báo cáo hiện trạng canh tác và ảnh hưởng của nấm Trichoderma spp
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC ðẤT - TNTN
ðỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM Trichoderma spp và 3 LOẠI VẬT LIỆU CHỨA ðẤT TRỒNG LÊN SINH TRƯỞNG, SÂU BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN GỪNG TẠI XÃ
MỸ AN, HUYỆN CHỢ MỚI NĂM 2006-2007
Chủ nhiệm ñề tài: NGUYỄN PHÚ DŨNG
Long Xuyên, tháng 03 năm 2008
Trang 2Chương I
MỞ ĐẦU
Chợ Mới là huyện cù lao có diện tích đất phù sa màu mỡ của tỉnh An Giang và nằm trong vùng đê bao khép kín rất thích hợp cho việc canh tác các loại hoa màu và các cây trồng khác, cây ngắn ngày cũng được đưa vào canh tác và xem là các loại cây thế mạnh phát triển của huyện Trong đó, cây gừng là một trong những cây được người dân quan tâm đưa vào sản xuất góp phần mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho người dân hiện nay Mô hình này hiện nay được bà con nông dân ở các huyện Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành áp dụng rộng rãi và đạt kết quả cao Bên cạnh đó, cây gừng là loại cây gia
vị và dược liệu có nhiều đặc tính quí Nó góp phần làm tăng thêm hương vị cho một số loại thực phẩm cũng như dùng làm thuốc điều trị một số bệnh cho người Đồng thời, với những đặc tính dễ trồng, ít sử dụng phân bón, có thể trồng ở dưới tán cây nên dễ dàng thực hiện mô hình xen canh trong vườn cây ăn trái để góp phần tăng thêm thu nhập cho người nông dân, bình quân 1 ha đạt từ 45-80 tấn gừng với giá thương lái mua tại nhà vườn là 10.000-12.000 đồng/kg thì tổng thu từ 45-96 triệu đồng/ha/năm (Khoa học và đời sống, 2005)
Tuy nhiên, cây gừng dễ bị sâu bệnh tấn công (sâu đục thân, sâu ăn tạp, bệnh
cháy lá, bệnh thối củ…), trong đó bệnh thối củ (héo vàng) do vi khuẩn Erwinia spp gây nên là nghiêm trọng nhất, đây là loại bệnh rất khó phòng và trị Do vậy, nông dân
thường rất ngán ngại khi trồng loại cây trồng này
Hiệu quả sử dụng nấm Trichoderma spp trên thế giới được ứng dụng rộng rãi ở
các loại cây trồng như: Cà chua, khoai tây, …riêng về cây ăn trái và rau dưa cũng đã có
nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng nấm đối kháng Trichoderma spp
Các đối tượng dịch hại xãy ra trên gừng ngoài yếu tố khách quan (nhiệt độ, ẩm
độ, gió, mưa, đất ) còn do vấn đề kỹ thuật canh tác của nông dân như: lượng giống gieo trên hom trồng, khoảng cách trồng gừng trên sọt hay bọc nilong sẽ ảnh hưởng đến lượng giống được dùng, kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch và bảo quản chưa được thống nhất qui trình làm ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, dịch hại và năng suất cũng như về hiệu quả kinh tế trong sản xuất đại trà Để đáp ứng nhu cầu của bà con nông dân trồng
gừng đạt hiệu quả hơn trong sản xuất, vì thế chúng tôi chọn đề tài: “Hiện trạng canh
tác và ảnh hưởng của nấm Trichoderma spp và 3 loại vật liệu chứa đất trồng lên
sinh trưởng, sâu bệnh hại chính trên gừng tại xã Mỹ An, huyện Chợ Mới năm 2006-2007”, làm cơ sở cho nông dân mạnh dạn áp dụng kỹ thuật canh tác mới trong sản
xuất, kỳ vọng khắc phục được những khó khăn mà người trồng gừng đang gặp phải, đồng thời góp phần nâng cao đời sống nông dân
A MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I MỤC TIÊU
Điều tra, ghi nhận kỹ thuật canh tác, sâu bệnh hại chính và các loại nông dược được sử dụng trên cây gừng của nông dân tại một số xã thuộc Huyện Chợ Mới, An Giang
Xác định hiệu quả của nấm đối kháng Trichoderma spp đối với bệnh thối củ,
bệnh cháy lá…
Xác định hiệu quả của từng vật liệu chứa đất trồng lên sinh trưởng và sâu bệnh hại chính trên gừng so với trồng gừng trực tiếp trên đồng ruộng
Trang 3II NỘI DUNG
Điều tra hiện trạng canh tác và sử dụng nông dược trên cây gừng tại huyện Chợ Mới (47 mẫu được phân bổ theo một số xã Kiến An, Mỹ An, Tấn Mỹ và Bình Phước Xuân) theo phiếu điều tra được soạn trước các câu hỏi phỏng vấn có liên quan đến các vấn đề kỹ thuật canh tác như thời vụ, giống, phân bón, tưới nước, sâu bệnh, các loại nông dược thường được sử dụng, năng suất, hiệu quả kinh tế…
Bố trí thí nghiệm hiệu quả của nấm Trichoderma spp và 3 loại vật liệu chứa lên
tốc độ sinh trưởng và dịch hại chính trên cây gừng (sâu đục thân, sâu ăn tạp, bệnh cháy
lá, thối củ ) ở huyện Chợ Mới
B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
I ĐỐI TƯỢNG
Đề tài được thực hiện trên đối tượng là các hộ nông dân canh tác gừng có diện tích trồng gừng trên 1000m2, kinh nghiệm trồng gừng trên 3 vụ và các dịch hại chính trên cây gừng
II PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chọn ngẫu nhiên 47 nông dân trồng gừng trên địa bàn các xã Kiến An, Mỹ An, Tấn Mỹ và Bình Phước Xuân thuộc huyện Chợ Mới - An Giang để tiến hành điều tra
Bố trí thí nghiệm hiệu quả của nấm Trichoderma spp và một số vật liệu chứa lên
tốc độ sinh trưởng và dịch hại chính trên cây gừng tại xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, tỉnh
Ở Việt Nam gừng được trồng khá phổ biến từ Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn) vào Nam (Cà Mau) Nhưng gừng chỉ được trồng rải rác trong các vườn hộ gia đình (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2001)
2 Đặc tính sinh học của cây gừng
Cây gừng được trồng phổ biến ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21-27OC, lượng mưa từ 1500-2500mm/năm, từ độ cao vài mét trên mặt biển đến 1500m Ở các vùng núi cao, khí hậu lạnh, nhiều sương giá không thích hợp đối với cây gừng (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2001)
Gừng là loại cây thân thảo, sống được lâu năm, có thể cao từ 50-100 cm tuỳ theo đất, có nơi cao hơn 150 cm Cây gừng cũng sinh trưởng bình thường dưới tán che của các vườn cây ăn quả và một số loại rừng trồng Tuy nhiên dưới độ tán che 0,7-0,8 (tán
Trang 4lá che khoảng 70-80% diện tích tán) của rừng gỗ tự nhiên, cây gừng trồng chỉ cho năng suất củ bằng ½ năng suất trồng ở nơi ánh sáng hoàn toàn, trên cùng một loại đất (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2001) Gừng phát triển thân ngầm ở dưới đất,
có nhiều đốt, mỗi đốt có mầm ngủ, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ đâm chồi thành cây gừng mới Bẹ lá ôm sát vào nhau phát triển thành thân giả trên mặt đất Lá đơn mọc cách (so le), lá trơn, không có cuống, hình mũi mác, mặt bóng nhẵn, mép lá không có răng cưa, gân giữa hơi trắng nhạt Trục hoa mọc từ góc (củ gừng), dài khoảng trên dưới
20 cm, hoa tự tạo thành bông, mọc sát nhau, hoa dài khoảng 5 cm, rộng khoảng 2-3 cm,
lá bắc hình trứng, mép lưng màu vàng Đài hoa dài chừng 1 cm, có 3 răng ngắn, có 3 cánh hoa, màu vàng hơi nhạt, mép cánh hoa màu tím, nhị hoa cũng màu tím Tuy nhiên
ở nước ta gừng trồng ít ra hoa, hoặc chưa ra hoa đã thu hoạch củ để bán (Mai Văn Quyền và ctv, 2001)
Gừng có nhu cầu N, P, K tương đối cao, trong đó, nhu cầu về N là nhiều nhất, sau đó P và K Vì vậy, muốn đạt năng suất cao phải trồng gừng trên đất tốt, nếu trồng gừng trên đất xấu phải bón phân (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2001)
3 Giống
3.1 Chọn giống
Khi chọn gừng để làm giống thì ngưng bón phân ở giai đoạn gừng đã được 6 tháng tuổi Lưu ý không được lạm dụng phân vô cơ quá nhiều, gừng sẽ dễ phát sinh bệnh Đối với phân hữu cơ vi sinh có thể tăng liều lượng lên, bón càng nhiều càng tốt, không có hại cho cây gừng (Khoa Học & Đời Sống, 2005)
Gừng giống: Chọn gừng già, không mang mầm bệnh Gừng trồng phổ biến
(Zingiber officinale) trong sản xuất có hai giống khác nhau:
• Gừng trâu, củ to, ít xơ, ít cay, thích hợp cho xuất khẩu
• Gừng dé được gây trồng phổ biến, cho củ nhỏ hơn, vị cay và nhiều xơ hơn, hiện nay đang được bán nhiều ở thị trường trong nước (Châu Đăng Sơn, 2005)
Có ý kiến cho rằng: “Khi trồng gừng người ta bẻ củ gừng ra từng nhánh nhỏ, bên trong ruột củ gừng có màu vàng sậm, phía trên đỉnh sinh trưởng của củ gừng có eo thắt lại chứng tỏ gừng đã già và phần thân đã tàn lụi tự nhiên, chứ không phải dùng các biện pháp khác để tác động lên cây gừng (Bùi Thanh Hà và ctv, 2004)
Sau khi trồng 9 tháng, tiến hành thu hoạch củ gừng Trong giai đoạn này, lá cây bắt đầu chuyển sang màu vàng, cong lại, một số lá bắt đầu khô héo
Thu hoạch gừng tươi sau khi trồng 5-6 tháng, gừng giống sau khi trồng 8-9 tháng (Châu Đăng Sơn, 2005)
3.2 Cách xử lý gừng giống
Gừng giống cần được xử lý thuốc trừ nấm bệnh, sau khi bẻ hom (mẫu, mảnh, miếng hoặc ánh) để gừng khô mặt rồi mới đem giâm cho ra mầm (thời gian từ 15-20 ngày), thông thường 1kg gừng giống bẻ được từ 15-20 hom (Châu Đăng Sơn, 2005)
Gừng được nhân giống chủ yếu bằng các hom nhỏ được tách từ thân rễ, mỗi hom dài từ 3-5 cm, nặng 30-50 g và có ít nhất một đỉnh chồi hoặc một đỉnh sinh trưởng
Độ lớn của các hom gừng giống có ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ sinh trưởng và năng suất các diện tích sản xuất (Lê Đình Mỗi và ctv, 2002)
Trang 54 Thời vụ
Gừng trồng từ đầu xuân (tháng 12) đến cuối vụ xuân (tháng 4-5) Cuối năm khoảng tháng 10-11-12 hàng năm ta có thể thu gừng Thời gian sinh trưởng từ 8-10 tháng tùy từng giống Theo Mai Văn Quyền và ctv (2001) ở miền Nam, thời vụ trồng gừng vào đầu mùa mưa, ở ngoài Bắc là mùa xuân, có mưa phùn, độ ẩm không khí không cao
5 Làm đất
Theo Mai Văn Quyền và ctv (2001), bộ phận chính ta thu hoạch là củ gừng (thân ngầm) nằm dưới lòng đất muốn củ gừng phát triển tốt đất cần tơi xốp, nhiều mùn thoát nước tốt vì vậy đất để trồng rừng thường là đất vườn cày bừa kỹ, làm sạch cỏ
Trước khi xuống giống nên gom và thiêu hủy những cây bị bệnh của vụ trước
đó, đất trồng nên được cày xới, phơi khô, lên liếp và bón lót vôi bột (70-120 kg/công)
Có thể rải chất kích kháng, tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh, phân chuồng đã ủ hoai mục, cũng có thể dùng tro trấu Chú ý: khi đặt gừng giống, nên đặt trên mặt liếp, không nên đặt dưới rãnh (để nhẹ tưới) vì vi khuẩn gây bệnh thối củ luôn có khuynh hướng di chuyển xuống phần dưới của liếp trồng, nhất là tập trung nơi các rãnh (Khoa Học & Đời Sống, 2005)
Theo Lê Đình Mỗi và ctv (2002), cây gừng sinh trưởng tốt trên các thân đất tơi xốp, tầng đất dầy còn tương đối tốt, ít lẫn đá, có khả năng giữ nước và thấm nước tương đối cao, đất đủ ấm, thoát nước tốt, không gây úng, cây gừng thích hợp nhất trên những thân đất thịt, có hàm lượng mùn cao, đất trồng tốt nhất là có độ pH 5,5-7
Cây gừng đã được 90 ngày tuổi, có thể chia ra làm 5 đợt bón phân và mỗi đợt bón cách nhau 20 ngày (90 ngày, 110 ngày, 130 ngày, 150 ngày, 170 ngày, 190 ngày) Bón phân NPK 20-20-15, liều lượng 10 kg/công, đồng thời có thể bón thêm các loại phân hữu cơ (Khoa Học và Đời Sống, 2005)
Theo Châu Đăng Sơn (2005), bón phân được chia ra các giai đoạn sau:
- Đợt 1: Sau khi trồng 25-30 ngày, bón 3kg phân trùn /sọt
- Đợt 2: Sau khi trồng 55-60 ngày, bón 3kg phân trùn / sọt
Các đợt sau, bón phân khi thấy củ lòi ra khỏi lớp phân trùn Liều lượng phân bón tùy củ lòi nhiều hay ít Khoảng 1- 3kg/vỏ
Theo Khoa học và đời sống (2005), cây gừng là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng khá dài (từ 6 đến 8 tháng) Do vậy, khi trồng gừng, nông dân thường trồng xen với các loại cây trồng khác có thời gian sinh trưởng ngắn hơn như đậu xanh hoặc bắp Ở giai đoạn đầu nông dân chỉ bón phân cho các loại cây trồng xen này (chứ không bón phân cho cây rừng) Cách bón phân, thành phần và liều lượng phân bón có ảnh hưởng lớn đến tình hình bệnh hại sau này Khi thu hoạch các cây trồng xen xong thì nông dân mới tiến hành bón phân cho cây gừng (ở giai đoạn cây gừng đã được 90 ngày tuổi) Khi chọn gừng để làm giống thì ngưng bón phân ở giai đoạn gừng đã được 6 tháng tuổi Lưu
Trang 6ý không được lạm dụng phân vô cơ quá nhiều, gừng sẽ dễ phát sinh bệnh Đối với phân hữu cơ vi sinh có thể tăng liều lượng lên, bón càng nhiều càng tốt, không có hại cho cây gừng.
8 Sâu, bệnh hại gừng và biện pháp phòng trị
Bệnh cháy lá do nấm Fusarium spp gây nên, thường vết bệnh xuất hiện trên
chóp lá và cháy từ chóp vào Nếu bệnh phát triển mạnh, nấm tấn công vào nách lá, xuống củ làm chết cả cây Bệnh chủ yếu phát sinh và gây hại trên lá già Để phòng trị bệnh này sử dụng Carbenzim, Bavistin… (Trần Ngọc Chủng, 2005)
Theo Trần Văn Hòa và ctv (2000) bệnh thối củ của gừng do vi khuẩn
Pseudomonas sp gây ra, thường gây hại ở những ruộng thoát nước kém và trong những ngày mưa liên tục Bệnh cháy lá gừng do nấm Pyricularia grisea gây ra, thường gây
thiệt hại nặng trong những ngày có ẩm độ cao, ít nắng có sương mù và kéo dài
Bệnh thối củ do vi khuẩn Erwinia spp gây ra, đây là bệnh rất nguy hiểm và gây
thiệt hại lớn đối với gừng trong những ngày mưa dầm (kéo dài) đất thoát nước kém (đất sét nhiều) lên liếp thấp Cây gừng đang xanh tốt bổng dưng bị héo đột ngột vào giữa trưa, vài bữa sau toàn bộ cây bị vàng, khi nhổ lên thấy đỉnh sinh trưởng của gừng có nhựa đục Phòng trị bằng cách phun thuốc Benomyl, Score, Kasai, Kasumin, Derosal…
Bệnh thối củ gừng do nấm Rhizoctonia solani gây ra, thường gây hại trong điều
kiện nhiệt độ và ẩm độ cao Bệnh thường gây hại ở phần củ dưới đất nên khó phát hiện, trên thân gừng không có biểu hiện gì khi củ bị thối, chỉ khi củ bị thối nhũn hoàn toàn cây bị gãy gục hoặc chỉ bị héo nhẹ khi trời nắng (Trần Văn Hòa và ctv, 2000) Bệnh thường ít hoặc không gây hại trên thân gừng chỉ khi nào bụi gừng dày đặc thì bệnh mới gây hại đến phần thân
Theo Trần Ngọc Chủng (2005), sâu đục thân thường xuất hiện vào đầu mùa mưa, đục vào bên trong ăn phần non, nếu bộc phát nhanh sẽ làm giảm năng suất gừng
và sử dụng Basudin, Regent…khi thấy bướm xuất hiện thì phun xịt
9 Nấm Trichoderma spp
Nấm Trichoderma spp hiện diện ở khấp nơi trong đất đã được các nhà khoa học
tìm thấy có khả năng phân huỷ các dư thừa thực vật hay rơm rạ thành chất dinh dưỡng cung cấp cho cây đồng thời còn tạo thêm độ phì cho đất Bên cạnh khả năng phân huỷ rơm thì một số loài trong chi này còn là nhân tố hứa hẹn trong phòng trừ sinh học, do trong quá trình sống chúng sản sinh ra các chất kháng sinh, độc tố…ức chế sự phát triển của một số nấm gây bệnh trong đất (theo Cook và Baker, 1989, được trích dẫn bởi Ngô Thị Mỹ Hiền, 2003)
Trong quá trình tác động lên nấm gây bệnh, nấm Trichoderma spp ký sinh lên
nấm bệnh, cạnh tranh thức ăn, sản sinh các chất kháng sinh, enzyme để ngăn cản sự xâm nhập và gây bệnh của các nấm gây bệnh hại cây Bên cạnh tác động đối kháng với
nấm gây bệnh hại cây, nấm Trichoderma spp còn biểu hiện tác động kích thích đối với
sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng (Seiketop, 1982 được trích dẫn bởi Trần Thị Thuần và ctv, 1996-2000)
10 Thu hoạch
Theo Trần Ngọc Chủng (2005), khi gừng có lá vàng và khô trên 2/3 số lá là ta có thể thu hoạch được Khi thu hoạch chú ý tránh gãy gừng Kỹ thuật thu nhánh tránh gãy
Trang 7và giữ nguyên cả khóm củ, ta cuốc xa gốc 20 – 25 cm, sau nhổ nhẹ để lấy cả khóm củ, tỉa hết đất để có tảng củ của khóm.
Theo Châu Đăng Sơn (2005), sau khi trồng 9 tháng, tiến hành thu hoạch củ gừng Trong giai đoạn này, lá cây bắt đầu chuyển sang màu vàng, cong lại, một số lá bắt đầu khô héo Đào nhẹ không để gẫy củ Sau đó, nhổ cây, rũ sạch đất
11 Công dụng
Theo Lê Đình Mỗi và ctv (2002), gừng được sử dụng làm gia vị trong chế biến thực phẩm ở hầu hết các khu vực trên thế giới Thông thường gừng được sử dụng ở dạng củ tươi hay được chế biến sơ bộ ở dạng củ khô thái lát, bột gừng khô, mức gừng, tinh dầu gừng và nhựa dầu gừng được sử dụng trong công nghiệp sản xuất thịt hộp, cá hộp, bánh kẹo, nước giải khát, rượu bia và trong hoá mỹ phẩm Gừng được dùng làm thuốc kích thích tiêu hoá, dùng chữa ăn không tiêu, kém ăn, nôn mửa, tiêu chảy, cảm lạnh, ho, chân tay lạnh
Theo Hoàng Xuân Ba (2003), gừng lành tính, không độc và rất hiệu quả trong chữa trị chứng nôn nao sau phẫu thuật hoặc gây mê, điều trị ung thư bằng hóa trị liệu, say sóng, tàu xe Gần đây, người ta còn phát hiện ra gừng có tác dụng chống viêm và chống đông máu rất hiệu quả
Về công dụng thì cây gừng còn được dân gian dùng để chữa cho gia súc như trâu, bò, voi, ngựa bị dịch mắt đỏ, ăn không nuốt được (Giáp Kiều Hưng, 2004)
Trên thực nghiệm, gừng có các tác dụng chống co thắt cơ trơn, chống dị ứng, kháng histamin, chống viêm và giảm ho Hoạt chất cineol trong gừng có tác dụng diệt khuẩn trên nhiều loài vi khuẩn gây bệnh (Đoàn Thị Nhu, 2005)
12 Hiệu quả kinh tế
Vụ Đông Xuân 2003-2004, bà con nông dân hai huyện Long Mỹ, Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, đã thu hoạch và trồng mới hơn 400 ha gừng củ xen canh trên cùng một diện tích cây ăn quả (trồng mới) Bình quân 1 ha đạt từ 45-50 tấn gừng với giá thương lái mua tại nhà vườn là 12.000 đồng/kg Hiệu quả thu nhập từ 1 ha gừng 54-60 triệu đồng/ha/năm, cao gấp mười lần so với trồng cây màu xen canh khác
Theo Trần Ngọc Chủng (2005), vụ trồng màu 2005, nhiều hộ dân ở các huyện như Thạnh Trị, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) đã trồng xen canh cây gừng, hành dưới những liếp dưa leo thu nhập thêm 7-8 triệu đồng/vụ, tính ra với hơn 1 công đất cho thu nhập trên 20 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi trên 15 triệu đồng/vụ
Theo Trần Ngọc Chủng (2005), đánh giá về hiệu quả của cây gừng: “Năng suất
1 ha đạt khoảng 10 tấn, sản lượng này có thể nâng lên nếu gừng được chăm sóc tốt hơn Giá bán mà Công ty thu mua là 200.000 đồng/tạ Như vậy mỗi ha gừng trâu mang lại khoảng hơn 20 triệu đồng, trừ chi phí đi người dân vẫn còn thu về một nửa”
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Điều tra nông dân
1.1 Phương tiện: Phiếu điều tra được soạn trước các câu hỏi phỏng vấn có liên
quan đến các vấn đề kỹ thuật canh tác gừng như thời vụ, giống, phân bón, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, các loại nông dược thường được sử dụng, năng suất, hiệu quả kinh tế, (Phụ chương 50) Thời gian điều tra tháng 2/2007 – 4/2007
Trang 81.2 Phương pháp: Chọn ngẫu nhiên hộ nông dân trồng gừng trên địa bàn các xã
Kiến An, Mỹ An, Tấn Mỹ và Bình Phước Xuân thuộc huyện Chợ Mới - An Giang để tiến hành điều tra Số phiếu điều tra là 47 phiếu
1.3 Xử lý số liệu: Các số liệu được nhập vào bằng phần mềm Microsoft Excel
Sau đó thống kê bằng chương trình SPSS for Window V.12 để tính trung bình, Max và Min
2 Thí nghiệm
2.1 Phương tiện
* Địa điểm: thực hiện tại xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, từ tháng
02/2006-10/2006
* Khí hậu: tình hình khí hậu trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm được thu
thập dựa vào số liệu của đài khí tượng thủy văn An Giang, thể hiện qua các chỉ tiêu về nhiệt độ, lượng mưa, tổng giờ nắng và ẩm độ không khí
* Giống: Địa phương (Gừng dé).
2.2 Phương pháp
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng ruộng của Chú 5 Bưu và Chú
5 Hoàng, xã Mỹ An, Huyện Chợ Mới, An Giang theo thể thức lô phụ,
hai nhân tố (xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa) với 8 nghiệm
thức và ba lần lặp lại Sơ đồ bố trí thí nghiệm và tổ hợp các nghiệm thức được trình bày ở Hình 1 và Bảng 1
Tổng diện tích ruộng thí nghiệm: 300 m2, diện tích mỗi lô (nghiệm thức) là 7,8
m2 Mỗi lô thí nghiệm có một lô cách ly với diện tích tương đương nhau để hạn chế ảnh hưởng của thuốc trừ sâu và bệnh
Bảng 1: Tổ hợp các nghiệm thức giữa vật liệu chứa kết hợp xử lý nấm Trichoderma
spp của thí nghiệm gừng tại Chợ Mới
Xử lý nấm
Trichoderma
spp
Vật liệu chứa Trồng trên liếp
theo nông dân
(ND)
Sọt tre
(ST)
Bọc nilong trắng
(NiT)
Bọc nilong đen
(NiĐ)
Không xử lý
(O)
ND-O(2)
ST-O (4)
NiT-O(6)
NiĐ-O(8)
Có xử lý
(Tri) ND-Tri(1) ST-Tri(3) NiT-Tri(5) NiĐ-Tri(7)
Trang 9Hình 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm gừng tại Chợ Mới, An Giang
Ghi chú:
- ND-Tri (1): Trồng gừng trên liếp theo cách nông dân thực hiện và có xử lý nấm Trichoderma spp bằng cách sử dụng chế phẩm Tri-ĐHCT tưới hoặc phun trên cây con theo nồng độ sử dụng (1g/m 2 đất)
- ND-O (2): Trồng gừng trên liếp theo cách nông dân thực hiện và không có sử dụng chế phẩm Tri-ĐHCT
- ST-Tri (3): Trồng gừng trong Sọt tre (2 mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,4m) và có xử lý nấm Trichoderma spp bằng cách sử dụng chế phẩm Tri- ĐHCT tưới hoặc phun trên cây con theo nồng độ sử dụng (1g/m 2 đất)
- ST-O (4): Trồng gừng trong Sọt tre (2 mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,4m) và không có sử dụng chế phẩm Tri-ĐHCT.
- NiT-Tri (5): Trồng gừng trong bọc nilong (xốp) trắng (2 mẫu giống/bọc với đường kính 0,4m) và có xử lý nấm Trichoderma spp bằng cách sử dụng chế phẩm Tri-ĐHCT tưới hoặc phun trên cây con theo nồng độ sử dụng (1g/m 2
đất)
- NiĐ-O (8): Trồng gừng trong bọc nilong (xốp) đen (2 mẫu giống/bọc với đường kính 0,4m) và không có sử dụng chế phẩm Tri-ĐHCT
Trang 102.2.2 Kỹ thuật canh tác
* Chuẩn bị đất: đất trồng nên cày xới, phơi khô, lên liếp và rải thuốc hoá học
để tiêu diệt mầm bệnh trong đất, tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh, phân chuồng đã ủ hoai mục, cũng có thể dùng tro trấu
* Chuẩn bị cây con: Sau khi thu hoạch gừng giống được phơi nơi thoáng mát
(khoảng 5 ngày) Gừng được nhân giống chủ yếu bằng các mẩu, mảnh (hom) nhỏ được tách từ thân rễ (trung bình 1 kg gừng phân ra 15 hom), mỗi mẫu dài từ 3-5 cm, nặng 30-50g và có ít nhất một đỉnh chồi hoặc một đỉnh sinh trưởng Sau đó phơi nơi thoáng mát cho ráo vết cắt (khoảng 10 ngày) Mẫu gừng được xử lý thuốc Carban (ngâm khoảng 1-
2 giờ) trước khi đem ủ trong tro trấu và tưới nước vừa đủ ẩm để giúp gừng nẩy mầm tốt (khoảng 7 ngày) trước khi đem ra trồng
* Trồng cây:
- Trồng trong sọt tre (đường kính 0,4m), bọc nilong trắng (đường kính 0,4m) và bọc nilong đen (đường kính 0,4m): Sau khi lót bọc nilong mỏng hay cước, cho hỗn hợp đất phân (đất + phân + tro được xử lý vôi) vào, nén vừa Trồng với khoảng cách 0,4 x 0,5 cm và chỉ trồng 2 mẫu/sọt hay bọc Có thể xử lý thuốc trừ nấm bệnh hoặc trừ sâu sau khi trồng 3-5 ngày Khi trồng, cần loại bỏ những mẫu gừng bị hư thối hoặc nhiễm nấm bệnh (tránh trường hợp nấm bệnh lây lan về sau)
- Đối với liếp đất thì đặt gừng giống trên mặt liếp, không nên đặt dưới rãnh (để nhẹ tưới)
- Xử lý Trichoderma spp lần 1 lúc gieo bằng cách sử dụng chế phẩm tưới hoặc
phun trên cây con theo nồng độ sử dụng (1g/m2 đất), cách 30 ngày sau khi gieo xử lý lần 2 và 60 ngày sau khi gieo xử lý lần 3
* Chăm sóc:
- Tưới nước: Giai đoạn đầu, 3 ngày/ lần, tưới vừa đủ ẩm bằng thùng tưới có gắn vòi sen Giai đoạn sau, 7 ngày/ lần, tưới đẫm nước
- Làm cỏ: Khi thấy cỏ xuất hiện ta tiến hành nhổ sạch cỏ dại, kết hợp vun gốc
- Bón phân: Theo Bảng 2 thì tổng lượng phân tính cho 1.000 m2 gồm: vôi bột 40
kg (đem rãi trước khi lên liếp 1/3 lượng vôi và sau khi lên liếp 2/3 lượng còn lại), tro trấu 40 bao; NPK (20-20-15) 20 kg, phân hữu cơ tổng hợp (phân chuồng) 150 kg, phân Ure 15 kg, Kali 6 kg (tương ứng lượng phân bón 3,72 - 4,43 kg/sọt hay bọc nilong)
Bảng 2: Lịch bón phân cho ruộng gừng tại Mỹ An - Chợ Mới – An Giang
Đơn vị tính: kg/1.000m 2
Ngày sau khi
trồng (NSKT) (kg) Vôi (20-20-15) (kg) NPK (kg/sọt, bọc nilong) Phân chuồng (kg) Ure Kali (kg)
Trang 11Lót trước khi gieo
5555-
-0,5 -0,30,3
510-
1,51,51,51,5-
* Phòng trừ sâu bệnh: thường xuyên theo dõi sâu bệnh hại, phun thuốc trừ sâu
khi thấy sâu xuất hiện như Basudin, Regent …, riêng thuốc trừ bệnh được phun đều như nhau ở các nghiệm thức như Benomyl, Carbenzim, Bavistin, Score, Kasai, Kasumin, Derosal …
2.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
* Chỉ tiêu dịch hại (theo dõi cố định 10 cây/lô):
- Sâu đục thân, sâu ăn tạp, cào cào: ghi nhận mật số sâu hay vết gây hại trên
từng nghiệm thức định kỳ 7 ngày/lần ở giai đoạn trước từ 30-90 NSKG và 10 ngày/lần
ở giai đoạn sau 90 ngày
- Bệnh hại:
• Bệnh cháy lá do nấm Fusarium spp: ghi nhận bệnh trên từng nghiệm thức
định kỳ 7 ngày/lần ở giai đoạn trước từ 30-90 NSKG và 10 ngày/lần ở giai
đoạn sau 90 ngày
Phân cấp thiệt hại: Cấp 0: không thiệt hại
Cấp 1: thiệt hại < 10 %Cấp 2: thiệt hại: 10-20 %Cấp 3: thiệt hại: 21-30 %Cấp 4: thiệt hại: 31-50 %Cấp 5: thiệt hại: > 50%
Số lá bị hại
Tỷ lệ thiệt hại (%) = x 100
Tổng số lá quan sátChỉ số thiệt hại (%) = x100
NxP
)nixai(
∑
Với: ai: lá thứ i bị hại
ni: cấp thiệt hại thứ i tương ứng P: tổng số lá quan sát ở mỗi nghiệm thức N: cấp thiệt hại cao nhất
• Bệnh thối củ do vi khuẩn Erwinia spp: ghi nhận bệnh trên từng nghiệm thức
với phân cấp có và không có bệnh theo định kỳ 7 ngày/lần ở giai đoạn trước
từ 30-90 NSKG và 10 ngày/lần ở giai đoạn sau 90 ngày
* Chỉ tiêu về tăng trưởng (quan sát cố định 10 cây/lô):
- Chiều cao bụi và chồi: dùng thước đo dây từ gốc đến đỉnh sinh trưởng của thân cây dài nhất lúc thu hoạch
Trang 12- Đếm số lá/chồi trên cây gừng
- Đường kính thân gừng: dùng thước kẹp đo đường kính thân gừng ở chồi cao nhất/bụi, cây/lô thí nghiệm
* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất
- Trọng lượng trung bình củ gừng (kg/củ gừng): cân 10 củ gừng mẫu/nghiệm thức
- Năng suất củ gừng: cân tất cả các củ gừng trên mỗi lô thí nghiệm (không
kể các cây đầu hàng) rồi qui ra năng suất thực tế (tấn/ha)
- Năng suất toàn cây (tổng sinh khối gồm thân, lá): cân trọng lượng của 10 cây trên mỗi nghiệm thức, tính trọng lượng trung bình rồi quy ra năng suất toàn cây (tấn/ha)
* Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế: so sánh hiệu quả của đồng vốn đầu tư:
- Doanh thu = sản lượng x giá bán 1 kg gừng
- Chi phí sản xuất: giống, phân bón, thuốc BVTV, công làm đất, lên liếp, làm cỏ, chi phí khác…
- Tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất lợi nhuận = (Doanh thu - chi phí sản xuất)/chi phí sản xuất
2.2.4 Phân tích số liệu
Số liệu được xử lý bằng Excel, dùng phần mềm Minitab 13.0 và MSTATC để phân tích thống kê
Trang 13Chương II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
A HIỆN TRẠNG CANH TÁC GỪNG TẠI HUYỆN CHỢ MỚI NĂM 2006-2007
I PHÂN BỐ MẪU ĐIỀU TRA TRÊN 4 XÃ CỦA HUYỆN CHỢ MỚI
Điều tra nông dân trồng gừng ở 4 xã của huyện Chợ Mới gồm xã Kiến An, Mỹ
An, Tấn Mỹ và Bình Phước Xuân từ chính quyền địa phương cung cấp, chọn ngẫu nhiên những hộ trồng gừng có diện tích >1000m2, phân bố trong các ấp, xã có diện tích trồng gừng nhiều nhất đại diện cho huyện Chợ Mới, trong đó xã Kiến An với 20 hộ, Mỹ
An (17 hộ), Tấn Mỹ (5 hộ) và Bình Phước Xuân với 5 hộ (Bảng 3)
Bảng 3: Phân bố số hộ điều tra trồng gừng trong các xã ở Chợ Mới, tỉnh An Giang
STT Các xã được điều tra Số hộ %
Ghi chú: Tổng số hộ điều tra: 47
II ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NÔNG HỘ ĐIỀU TRA
1 Tuổi trung bình, trình độ văn hóa và kinh nghiệm sản xuất của nông hộ của nông hộ
độ từ Trung học cơ sở (THCS) là 26 hộ, chiếm 55,32% là cao nhất, Trung học phổ thông (THPT) có 10 hộ (21,28%), ở cấp bậc tiểu học là 10 hộ (21,28%) và không có trình độ là 1 hộ (2,13%), không có nông hộ nào có trình độ Trung học chuyên nghiệp (THCN) hay Đại học (ĐH) Với kết quả nầy, thì đây là một phần khó khăn đối với nông dân trồng gừng của huyện trong việc tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật mới được khuyến cáo trong canh tác để góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Vì vậy,
Trang 14việc mở các điểm trình diễn trồng gừng áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trên từng xã để giúp nông dân dễ tiếp nhận là vấn đề cần được đặt ra để giải quyết khó khăn nầy.
1.3 Kinh nghiệm và giới tính của nông hộ sản xuất
Có thể nói thời gian tham gia trồng gừng là một yếu tố có sự đóng góp quan trọng đến năng suất trong nghề trồng gừng Người trồng gừng lâu năm sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm rất quý báu và cần thiết trong nghề trồng gừng, từ đó mà trong các khâu của quá trình canh tác họ biết rõ nên làm thế nào để nâng cao năng suất và hiệu quả cho ruộng gừng của mình Cũng từ dẫn liệu ở Bảng 4, cho thấy trồng gừng đa phần
là nam giới, chiếm 97,87% và nữ giới chiếm 2,13% Riêng về kinh nghiệm trồng gừng, thì trung bình dưới 5 năm chiếm tỉ lệ cao nhất với 36,17%, từ 5 - dưới 10 năm (34,04%), từ 10 - dưới 15 năm (12,77%), từ 15 - dưới 20 năm (8,21%), từ 20 - dưới 25 năm và 25 – 30 năm cùng chiếm 4,26%
Bảng 4: Tuổi trung bình, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất và giới tính của các
nông hộ trồng gừng ở Chợ Mới, tỉnh An Giang
Tuổi
trung bình %
Trình độ học vấn %
Kinh nghiệm sản xuất (năm) %
Giới tính %
Ghi chú: Tổng số hộ điều tra: 47
2 Tình hình lao động và diện tích trồng gừng của nông hộ
2.1 Tình hình lao động
Lao động là một trong những yếu tố quan trọng góp phần quyết định đến việc
mở rộng quy mô, diện tích trồng gừng của nông hộ Nguồn lao động trong canh tác gừng chủ yếu là lao động gia đình gồm chính và phụ Ngoài các lao động chính thì sự đóng góp của các lao động phụ trong nhà là không nhỏ (do có nhiều khâu chăm sóc trong canh tác gừng đòi hỏi nhiều lao động mà các lao động phụ có thể tham gia như: làm đất, gieo giống, làm cỏ,…) Qua số liệu điều tra được thể hiện Bảng 5, cho thấy bình quân mỗi hộ canh tác có 1 lao động chính và 1,72 lao động phụ Với kết quả nầy thì số lao động gia đình của phần lớn nông hộ tương đối đủ để chăm sóc tốt cho diện tích canh tác trung bình 3,19 công (1.000 m2)/hộ
2.2 Diện tích trồng gừng của nông hộ
Cũng từ dẫn liệu ở Bảng 5, cho thấy diện tích trồng gừng của các nông hộ dưới 3 công chiếm tỷ lệ cao nhất (78,72%), từ 3 – dưới 5 công (17,02%), từ 5 – 12 công chiếm
tỉ lệ thấp nhất là 4,26% Trung bình mỗi hộ canh tác 3,19 công/hộ, với diện tích nhỏ nầy các nông hộ có thể sử dụng lao động gia đình để chăm sóc gừng và cũng góp phần hạn chế chi phí
Bảng 5: Tình hình lao động và diện tích trồng gừng của các nông hộ ở Chợ Mới, AG Danh mục Số lượng Tần số hộ % Trung bình Max Min
Lao động (người/hộ):
Trang 15- Chính
- Phụ
1 1,74Diện tích (1000m2/hộ):
- <3
- 3 - <5
- 5 – 12
37 8 2
78,7217,02
Ghi chú: Tổng số hộ điều tra: 47
3 Hiện trạng kỹ thuật canh tác
3.1 Thời vụ
Kết quả điều tra được trình bày ở Bảng 6, cho thấy gừng có thể trồng được quanh năm, do Chợ Mới nằm trong vùng đê bao khép kín Trong đó, gừng được trồng từ tháng 1 - 4, có 24 hộ thực hiện, chiếm tỉ lệ là 51,06%; trồng từ tháng 7 – 9 có 2 hộ thực hiện (2,26%) và từ tháng 11-12 có 21 hộ (44,68%) Riêng về thời gian (tháng) sau khi trồng bắt đầu thu hoạch thì đa dạng, cụ thể như sau: 4 tháng có 11 hộ thực hiện, chiếm tỉ
lệ cao nhất với 23,4%; 5 tháng với 10 hộ (21,28%); 6 tháng với 9 hộ (19,15%); 7 tháng với 7 hộ (14,89%); 8 tháng với 4 hộ (8,15%); 9 tháng với 1 hộ (2,13%); 11 tháng với 3
3.2.2 Cách xử lý giống
Trang 16Cây gừng rất dễ bị tấn công các loại dịch hại trong đất như kiến, dế, mối đặc biệt là bệnh thối củ sẽ ảnh hưởng lớn đến qui mô sản xuất cũng như toàn bộ quá trình canh tác gừng, vì thế việc xử lý gừng giống trước khi gieo trồng là rất cần thiết giúp loại trừ sự xâm nhập của sâu bệnh, góp phần bảo vệ năng suất Cũng từ dẫn liệu ở Bảng 7, cho thấy đa số các hộ (33 hộ nông dân) được điều tra đều có xử lý gừng giống trước khi gieo trồng chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,22%, 11 hộ có xử lý gừng giống với vôi (23,40%) và còn lại chỉ có 3 hộ không xử lý gừng giống chiếm 6,38%.
Bảng 7: Nguồn giống và cách xử lý giống gừng của các nông hộ ở Chợ Mới,
Ghi chú: Tổng số hộ điều tra: 47
3.3 Kích thước liếp và khoảng cách trồng gừng
Từ các dẫn liệu ở Bảng 8, cho thấy có sự đa dạng về kích thước liếp và khoảng cách trồng gừng ở các nông hộ, cụ thể như sau:
3.3.1 Kích thước liếp
* Chiều rộng liếp: cho thấy khác nhau ở các nông hộ với trung bình là 109,5
cm, cao nhất là 140 cm và thấp nhất là 40 cm Trong đó, chiều rộng của liếp trồng gừng
từ 40 - <100 cm có 6 hộ thực hiện và chiếm 12,76%; từ 100 - <120 cm (12 hộ và 25,54%); từ 120 - <130 cm (21 hộ và 44,68%) và 130 – 140 cm với 8 hộ thực hiện và chiếm 17,02%
* Chiều cao liếp: tương tự như chiều rộng liếp cũng khá đa dạng ở các nông hộ
với trung bình là 31,17 cm, cao nhất là 40 cm và thấp nhất là 10 cm Trong đó, chiều cao của liếp trồng gừng từ 10 - <20 cm có 1 hộ thực hiện và chiếm 2,13%; từ 20 - <30
cm (9 hộ và 19,15%); từ 30 - <35 cm (22 hộ và 46,81%) và 35 – 40 cm với 15 hộ thực hiện và chiếm 31,92%
3.3.2 Khoảng cách trồng gừng
Hầu hết các nông hộ trồng gừng được điều tra, đều canh tác với khoảng cách trồng (hàng cách hàng và cây cách cây) khác nhau, cụ thể như sau:
* Hàng - Hàng: trung bình là 28,94 cm, cao nhất với 45 cm và thấp nhất là 10
cm Trong đó, khoảng cách hàng – hàng trồng gừng từ 10 - <20 cm có 3 hộ thực hiện và chiếm 6%; từ 20 - <30 cm (10 hộ và 22%); từ 30 - <40 cm (26 hộ và 55%) và trên 40
cm với 8 hộ thực hiện và chiếm 17%
* Cây - Cây: tương tự như ở khoảng cách Hàng – Hàng thì trung bình Cây –
Cây là 27,77 cm, cao nhất với 45 cm và thấp nhất là 10 cm Trong đó, khoảng cách Cây – Cây trồng gừng từ 10 - <20 cm có 6 hộ thực hiện và chiếm 13%; từ 20 - <30 cm (12
Trang 17hộ và 25%); từ 30 - <40 cm (22 hộ và 47%) và trên 40 cm với 7 hộ thực hiện và chiếm 15%.
Tóm lại, qua kết quả phân tích trên chứng tỏ về việc thiết kế liếp trồng và khoảng cách trồng gừng ở các nông hộ được điều tra không theo qui cách thống nhất và chủ yếu theo kinh nghiệm, tập quán sản xuất tại địa phương Vì vậy, việc giới thiệu hay trình diễn qui cách sản xuất về thiết kế liếp trồng và khoảng cách trồng cho các nông hộ sản xuất gừng là điều cần thiết, nhằm đem lại hiệu quả về kỹ thuật trồng và kinh tế sản xuất
Trang 18Bảng 8: Kích thước liếp và khoảng cách trồng gừng của các nông hộ ở Chợ Mới, tỉnh An Giang
Kích thước (cm)
Trang 193.4 Hiện trạng sử dụng phân bón
3.4.1 Các dạng phân bón
Việc bón phân đúng loại và lượng là rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất gừng, đồng thời gia tăng hiệu quả kinh tế do chi phí đầu tư giảm Qua kết quả điều tra về việc bón phân cho gừng của nông hộ, cho thấy có sự khác biệt về các loại phân bón được sử dụng trong suốt vụ ở các nông hộ (Hình 2) Phân hữu cơ đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo đất và nâng cao phẩm chất gừng Theo điều tra cho thấy có 46,81 % hộ sử dụng phân hữu cơ chiếm tỷ lệ tương đối, còn lại 53,19% hộ không bón phân hữu cơ, mặc dù nguồn phân chuồng từ trâu, bò trong vùng khá lớn do nghề chăn nuôi trâu bò trong vùng rất phát triển Từ đó cho thấy, nông dân chưa thấy được lợi ích của việc bón lót phân hữu cơ cho gừng Phân Urê chiếm tỷ lệ cao nhất với 89,36%, phân nầy thường được bón với lượng lớn nhằm tăng khả năng nở củ gừng, NPK 20-20-
15 với 85,11% nông hộ sử dụng, Kali (KCl) chiếm tỷ lệ 34,04% và phân DAP chiếm tỷ
lệ rất thấp với 76,7% nông hộ sử dụng để cung cấp đồng thời đạm và lân cho gừng
46,81 85,11
34,04 17,02
89,36
0 20
Tỷ lệ (%)
Hình 2: Phần trăm các loại phân bón được sử dụng trong canh tác gừng
ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
3.4.2 Liều lượng bón
Từ kết quả điều tra được thể hiện ở Bảng 9, cho thấy liều lượng sử dụng phân N,
P và K ở các nông hộ chưa có sự thống nhất nào, mà chỉ do tập quán và kinh nghiệm sản xuất của từng nông hộ Điều nầy chứng tỏ việc phổ biến qui trình kỹ thuật trồng gừng cho nông dân chưa được quan tâm ở địa phương và cần thiết Các mức độ về liều lượng nguyên chất của phân N, P và K được sử dụng ở nông hộ cụ thể như sau:
* Phân đạm: Tổng lượng phân đạm được sử dụng cho 1000m2 trồng gừng trong khoảng 3 - 106 kg/1000m2, trung bình sử dụng 17,44 kg/1000m2 Trong đó, bón lượng đạm nguyên chất <10kg/1.000m2 chiếm 34,04%, 10-<15kg/1.000m2 (23,40%), 15-
<25kg/1.000m2 (25,53%), 25-<40kg/1.000m2 (10,64%), 40-<50kg/1.000m2 (4,26%) và 50-106kg/1.000m2 (2,13%)
* Phân lân: Tổng lượng phân lân được sử dụng cho 1000m2 trồng gừng trong khoảng 0 – 96,3 kg kg/1000m2, trung bình sử dụng 13,75 kg/1000m2 Trong đó, bón lượng lân nguyên chất <10kg/1.000m2 chiếm 46,81%, 10-<25kg/1.000m2 (44,68%), 25-
<40kg/1.000m2 (4,26%), 40-<70kg/1.000m2 (2,13%) và 70-96,3kg/1.000m2 (2,13)
Trang 20* Phân Kali: Tổng lượng phân kali được sử dụng cho 1000m2 trồng gừng trong khoảng 1,5 - 45 kg/1000m2, trung bình sử dụng 9,52 kg/1000m2 Trong đó, bón lượng kali nguyên chất <10kg/1.000m2 chiếm 72,34%, 10-<15kg/1.000m2 (8,51%), 15-
<20kg/1.000m2 (8,51%), 20-<30kg/1.000m2 (2,13%) và 30-45kg/1.000m2 (8,51%)
Bảng 9: Tổng lượng bón phân N, P, K nguyên chất được sử dụng ở các nông hộ trồng
gừng tại Chợ Mới, tỉnh An Giang
Loại phân Liều lượng bón
Bảng 10: Quản lý cỏ dại ở ruộng gừng của nông hộ tại Chợ Mới, tỉnh An Giang
Trang 213.6 Tình hình dịch hại và biện pháp phòng trị của nông hộ
3.6.1 Sâu hại
Qua kết quả điều tra được ghi nhận ở Bảng 12 cho thấy, các loại sâu gây hại chính trên diện tích trồng gừng bao gồm:
- Sâu hại: sâu đục thân là loại sâu gây hại thường xuyên nhất với 42 hộ ghi nhận
chiếm 89,36%, sâu keo (sâu ăn tạp) có 4 hộ ghi nhận (8,51%), sâu ăn lá (5 hộ ghi nhận
và 10,64 %), cào cào (2 hộ ghi nhận và 4,26%) và 5 hộ (10,64%) cho biết không có sự xuất hiện của sâu hại trong canh tác gừng
- Thời điểm xuất hiện sâu hại: được thể hiện cụ thể qua ngày xuất hiện đầu
tiên chiếm tỷ lệ cao nhất từ 31 – 45 ngày sau khi trồng với 23 hộ ghi nhận (48,94%) và không thấy xuất hiện sâu hại chiếm 12,77% (6 hộ ghi nhận) Tuy nhiên, thời điểm sâu hại xuất hiện nhiều nhất từ 60 – 90 ngày sau khi trồng (38,30%), kế đến trên 90 ngày sau khi trồng (36,17%) Về cách quản lý sâu hại được thể hiện qua các yếu tố như:
- Lần phun thuốc trừ sâu hại: chiếm cao nhất từ 4 – 6 lần/vụ với 17 hộ ghi
nhận (36,17%), kế đến 1 – 4 lần/vụ và 6 – 12 lần/vụ cùng có 12 hộ ghi nhận (25,53%), thấp nhất có 6 hộ (12,77%) cho rằng không cần phun thuốc
- Lý do phun thuốc: chiếm cao nhất có 31 hộ (65,96%) thực hiện khi có sâu
xuất hiện và thấp nhất có 5 hộ phun định kỳ và phun ngừa cùng chiếm 10,64%
- Thời điểm phun thuốc: Đa số các nông hộ đều thực hiện việc xử lý thuốc trừ
sâu hại vào buổi chiều chiếm tỷ lệ cao nhất với 31 hộ (65,96%), kế đến buổi sáng có 9
hộ (19,15%) thực hiện và thấp nhất có 1 hộ (2,13%) phun thuốc vào buổi trưa
- Các loại thuốc trừ sâu: Có đến 16 loại thuốc trừ sâu khác nhau được sử dụng
từ các nông hộ canh tác gừng trong vùng Trong đó, các loại thuốc có tỷ lệ sử dụng nhiều cao như: Regent 5 SC, 800 WG (30 hộ sử dụng và chiếm 63,83 % hộ); Actara (20
hộ và 42,55%); Polytrin và Basudin (12 hộ và 25,53%), Padan (10 hộ và 21,28%), các loại thuốc sâu còn lại chiếm tỷ lệ thấp với dưới 20% hộ sử dụng và có 5 hộ (10,64%) không sử dụng thuốc trừ sâu (Bảng 11)
3.6.2 Bệnh hại
- Loại bệnh hại: Chỉ có 2 loại bệnh hại chủ yếu xuất hiện gây hại trên ruộng
gừng của các nông hộ trong vùng là bệnh thối củ với 47 hộ ghi nhận chiếm 100 % và bệnh cháy lá có 6 hộ ghi nhận và chiếm 12,77% (Bảng 12)
- Thời điểm xuất hiện bệnh hại: được thể hiện cụ thể qua ngày xuất hiện đầu
tiên chiếm tỷ lệ cao nhất từ 16 – 30 ngày sau khi trồng với 19 hộ ghi nhận (40,43%) và thấp nhất với 1 hộ (2,13) ghi nhận bệnh xuất hiện dưới 15 ngày sau khi trồng Tuy nhiên, thời điểm bệnh hại xuất hiện nhiều nhất từ 60 – 90 ngày sau khi trồng (42,55%),
kế đến 90 - 120 ngày sau khi trồng (38,30%)
- Lần phun thuốc trừ bệnh hại: chiếm cao nhất từ 5 – <10 lần/vụ với 30 hộ ghi
nhận (63,83%), kế đến 10 – 15 lần/vụ có 12 hộ ghi nhận (25,53%) và thấp nhất từ 2 - <5 lần/vụ có 5 hộ (10,64%)
- Lý do phun thuốc: chiếm cao nhất có 31 hộ (65,96%) thực hiện phun ngừa,
13 hộ (27,66 %) phun định kỳ và thấp nhất có 3 hộ (6,38%) phun thuốc khi có bệnh xuất hiện
Trang 22- Thời điểm phun thuốc: Đa số các nông hộ đều thực hiện việc xử lý thuốc trừ
bệnh hại vào buổi chiều chiếm tỷ lệ cao nhất với 25 hộ (53,19%), kế đến buổi sáng có
21 hộ (44,68%) thực hiện và thấp nhất có 1 hộ (2,13%) phun thuốc vào buổi trưa
- Các loại thuốc trừ bệnh: Có đến 28 loại thuốc trừ bệnh khác nhau được sử
dụng từ các nông hộ canh tác gừng trong vùng Trong đó, các loại thuốc có tỷ lệ sử dụng nhiều cao như: Ridomil (28 hộ sử dụng và chiếm 59,57%), Zineb (13 hộ và 27,66%), Bavistin (10 hộ và 21,28%), các loại thuốc bệnh còn lại chiếm tỷ lệ thấp với dưới 20 % hộ sử dụng (Bảng 11)
Tóm lại, qua các kết quả phân tích trên chứng tỏ việc quản lý dịch hại của nông dân trong vùng chưa được thống nhất theo qui trình kỹ thuật canh tác Do vậy, cần phải
hổ trợ những thông tin kỹ thuật mới cho nông dân trong vùng ứng dụng, nhất là việc quản lý dịch hại nói chung nhằm đem lại hiệu quả canh tác gừng tốt nhất
Bảng 11: Các loại nông dược được sử dụng ở các hộ trồng gừng tại Chợ Mới, An Giang
Loại thuốc Tần số hộ % Loại thuốc Tần số hộ %
Trang 23- Không xuất hiện 6 12,77
* Ngày xuất hiện nhiều nhất: * Ngày xuất hiện nhiều nhất:
Ghi chú: Tổng số hộ điều tra: 47
4 Năng suất và hiệu quả kinh tế trồng gừng
Năng suất của các hộ trồng gừng trong vùng Chợ Mới đều có năng suất trung bình 2,42 tấn/1000m2, cao nhất là 5 tấn/1000m2 và thấp nhất là 0,4 tấn/1000m2 (Bảng 13) Với năng suất trên thì trung bình nông dân trong vùng có thể đạt được lợi nhuận
Trang 24cơ hội Với lợi nhuận thu được như trên thì tỷ suất lợi nhuận trung bình ước đạt là 0,77, tức là nông dân bỏ ra 1 đồng vốn thì có thể lời được 0,77 đồng.
Bảng 13: Hiệu quả kinh tế của các hộ trồng gừng tại Chợ Mới, An Giang
Chi phí sản xuất (triệu đồng/1000m2) 3,35 8,84 5,80
Ghi chú: Tổng số hộ điều tra: 47
5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất gừng của nông hộ
Kết quả điều tra cũng đã thu được một số ý kiến của nông dân xoay quanh các mặt thuận lợi và khó khăn trong vấn đề canh tác gừng và tiêu thụ sản phẩm ở địa phương
5.1 Thuận lợi trong sản xuất gừng của nông hộ
Nằm trong vùng đê bao khép kín nên có thể trồng được quanh năm, điều kiện tự nhiên thuận lợi Nông dân nơi đây cho rằng cây gừng là một loại cây dễ trồng, có kỹ thuật đơn giản hơn so với trồng lúa
5.2 Khó khăn trong sản xuất gừng của nông hộ
Bên cạnh những thuận lợi người dân trong vùng trồng gừng còn gặp một số khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất đối với các hộ trồng gừng là thiếu vốn (có 19 hộ và 40,43%), kỹ thuật (45 hộ và 95,74%), thị trường tiêu thụ không ổn định, giá cả bấp bênh (19 hộ và 40,43 % không được giá, còn lại 28 hộ và 59,57% được giá), đối với gừng giống phải mua từ vùng khác không có cơ sở nào bán cả
5.3 Nguồn thông tin cho sản xuất nông hộ
Hiện tại người dân trồng gừng ở khu vực điều tra ít nhận được thông tin về cây gừng như kỹ thuật canh tác, tài liệu về cây gừng Ở Chợ Mới có 45 hộ (95,74%) nông dân có thông tin về cây gừng là do truyền miệng giữa các hộ nông dân với nhau và dựa theo kinh nghiệm, làm theo lối xóm Thông tin từ cán bộ khuyến nông, thông tin đại chúng hầu như không phổ biến, tài liệu phổ biến về cây gừng lại không có Đây là yếu
tố góp phần vào việc ảnh hưởng đến sản xuất gừng của địa phương Do đó cần phải chú
ý công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến với nông dân nhiều hơn
5.4 Ý kiến của người dân
Thực tế điều tra ở Chợ Mới, người trồng gừng rất cần có một thị trường tiêu thụ
ổn định Có 100 % nông dân yêu cầu có nơi thu mua ổn định giá cả, 95,74% hộ nông dân cần hổ trợ kỹ thuật canh tác gừng nhằm làm giảm chi phí Người nông dân còn thiếu hiểu biết về kỹ thuật canh tác, họ chỉ học hỏi kinh nghiệm từ những người đã trồng rồi, do đó họ rất cần các hoạt động khuyến nông để nâng cao trình độ hiểu biết về
Trang 25nhiều hộ trồng gừng thấy có lời nhiều nhưng đầu tư vào thì rất cao lại không có vốn nên không thể mở rộng được Nông dân còn yêu cầu các nhà khoa học hãy nghiên cứu để tìm ra giống gừng đạt năng suất và phẩm chất cao
B ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM Trichoderma spp VÀ 3 LOẠI VẬT LIỆU
CHỨA LÊN SINH TRƯỞNG, DỊCH HẠI CHÍNH TRÊN GỪNG
TẠI HUYỆN CHỢ MỚI NĂM 2006-2007
I MÔ TẢ ĐỊA ĐIỂM THÍ NGHIỆM
Thí nghiệm được thực hiện tại xã Mỹ An, huyện Chợ Mới tỉnh An Giang Sống trong vùng đất phù sa nên đa số người dân ở đây làm rẫy là chủ yếu, một số ít là trồng lúa Xã Mỹ An có tổng diện tích đất canh tác nông nghiệp là 1.241ha Trong đó diện tích trồng lúa chiếm 400ha đất màu là 366ha và 144ha là đất vườn Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 3.600ha trong đó trồng lúa là 1.155ha, trồng màu là 2.445ha xã tiếp tục đẩy mạnh việc trồng màu nhất là những cây màu có giá trị như Bắp 1,500ha, gừng và kiệu 400ha, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi 180ha, còn lại là hoa màu các loại
II TÌNH HÌNH THỜI TIẾT AN GIANG TỪ THÁNG 2/2006 ĐẾN THÁNG 10/2006
Thí nghiệm được bố trí vào giữa tháng 2/2006, lượng mưa hàng năm khoảng 1.400 - 1.500mm trong đó mưa ít nhất vào tháng 2 và mưa nhiều nhất vào tháng 9 Nhiệt độ trung bình ở An Giang không những cao mà còn rất ổn định, từ 26-28ºC Nhiệt
độ cao nhất là 35-36ºC vào tháng 4 và tháng 5 Nhiệt độ thấp nhất là 20-21ºC vào tháng
12 và tháng 1 Ở An Giang, mùa có độ ẩm thấp (< 80%) trùng với mùa khô còn mùa mưa thực sự là một mùa ẩm ướt Độ ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa đều 84%, cá biệt có tháng đạt xấp xỉ 90% An Giang có mùa nắng chói chang, chính điều nầy cũng làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của gừng Trong tháng đầu tiên sau khi trồng cây gừng cần phải được giữ ẩm để đâm chồi lên trên mặt đất Để khắc phục điều nầy sau khi trồng phải phủ lên trên mặt đất một lớp mỏng rơm mục để giữ ẩm cho đất
và cũng vì thế trong thời gian nầy cũng dễ gây bệnh cháy lá cho gừng
III GHI NHẬN TỔNG QUÁT KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM
Thí nghiệm được bố trí trên nền đất ruộng gần nhà, xung quanh có trồng các loại cây ăn quả, có khả năng làm giảm lượng nắng ảnh hưởng tới các nghiệm thức trong ngày, trong suốt thời gian thí nghiệm thì trời ít mưa, buổi sáng ít sương mù, buổi trưa thì nhiệt độ cao lên dần bắt đầu từ ngày trồng cho đến 110 NSKT, trong thời gian đầu (trước 35 NSKT) lúc cây còn nhỏ thì tình hình tăng trưởng khá chậm ở tất cả các nghiệm thức (1-8), tuy nhiên trong đó vẫn có nghiệm thức tăng trưởng rất tốt đó là nghiệm thức 4 và nghiệm thức 2 tuy dần về sau thì sự tăng trưởng về chiều cao, số lá và đường kính thân giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt rõ rệt giữa các nghiệm thức
Về tình hình sâu hại trên các nghiệm thức trồng gừng, thì có sự xuất hiện sớm của cào cào, sâu ăn tạp với sự hiện diện với mật độ thấp và ít biến động trong suốt thời gian thí nghiệm nên không ảnh hưởng quan trọng đến sự sinh trưởng của cây gừng
Trang 26Về tình hình bệnh hại thì do trong suốt thời gian thí nghiệm trời nắng và khô, ít mưa nên bệnh hại xuất hiện chủ yếu là bệnh cháy lá Bệnh cháy lá xuất hiện chủ yếu vào giai đoạn 35 ngày trở về sau Riêng bệnh thối củ đã có xuất hiện ở giai đoạn 42 NSKT trong lô thí nghiệm với mức độ thiệt hại không đáng kể, nên không xác định
được rỏ hiệu quả của nấm Trichoderma spp
IV KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM
1 Tình hình sử dụng phân bón trong quá trình thí nghiệm
Trong quá trình thí nghiệm, phần lớn sử dụng phân hữu cơ bón cho gừng gồm phân chuồng và tro trấu Thời gian bón phân cho gừng được định kỳ 1 tháng/lần với liều
lượng 5 kg NPK, 1,5 kg kali và 0,3 Kg phân chuồng Khi thấy củ gừng lộ trên mặt đất
thì bổ sung thêm đất không cho củ gừng lộ trên mặt đất
2 Tình hình sinh trưởng của cây gừng
2.1 Chiều cao cây
Theo kết quả được ghi nhận ở Bảng 14 và Phụ chương 1, cho thấy chiều cao cây gừng giữa các nghiệm thức qua các thời điểm ghi nhận có sự biến động về chiều cao cây tương đối thấp và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, ở giai đoạn 35
NSKT và Phụ chương 1 khi xét ảnh hưởng của từng nhân tố xử lý nấm Trichoderma spp
và vật liệu chứa đất trồng gừng lên chiều cao cây gừng, thì chỉ có ảnh hưởng của vật liệu chứa đất trồng gừng ở các nghiệm thức có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Trong đó, chiều cao cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 7 là 17,63 cm khác biệt rõ với các nghiệm thức 1 (12,10 cm), nghiệm thức 4 (10,93 cm), nghiệm thức 2 (9,47 cm), và thấp nhất ở nghiệm thức 6 với 8,40 cm, nhưng lại không khác biệt với các nghiệm thức 3 (15,23 cm), nghiệm thức 5 (15,10 cm) và nghiệm thức 8 (14,07 cm) Điều này chứng tỏ, vật liệu chứa đất trồng gừng có ảnh hưởng lên chiều cao cây ở giai đoạn đầu (35 NSKT)
Tương tự trên, theo dẫn liệu ở Bảng 14 và Phụ chương 1 – 7, từ thời điểm 49 NSKT đến 177 NSKT, khi xét ảnh hưởng của sự tổ hợp hai nhân tố xử lý nấm
Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng gừng hay từng nhân tố ở các nghiệm thức lên
chiều cao cây, thì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và được thể hiện cụ thể như sau:
Giai đoạn 49 NSKT: chiều cao cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 27,03 cm,
thấp nhất ở nghiệm thức 7 là 18,17 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 8,86 cm
Giai đoạn 70 NSKT: chiều cao cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 29.23 cm,
thấp nhất ở nghiệm thức 7 là 23,67 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 5,56 cm
Giai đoạn 84 NSKT: chiều cao cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 2 với 35,83 cm,
thấp nhất ở nghiệm thức 7 là 30,17 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 5,66 cm
Giai đoạn 149 NSKT: chiều cao cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 77,03
cm, thấp nhất ở nghiệm thức 4 là 63,87 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 13,16 cm
Trang 27Giai đoạn 177 NSKT: chiều cao cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 81,47
cm, thấp nhất ở nghiệm thức 2 là 67,57 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 13,9 cm
Với kết quả trên, chứng tỏ xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng
gừng không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng về chiều cao cây gừng từ giai đoạn 49 NSKT đến giai đoạn 177 NSKT
Tóm lại, tốc độ tăng trưởng về chiều cao của cây gừng qua các thời điểm quan sát
đều không chịu tác động của xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng
gừng Đặc biệt, ở giai đoạn 35 NSKT thì nhân tố vật liệu chứa đất trồng gừng có ảnh hưởng đến chiều cao cây gừng
Bảng 14: Chiều cao trung bình của gừng ở từng nghiệm thức qua các thời điểm (Ngày
sau khi trồng: NSKT) quan sát tại Mỹ An, Chợ Mới, AG
Nghiệm thức Chiều cao cây gừng (cm)
22,6725,9727,0326,3723,4022,3018,1724,67
25,2727,0329,2329,1724,3025,2723,6727,00
34,3035,8333,3332,3330,8334,5030,1732,73
65,2777,0371,0763,8763,9072,7766,7367,07
68,9077,5781,4780,9378,9071,4369,2076,83
CV (%) 20,5 14,63 12,64 11,71 13,63 12,37
Ghi chú: ns: Không khác biệt có ý nghĩa thống kê
Hình 3: Lấy chỉ tiêu chiều cao cây gừng nơi thí nghiệm
tại Mỹ An, Chợ Mới, An Giang
2.2 Số lá trên cây gừng
Theo kết quả được ghi nhận ở Bảng 15, cho thấy số lá trên cây gừng giữa các nghiệm thức qua các thời điểm ghi nhận có sự biến động về số lá cây tương đối thấp và
Trang 28không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, ở giai đoạn 35 NSKT và Phụ
chương 8, khi xét ảnh hưởng của từng nhân tố xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu
chứa đất trồng gừng lên số lá cây gừng, thì chỉ có ảnh hưởng của vật liệu chứa đất trồng gừng ở các nghiệm thức có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5 % Trong đó, số lá cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 7 là 3,67 lá/cây khác biệt rõ với các nghiệm thức 4 (2,7 lá/cây), nghiệm thức 2 (2,67 lá/cây), và thấp nhất ở nghiệm thức 6 với 2,47 lá/cây, nhưng lại không khác biệt với các nghiệm thức 5 (3,43 lá/cây), nghiệm thức 3 (3,33 lá/cây) và nghiệm thức 8 (3,23 lá/cây), và nghiệm thức 1 (3,13 lá/cây) Trong đó, nghiệm thức 5 (3,43 lá/cây) và nghiệm thức 3 (3,33 lá/cây) lại khác biệt với nghiệm thức 6 với 2,47 lá/cây nhưng lại không khác biệt với nghiệm thức 8 (3,23 lá/cây), nghiệm thức 1 (3,13 lá/cây), nghiệm thức 4 (2,7 lá/cây) và nghiệm thức 2 (2,67 lá/cây) Điều này chứng tỏ, vật liệu chứa đất trồng gừng có ảnh hưởng lên số lá cây ở giai đoạn đầu (35 NSKT)
Tương tự trên, theo các dẫn liệu ở Bảng 15 và Phụ chương 9- 15, khi xét ảnh
hưởng của sự tổ hợp hai nhân tố xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng
gừng hay từng nhân tố ở các nghiệm thức lên số lá trên cây gừng, thì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và được thể hiện cụ thể như sau:
Giai đoạn 49 NSKT: số lá cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 6,6 lá/cây thấp
nhất ở nghiệm thức 7 là 4,76 lá/cây và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 1,84 lá/cây
Giai đoạn 70 NSKT: số lá cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 7,46 lá/cây,
thấp nhất ở nghiệm thức 5 là 5,93 lá/cây và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có số lá cao nhất và thấp nhất là 1,53 lá/cây
Giai đoạn 84 NSKT: số lá cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 8,46 lá/cây,
thấp nhất ở nghiệm thức 5 là 7,6 lá/cây và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 0,86 lá/cây
Giai đoạn 149 NSKT: số lá cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 23,2 lá/cây,
thấp nhất ở nghiệm thức 5 là 20,3 lá/cây và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 2,9 lá/cây
Giai đoạn 177 NSKT: số lá cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 4 với 25,93 lá/cây,
thấp nhất ở nghiệm thức 1 là 22,4 lá/cây và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chiều cao cao nhất và thấp nhất là 3,53 lá/cây
Với kết quả trên, chứng tỏ xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng
gừng không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng về số lá của cây gừng từ giai đoạn 49 NSKT đến 177 NSKT
Tóm lại, tốc độ tăng trưởng về số lá của cây gừng qua các thời điểm quan sát đều
không chịu tác động của xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng gừng
Đặc biệt, ở giai đoạn 36 NSKT thì nhân tố vật liệu chứa đất trồng gừng có ảnh hưởng đến số lá cây gừng
Bảng 15: Số lá trung bình của gừng ở từng nghiệm thức qua các thời điểm (Ngày sau
khi trồng: NSKT) quan sát tại Mỹ An, Chợ Mới, AG
Nghiệm
thức
Số lá trung bình của gừng ở các thời điểm
Trang 296,806,036,866,265,866,206,835,90
6,906,437,467,435,936,906,966,70
8,068,238,467,837,607,668,108,96
20,922,223,220,820,321620,721,7
22,4022,5725,4025,9326,1723,9724,2324,93
CV % 14,09 14,05 14,42 10,13 8,81 6,96 6,77
Ghi chú: ns: Không khác biệt có ý nghĩa thống kê
2.3 Đường kính cây gừng
Theo các dẫn liệu ở Bảng 16 và Phụ chương 16 – 23, khi xét ảnh hưởng của sự tổ
hợp hai nhân tố xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng gừng hay từng
nhân tố ở các nghiệm thức lên đường kính cây gừng, thì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, và được thể hiện cụ thể như sau:
Giai đoạn 35 NSKT: đường kính cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 5 và 7 có
cùng đường kính lài 0,57 cm, thấp nhất ở nghiệm thức 4 là 0,47 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có đường kính cao nhất và thấp nhất là 0,1 cm
Giai đoạn 49 NSKT: đường kính cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 5 với 0,69
cm, thấp nhất ở nghiệm thức 6 là 0,55 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có đường kính cao nhất và thấp nhất là 0,14 cm
Giai đoạn 63 NSKT: đường kính cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 0,73
cm, thấp nhất ở nghiệm thức 1, 2, 5, 6, 7 và 8 có cùng đường kính là 0,66 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có đường kính cao nhất và thấp nhất là 0,04 cm
Giai đoạn 70 NSKT: đường kính cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 3 với 0,7 cm,
thấp nhất ở nghiệm thức 1, 5 và 7 có cùng đường kính là 0,63 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có đường kính cao nhất và thấp nhất là 0,07 cm
Giai đoạn 84 NSKT: đường kính cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 6 với 0,93
cm, thấp nhất ở nghiệm thức 4 là 0,63 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có đường kính cao nhất và thấp nhất là 0,3 cm
Giai đoạn 149 NSKT: đường kính cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 2 với 1,1
cm, thấp nhất ở nghiệm thức 1, 4 và 5 co cùng đường kính là 0,96 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có đường kính cao nhất và thấp nhất là 0,14 cm
Giai đoạn 177 NSKT: đường kính cây gừng cao nhất ở nghiệm thức 1 với 1,16
cm, thấp nhất ở nghiệm thức 9 là 0,9 cm và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có đường kính cao nhất và thấp nhất là 0,26 cm
Với kết quả trên, chứng tỏ xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng
gừng không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng về đường kính cây gừng từ giai đoạn 35 NSKT đến 177 NSKT
Bảng 16: Đường kính trung bình của gừng ở từng thời điểm (Ngày sau khi trồng:
NSKT) quan sát tại Mỹ An, Chợ Mới, An Giang
Trang 300,57 0,620,68 0,580,69 0,550,68 0,64
0,660,700,730,660,660,660,660,66
0,630,660,700,660,630,600,630,66
0,700,730,730,630,760,930,660,76
0,961,101,030,960,961,061,01,06
1,160,901,031,061,01,00,961,03
CV % 10,2 11,31 8,32 11,47 16,28 5,16 12,86
Ghi chú: ns: không khác biệt có ý nghĩa thống kê
Hình 4: Lấy chỉ tiêu đường kính cây gừng nơi thí nghiệm
tại xã Mỹ An, Chợ Mới, An Giang
3 Ghi nhận một số dịch hại trong thời gian thí nghiệm
Ghi nhận tình hình dịch hại trong thời gian thí nghiệm thì chỉ thấy có 3 loại dịch hại chính: Cào cào, bệnh cháy lá và bệnh thối củ Những loại dịch hại này điều có xuất hiện ở 8 nghiệm thức nhưng với mức độ gây hại khác nhau Còn các sâu hại như: sâu ăn tạp, sâu đục thân và rệp sáp hầu như không thấy xuất hiện trong quá trình thí nghiệm
3.1 Bệnh cháy lá
Theo kết quả ghi nhận được ở Bảng 17 và phụ chương 24-31, đến giai đoạn 35 NSKT, đây là thời điểm sâu bệnh bất đầu tấn công lên các nghiệm thức với mức độ khác nhau Từ Bảng 17 cho thấy ở thời điểm này tất cả các nghiệm thức điều xuất hiện bệnh cháy lá nhưng ở cấp độ nhẹ Sự gây hại của bệnh cháy lá ở giai đoạn này kéo dài đến khi thu hoạch vẫn còn xuất hiện với mức gây hại nặng hơn Khi xét ảnh hưởng của
sự tổ hợp hai nhân tố xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng gừng hay
từng nhân tố ở các nghiệm thức lên bệnh cháy lá trên gừng ở các tất cả các giai đoạn thì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và được thể hiện cụ thể như sau:
Trang 31Giai đoạn 35 NSKT: bệnh cháy lá gây hại nặng nhất ở nghiệm thức 5 (4,27%),
thấp nhất là nghiệm thức 3 (1,88%) và sự chênh lệnh giữa nghiệm thức có chỉ số thiệt hại cao nhất và thấp nhất là 2,39%
Giai đoạn 42 NSKT: bệnh cháy lá gây hại nặng nhất ở nghiệm thức 6 (7,55%),
thấp nhất là nghiệm thức 7 (1,29%) và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chỉ số thiệt hại cao nhất và thấp nhất là 6,26%
Giai đoạn 56 NSKT: bệnh cháy lá gây hại nặng nhất ở nghiệm thức 8 (7,58%),
thấp nhất là nghiệm thức 5 (1,41%) và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chỉ số thiệt hại cao nhất và thấp nhất là 6,17%
Giai đoạn 77 NSKT: bệnh cháy lá gây hại nặng nhất ở nghiệm thức 6 (9,44%),
thấp nhất ở nghiệm thức 1 (2,76%) và sự chênh lệch giữa nghiện thức có chỉ số thiệt hại cao nhất và thấp nhất là 6,68%
Giai đoạn 84 NSKT: bệnh cháy lá gây hại nặng nhất ở nghiệm thức 2 (14,11%),
thấp nhất ở nghiệm thức 1 (5,82%) và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chỉ số thiệt hại cao nhất và thấp nhất là 8,29%
Giai đoạn 112 NSKT: bệnh cháy lá gây hại nặng nhất ở nghiệm thức 5 (6,84%),
thấp nhất ở nghiệm thức 7 (1,71%) và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chỉ số thiệt hại cao nhất và thấp nhất là 5,13%
Giai đoạn 133 NSKT: bệnh cháy lá gây hại nặng nhất ở nghiệm thức 8 (6,41%),
thấp nhất ở nghiệm thức 7 (4,14%) và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chỉ số thiệt hại cao nhất và thấp nhất là 2,27%
Giai đoạn 149 NSKT: bệnh cháy lá gây hại nặng nhất ở nghiệm thức 1 (5,57%),
thấp nhất ở nghiệm thức 7 (3,21%) và sự chênh lệch giữa nghiệm thức có chỉ số thiệt hại cao nhất và thấp nhất là 2,36%
Với kết quả trên, chứng tỏ xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa đất trồng
gừng không ảnh hưởng đến bệnh cháy lá trên cây gừng từ giai đoạn 35 NSKT đến giai
đoạn 149 NSKT Và ta có thể nhận định rằng trong thí nghiệm, nấm Trichoderma spp
không có hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh cháy lá trên gừng
Hình 5: Bệnh cháy lá trên gừng tại nơi thí nghiệm ở Mỹ An, Chợ Mới, An Giang Bảng 17: Tình hình bệnh cháy lá trong quá trình thí nghiệm tại Mỹ An, Chợ Mới, AG