn hiện nay của đồng bào các dân tộc nhất là ở địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa trong cả nước
- Các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn:
Đó là các dân tộc thiểu số sinh sống thuộc khu vực 3 được phân loại theo Thông tư số 41/UB-TT của Ủy ban Dân tộc và Miền núi (1996) ở các xã, thôn bản có điều kiện tự nhiên, điều kiện cư trú, cơ sở hạ tầng, các điều kiện xã hội, điều kiện sản xuất và đời sống có khó khăn nhất so với các khu vực còn lại
ở các địa phương (huyện, tỉnh) thuộc khu vực chủ yếu ở các tỉnh vùng miền núi, trung du, biên giới, vùng dân tộc, vùng còn được gọi là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; là các dân tộc thiểu số ở địa bàn dân cứ có trình độ phát triển kinh tế - xã hội vào loại thấp nhất; đời sống có nhiều khó khăn (phân loại theo tiêu chí thu nhập và cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn là những dân tộc sinh sống cụ thể rất đa dạng ở các địa phương không nhất thiết là dân tộc nào Các dân tộc đó là những cộng đồng cụ thể sinh sống tương ứng với những địa danh (thôn, bản, phum sóc, palay, vil, bon, buôn, làng…ở các xã thuộc các tỉnh, huyện) được nhà nước công nhận là khu vực 3
và khu vực đặc biệt khó khăn Trong danh mục 53 dân tộc thiểu số (trừ người Hoa), “dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” có thể rơi vào bất kỳ dân tộc nào thuộc địa bàn theo tiêu chí khó khăn đã quy định
Đấy là những vấn đề và khái niệm cơ bản mà chúng ta có thể tham khảo trên phương diện lý luận để nâng cao tầm nhận thức về dân tộc trong công tác dân tộc và hoạch định chính sách dân tộc
1.1.3 Lý thuyết phát triển về kinh tế - xã hội, phát triển bền vững, phát triển vùng trong quan hệ với phát triển địa bàn đặc biệt khó khăn
Trong sự phát triển của xã hội hiện đại, mỗi quốc gia nói riêng cũng như toàn cầu nói chung đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề cần giải quyết trong
Trang 36chuỗi những quan hệ khăng khít Đó là giữa kinh tế với chính trị, ngoại giao, kinh tế với xã hội, kinh tế - xã hội với môi trường,… “Phát triển bền vững” ra đời đem đến cách tiếp cận đa chiều về vấn đề phát triển và được xem như một
lý thuyết phát triển mới của nhân loại Lý thuyết này đã giúp cho việc định hướng chính sách chung toàn cầu và chính sách riêng của nhiều quốc gia, vùng hay từng lĩnh vực trong vấn đề phát triển Nó đã tạo ra những thay đổi quan niệm về giá trị và định ra thước đo giá trị mới, đánh dấu sự tiến bộ trong phát triển của thế giới
Theo từng vấn đề, lĩnh vực mà người ta có những lý giải về nội hàm phát triển bền vững khác nhau Định nghĩa mà ta thường gặp được Ủy ban Môi trường
và phát triển của Liên hiệp Quốc đưa ra vào năm 1987, Phát triển bền vững là “Sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” Có thể hiểu: Phát triển bền
vững là sự phát triển hài hoà giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa thiên nhiên và con người, giữa tự nhiên và nhân tạo, giữa hiện tại và tương lai Nói khác đi “Phát triển bền vững” phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được gìn giữ, bảo vệ
Đối với từng quốc gia, khu vực, vùng, theo từng điều kiện, hoàn cảnh khác nhau để xác định các nội dung cho phát triển bền vững phù hợp nhưng luôn được xem xét ở 3 thành tố: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo
vệ môi trường Ba thành tố này luôn quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và là
hệ quả của nhau
- Khía cạnh kinh tế, phát triển bền vững là việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên của cả cộng đồng, xã hội thông qua các giải pháp quản lý, khoa học, công nghệ Thực hiện bình đẳng về cơ hội tiếp cận và quyền
sử dụng tài nguyên; giải quyết hài hòa các nhóm lợi ích nhằm ngày càng đáp ứng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
- Khía cạnh về xã hội, sự phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người đó là quyền được học tập và phát triển, các quyền cơ bản
về chỗ ở, cư trú và đảm bảo các điều kiện sống Sự phát triển đó phải bảo đảm tạo dựng nền tảng ổn định chính trị của quốc gia, thiết lập dân chủ, công bằng cho xã hội, đem lại những giá trị tiến bộ xã hội về mọi mặt
- Khía cạnh môi trường, phát triển bền vững đòi hỏi phải tạo nên được được sự cân bằng hợp lý giữa việc khai thác tài nguyên phục vụ phát triển kinh
tế, phục vụ lợi ích con nguời với môi trường tự nhiên, bảo đảm sự duy trì và ổn định của môi trường tự nhiên, các hệ sinh thái
Trang 37Vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt khó khăn ở nước ta (khu vực III ) hiện có 1.862 xã và 12.994 thôn, bản (chiếm 19,2% số xã và 16% số thôn, bản vùng nông thôn cả nước Đây là vùng có diện tích tự nhiên rộng lớn, chủ yếu là đồi núi và cao nguyên, có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vùng kinh
tế tiềm năng với những lợi thế so sánh trong phát triển, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Đồng thời đây cũng là vùng biên giới, vùng đầu nguồn xung yếu gắn với lợi ích và an ninh quốc gia, là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển chung của quốc gia cả về khía cạnh kinh tế, chính trị, môi trường và an ninh quốc phòng
Những năm gần đây, nhờ có chính sách đầu tư của Nhà nước, khu vực này đã có bước phát triển đáng kể trên nhiều mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, làm thay đổi diện mạo ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, đời sống người dân đã từng bước được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, với những đặc điểm vốn có của
nó về điều kiện tự nhiên, môi trường và xã hội, nơi đây vẫn đang phải đương đầu với nhiều khó khăn, trở ngại thách thức trong vấn đề phát triển
Địa hình khu vực này phần lớn là núi cao, độ dốc lớn, địa hình chia cắt mạnh Là nơi lưu giữ chủ yếu thảm thực vật rừng, nguồn sinh thủy cho các con sông lớn Thuộc tính điều kiện tự nhiên là tính mỏng manh dễ bị tổn thương của các hệ sinh thái, chủ yếu là do vị trí trên cao Không giống như môi trường vùng đất thấp, bằng phẳng, các hệ sinh thái miền núi đặc biệt kém khả năng tự hồi phục mỗi khi bị đảo lộn Lượng mưa lớn và tập trung trên 80% vào một số tháng trong năm dễ dẫn đến quá trình rửa trôi và xói mòn đất mạnh kéo theo tình trạng lũ lụt, lở đất
Những biến đổi môi trường sống ở khu vực các cộng đồng dân cư dân tộc thiểu số diễn ra mạnh mẽ Việc mất diện tích rừng giảm độ che phủ và chất lượng rừng; suy giảm đa dạng sinh học và các nguồn lợi từ rừng Do nhu cầu cuộc sống, người dân đã buộc phải khai thác tài nguyên một cách không khoa học, không theo quy hoạch, gây ra sự cạn kiệt nhanh chóng tài nguyên, nhất là rừng và tài nguyên rừng, làm đất bị xói mòn, gây ô nhiễm và suy thoái môi trường, làm cho năng suất cây trồng và vật nuôi giảm, các điều kiện vệ sinh môi trường xấu đi Điều này lại trở lại làm cho cuộc sống của con người càng nghèo đói hơn và cũng vì thế mà khó có điều kiện để nâng cao kinh tế, xã hội, văn hoá và cải thiện môi trường
Nội dung phát triển bền vững đối với sự phát triển và đời sống vùng
đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn cần được nhìn nhận, xem xét đầy đủ ở tất
cả các khía cạnh và giải quyết thỏa đáng, hướng tới mục tiêu chung Bao gồm :
Trang 38- Sự tăng trưởng về triển kinh tế trên địa bàn đặt ra các vấn đề giải quyết
cơ bản tình trạng lạc hậu, chậm phát triển của khu vực thông qua xây dựng, cải thiện điều kiện sở hạ tầng, dịch vụ; tạo việc làm, phát triển sản xuất tăng thu nhập Bảo đảm những điều kiện sống cơ bản về lương thực, nhà ở, nước sinh hoạt, học hành và chăm sóc sức khỏe; ổn định, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào Giảm tỷ lệ đói nghèo, hạn chế phân tầng xã hội, bất bình đẳng trong phát triển, rút ngắn khoảng cách chênh lệch phát triển với khu vực đồng bằng và đô thị Trong đó, nhấn mạnh quyền tiếp cận và tham gia của cộng đồng trong việc quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên của mình
- Vấn đề công bằng xã hội trên địa bàn tập trung vào mục tiêu phát triển con người, trau dồi những kiến thức, kỹ năng, thay đổi tập tục và thói quen cá nhân, nâng cao khả năng thích ứng của người dân trước những tác động mới xuất phát từ yêu cầu của phát triển Xây dựng xã hội cộng đồng ổn định, thống nhất về tâm lý xã hội, dân chủ, phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển Bảo tồn và phát huy được những giá trị văn hóa truyền thống
và tiếp thu có chọn lọc các yếu tố văn hóa bên ngoài, văn hóa hiện đại, phổ biến, ngăn chặn được các tư tưởng ngoại lai, phản động Bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên cơ sở xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, đoàn kết các dân tộc và thực hiện thành công công cuộc phát triển kinh tế, xã hội
- Vấn đề bảo vệ môi trường, sinh thái địa bàn đặc biệt khó khăn thông qua các biện pháp khai thác, bảo vệ, duy trì tài nguyên rừng, nước, đất, đa dạng sinh học v.v không chỉ cho các cộng đồng sở tại mà trên cả tổng thể khu vực, quốc gia Bên cạnh đó là khả năng giải quyết và thích ứng của chính phủ và cộng đồng xã hội trước sự ấm lên của trái đất, sự biến đổi khí hậu toàn cầu
Các thành tố trên luôn có quan hệ mật thiết với nhau, là hệ quả, là tiền đề của nhau, tương tác trong quá trình phát triển
1.1.4 Vai trò của chính sách đối với dân tộc thiểu số thuộc địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Chính sách đối với các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước đối với vùng dân tộc Các chính sách dân tộc có vai trò hết sức to lớn trong việc phát triển vùng dân tộc và được thể hiện ở những nội dung sau:
- Vai trò định hướng: Chính sách dân tộc góp phần định hướng hành vi của
các chủ thể kinh tế - xã hội để cùng hướng tới mục tiêu vạch sẵn Chính sách dân
Trang 39tộc định hướng việc phân bổ, huy động và sử dụng các nguồn lực nhằm giải quyết các vấn đề đặc thù của vùng dân tộc một cách kịp thời và hiệu quả
- Vai trò điều tiết: Chính sách dân tộc được Nhà nước ban hành để giải
quyết những vấn đề bức xúc phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội tại vùng dân tộc, điều tiết những mất cân đối, những hành vi không phù hợp nhằm tạo ra hành lang hợp lý, tạo điều kiện phát triển vùng dân tộc
- Vai trò tạo tiền đề cho sự phát triển: Chính sách dân tộc cũng mang
một chức năng giống như tất cả các chính sách kinh tế - xã hội khác của Nhà nước đó là xây dựng và nâng cấp các yếu tố quyết định sự phát triển như: giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, hệ thống thông tin,…
- Chức năng khuyến khích sự phát triển: Chính sách dân tộc đóng vai trò
khuyến khích, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội tại vùng dân tộc Mỗi chính sách khi hướng vào việc giải quyết một vấn đề bức xúc đã làm cho sự vật phát triển thêm một bước Đồng thời khi giải quyết một vấn đề thì chính sách đó lại tác động lên vấn đề khác, làm nảy sinh những nhu cầu phát triển mới
Từ những phân tích trên cho thấy việc xây dựng và thực hiện các chính sách dân tộc ở nước ta là rất cần thiết và có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước
Đặc điểm dân số: Theo số liệu điều tra năm 2009, các dân tộc thiểu số ở
nước ta hiện nay có hơn 12 triệu người (chiếm 18,9% dân số cả nước) Số dân của các dân tộc không đồng đều: 5 dân tộc mỗi dân tộc trên 1 triệu người gồm: Tày, Thái, Khmer, Mường, Hmông; 3 dân tộc có số dân từ 75 vạn đến gần 1 triệu như người Hoa, Nùng, Dao; 14 dân tộc thuộc loại có từ 10 vạn đến gần 97 vạn người ;
18 dân tộc thuộc loại có số dân từ 10.000 đến hơn 85.000 người; 5 dân tộc thuộc loại có từ 376 đến 709 người: Ơ Đu, Rơ Măm, Brâu, Pu Péo, Si La
Đặc điểm địa bàn cư trú: Các dân tộc nước ta cư trú phân tán và xen kẽ lẫn
nhau không hình thành những vùng lãnh thổ riêng biệt cho từng dân tộc, nhưng nhìn chung các dân tộc thiểu số thường cư trú chủ yếu ở miền núi, biên giới, nơi
Trang 40có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng Hiện nay, có những tỉnh miền núi, các dân tộc thiểu số vẫn chiếm số đông trong tỉnh như: Hà Giang, Cao Bằng (trên 90%) hoặc Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu (trên 70%) Tuy nhiên cũng có những tỉnh miền núi tỷ lệ đồng bào các dân tộc thiểu số so với dân cư trong tỉnh không cao như Kon Tum, Gia Lai (trên 50%), thậm chí thấp hơn nữa như Đắc Lắc (28,6%) Đặc điểm hoàn cảnh địa lý và địa bàn cư trú có ảnh hưởng rất lớn đến đặc điểm kinh tế của các dân tộc, Dù tỷ lệ đồng bào thiểu số so với dân trong tỉnh có giảm đi ở một số nơi nhưng vị trí của vấn đề dân tộc trong sự nghiệp cách mạnh vẫn còn nguyên vẹn
Đặc điểm điều kiện tự nhiên, môi trường vùng dân tộc thiểu số: Vùng dân
tộc thiểu số sinh sống có tiềm năng lớn về đất đai, rừng (khoảng 20 triệu ha đất, trong đó có gần 19 triệu ha rừng và đất rừng), tài nguyên khoáng sản, nguồn thủy sản, có điều kiện để phát triển nền kinh tế bền vững theo cơ cấu nông nghiệp kết hợp lâm nghiệp và công nghệ Tuy nhiên ở mỗi vùng, điều kiện tự nhiên có những đặc điểm khác nhau, thường ở các vùng rẻo cao điều kiện tự nhiên và môi trường không thuận lợi cho phát triển sản xuất, bên cạnh đó là việc khai thác các tài nguyên theo phương thức truyền thống và không bền vững đã làm cho môi trường
tự nhiên ở các vùng niềm núi ngày càng khó khăn hơn
Đặc điểm kinh tế - xã hội: Kinh tế truyền thống của các tộc người thiểu
số nước ta có các loại hình chủ yếu sau đây:
- Kinh tế nông nghiệp bao gồm: lúa nước, lúa cạn, hoa mầu, chăn nuôi và lâm nghiệp của các tộc người sinh sống vùng thung lũng, vùng chân núi và vùng ven sông Dân cư sinh sống ở cao nguyên, trung du và rẻo cao có tập quán canh tác trên nương rẫy Một số tộc người thiểu số ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn tập quán canh tác giản đơn như hái lượm Việc chăn nuôi, phát triển lâm nghiệp và nghề thủ công truyền thống nhưng chưa trở thành 1 ngành chính và còn mang dấu
ấn của nền kinh tế tự cung tự cấp Mức độ phát triển và biểu hiện cụ thể ở từng hệ ngôn ngữ, nhóm ngôn ngữ và từng tộc người cụ thể rất khác nhau
- Kinh tế hàng hóa: người Hoa ở thành phố và nông thôn, kinh tế hàng hóa được quan tâm đầu tư và phát triển so với nhiều dân tộc khác, ở thành phố tập trung kinh doanh các mặt hàng lương thực thực phẩm, nhà hàng dịch vụ ăn uống, thuốc bắc ; Ở nông thôn, họ vừa sản xuất nông nghiệp vừa hoạt động thương mại, dịch vụ vừa hoạt động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Nhóm cư dân sống bằng nông nghiệp lúa nước là nhóm có số dân đông, điều kiện trồng trọt thuận lợi cho năng suất cao, chủ yếu là các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, Việt - Mường, Chăm, Khmer ; Nhóm cư dân sống