1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum

110 978 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát khả năng chịu ngập, sinh trưởng, năng suất và giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Tác giả Đỗ Thị Thúy Diễm
Trường học Trường Đại Học An Giang
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

báo cáo về khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG TRUNG TÂM NC & PTNT

KHẢO SÁT KHẢ NĂNG CHỊU NGẬP, SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA

CỎ Paspalum atratum

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

ĐỖ THỊ THÚY DIỄM

An Giang, 07/2008

Trang 2

TÓM LƯỢC

Cây cỏ Paspalum atratum được trồng phổ biến ở những vùng đất cao làm thức ăn gia

súc vì nó có giá trị dinh dưỡng và năng suất cao Tỉnh An Giang bị ngập nước vào mùa

lũ nên thiếu cỏ cho gia súc Nhưng hiện nay chưa nghiên cứu nào đánh giá khả năng chịu ngập của loài cỏ này tại đồng bằng sông Cửu Long Theo kết quả nghiên cứu trong chậu cho thấy cây bị chết 10 ngày sau khi ngập ở độ sâu từ 40-60 cm Cây chỉ có khả năng chịu đựng được ở độ sâu ngập 20 cm Ở độ sâu ngập này vào thời điểm ngập 30 ngày sau khi trồng thì chiều cao cây, số chồi, số lá không bị giảm so với đối chứng Ngược lại, chỉ số SPAD và hàm lượng oxy hòa tan trong chậu bị giảm dẫn đến năng suất chất xanh và chất khô cũng bị giảm một cách có ý nghĩa thống kê Cây phản ứng lại với điều kiện ngập bằng cách hình thành nhiều rễ khí sinh Các thông số về chất lượng

cỏ như vật chất khô, protein thô, xơ acid, tỷ lệ tiêu hóa in vitro thì không có sự khác

biệt, ngoại trừ xơ thô và xơ trung tính

Khi cây cỏ này được trồng ở chân ruộng ngập nước xấp xỉ 20 cm với 4 khoảng cách trồng khác nhau (20 x 50 cm; 30 x 50 cm; 40 x 50 cm and 50 x 50 cm) cho thấy khoảng cách càng gần thì năng suất chất xanh, năng suất chất khô càng tăng Tuy nhiên khoảng cách trồng không ảnh hưởng đến các thông số về chất lượng cỏ (vật chất khô, protein thô, xơ thô) trong suốt hai vụ (1 vụ đầu và 1 vụ tái sinh)

Trang 3

1.1 Nguồn gốc và đặc điểm sinh học của cỏ Paspalum atratum 2

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thức

1.5 Một số quá trình xảy ra trong đất ngập nước 4

1.6 Các quá trình biến đổi của cây khi bị ngập nước 5

1.7 Một số cơ chế thích nghi của cây trồng trong điều kiện ngập nước

6

1.7.2 Hình thành bộ rễ mới ngay phần thân bị ngập của cây (rễ

Trang 4

1.7.3 Sự đóng mở khẩu 7

2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của độ sâu ngập và thời điểm ngập

đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cỏ Paspalum atratum

trồng trong chậu

7

2.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát khả năng sinh trưởng, năng suất và

giá trị dinh dưỡng của Paspalum atratum trong điều kiện ngập ngoài

I Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của độ sâu ngập và thời điểm ngập

đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cỏ Paspalum

2 Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến đặc

3 Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến năng

II Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến sinh

trưởng, năng suất và giá trị dinh dưỡng của Paspalum atratum

trong điều kiện ngập ngoài đồng ruộng 25

1 Ảnh hưởng của 4 khoảng cách trồng đến chỉ tiêu nông học của cỏ

2 Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến năng

suất của cỏ Paspalum atratum trong điều kiện ngập ngoài đồng 30

3 Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến phẩm

chất của cỏ Paspalum atratum trong điều kiện ngập ngoài đồng 32

Trang 5

DANH SÁCH HÌNH

1 Cỏ Paspalum atratum trong trong điều kiện đất cát 2

4 Ảnh hưởng của độ sâu ngập lên sự phát triển chồi cỏ Paspalum

atratum khi trồng trong chậu

15

7 Rễ cỏ Paspalum atratum bị thối đen khi ngập sâu 40 cm và 60 cm 17

8 Sự hình thành rễ khí sinh ở cỏ Paspalum atratum trong điều kiện

10 Cấu trúc bên trong của rễ cỏ Paspalum atratum trong điều kiện ngập

nước và không ngập nước

23

11 Khả năng phóng thích oxy của rễ Paspalum atratum ở rễ không ngập

nước (A); ngập nước (B) khi trồng trong chậu

23

12 Rễ già của cỏ Paspalum atratum không ngập nước (A) và ngập nước

(B)

29

13 Khả năng phóng thích oxy của rễ không ngập (A) và ngập nước (B)

rễ có màu xanh (mũi tên) chứng tỏ rễ có tiết oxy

30

Trang 6

3 Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến sự phát triển chiều cao (cm) cỏ Paspalum atratum 19

4 Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến chỉ số SPAD

5 Ảnh hưởng của thời gian ngập nước ở độ sâu 20 cm đến hàm lượng oxy hòa tan (mg/lít)

206

Ảnh hưởng cuả độ sâu ngập 20 cm và thời điểm ngập nước đến năng suất

chất xanh (NSCX) và năng suất chất khô (NSCK) của cỏ Paspalum

7 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến số chồi/bụi của cỏ Paspalum atratum trong suốt 2 vụ 25

8 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến chiều cao của cỏ Paspalum atratum trong suốt 2 vụ 26

9 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến chỉ số SPAD của cỏ Paspalum atratum trong suốt 2 vụ 27

11 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến hàm lượng oxy hòa tan trong suốt 2 vụ 27

Trang 7

CHỮ VIẾT TẮT

NSKT: ngày sau khi trồng

NSKN: ngày sau khi ngập

DO: hàm lượng oxy hòa tan

NSCX: năng suất chất xanh

NSCK: năng suất chất khô

NSCP: năng suất protein thô

VCK: Vật chất khô

CP: Crude Protein (protein thô)

CF: Crude Fiber (xơ thô)

NDF: Neuter Detergent Fiber (xơ trung tính)

ADF: Acid Detergent Fiber (xơ acid)

SPAD: Chỉ số diệp lục tố

DM: Dry matter (Vật chất khô)

Trang 8

KHẢO SÁT KHẢ NĂNG CHỊU NGẬP, SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT

VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CỎ Paspalum atratum

Ths Đỗ Thị Thúy Diễm

TÓM TẮT

Theo kết quả nghiên cứu trong chậu cho thấy cây bị chết 10 ngày sau khi ngập ở độ sâu từ 40-60 cm Cây chỉ có khả năng chịu đựng được ở độ sâu ngập 20 cm Ở độ sâu ngập này năng suất chất xanh và chất khô giảm theo thời gian ngập Các thông số về chất lượng cỏ như vật chất khô, protein thô, xơ acid, tỷ lệ tiêu hóa in vitro thì không có sự khác biệt, ngoại trừ xơ thô và xơ trung tính Khi cây cỏ này được trồng ở chân ruộng ngập nước xấp xỉ 20 cm với 4 khoảng cách trồng khác nhau (20 x 50 cm; 30 x 50 cm; 40 x 50 cm and 50 x 50 cm) cho thấy khoảng cách càng gần thì năng suất chất xanh, năng suất chất khô càng tăng Tuy nhiên khoảng cách trồng không ảnh hưởng đến các thông số về chất lượng cỏ (vật chất khô, protein thô, xơ thô) trong suốt hai vụ (1 vụ đầu và vụ tái sinh).

ABSTRACT

Result studing of experiment was carried out in pot showed that the grass was death 10 days after flooded

in depth from 40 to 60 cm They are able to stand with waterlogging 20 cm In depth fresh and dry yield decreased in time of flooding Except crude fibre and neutral detergent fiber, other parameters of quality grass such as dry matter, crude protein, acid detergent fiber and in vitro did not difference among treatments The Paspalum grass was cultivated in wet land with approximate 20 cm in depth Four different plant spacing (20 x

50 cm; 30 x 50 cm; 40 x 50 cm and 50 x 50 cm) were conducted showed that the closest plant spacing had the highest fresh and dry yield However the qualitative parameters of the grass (dry matter, crude protein, acid detergent fiber, crude fiber, neutral detergent fiber and in vitro) were not different significantly during two crops (first crop and 1 ratoons).

Key words: Paspalum atratum

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây cỏ Paspalum atratum được trồng phổ biến ở những

vùng đất cao làm thức ăn gia súc vì nó có giá trị dinh dưỡng

và năng suất cao Tỉnh An Giang trong những năm gần đây

tình hình chăn nuôi gia súc nhai lại phát triển mạnh, tuy

nhiên lại bị ngập nước vào mùa lũ nên nguồn cỏ xanh cho

gia súc thiếu nghiêm trọng Hiện nay chưa nghiên cứu nào

đánh giá khả năng chịu ngập của loài cỏ này tại đồng bằng

sông Cửu Long, vì thế đề tài “Khả sát khả năng chịu ngập,

sinh trưởng, năng suất và giá trị dinh dưỡng của cỏ

Paspalum atratum” được thực hiện.

Hình 1: cỏ Paspalum atratum

2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát khả năng chịu ngập của cỏ Paspalum atratum ở các mức độ ngập và thời điểm ngập khác nhau trong điều kiện nhà lưới trước sau đó sẽ chọn ra mức độ ngập thích hợp cho cỏ Paspalum

atratum trong thí nghiệm ngoài đồng.

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thực hiện theo phương pháp thực nghiệm gồm 2 thí nghiệm:

3.1 Thí nghiệm nhà lưới: khảo sát khả năng chịu ngập của cỏ Paspalum atratum trong điều kiện

ngập nước trong chậu với 3 thời điểm ngập nước (30, 40 và 50 ngày sau khi trồng) và 4 mức độ ngập (0, 20, 40, 60 cm) Các chỉ tiêu theo dõi: chỉ tiêu nông học, sinh lý, năng suất.

3.2 Thí nghiệm ngoài đồng: Khảo sát ảnh hưởng của 4 khoảng cách trồng (20cm x 50cm; 30cm x

50cm; 40cm x 50cm; 50cm x 50cm) đến sinh trưởng, năng suất và giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum

atratum Các chỉ tiêu theo dõi tương tự như thí nghiệm nhà lưới đồng thời phân tích giá trị dinh dưỡng

của cỏ

Trang 9

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Thí nghiệm nhà lưới

Ở thí nghiệm nhà lưới cây chỉ sống được độ sâu ngập 20 cm ở tất cả các nghiệm thức cho đến khi thu hoạch còn ở độ sâu ngập 40 cm và 60 cm cây chỉ sống được 10 ngày sau khi cho ngập Sau đó các chồi sẽ chết dần đến khi thu hoạch

Hình 2: Ảnh hưởng của độ sâu ngập đến sự phát tiển chồi cỏ Paspalum atratum

Chỉ tiêu nông học

Với độ sâu ngập 20 cm cho thấy các chỉ tiêu về số chồi, số lá, chiều cao cây và chỉ số diệp lục tố không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức cho ngập nước so với nghiệm thức đối chứng ở tất cả các thời điểm quan sát (40 NSKT, 50 NSKT, 60 NSKT) Ngoại trừ hàm lượng oxy hòa tan càng giảm ở nghiệm thức có thời gian ngập nước càng lâu Khi đó cây phản ứng lại bằng cách hình thành nhiều rễ khí sinh Đến thời điểm thu hoạch (60 NSKT) các chỉ tiêu nông học trung bình ghi nhận được như sau: Chiều cao (105,25 cm), số chồi (18,5 chồi), số lá (126,5 lá), oxy hòa tan giảm còn (0,32 mg/l), số rễ khí sinh hình thành cao nhất 194 rễ.

 Chỉ tiêu năng suất

Ở độ sâu ngập 20 cm với các thời điểm cho ngập nước khác nhau cho thấy năng suất cỏ

Paspalum atratum càng giảm khi thời gian cho ngập nước càng sớm Số liệu bảng 3 cho thấy nghiệm

thức ngập nước lâu nhất là nghiệm thức cho ngập nước ở thời điểm 30 NSKT khi đó năng suất giảm thấp nhất và cao nhất là nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức cho nhập vào 50 NSKT

Bảng 1: Ảnh hưởng của độ sâu ngập 20 cm và thời điểm cho ngập đến chỉ tiêu năng suất của cỏ

Paspalum atratum

Đối chứng (không ngập nước) 474 a 118,50 a

Trang 10

4.2 Thí nghiệm ngoài đồng: cây phát triển tốt với mực nước được cố định thường xuyên ở độ sâu

là 20 cm qua cả 2 vụ Các kết quả thí nghiệm đạt được như sau:

 Chỉ tiêu nông học

Qua 2 vụ quan sát cho thấy chiều cao cây càng cao ở các nghiệm thức có khoảng cách trồng càng ngắn nhưng sự nảy chồi lại càng ít và hàm lượng oxy hòa tan đo được càng thấp Tuy nhiên dù

bố trí trồng với khoảng cách trồng dày hay thưa thì cũng không ảnh hưởng đến chỉ số diệp lục tố của

cỏ Paspalum atratum Ở thí nghiệm ngoài đồng do hàm lượng oxy hòa tan cao hơn thí nghiệm nhà

lưới nên cây không hình thành rễ khí sinh

 Chỉ tiêu năng suất

Đối với cỏ Paspalum atratum trồng trong điều kiện ngập nước ngoài đồng thì khoảng cách trồng

20 x 50 cm là khoảng cách trồng tỏ ra thích hợp nhất và đều cho năng suất cao nhất sau hai vụ thu hoạch Ước tính mỗi năm thu hoạch 7 vụ, như vậy tổng sản lượng đạt được là 183 tấn/năm Mặc dù

trồng trong điều kiện ngập nước nhưng chúng ta thấy rằng năng suất cỏ Paspalum atratum vẫn cho năng suất tương đương với năng suất cỏ Paspalum atratum trồng trên cạn được chăm sóc tốt như năng

suất chất tươi trong thí nghiệm của Nguyễn Tường Cát (2005), 200 tấn/ha/năm; Nguyễn Thị Mùi và ctv (2005) là 179 tấn/ha và Nguyễn Văn Phú (2006) là 110 tấn/ha/năm Tương tự như vậy đối với năng suất chất khô và năng suất protein thô

Bảng 2: Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến năng suất chất xanh, năng suất chất khô và năng suất

protein thô của cỏ Paspalum atratum

Ghi chú: ns: không có sự khác biệt có ý nghĩa; (*): khác biệt ở mức ý nghĩa 5%

Giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum

Hàm lượng các chất dinh dưỡng thay đổi ở mỗi loại thức ăn, ở mỗi loại cỏ khác nhau và còn tuỳ

thuộc vào mùa vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây cỏ Giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum khi

trồng trong điều kiện ngập nước với 4 khoảng cách trồng khác nhau được trình bày qua bảng 12

Từ kết quả bảng 12 cho thấy giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum phân tích được giữa các

nghiệm thức không có sự khác biệt có ý nghĩa Chứng tỏ trong điều kiện ngập nước ngoài ruộng

Trang 11

khoảng cách trồng không ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của cỏ Tuy nhiên giá trị protein thô phân

tích ở vụ thứ 2 tương đối cao (khoảng 11,3%) và tỷ lệ tiêu hóa in vitro ở cả 2 vụ đều đạt trên 45%

Bảng 3: Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum

TÀI LIỆU THAM KHẢO

AOAC (2001) Official methods of analysis Association of official Analytical chemists, Washington D.C Page 255- 275.

Bùi Thị Dương Khuyều (1999), Bước đầu nghiên cứu cơ chế chịu ngập úng của một số loài cam quýt Luận văn tốt nghiệp Đại học Cần Thơ.

Dương Hoàng Phúc (2004) Khảo sát đặc tính sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ Paspalum atratum và đậu Macroptilium gracile Luận văn tốt nghiệp Đại học Cần Thơ.

Hare, M.D., Saengkham, M., Thummasaeng, K., Wongpichet, K Suriya antratony, W., Booncharen, P and

Phaikawe, C (1999) Ubon Paspalum (Paspalum atratum Swallen), A new grass for waterlogged soils in

Northeast Thailand Faculty of agriculture, Ubon Ratchthani University, Upon Ratchathani 34190 Thailand Division of Animal Nutrition, Deparment of Liverstock Development, Bangkok, Thailand

Nguyễn Thị Hồng Nhân (2005) Giáo trình thức ăn gia súc tập II, khoa Nông Nghiệp & SHƯD Đại học Cần

Thơ.

Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Lợi, Đặng Đình Hanh và Lê Hòa Bình (2005) Kết quả ứng dụng mô hình thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, cỏ đậu trong hệ thống canh tác phục vụ nuôi bò thịt trong nông hộ ở tỉnh Thái Nguyên Trang Khoa học công nghệ nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới Tập 2 Chăn nuôi thú y Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Trang 347 - 353.

Nguyễn Tường Cát (2005) Khảo sát khả năng sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ sả, cỏ voi và cỏ

Paspalum atratum Luận văn tốt nghiệp đại học Khoa Nông Nghiệp & SHƯD, Đại học Cần Thơ.

http://www.dalat.gov.vn

Trang 13

1.2.2 Số lá ở 50 NSKT

ANOVA

Tổng bình phương Độ tự do

Trang 14

1.4 Chỉ số SPAD

1.4.1 Chỉ số SPAD ở 40NSKT

ANOVA

Tổng bình phương Độ tự do

Trang 15

1.7 Năng suất

ANOVA

Tổng bình phương

Độ tự do

Type III Sum

a R Squared = 672 (Adjusted R Squared = 453)

2.1.2 Chiều cao cây

ANOVA

Source

Type III Sum

Trang 16

2.1.3 Chỉ số SPAD

ANOVA

Source

Type III Sum

a R Squared = 871 (Adjusted R Squared = 785)

2.1.4 Oxy hòa tan

ANOVA

Source

Type III Sum

Type III Sum

Trang 17

2.2 Vụ thứ hai

2.2.1 Số chồi/bụi

ANOVA

R Squared = 683 (Adjusted R Squared = 471)

2.2.2 Chiều cao cây

ANOVA

Source

Type III Sum

Type III Sum

Trang 18

2.2.4 Oxy hòa tan

ANOVA

Source

Type III Sum

Type III Sum

Trang 19

Chương 1

MỞ ĐẦU

I Sự cần thiết của đề tài

Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp nước ta và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người nông dân Trong đó chăn nuôi gia súc nhai lại ngày càng có vị trí quan trọng và tăng trưởng nhanh về số lượng, đặc biệt từ khi Chính Phủ đã ban hành một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi

bò sữa Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 Ngành chăn nuôi gia súc nhai lại đã có bước phát triển mạnh, đặc biệt các tỉnh thuộc khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, trong đó

ở An Giang số lượng đàn trâu, bò tăng rất nhanh từ 39.781 con năm 2001 đến năm

2006 sản lượng bò là 74.051 con (Niên giám thống kê tỉnh An Giang, 2006)

Sự phát triển nhanh đàn bò đã kéo theo nhu cầu về nguồn thức ăn xanh, đặc biệt

là sự khan hiếm và phẩm chất của thức ăn xanh trong mùa khô và mùa lũ Thức ăn thô xanh được xác định là một trong những yếu tố hạn chế trong việc phát triển đàn gia súc

ăn cỏ Nhưng với điều kiện tự nhiên ở một số tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng hàng năm vào khoảng tháng 8 đến tháng 11 dương lịch thì nước lũ tràn về làm cho nguồn thức ăn thô xanh trong chăn nuôi trở nên khan hiếm Nguồn thức ăn thô xanh chính của gia súc vào mùa lũ là cây cỏ Mồm

(Hymenachne acutigluna) Vì thế việc tìm ra giống cỏ có khả năng sinh trưởng mạnh,

năng suất cao, giá trị dinh dưỡng tốt đồng thời thích nghi được điều kiện ngập úng đang thực sự cần thiết

Hiện nay vẫn còn chưa có các số liệu nghiên cứu để đánh giá sự thích nghi, sinh

trưởng và tính năng sản xuất của giống cỏ Paspalum atratum trong điều kiện ngập úng

Vì vậy, đề tài này nhằm mục đích khảo sát khả năng chịu ngập, sinh trưởng và tính

năng sản xuất của cỏ Paspalum atratum nhằm làm phong phú thêm tập đoàn giống cỏ

thức ăn thô xanh phục vụ cho sự phát triển chăn nuôi

II Mục tiêu của đề tài

- Khảo sát mức độ chịu ngập của cỏ Paspalum atratum.

- Tìm ra khoảng cách trồng phù hợp để cỏ Paspalum atratum có thể sinh trưởng tốt,

cho năng suất cao và giá trị dinh dưỡng tốt trong điều kiện ngập nước ngoài ruộng

III Nội dung nghiên cứu

1 Khảo sát khả năng chịu ngập của cỏ Paspalum atratum ở các mức độ ngập và

thời điểm ngập khác nhau trong điều kiện nhà lưới

2 Khảo sát ảnh hưởng của 4 khoảng cách trồng đến sinh trưởng, năng suất và chất

lượng của cỏ Paspalum atratum trong điều kiện ngập nước ngoài đồng ruộng.

Trang 20

IV Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

1 Cơ sở lý thuyết

1.1 Nguồn gốc và đặc tính sinh học của cỏ Paspalum atratum

Nguồn gốc: Paspalum atratum mọc hoang tự nhiên ở bang Mato Grosso do Sul,

Brasil, được thu thập bởi Valls năm 1986 và đặt tên là BRA 009610 Thái Lan bắt đầu

nghiên cứu giống cỏ này từ năm 1994, tại trường đại học Ubon Ratchathani, hiện nay

nó trở thành nguồn thức ăn chủ lực cho gia súc ở nước này và một số quốc gia khác

Paspalum atratum mới du nhập vào nước ta trong vài năm gần đây nên số liệu nghiên

cứu chưa nhiều

Đặc tính sinh học:Paspalum atratum thuộc họ hòa thảo, mọc thành bụi cao

khoảng 80 – 120 cm, nếu kể cả chiều dài phát hoa có thể cao đến 2 mét Lá rộng 3 – 4

cm, khi kéo thẳng có thể dài 50 cm (Nguyễn Đăng Khôi và ctv, 1981) Cỏ Paspalum

atratum trổ hoa vào khoảng từ

nhiều lá, gia súc rất thích ăn,

nhưng trong mùa khô thì nhiều xơ,

cứng và độ ngon miệng của gia súc

giảm (Dương Hoàng Phúc, 2004)

Đây là loại cỏ thích nghi với vùng

đất có độ màu mỡ trung bình hoặc

có thể trồng bằng hạt hoặc bằng gốc (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2005) Cỏ vẫn sinh

trưởng trong điều kiện khô hạn nhưng không tốt (Nguyễn Văn Phú, 2006) Paspalum

có khả năng sống chung với nhiều cây thức ăn gia súc khác, thích nghi trồng với mật

độ cao và chen chúc nhiều loại Nhờ khả năng sống dưới bóng râm tốt, phát triển được khi trồng dưới tán cây lớn (Nguyễn Đăng Khôi và Dương Hữu Thời, 1981)

Các kết quả nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy giống cỏ này khá phù hợp với vùng đất phèn, nghèo dinh dưỡng, sinh trưởng tốt trên vùng đất ngập như vùng Đông Bắc Thái Lan và cũng có khả năng sống được trong mùa khô (Hare et al,1999) Theo Barcellos

et al (1997), cỏ Paspalum sinh trưởng rất tốt ở Brazil trên đất ít mưa, lượng mưa tốt

nhất khoảng 1500 mm/năm và có thể tồn tại được trong điều kiện khô hạn; đất có hàm lượng chất hữu cơ thấp; đất ngập úng

Trang 21

1.2 Tiềm năng về năng suất

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi và ctv (2005), khi trồng cỏ Paspalum atratum

với mật độ thích hợp có thể cho năng suất chất xanh đến 179 tấn/ha/năm ở năm thứ nhất và 260 tấn/ha/năm ở năm thứ hai trên vùng đất Thái Nguyên Theo kết quả của

Nguyễn Tường Cát (2005), khi trồng cỏ Paspalum trên đất không khảo sát đặc tính sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ Paspalum atratum năng suất chất xanh đạt

được là 314 tấn/ha/năm Nguyễn Văn Phú (2006), nghiên cứu ảnh khoảng cách trồng

lên đặc tính sinh trưởng và năng suất cỏ Paspalum atratum khi trồng trên đất cát cho

năng suất chất xanh khoảng 110 tấn/ha/năm và năng suất chất khô cao nhất ở khoảng cách trồng 30 x 30 cm là 2,68 tấn/ha/lứa cắt Theo Hứa Quang Hải (2007), khi trồng cỏ

Paspalum atratum ở khoảng cách 40 x 40 cm là 329 tấn/ha/năm và năng suất chất khô

là trung bình là 6,3 tấn/ha/lứa cắt Kết quả đạt được trong thí nghiệm của Dương

Hoàng Phúc (2004) cho năng suất chất xanh cỏ Paspalum atratum là 312 tấn/ha/năm

và năng suất chất khô là 5,75tấn/ha/lứa cắt khi trồng ở khoảng cách 40 x 40 cm với mức phân bón 70 kg N/ha Một nghiên cứu khác của Trương Ngọc Trưng (2005) về cỏ

Paspalum atratum, cho rằng năng suất chất xanh của cỏ Paspalum atratum có khuynh

hướng gia tăng theo khoảng cách trồng Trong nghiên cứu của Kalmbacher et al (1997), năng suất của cỏ Paspalum atratum qua theo dõi hai địa điểm Ona và

Immokalee, Florida cho thấy năng suất chất khô chịu ảnh hưởng bởi năm trồng Có đến 80% năng suất chất khô được tạo ra trong mùa mưa

Theo ghi nhận của Hare et al, (1999) về cỏ Paspalum atratum thì đây là giống cỏ

tốt nhất về mặt năng suất lẫn sự tồn tại qua mùa nước lẫn mùa khô khi đất trồng bị ngập trong mùa nước như vùng Đông bắc Thái Lan, năng suất chất khô đạt được 20 tấn/ha trong sáu tháng mùa nuớc Nguyễn Thị Hồng Nhân (2005) thì cho rằng năng

suất Paspalum atratum có thể đạt được từ 120 – 180 tấn/ha/năm Nông dân chăn nuôi

rất thích trồng cỏ này vì cho năng suất cao, dễ trồng, phát triển nhanh và có thể chăn thả được

1.3 Giá trị dinh dưỡng

Hàm lượng protein thô của Paspalum là 8,6% khi thực hiện trồng xen cỏ này

trong vườn cây ăn trái ở Chiangmai, Thái Lan (Wira, 2000) Qua phân tích giá trị dinh

dưỡng của cỏ Paspalum atratum trồng trên đất ở Cần Thơ trong thí nghiệm của

Nguyễn Thị Mộng Nhi (2006) vật chất khô (DM) là 12,76%, protein thô (CP) 10,89%, béo (EF) 0,51%, tro 16,31%, xơ acid (ADF) 29,95%, xơ trung tính (NDF) 60,58%

Một đánh giá về giống Paspalum atratum ở trường đại học bang Florida, Hoa kỳ (www.fao.org/ag/AGPC/doc/pasture/Pizzaro.htm), nhận thấy chất hữu cơ tiêu hóa in

vitro biến động từ 50 – 68% và trung bình protein thô là 11% Bên cạnh đó nghiên cứu

của Coasta et al, (1999), cho thấy năng suất chất khô biến động từ 1,4 đến 6,4

tấn/ha/năm và hàm lượng protein thô khoảng 6 – 12% (FAO,

www.fao.org/ag/AGP/APC/doc/pasture/pazzaro.htm)

Hare và ctv (2001), Paspalum khi thu hoạch vào mùa nước ở khoảng cách 20- 30

ngày/lần sẽ cho giá trị dinh dưỡng cao hơn 60 ngày (protein cao hơn và xơ thô ít hơn) Nếu thu hoạch ở mùa khô thì khoảng cách này có thể mở rộng ra đến 40 ngày Một

nghiên cứu khác của Kalmbaccher et al., (1997), nhận thấy protein thô trong cỏ

Paspalum atratum thay đổi theo ngày cắt: 97, 82 và 52 g/kg tương ứng với 20, 40 và

Trang 22

60 ngày cắt theo trình tự Nói chung protein thô và chất hữu cơ tiêu hóa in vitro có

khuynh hướng giảm khi thời gian thu hoạch gia tăng

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thức ăn xanh 1.4.1 Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây thức ăn gia súc nói chung Với cỏ hòa

thảo, hầu hết đều sinh trưởng nhanh vào mùa hè, ra hoa kết trái vào mùa thu và gần như ngừng sinh trưởng vào mùa đông nhưng đến mùa xuân thì phát triển nhanh và cho nhiều lá Cỏ hòa thảo có ưu điểm là sinh trưởng nhanh cho năng suất cao nhưng nhược điểm cơ bản là nhanh hóa xơ, giá trị dinh dưỡng theo đó cũng giảm nhanh (Vũ Duy

Giảng và ctv, 1995).

1.4.2 Đất đai: Độ phì nhiêu của đất đai là yếu tố vô cùng quan trọng, là khả

năng đáp ứng của đất đối với nhu cầu của cây trồng về chất dinh dưỡng, với số lượng, dạng và tỷ lệ thích hợp để cây có thể sinh trưởng và tạo ra sinh khối lớn nhất Đất nào

có khả năng đáp ứng nhu cầu cây trồng cao, cho năng suất cao thì được xem là phì nhiêu và ngược lại Ở ĐBSCL thường sử dụng một số thang đánh giá chính như dung trọng, pH, chất hữu cơ, % đạm tổng số, % lân tổng số, % kali tổng số, … (Ngô Ngọc Hưng, 2004 )

1.4.3 Kỹ thuật canh tác: Việc làm sạch cỏ dại và làm đất kỹ là quan trọng bậc

nhất, đến khi cây phát triển muốn duy trì thảm cỏ phải có chế độ phân bón vừa phải, nên thu cắt hoặc chăn thả hợp lý Thời gian thu hoạch có ảnh hưởng đến hàm lượng dưỡng chất có trong cỏ để cung cấp cho gia súc, năng suất của cỏ, sự tồn tại lâu dài hoặc chống tàn lụi của cỏ Năng suất và thành phần dưỡng chất của cây cỏ sẽ tăng theo tuổi và đến khi có bông kết hạt thì giảm dần Ngoài ra tỷ lệ nước của cỏ non cao hơn

cỏ già nhiều Vì vậy nếu thu hoạch lúc cỏ quá non cho gia súc ăn, gia súc dễ bị tiêu chảy, dưỡng chất kém Ngược lại nếu cỏ quá già thì dưỡng chất kém, nhiều xơ

1.4.4 Phân bón: theo Nguyễn Văn Tuyền (1971) một số công thức phân bón

sử dụng cho đồng cỏ như sau:

+ Phân chuồng: phân chuồng bón 20 – 50 tấn/ha, được rãi trên mặt đất với số lượng trên, tùy đất tốt xấu Xong dùng bừa trộn lộn phân với đất cho thêm hoai chừng

10 ngày trước khi trồng

+ Phân hoá học: đối với cỏ hoà thảo: 100 kg N, 60 kg P2O5 30 kg K2O/ha Trong đó 50 kg N + 60 kg + P2O5 30 kg K2O/ha được trộn đều và bón ngay sau khi trồng 10 ngày và 50 kg N còn lại bón sau khi thu hoạch vụ thứ nhất

1.4.5 Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO)

Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (mg/l) là lượng oxy từ không khí có thể hòa tan vào trong nước thông qua tiếp xúc bề mặt của nước và không khí phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất và độ mặn của nước Oxy hòa tan trong nước sẽ tham gia vào quá trình trao đổi chất, duy trì năng lượng cho quá trình phát triển, sinh sản, tái sản xuất cho các vi sinh vật sống dưới nước Hàm lượng oxy hòa tan trong nước giúp ta xác định chất lượng nước (Đặng Kim Chi, 1999)

1.5 Các quá trình xảy ra trong đất ngập nước

1.5.1 Quá trình thay đổi về vật lý

Trang 23

Đất khi bị ngập các khoảng trống của đất chiếm đầy nước nên sự trao đổi khí giữa đất và không khí giảm đi rất nhanh Tùy thuộc vào nhiệt độ và tỷ số hô hấp trong đất mà oxy giảm nhanh trong vài giờ hoặc vài ngày, đất trở nên kỵ khí (Jackson and

Drew, 1984) Ota et al (1981) cho rằng oxy hòa lẫn trên mặt nước khuếch tán và thẩm

thấu vào đất, do đó oxy nhờ thẩm thấu qua nước cung cấp cho vùng rễ bị hạn chế rất lớn

1.5.2 Quá trình biến đổi về hóa lý đất

Một trong những biểu hiện của quá trình hóa học đất ngập nước rõ rệt là quá trình khử:

1.6 Các quá trình biến đổi của cây khi bị ngập nước

Sự thiếu oxy trong đất ngập nước là nguyên nhân chính ảnh hưởng trực tiếp đến

bộ rễ cây trồng từ đó làm thay đổi toàn bộ quá trình biến dưỡng của cây

1.6.1 Quá trình quang hợp

Quang hợp là chuỗi phản ứng về biến đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học mà tế bào có thể sử dụng để tổng hợp chất hữu cơ, CO2 của khí quyển thành đường

Trong tế bào lá cây, lục lạp là bào quan chuyên hóa sự quang hợp, là nhà máy biến đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học Tsukarahara và Kozlowski (1986) đa số cây khi bị ngập thì khẩu đóng lại nên giới hạn trao đổi khí qua con đường khí khẩu của lá Khẩu lá đóng lại làm lá không thể hấp thu CO2 từ khí quyển để quang hợp Một số loài có khả năng chịu ngập thì khẩu lá không đóng lại (Jackson, 1994) Rễ cây thiếu oxy sẽ hô hấp kỵ khí tạo ra rất ít năng lượng để duy trì cơ chế hấp thụ của rễ Ngoài ra chính ethylene hình thành trong cây dẫn đến sự thành lập enzyme chlorophyllase, enzyme này phân hủy cấu trúc diệp lục tố làm mất màu xanh, làm giảm khả năng quang hợp của lá (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1998) Ota (1981) thành phần dinh dưỡng vô cơ giảm cũng là nhân tố hạn chế chức năng quang hợp của lá Nhiều ghi nhận cho thấy mức độ quang hợp của cây bị giảm ngay khi bắt đầu ngập, sau vài ngày ngập mức độ quang hợp thay đổi tùy thuộc vào khả năng chịu ngập của cây

1.6.2 Quá trình hô hấp

Hô hấp là một loạt các phản ứng hóa học bắt đầu bằng sự phân giải đường và kết thúc bằng sự thải CO2 và H2O Hàng chục phản ứng sở dĩ xảy ra được là do trong tế bào chủ yếu là trong ty thể có những chất protein phức tạp gọi là men xúc tác, các quá trình oxy hóa khử tạo ra nhiều chất trung gian để tổng hợp chất hữu cơ như chất béo, protein, (Đào Thế Tuấn, 1978)

Trang 24

Đối với đất ngập nước, oxy ở rễ cây thiếu nghiêm trọng, nếu cây có khả năng vận chuyển oxy từ trên xuống thì cây vẫn hô hấp bình thường (Jackson and Drew, 1984) sản phẩm tạo thành là CO2 và H2O Nếu khả năng vận chuyển oxygen xuống ở đất ngập bị hạn chế, rễ cây hô hấp trong điều kiện kỵ khí, sản phẩm tạo thành là ethanol hoặc acid lactic Ethanol là độc tố đối với tế bào thực vật ngay cả ở hàm lượng nhỏ nên một số cây có khả năng chống chịu với môi trường ngập thì ethanol thường bị đẩy ra khỏi tế bào rễ vào môi trường nước xung quanh (Nguyễn Văn Uyển, 1997) Năng lượng tạo ra trong quá trình hô hấp được thu giữ dưới dạng Adenosine Triphosphat (ATP), ATP được dùng trong nhiều quá trình như sinh tổng hợp, các loạt

hoạt động trong tế bào (hấp thụ, vận chuyển, phân phối, ) Hole et al (1992) năng

lượng tạo ra từ 1 mol đường hexose trong điều kiện hiếu khí là 36 ATP, còn trong điều kiện kỵ khí chỉ có 2 ATP Do ATP tổng hợp được trong điều kiện kỵ khí rất thấp nên ảnh hưởng rất lớn đến biến dưỡng cây trồng, thậm chí đình trệ mọi hoạt động của cây

1.6.3 Khả năng hấp thu dinh dưỡng của rễ

Rễ là cơ quan dinh dưỡng của cây, giúp cho cây đứng vững, hút nước và chất khoáng cho cây trồng Trong điều kiện ngập, các tổ chức màng mỏng bên trong rễ tách rời tạo thành những khoang khí lớn, các khoang khí này được hình thành ngay sau khi nguyên sinh chất trong một nhóm tế bào bị hủy và chết Khi tế bào chất bị hư hại, mất tính căng, tính thấm của tế bào giảm, tế bào nhăn nheo và co lại (Ponnamperuma, 1964) Rễ hấp thu chủ động giảm đến lúc hoàn toàn không có nên ảnh hưởng rất lớn đến quá trình biến dưỡng của cây Rễ bị tổn thương và hô hấp trong môi trường kỵ khí

do sự tích lũy độc tố Một số loài đáp ứng lại với sự ngập úng bằng cách mọc ra nhiều

rễ phụ gần mặt nước hay thành lập mô khí để lấy oxy cung cấp cho rễ hô hấp, tạo nhiều năng lượng cho hoạt động tồn tại của cây (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1998)

1.7 Một số cơ chế thích nghi của cây trồng trong điều kiện ngập nước

Trong chu kỳ sống của thực vât cần thiết phải lấy O2 và CO2 trực tiếp cho sự biến dưỡng hô hấp và như là sự chuyển đổi năng lượng nhờ quang hợp, gọi chung là quá trình trao đổi khí Quá trình trao đổi khí bị ngăn cản sẽ làm cho cây trồng: có thể có những thay đổi để cây tiếp tục sống gọi là sự thích nghi hoặc cây bị chết

Trong môi trường đất ngập nước, đất thường bị thiếu oxy rễ cây không có đủ O2 cần thiết cho sự biến dưỡng hô hấp và sau đó cây trồng cũng không thể nhận được CO2 cho

sự đồng hóa carbon Vì vậy, cây trồng muốn tiếp tục sự sống thì bản thân cây trồng phải có sự thay đổi để thích nghi với điều kiện môi trường Một số cơ chế cây trồng có khả năng hình thành để thích nghi trong điều kiện ngập nước như:

1.7.1 Hình thành mô dẫn khí (aerenchyma)

Aerenchyma là một mô dẫn khí tìm thấy ở rễ cây trồng trong điều kiện yếm khí,

nó giúp cho sự trao đổi khí giữa chồi và rễ nhằm duy trì sự sống của cây trồng (Visser

et al, 1997) Trong điều kiện thiếu oxy hoàn toàn, bước đầu tiên cây trồng sẽ sinh tổng

hợp ethylene từ ACC (1-Aminocyclopropane-1-Carboxylic-Acid) dưới tác dụng của enzym ACC synthase ACC là tiền chất của ethylene (C2H4) Sau đó ACC biến đổi để tạo ra ethylene, nồng độ ethylene cao sẽ phân hủy diệp lục tố và tăng cường sự lão hóa Mặt khác ethylene còn tác động vào mô cây làm vỡ tế bào, đây chính là tăng cường sự thành lập mô khí trong rễ cây (Blake and Reid, 1981) Mô dẫn khí tạo thành sẽ dẫn khí

từ chồi thoáng khí đến rễ yếm khí Không khí đi vào qua khí khẩu của lá hoặc các vết sần trên thân và xuyên qua hệ thống aerenchyma để đến rễ ngập nước (Raskin and Kender, 1985)

Trang 25

Ngoài ra một số loài thực vật ở đất ngập nước có thể hình thành những khoảng không không khí do sự phân rã vách tế bào trong thời gian chín già của các cơ quan hoặc do suy thoái tế bào Chúng tạo ra dạng kiến trúc tổ ong và phân bố dọc suốt thân

và rễ (Lê Văn Khoa và ctv, 2005)

1.7.2 Hình thành bộ rễ mới ngay phần thân bị ngập của cây (rễ khí sinh) hay rễ bất định

Rễ bất định xuất hiện ở phần thân bị ngập của những cây trồng ngập nước và phát triển theo chiều ngang và sẽ phát triển dày đặc trên mặt nước bởi vì khi ngập nước thì sự vận chuyển của hormonee auxin đến rễ bị ngăn cản và nó sẽ tích tụ ở thân Các

rễ mới hình thành sẽ thay thế chức năng của các rễ cũ đã ngập sâu (Jackson and Drew, 1984) Do xuất hiện ở gần lớp nước mặt nên oxy dễ hữu dụng hơn cho sự hấp thu của rễ

1.7.3 Sự đóng mở khẩu

Quá trình đóng và mở khí khẩu phụ thuộc vào áp suất trương của tế bào bảo vệ Sự gia tăng áp suất thẩm thấu trong tế bào bảo vệ được gây ra bởi sự hấp thu ion K+ Đa số triệu chứng đầu tiên khi cây trồng ngập nước là khí khẩu đóng lại bởi vì sau khi cây ngập nước thì sự tích tụ ABA (Abscisic acid) rất sớm Sự sinh tổng hợp ABA tăng lên trong rễ sau đó di chuyển lên chồi và lá ABA liên kết với cơ quan cảm nhận trên bề mặt tế bào của tế bào bảo vệ làm tăng Ca2+ trong tế bào, làm giảm K+, chloride và tắt bơm proton Sự sụt giảm của các chất tan này trong tế bào chất, làm giảm áp suất thẩm thấu của tế bào, làm giảm sức trương và khí khẩu đóng lại Sự đóng khí khẩu để giảm quá trình hô hấp nhằm hạn chế sự tiêu hao oxy (Zhang and Davies, 1987; Jackson et

al, 1998)

2 Phương pháp thí nghiệm

2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của độ sâu ngập và thời điểm ngập đến sinh

trưởng, năng suất và chất lượng của cỏ Paspalum atratum trồng trong chậu

2.1.1 Mục tiêu: khảo sát khả năng chịu ngập úng và giá trị dinh dưỡng đạt

được của cỏ Paspalum atratum ở các mức độ và thời gian ngập khác nhau trước khi bố

trí trong điều kiện ngập ngoài đồng

Ba thời điểm ngập

1/ 30 ngày sau khi trồng2/ 40 ngày sau khi trồng3/ 50 ngày sau khi trồng

Trang 26

2.1.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Ghi chú: N0: không ngập nước (đối chứng) T1: Ngập vào 30 NSKT

N1: Ngập 20 cm T2: Ngập vào 40 NSKT

N2: Ngập 40 cm T3: Ngập vào 50 NSKT N3: Ngập 60 cm

2.1.4 Thời gian và địa điểm

Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 10/2006 đến tháng 2/2007 tại khoa Nông Nghiệp & Sinh học Ứng Dụng- Trường Đại học Cần Thơ

2.1.5 Phương pháp thực hiện

Đất trước khi trồng được phơi khô, băm nhuyễn, trộn đều, và cho vào mỗi chậu

khoảng 20 kg đất Hom giống cỏ Paspalum atratum sử dụng làm thí nghiệm nên chọn

những hom trưởng thành (khoảng 60 ngày tuổi) Kích cở các hom tương đương nhau,

có chiều dài 20 cm tính từ gốc trở lên, nặng khoảng 20g/hom Hom cỏ được trồng vào chậu (chiều cao chậu 110 cm, đường kính 60cm) Cấy vào mỗi chậu 3 hom cỏ (Hình 2.1)

Trang 27

Bón phân: Dựa vào công thức phân bón của họ hòa thảo là 100 kg N, 60 kg P2O5, 30

kg K2O/ha Sau đó tính ra lượng phân bón cho mỗi chậu, lượng phân cần bón cho mỗi chậu là 140 g N, 169 g P2O5, 84 g K2O

Khi hom cỏ trồng được 30 ngày bắt đầu ghi nhận các chỉ tiêu nông học và sinh lý và tiến hành cho ngập nước Tất cả nghiệm thức được thu hoạch vào 60 ngày sau khi trồng, để tính năng suất và phân tích giá trị dinh dưỡng

Hình 2: Cách chọn hom và trồng hom cỏ Paspalum atratum vào chậu

2.1.6 Các chỉ tiêu theo dõi

+ Chỉ tiêu nông học và sinh lý

 Số chồi trên chậu: Sau khi trồng 30 ngày sẽ đếm số chồi/chậu, 10 ngày

đếm/lần Đếm tất cả số chồi/chậu

 Số lá/chậu: Sau khi trồng 30 ngày đếm tất cả số lá/chậu, 10 ngày đếm/lần

cho đến khi thu hoạch

 Chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến chỗ tận cùng khi vuốt thẳng lá, đo sau

khi trồng 30 ngày và cách 10 ngày đo 1 lần đến khi thu hoạch

 Đếm số rễ khí sinh: là những rễ mọc ra từ thân, không tiếp xúc với đất

Đếm khi thu hoạch 60 ngày sau khi trồng Đếm tất cả số rễ khí sinh hình thành/chậu

 Đo chỉ số SPAD: Đo sau khi trồng 30 ngày, cứ 10 ngày đo 1 lần Đo 3 lá

lớn nhất/cây vào từng thời điểm Sử dụng máy đo chỉ số SPAD-502

 Quan sát cấu trúc, hình thái của rễ: Dùng lưỡi lam cắt ngang rễ thành

những lát thất mỏng, sau đó cho mẫu lên miếng lame rồi nhỏ lên 1- 2 giọt dung dịch aceto carmin và đưa lên kính hiển vi quan sát Quan sát mẫu rễ

cỏ ngập nước và mẫu rễ cỏ không ngập nước

 Đo lượng oxy hoà tan trong nước: Đo sau khi cho ngập nước 10 ngày Cứ

10 ngày đo 1 lần ở tất cả các chậu Dùng thiết bị đo lượng oxy hoà tan với điện cực đặt vào chậu cách mặt đất 5 cm

 Quan sát sự phóng thích oxy của rễ: quan sát lúc thu hoạch (60 NSKT),

quan sát trên mẫu rễ ngập nước và mẫu rễ không ngập nước

Trang 28

Sau khi thu hoạch, lấy một đoạn thân của cỏ Paspalum atratum còn rễ và cố

định bằng kẹp sau đó cho vào trong chậu chứa dung dịch quan sát (dung dịch quan sát bao gồm: 0,1% agar + 12 mg/l dd methylenee blue + 130 mg/l

Na2S2O4) để quan sát sự tiết oxy của rễ (Lê Văn Hòa, 2005) Cách ghi nhận kết quả là dựa sự chuyển từ không màu sang màu xanh của dung dịch quan sát thông qua các phản ứng khử và phản ứng oxy hóa xảy ra ở các chất có trong dung dịch làm thí nghiệm, các phản ứng xảy ra như sau:

Khi hòa tan methylene blue vào dung dịch agar 0,1% dung dịch sẽ có màu xanh Khi cho sodium dithionite (Na2S2O4) tiếp vào dung dịch sẽ trở nên không màu, phản ứng xảy ra như sau:

MeB + 2H2O + Na2S2O4 MeBH + Na2+ + Cl- + 3 H+ + 2SO32-

Dung dịch MeBH không màu, nhưng khi có oxy sẽ chuyển sang màu xanh như lúc ban đầu

MeBH + O2 + 2H+ 2 MeB+ + 2H2O

+ Chỉ tiêu năng suất

 Năng suất chất xanh: thu hoạch vào lúc 60 ngày sau khi trồng Cắt tất cả

các chồi/chậu, cách mặt đất 10 cm Cân năng suất chất tươi/chậu

 Năng suất chất khô: được tính bằng cách lấy tỷ lệ phần trăm vật chất khô

phân tích được nhân với năng suất chất xanh

2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến sinh trưởng, năng

suất và giá trị dinh dưỡng của Paspalum atratum trong điều kiện ngập ngoài đồng

ruộng

2.2.1 Mục tiêu: Tìm ra khoảng cách trồng phù hợp trong điều kiện ngập nước

mà cỏ Paspalum atratum cho năng suất cao và chất lượng tốt.

2.2.2 Thời gian và địa điểm

Thí nghiệm thực hiện từ tháng 05/2007 đến tháng 09/2007, ở xã Mỹ Hòa Hưng – Thành phố Long Xuyên Khu đất được chọn thí nghiệm trước đây trồng lúa, mặt ruộng luôn được cố định độ sâu ngập 20 cm trên bờ ruộng chúng tôi trồng thêm một

số bụi cỏ Paspalum atratum để sử dụng làm mẫu đối chứng cho chỉ tiêu quan sát cấu

Trang 29

2.2.4 Phương pháp thực hiện

- Chuẩn bị đất trồng: đất trước khi trồng được là sạch cỏ, xới lên và phân lô thí

nghiệm Sau khi làm đất và phân lô thí nghiệm xong bón lót bằng phân chuồng với lượng là 10 tấn/ha

- Trồng: chuẩn bị đất xong trên mỗi lô sẽ tiến hành trồng hom cỏ Paspalum

atratum theo khoảng cách đã vạch sẳn, mỗi hốc được trồng 3 hom, trồng vùi sâu trong

đất 10 cm

- Bón phân: Áp dụng công thức bón phân của hoà thảo (100 kg N, 60 kg P2O5,

30 kg K2O/ha) Sau khi trồng được 10 ngày thì chúng ta bắt đầu bón phân lần 1, với lượng là (50 kg N, 60 kg P2O5, 30 kg K2O/ha) và sau khi thu hoach vụ đầu tiên (60 ngày sau khi trồng) bón lần 2 với 50 kg N/ha

- Thời điểm lấy chỉ tiêu: sau khi trồng 30 ngày chúng tôi tiến hành tiến hành

lấy các chỉ tiêu nông học và sinh lý sau đó cho ngập nước cố định mức nước trong ruộng ở độ sâu 20 cm Cứ 15 ngày lấy chỉ tiêu 1 lần cho đến khi thu hoạch vụ đầu tiên

ở 60 ngày sau khi trồng

- Vụ tái sinh: sau khi thu hoach vụ đầu theo dõi thêm 2 vụ tái sinh kế tiếp, thời

gian của mỗi vụ tái sinh là 45 ngày Ở vụ tái sinh, chỉ tiêu theo dõi giống như vụ đầu tiên

Trang 30

Hình 3: Cách để lứa tái sinh

2.2.5 Chỉ tiêu theo dõi: Trên mỗi lô chọn 5 điểm theo phương pháp đường

chéo để theo dõi Phương pháp lấy chỉ tiêu giống như thí nghiệm trong chậu

+ Chỉ tiêu nông học và sinh lý

 Số chồi/bụi: đếm tất cả số chồi/bụi ở 5 vị trí đã chọn

 Chiều cao cây: Đo chiều cao ở 5 diểm đã chọn trên mỗi lô

 Khả năng tái sinh: theo dõi như vụ đầu.

 Đếm số rễ khí sinh: Chọn ngẫu nhiên, đánh dấu theo dõi cố định 3

chồi/bụi, 5 bụi/lô

 Quan sát cấu trúc rễ, hình thái rễ: quan sát mỗi lô 3 mẫu (như thí nghiệm

trong chậu)

 Đo chỉ số SPAD: Đo 3lá/bụi, 5 bụi/lô (như thí nghiệm trong chậu)

 Đo lượng oxy hòa tan: Đo 3 vị trí/lô (Cách đo giống như thí nghiệm trong

chậu)

 Quan sát sự phóng thích oxy từ rễ: Quan sát 3 mẫu/lô (Cách quan sát

giống thí nghiệm trong chậu)

+ Chỉ tiêu năng suất

 Năng suất chất tươi: cắt ngẫu nhiên mỗi lô 1m2, 5 điểm quan sát trên mỗi

lô Tính năng suất trên mỗi lô sau đó quy ra năng suất tấn/ha

 Năng suất chất khô = %vật chất khô * năng suất chất tươi

 Năng suất protein thô = % CP * năng suất chất khô

Trang 31

+ Chỉ tiêu giá trị dinh dưỡng

Giá trị dinh dưỡng: lấy 1kg mẫu cỏ tươi ngẫu nhiên trong phần lấy năng suất ở mỗi lô, cắt thành những đoạn nhỏ từ 5 - 7 cm, sau đó trộn đều và lấy mẫu theo phương pháp đường chéo được 300g mâu Đem sấy ở 650C cho giòn và cho qua máy nghiền rồi đem phân tích để xác định tỷ lệ

* Vật chất khô, protein thô (CP), xơ thô (CF) theo qui trình tiêu chuẩn của

 Vật chất khô: hàm lượng vật chất khô được xác định bởi sự chênh lệch về khối

lượng của mẫu tươi trước khi sấy và sau khi sấy ở 105oC trong 6 giờ

100

*

% B A C C

X = −−

X%: phần trăm vật chất khô trong mẫu tươi

A: khối lượng mẫu tươi + khối lượng hộp nhôm (g)

B: khối lượng mẫu khô + hộp nhôm sau khi sấy (g)

C: khối lượng hộp nhôm (g)

 Protein thô (CP): Protein là thành phần quan trong nhất trong cơ thể, ở thực

vật phần lớn protein có mặt như là enzyme, tập trung nhiều khi cây còn non, giảm dần khi cây trở nên già, protein thô được tính toán từ hàm lượng nitrogen tổng số của thức ăn thông qua qui trình Kjel dahl

CP% = N% x 6,25

Với N%: phần trăn nitrogen tổng số

 Xơ thô (CF): là thành phần còn lại sau khi thủy phân mẫu thức ăn liên tục với

acid và baze mạnh Tùy theo loài mà khả năng tiêu hóa xơ thô khác nhau Đối với gia súc nhai lại có khả năng tiêu hóa xơ thô từ 50 – 90%

P1 - P2 - Pgiấy

% Xơ thô = - x 100

WTrong đó: P1 là trọng lượng chén giấy và mẫu sau khi sấy

P2 là trọng lượng chén và khoáng sau khi nung

Pgiấy là trọng lượng giấy lọc không tanW: là trọng lượng mẫu

Trang 32

 Xơ trung tính (NDF): là phần còn lại sau khi chiết xuất trong dung dịch

Natrilauryl sulphate và acid ethylenediaminetetraacetic (EDTA) Thành phần bao gồm các thành phần chất xơ như: hemicellulose, cellulose và lignin NDF cũng được tiêu hóa một phần từ 20 – 80% tùy loài và giai đoạn sinh trưởng của thực vật NDF cũng duy trì nguyên trạng khối xác của thức ăn, đáp ứng cho mức độ làm đầy dạ cỏ và chúng ta phát triển những phương trình ước tính mức

ăn vào của vật nuôi dựa trên phần trăm của NDF thực vật

P2 - P1 - Pgiấy

NDF% = - x 100

WTrong đó: P1 là khối lượng chén

P2 là khối lượng chén và xơ sau khi giấy

Pgiấy là khối lượng giấy lọc không tanW: là khối lượng mẫu

 Xơ acid (ADF): được xác định cùng qui trình như trên nhưng sử dụng một loại

thuốc tẩy khác dưới điều kiện acid có pH thấp (pH = 2) Bởi vì tiến hành phân tích trong môi trường acid, các hemicellulose và các tế bào chất bị hòa tan và lọc bỏ ADF chủ yếu gồm có cellulose và lignin ADF có liên quan đến mức

tiêu hóa vật chất khô và dùng để ước tính năng lượng thuần

P2 - P1 - Pgiấy

ADF% = - x 100

W

Trong đó: P1 là khối lượng chén lọc

P2 là khối lượng chén và mẫu sau khi giấy

Pgiấy là khố lượng giấy lọc không tanW: là khối lượng

 Tỉ lệ tiêu hóa in vitro: là phương pháp phỏng đoán tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của

gia súc nhai lại bằng cách tạo ra những phản ứng trong phòng thí nghiệm như

đã xảy ra trong bộ máy tiêu hóa của con vật

2.3 Xử lí số liệu: Quản lý và xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Exel, SPSS 15.0

Dùng phép thử LSD và Duncan để so sánh sự khác biệt

Trang 33

Chương 2KẾT QUẢ THẢO LUẬN

I Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của độ sâu ngập và thời gian ngập đến sinh trưởng

và chất lượng cỏ Paspalum atratum

1 Ghi nhận tổng quát

Tại thời điểm này chúng tôi tiến hành cho ngập nước (30 NSKT) với độ sâu ngập khác nhau (20 cm, 40 cm, 60 cm) Kết quả ghi nhận được như sau: loài cỏ này có khả năng chịu ngập với độ sâu 20 cm ở các thời điểm cho ngập nước cho đến khi thu hoạch, trong khi đó ở độ sâu ngập từ 40 cm đến 60 cm cây chỉ có khả năng tồn tại được 10 ngày sau khi ngập sau đó các chồi bị chết dần cho đến khi thu hoạch lúc 60 ngày sau khi trồng (Hình 3) Với biểu hiện như: Lá có triệu chứng màu nâu tím, rễ bị thối, nước có màu đen (hình 4, hình 5 và hình 6) do hô hấp yếm khí Do đó, trong thí nghiệm này chúng tôi chỉ tập trung thảo luận ở các nghiệm thức có độ sâu ngập 20 cm

Hình 4: Ảnh hưởng của độ sâu ngập lên sự phát triển chồi của cỏ

Paspalum atratum khi trồng trong chậu

Trang 34

Hình 5: Cây bị chết lúc 10 ngày sau khi ngập ở độ sâu 40 cm

Hình 6: Cây bị chết lúc 10 ngày sau khi ngập ở độ sâu 60 cm

Trang 35

Hình 7: Rễ cỏ Paspalum atratum bị

thối đen khi ngập sâu 40 cm và 60 cm

2 Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến đặc điểm nông

học của cỏ Paspalum atratum

Thời điểm cho ngập

(Ngày sau khi trồng: NSKT)

Thời điểm quan sát (ngày sau khi trồng)

Trang 36

Từ bảng này cho thấy số chồi tăng nhanh vào giai đoạn từ 40 đến 50 NSKT Sau

đó tính nẩy chồi của cỏ chậm cho đến khi thu hoạch Độ sâu ngập 20 cm thì không ảnh hưởng đến sự nẩy chồi của cỏ ở tất cả các thời điểm quan sát Mặc dù tại thời điểm 40 NSKT sự nẩy chồi ở các nghiệm thức như nhau (10; 9; 8; 9 chồi/chậu tương ứng với nghiệm thức đối chứng, 30, 40,50 NSKT) nhưng đến 50 NSKT tổng số chồi đã tăng lên rất nhanh ở tất cả các nghiệm thức (đạt đến 21; 13; 16; 19 chồi/chậu), điều này cho thấy giai đoạn 40 – 50 ngày là giai đoạn cây trồng tăng trưởng mạnh

Đến 60 ngày sau khi trồng thì số chồi ở các nghiệm thức thí nghiệm có tăng chậm Cụ thể ở đối chứng đạt được (21 chồi/chậu), nghiệm thức cho ngập vào 30 ngày sau khi trồng (14 chồi/chậu), nghiệm thức cho ngập vào 40 ngày sau khi trồng (17 chồi/chậu)

và nghiệm thức cho ngập vào 50 ngày sau khi trồng (20 chồi/chậu) bởi vì trong giai đoạn này cây đã qua giai đoạn phát triển mạnh, bắt đầu phát triển chậm lại

Nguyễn Tường Cát (2005) ghi nhận ở cỏ Paspalum atratum chỉ có 19 chồi (lúc 35

NSKT) tăng lên 25 chồi (lúc 45 NSKT) Nguyễn Văn Tùng (2006) số chồi cỏ

Paspalum atratum đạt được ở thời điểm thu hoạch 60 ngày sau khi trồng là 41 chồi

Tuy nhiên sự sinh trưởng của cây phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

So với các thí nghiệm trên, số chồi đạt được trong thí nghiệm của chúng tôi ít hơn do phải trồng trong chậu rất thiếu ánh sáng so với trồng trên đất tự nhiên Tuy nhiên, qua thí nghiệm chúng ta nhận thấy ở độ sâu ngập 20 cm và thời điểm cho ngập nước không ảnh hưởng đến sự phát triển chồi của cỏ Vì sau thời gian thí nghiệm, giữa các nghiệm thức ngập nước và không ngập nước, số chồi đã phát triển không khác biệt có ý nghĩa thống kê (P>0,05) ở tất cả các thời điểm khảo sát 40, 50, 60 NSKT

2.2 Tổng số lá/chậu

Số liệu về sự phát triển của lá được thể hiện trong bảng 2

Bảng 2: Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến tổng số

lá/chậu

Thời điểm cho ngập

(Ngày sau khi trồng: NSKT)

Thời điểm quan sát (ngày sau khi trồng)

Ghi chú: ns: không có sự khác biệt có ý nghĩa

Sự hình thành lá ở các nghiệm thức tương đương nhau và không có sự khác biệt có ý nghĩa ở tất cả các thời điểm quan sát Ở thởi điểm 40 và 50 NSKT số lá ở các nghiệm thức có tăng lên nhưng không nhiều Đến thời điểm thu hoạch 60 NSKT thì tổng số lá/chậu tăng lên rất nhiều, cụ thể như sau: ở nghiệm thức đối chứng là (153 lá/chậu), kế đến là nghiệm thức cho ngập 50 NSKT (149 lá/chậu), nghiệm thức cho ngâp 40 NSKT (103 lá/chậu) và cuối cùng là nghiệm thức cho ngập 30 NSKT (101 lá/chậu) nhưng không khác biệt có ý nghĩa thống kê Có lẽ do các lá phát triển chủ yếu trên sự thành

Trang 37

lập chồi (khi đối chiếu lại với số chồi thì chúng ta cũng thấy rằng ở những nghiệm thức

có số chồi hình thành càng nhiều thì số lá tạo nên ở nghiệm thức đó càng nhiều), mà cả hai yếu tố về thời điểm cho ngập nước và độ sâu ngập không ảnh hưởng trên sự phát triển của chồi nên cũng không ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của lá Chính vì

thế mà không có sự khác biệt về sự phát triển số lá của cỏ Paspalum atratum ở các

nghiệm thức

2.3 Chiều cao cây

Chiều cao cây của cỏ Paspalum atratum khi cho ngập ở độ sâu 20 cm được ghi

nhận và trình bày trong bảng 3

Chiều cao cây của cỏ Paspalum atratum khi cho ngập ở độ sâu 20 cm được ghi nhận

và trình bày bảng 3.3 Cây cỏ Paspalum atratum có thời gian sinh trưởng ngắn (thu

hoạch vào lúc 60 ngày sau khi trồng) Theo kết quả của bảng trên cho thấy với độ ngập sâu 20 cm và cho ngập vào 3 thời điểm 30, 40, 50 NSKT thì chiều cao cây không bị ảnh hưởng Mặc dù chiều cao cây giữa các nghiệm thức có chênh lệch nhau nhưng sự chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê

Bảng 3: Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến sự phát triển

chiều cao (cm) cỏ Paspalum atratum

Thời điểm cho ngập

(Ngày sau khi trồng: NSKT)

Thời điểm quan sát (ngày sau khi trồng)

triển Kết quả về chỉ số SPAD của cỏ Paspalum atratum trong thí nghiệm được trình

bày cụ thể trong bảng 4

Kết quả bảng 4 cho thấy chỉ số SPAD đã có sự khác biệt rõ rệt khi cây được 40 NSKT (10 ngày sau khi cho ngập nước) ở các nghiệm thức, kết quả thu được về chỉ số SPAD khác nhau rất có ý nghiã thống kê giữa nghiệm thức ngập nước vào thời điểm 30 NSKT và các nghiệm thức còn lại Kết quả chỉ số SPAD cao nhất là nghiệm thức cho ngập ở 50 NSKT (lúc này cây được 50 ngày tuổi) là 1,02 trong kế đến là nghiệm thức cho ngập vào 40 NSKT (0,97), đối chứng (0,86) và thấp nhất là nghiệm thức cho ngập vào 30 NSKT (0,63) Có lẽ ở nghiệm thức cho ngập 30 NSKT thời gian ngập nước lâu (30 ngày) thành phần dinh dưỡng giảm (Ota, 1981), làm giảm khả năng quang hợp của

lá (Mai Trần Ngọc Tiếng, 1998)

Trang 38

Bảng 4: Ảnh hưởng của độ sâu ngập (20 cm) và thời điểm ngập đến chỉ số SPAD

của cỏ Paspalum atratum

Thời điểm cho ngập

(Ngày sau khi trồng: NSKT)

Thời điểm quan sát (ngày sau khi trồng)

Ghi chú: ns: không có sự khác biệt có ý nghĩa; (*): khác biệt ở mức ý nghĩa 5%

Đến thời điểm 50 NSKT và 60 NSKT thì ta thấy sự chênh lệch về chỉ số SPAD giữa các nghiệm thức không còn khác biệt có ý nghĩa thống kê và chỉ số quang hợp cũng tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây Điều này cho thấy ở độ sâu ngập 20 cm sau thời gian cho ngập được 10 ngày thì cây đã thích nghi tốt trong điều kiện ngập nước

2.5 Nồng độ oxy hoà tan (DO)

Oxy hoà tan trong nước sẽ tham gia vào quá trình trao đổi chất, duy trì năng lượng cho quá trình phát triển, sinh sản, tái sản xuất cho các sinh vật sống trong nước (Đặng Kim Chi, 1999)

Từ số liệu trong bảng 5, lúc 10 ngày ngập nước, sự khác nhau về hàm lượng oxy hoà tan trong nước rất có ý nghiã thống kê

Bảng 5: Ảnh hưởng của thời gian ngập nước ở độ sâu 20 cm đến hàm lượng oxy hòa tan (mg/lít)

Thời điểm cho ngập (NSKT) Thời gian ngập (ngày sau khi ngập)

Trang 39

Kết quả về hàm lượng oxy hòa tan cụ thể như sau: nghiệm thức ngập 30 NSKT có hàm lượng oxy hòa tan đo được ở mức cao nhất (1,43 mg/lít), nghiệm thức cho ngập vào 40 NSKT (0,54 mg/lít) và thấp nhất là nghiệm thức cho ngập vào 50 NSKT (0,21 mg/lít) Xét riêng nghiệm thức cho ngập 30 NSKT, theo thời gian ngập nước thì cũng cho thấy hàm lượng oxy hoà tan luôn giảm dần theo thời gian quan sát từ 1,43 xuống 0,53 và 0,32mg/l Sự suy giảm về hàm lượng oxy hòa tan trong nước có lẽ do thể tích bộ rễ tăng, lượng oxy tiêu thụ càng nhiều Sự giảm dần lượng oxy hoà tan trong chậu theo thời gian sinh trưởng của cây trồng trong chậu cũng được ghi nhận bởi Nguyễn Tuấn Phong (2005) và Lê Văn Hội (2006).

2.6 Tổng số rễ khí sinh/chậu

Trong thí nghiệm của chúng tôi quan sát thấy cây đã thích nghi bằng cách mọc rễ khí sinh xung quanh phần thân ngập trong nước để lấy oxy nhằm cung cấp cho cây như hình 8

Hình 8: Sự hình thành rễ khí sinh ở cỏ Paspalum atratum trong điều kiện ngập

nước

Kết quả hình thành rễ khí sinh ở cỏ Paspalum atratum thí nghiệm được minh họa

trong hình 9 Nghiệm thức ngập nước lâu ngày nhất là nghiệm thức cho ngập nước ở

30 NSKT đến khi thu hoạch (ngập nước được 30 ngày) có số rễ khí sinh cao nhất là

194 rễ/chậu, kế đến là các nghiệm thức ngập nước 40 và 50 NSKT có số rễ khí sinh tuần tự là 90 và 60 rễ/chậu Ngược lại, nghiệm thức không ngập nước (nghiệm thức đối chứng) thì hoàn toàn không có rễ khí sinh Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

Từ những kết quả này chứng minh rằng cây cỏ Paspalum atratum có khả năng thích

ứng được điều kiện ngập nước sâu 20 cm vào thời điểm 30 NSKT bằng cách mọc nhiều rễ khí sinh (Hình 8)

Trang 40

Hình 9: Ảnh hưởng của độ sâu ngập (sâu ngập 20 cm) và thời điểm ngập đến sự

hình thành rễ khí sinh

2.7 Quan sát hình thái, cấu trúc bên trong của rễ cỏ Paspalum atratum

Krame (1998) cho rằng một trong những con đường mà một số loài cây thích nghi với ngập úng là thành lập mô khí để chuyển oxy xuống rễ, hay một ít oxy khuếch tán từ bề mặt môi trường ngập nước rễ thông qua hệ thống gian bào (Armstrong,

1971) Ống dẫn khí tạo thành sẽ dẫn khí từ chồi thoáng khí đến rễ yếm khí Đây là cơ

chế phản ứng lại khi cây bị ngập nước

- Cấu trúc bên trong rễ : Khi quan sát trên rễ già ở mẫu cỏ không ngập nước và mẫu

cỏ ngập nước (hình 10)

Qua quan sát cho thấy cấu trúc bên trong rễ nhận thấy đối với những rễ cỏ Paspalum ở

các nghiệm thức ngập nước thì sự hình thành các aerenchyma xuất hiện rất rõ Trong

khi đó rễ cỏ Paspalum atratum không ngập nước thì không có sự hình thành hệ thống

arenchyma

Ngày đăng: 10/04/2013, 21:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Tựa hình Trang - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
nh Tựa hình Trang (Trang 5)
Bảng 1: Ảnh hưởng của độ sâu ngập 20 cm và thời điểm cho ngập đến chỉ tiêu năng suất của cỏ - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Bảng 1 Ảnh hưởng của độ sâu ngập 20 cm và thời điểm cho ngập đến chỉ tiêu năng suất của cỏ (Trang 9)
Hình 2: Ảnh hưởng của độ sâu ngập đến sự phát tiển chồi cỏ Paspalum atratum - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 2 Ảnh hưởng của độ sâu ngập đến sự phát tiển chồi cỏ Paspalum atratum (Trang 9)
Bảng 3: Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Bảng 3 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến giá trị dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum (Trang 11)
Hình 2: Cách chọn hom và trồng hom cỏ Paspalum atratum vào chậu 2.1.6. Cỏc chỉ tiờu theo dừi - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 2 Cách chọn hom và trồng hom cỏ Paspalum atratum vào chậu 2.1.6. Cỏc chỉ tiờu theo dừi (Trang 27)
2.2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
2.2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 29)
Hình 3: Cách để lứa tái sinh - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 3 Cách để lứa tái sinh (Trang 30)
Hình 5: Cây bị chết lúc 10 ngày sau khi ngập ở độ sâu 40 cm - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 5 Cây bị chết lúc 10 ngày sau khi ngập ở độ sâu 40 cm (Trang 34)
Hình 6: Cây bị chết lúc 10 ngày sau khi ngập ở độ sâu 60 cm - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 6 Cây bị chết lúc 10 ngày sau khi ngập ở độ sâu 60 cm (Trang 34)
Hình 7: Rễ cỏ Paspalum atratum bị  thối đen khi ngập sâu 40 cm và 60 cm - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 7 Rễ cỏ Paspalum atratum bị thối đen khi ngập sâu 40 cm và 60 cm (Trang 35)
Hình 8: Sự hình thành rễ khí sinh ở cỏ Paspalum atratum trong điều kiện ngập  nước - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 8 Sự hình thành rễ khí sinh ở cỏ Paspalum atratum trong điều kiện ngập nước (Trang 39)
Hình 10: Cấu trúc bên trong của rễ cỏ Paspalum atratum không ngập nước (A) và  ngập nước (B) khi trồng trong chậu - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 10 Cấu trúc bên trong của rễ cỏ Paspalum atratum không ngập nước (A) và ngập nước (B) khi trồng trong chậu (Trang 41)
Bảng 7: Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến số chồi/bụi của cỏ  Paspalum - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Bảng 7 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến số chồi/bụi của cỏ Paspalum (Trang 43)
Hình 12: Rễ già của cỏ Paspalum atratum không ngập nước (A) và ngập nước (B)  trong điều kiện ngoài đồng - khảo sát khả năng chịu ngặp, sinh trưởng, năng suất và dinh dưỡng của cỏ Paspalum atratum
Hình 12 Rễ già của cỏ Paspalum atratum không ngập nước (A) và ngập nước (B) trong điều kiện ngoài đồng (Trang 48)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w