Phân tích tình hình xuất khẩu và các giải pháp gia tăng kim ngạch xuất khẩu của HTX Thái Dương.
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HTX THÁI DƯƠNG 5
1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của HTX Thái Dương 5
1.2.Bộ máy tổ chức hoạt động của HTX Thái Dương 7
1.3 Tình hình nhân sự; đánh giá sự đáp ứng với tính hình kinh doanh hiện nay 10
1.4 Doanh số 12
1.5 Địa bàn kinh doanh 14
1.6 Phương thức kinh doanh 14
1.7 Tình hình Tài chính của doanh nghiệp 15
1.8 Khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước của doanh nghiệp 19
1.9 Kết luận 21
1.10 Định hướng phát triển của công ty trong những năm tới 23
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 24
2.1 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 24
2.2.Xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 29
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu TCMN 37
2.4 Tình hình hoạt động XK hàng thủ công mỹ nghệ thời gian qua 42
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA HTX THÁI DƯƠNG 46
3.1.Ngành nghề kinh doanh của HTX Thái Dương và những vấn đề đặc thù của ngành hàng 46
3.2.Thực trạng hoạt động XK mặt hàng thủ công mỹ nghệ của HTX Thái Dương 47
3.3.Tóm lược các vấn đề tồn tại và phương hướng phát triển trong hoạt động XK của HTX Thái Dương 59
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIA TĂNG KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA HTX THÁI DƯƠNG 63
4.1.Một số giải pháp nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu 63
4.2 Một số kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước 67
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 1: CÁC MẶT HÀNG CỦA HXT THÁI DƯƠNG 72
PHỤ LỤC 2: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 75
PHỤ LỤC 3: QUY TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM 76
PHỤ LỤC 4: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU ĐI CÁC THỊ TRƯỜNG 79
PHỤ LỤC 5: SỐ LƯỢNG HÀNG XUẤT KHẨU ĐI CÁC THỊ TRƯỜNG 80
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1.Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam,
và được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực vào kimngạch xuất khẩu của cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong giải quyếtmột số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn
Là mặt hàng có mức độ tăng trưởng khá cao trong những năm qua,bình quânkhoảng 20% trên 1 năm, thị trường xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của nước ta ngoài cácnước chủ yếu như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh , Pháp, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan Hiện
đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, cũng là mặt hàng có tiềmnăng tăng trưởng xuất khẩu rất lớn
Có thể nói, tác động kinh tế xã hội của ngành thủ công mỹ nghệ khá cao, đặcbiệt là về mặt giảm nghèo và phát triển khu vực nông thôn Ngành này đóng góp phầnlớn cho việc phát sinh thu nhập ở các khu vực nông thôn, thu hút đầu tư cải thiện cơ
sở hạ tầng và thu hẹp khoảng cách giữa mức sống ở nông thôn và đô thị Tiềm năngxuất khẩu của ngành này ở mức cao Đây là một ngành năng động, có mức tăngtrưởng xuất khẩu về mặt giá trị tăng nhanh hơn gấp 5 lần so với mức trung bình thếgiới Các điều kiện thâm nhập thị trường của Việt Nam đối với ngành này tương đối
ưu đãi Sản phẩm thủ công của Việt Nam nổi tiếng do có mức giá vừa phải cũng như
có một loạt các loại thiết kế độc đáo, nổi bật nhờ có nền tảng dân tộc đa dạng
Tuy nhiên mức độ phát triển của ngành thủ công mỹ nghệ vẫn còn hạn chế sovới tiềm năng của nó: đặc biệt những năm gần đây doanh thu xuất khẩu của ngành thủcông mỹ nghệ mặc dù có tăng trưởng nhưng vẫn không đạt được chỉ tiêu đề ra, ngoàimột số mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ còn lại đã bộc lộnhiều điểm yếu: mẫu mã sản phẩm chậm cải tiến, thiếu mặt hàng mới, kiểu dáng sảnphẩm không theo kịp tập quán và thói quen tiêu dùng của thị trường xuất khẩu, sản
Trang 3thiếu đồng bộ, tính hoàn thiện sản phẩm còn thấp, công dụng không rõ nét, độ an toànchưa được chú ý, bao bì không hấp dẫn Chính vì thế, hàng thủ công mỹ nghệ củaViệt Nam đang phải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế.
HTX Thái Dương là một trong những doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh cácmặt hàng thủ công mỹ nghệ lâu đời tại Việt Nam Bắt đầu hoạt động từ năm 1982,đến nay sản phẩm của HTX đã có mặt tại nhiều nước trên Thế giới Tuy nhiên, khôngnằm ngoài quy luật chung của ngành, HTX cũng luôn phải đương đầu với những khókhăn về cạnh tranh trên thị trường quốc tế Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã lựa
chọn đề tài: “Phân tích tình hình xuất khẩu và các giải pháp gia tăng kim ngạch xuất khẩu của HTX Thái Dương” là đề tài tốt nghiệp của mình
1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chủ yếu của luận văn tốt nghiệp là nghiên cứu, phân tích thực trạnghoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của HTX Thái Dương, phân tích điểmmạnh, điểm yếu của doanh nghiệp trong vấn đề XNK Trên cơ sở thực trạng đó, tác giả
đề xuất kiến nghị một số giải pháp nhằm gia tăng kim ngạch XNK cho doanh nghiệp
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của HTXThái Dương
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tập trungnghiên cứu hoạt động xuất khẩu của HTX Thái Dương trong giai đoạn từ năm 2008đến nay
3 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được viết bằng việc sử dụng tổng hợp các phương pháp và công cụ chủyếu là thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề có liênquan
4 Nội dung tóm tắt nghiên cứu
Luận văn được chia làm bốn chương chính như sau:
Trang 4Chương 1: Giới thiệu Tổng quan về HTX Thái Dương
Tại chương này, tác giả giới thiệu khái quát về lịch sử hình thành, bộ máy cơ cấu tổchức và chức năng nhiệm vụ của các Phòng/Ban, tình hình nhân sự của HTX TháiDương Đồng thời, tác giả cũng phân tích và đánh giá tình hình sản xuất kinh doanhcủa HTX từ năm 2008 đến nay và định hướng cho những năm tiếp theo
Chương 2: Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu và hoạt động gia tăng kim ngạch của doanh nghiệp
Tại chương này, tác giả đưa ra lý luận chung về vấn đề xuất khẩu, vai trò của XK, cáchình thức XK và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động XK nói chung và đối với hoạtđộng XK hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng
Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của HTX Thái Dương
Tác giả đi sâu nghiên cứu ngành nghề kinh doanh và chỉ ra những vấn đề đặc thù củaHTX Thái Dương, từ đó đưa ra một số phân tích, đánh giá về tình hình XK của HTX
Chương 4: Các giải pháp nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu của HTX Thái Dương
Trong chương này tác giả chỉ ra các vấn đề tồn tại và phương hướng trong hoạt độngxuất khẩu của HTX Thái Dương Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm
mở rộng thị trường xuất khẩu và một số kiến nghị đối với các cơ quan Nhà nướcnhằm tăng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của HTX nói riêng và củangành thủ công mỹ nghệ nói chung
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HTX THÁI DƯƠNG
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của HTX Thái Dương
HTX Thái Dương là đơn vị hoạt động lâu năm trong lĩnh vực sản xuất và xuấtkhẩu hàng thủ công mỹ nghệ Qua 25 năm tồn tại và nỗ lực phấn đấu và phát triển,HTX đã gặt hái được những thành công nhất định như đã đầu tư trên 10 tỷ đồng đểcải tiến công nghệ nung bằng củi sang nung bằng Gas, đầu tư công nghệ làm đấtnguyên liệu , nghiên cứu men màu, xây dựng chương trình quản lý chất lượng theo hệthống ISO 9001 – 2000, xây dựng chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý trongnền kinh tế thị trường và đào tạo tay nghề cho lao động ngành gốm
Với tổng diện tích mặt bằng sản xuất: 20.000 m2, với hệ thống nhà xưởng vàdây chuyền sản xuất tiên tiến so với ngành gốm Việt Nam hiện nay, HTX có khả năngsản xuất 30 x 40' containers hàng hoá mỗi tháng
Là một doanh nghiệp với nhiều năm kinh nghiệm trong sản xuất và xuất khẩuhàng gốm mỹ nghệ của Việt Nam và đã từng là một trong những doanh nghiệp đầutiên tham dự các triển lãm quốc tế như Frankfurt, HongKong, Chicago Thái Dươnghiểu chất lượng sản phẩm có vai trò quan trọng như thế nào, từ đó liên tục cải tiến vànâng cao chất lượng
Việc đầu tư công nghệ sản xuất và nâng cao các tiêu chuẩn về lao động luônđược cải tiến và thực hiện hàng năm Vì thế sản phẩm của Thái Dương đã thỏa mãnđược các yêu cầu khắc khe của nhiều thị trường như Đức, Nhật, Anh, Phần Lan, TâyBan Nha, đặc biệt là thị trường Bắc Mỹ
Các mốc thời gian quan trọng về sự phát triển của HTX:
- Ngày 26/04/1982: HTX Thái Dương chính thức đi vào hoạt động với tên gọi
ban đầu “ Tổ Hợp Gốm Hóa An”, do một nhóm nghệ nhân yêu nghề góp vốn thànhlập Và để thích ứng với sự phát triển kinh tế chung và khả năng hoạt động sản xuấtkinh doanh, tập thể tổ viên đã nhất trí tình nguyện xây dựng và tiến lên HTX với tên
Trang 6gọi đầy đủ HTX Gốm Mỹ Nghệ Xuất Khẩu và Dân Dụng Thái Dương kể từ ngày08/03/1986 theo quyết định số 23/15/QĐ với 54 xã viên, đóng góp 103,500 đồng vốn
và huy động
o Văn phòng giao dịch đặt tại : K27B, đường Nguyễn Ái Quốc ( Quốc lộ 1K cũ )khu phố 3, Phường Bửu Hòa, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
o Tên giao dịch : THAI DUONG CO-OPERATIVE
o Tên viết tắt : THAI DUONG CO-OP
o Ngành nghề kinh doanh : sản xuất kinh doanh mặt hàng gốm mỹ nghệ và cácngành hàng thủ công mỹ nghệ khác
o Mã số thuế: 36000356525
o Điện thoại: 061 3859396 / 3859333 Fax: 061 3859371
- Năm 1998: HTX đã tiến hành Đại hội xã viên chuyên trao đổi hoạt động theo
luật HTX, được UBND thành phố Biên hòa công nhận điều lệ hoạt động ngày03/03/1998 và cấp giấy chứng nhận kinh doanh số 0004/BH kí ngày 30/03/1998 Hợptác xã Thái Dương là nơi giàu truyền thống về nghề gốm mỹ nghệ từ rất lâu đời Pháthuy truyền thống đó, từ khi thành lập đến nay Thái Dương Co.op đã sản xuất và gópphần giới thiệu hàng gốm mỹ nghệ của Việt Nam đến nhiều nước trên thế giới
- Từ năm 2002, HTX đã hợp tác với một số đối tác để sản xuất và phát triển các
hàng thủ công mỹ nghệ khác như hàng mây tre đan, hàng tole và đặc biệt vào đầu quý
02 năm 2007, Thái Dương mở thêm mặt hàng mỹ nghệ bằng chất liệu resin
- Từ 2007 đến nay, HTX Thái Dương có hơn 300 công nhân lành nghề với bàn
tay khéo léo và óc sáng tạo cho ra đời những sản phẩm gốm mỹ nghệ ngày càng độcđáo hơn về màu sắc và kiểu dáng, đáp ứng ngày càng nhiều nhu cầu khách hàng trong
và ngoài nước
Trang 71.2 Bộ máy tổ chức hoạt động của HTX Thái Dương
BẢO VỆ
Kế Toán Tổng Hợp
Kế Toán Thanh toán
Kế Toán Vật Tư
Kế Toán Thủ Quỹ
XÍ NGHIỆP SẢN XUẤT GỐM
Bộ Phận Nghiệp Vụ
Sáng Tác & Thực Hiện Mẫu Phân Xưởng CBNL Gốm
Phân Xưởng Tạo Hình
Kho Bán Thành Phẩm & PX
Phân Xưởng Men
Phân Xưởng Lò
Kho Thành Phẩm
PHÒNG KINH DOANH
Bộ Phận Bán Hàng ( XNK )
Bộ Phận Thiết Kế Mẫu
Kho Thành Phẩm, Đóng gói bao bì
Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy
Trang 81.2.2 Chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản trị và các Phòng/Ban
1.2.2.1.Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản trị.
Ban quản trị gồm 3 người được đại hội xã viên bầu theo nhiệm kỳ 5 năm, cácthành viên ban quản trị phân công phụ trách các khâu then chốt trong toàn hợp tác xãtrong ban quản trị là cơ quan điều hành mọi hoạt động kinh doanh của hợp tác xã theoquy tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Chủ nhiệm là người điều hành công việccủa hợp tác xã Ban quản trị của hợp tác xã hiện nay bao gồm:
- Ông Huỳnh Hữu Nghĩa: trưởng ban quản trị kiêm Chủ Nhiệm hợp tác xã Làngười đại diện hợp pháp chịu trách nhiệm trước đại hội xã viên, trước ban quản trị và
cơ quan nhà nước về hoạt động sản xuất của hợp tác xã theo chế độ hiện hành
- Bà Bùi Thị Kim Uyên: Thường Trực ban Quản trị kiêm phó Chủ Nhiệm hợptác xã phụ trách công tác tài chính và hành chính của hợp tác xã
- Bà Huỳnh Thị Minh Thư: Phó chủ nhiệm kiêm trưởng phòng kinh doanh, chịutrách nhiêm về hoạt động kinh doanh và sản xuất
1.2.2.2 Chức năng, Nhiệm Vụ và Quyền hạn của các Phòng ban.
Phòng Tổ chức hành chính:
Có nhiệm vụ tổ chức công tác hồ sơ nhân viên thực hiện chế độ chính sách tiềnlương, thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng như bảo hiễm thất nghiệp theoquy định nhà nước, tổ chức tuyển dụng và đào tạo nhân viên , quản lý tài sản cố định,công cụ dụng cụ của hợp tác xã, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho toàn thể côngnhân viên cũng như tham quan du lịch hàng năm Thực hiện các quy định về pháp luật
có liên quan và các công việc có tính hành chính
Gồm một trưởng phòng kinh doanh và các nhân viên nghiệp vụ Nhiệm vụ của PhòngKinh Doanh là đàm phán, kí kết hợp đồng xuất khẩu với khách hàng, xây dựngphương án kinh doanh, triển khai kế hoạch sản xuất cho các đơn vị sản xuất và cácphòng ban liên quan Tổ chức việc xuất hàng và các nghiệp vụ liên quan tới quy trình
Trang 9kinh doanh của hợp tác xã Thái Dương, Tham mưu cho ban quản trị hoạch định chiếnlược kinh doanh trong từng thời điểm.
Gồm kế toán trưởng và các nhân viên Phòng kế toán có nhiệm vụ tham mưu cho banquản trị trogn công tác tài chính thống kê, kết quả sản xuất kinh doanh, sử dụng ngồnvốn có hiệu quả
o Kế toán thanh toán:
Chịu trách nhiệm tình hình thu, chi quỹ tiền mặt hàng tháng và phát lương tháng chocán bộ công nhân viên theo đúng quy định
1.2.3 Ưu nhược điểm của bộ máy tổ chức
Ưu điểm: Qua sơ đồ tổ chức cũng như chức năng của từng phòng ban trong
HTX Thái Dương ta có thể thấy mô hình tổ chức của HTX tương đối tinh gọn, chỉ vớiBan quản trị và 4 phòng nghiệp vụ Tuy nhiên, việc phân công nhiệm vụ tại các phòngđược thực hiện theo hướng chuyên môn hóa trong đó mỗi phòng đều được chia thành
Trang 10nhiều nhóm nghiệp vụ chuyên trách Việc cơ cấu tổ chức và phân công nhiệm vụ rõràng như vậy giúp cho quá trình thực hiệc không bị chồng chéo, việc sản xuất mangtính chuyên môn hóa cao giúp khai thác tối đa hiệu quả sử dụng lao động.
Nhược điểm: Bên cạnh những ưu điểm kể trên, mô hình tổ chức trên cũng
tiềm ẩn những nhược điểm nhất định Việc phân chia nhiệm vụ rõ ràng và theo hướngchuyên môn hóa như trên yêu cầu nhân sự của Công ty luôn được giữ ở trạng thái ổnđịnh Bất kỳ sự mất cân đối về nhân sự ở phòng/ban nào cũng làm ảnh hưởng khôngtốt tới hoạt động của Công ty
1.3 Tình hình nhân sự; đánh giá sự đáp ứng với tính hình kinh doanh hiện nay
Trang 115 Phân xưởng tạo hình 7 6 1
(Nguồn: PhòngTổ chức Hành chính- HTX Thái Dương)
Bảng trên là thống kê số lượng lao động chính thức của HTX Ngoài số lượngcán bộ nhân viên chính thức kể trên, mỗi năm, vào dịp từ tháng 9 đến tháng 4, HTXcòn tuyển khoảng từ 200-300 lao động thời vụ do đặc thù ngành nghề Các tháng cònlại số lượng lao động thời vụ hầu như còn rất ít
Tình hình nhân sự của HTX như trên cũng có những ưu nhược điểm nhất định Cụ thểlà:
- Ưu điểm: Số lượng nhân sự chính thức của HTX cũng được bố trí phù hợp với
cơ cấu của bộ máy tổ chức Ban quản trị và các Phòng nghiệp vụ : Phòng Tài chính,Phòng kế toán, Phòng Kinh doanh mặc dù được phân chia thành các tổ nghiệp vụchuyên trách nhưng số lượng nhân viên tại các tổ cũng không nhiều, đủ để đáp ứngvới tình hình kinh doanh hiện tại, đồng thời cũng phù hợp với quy mô của HTX hiệnnay Số lượng lao động còn lại chủ yếu tập trung tại bộ phận sản xuất do đặc trưngcủa ngành nghề
Việc sử dụng lao động trong đó có cả lao động thường xuyên và lao động thời
vụ giúp cho HTX vừa đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh khi vào mùa vụnhưng vẫn tiết kiệm được chi phí
- Nhược điểm: Như trên đã phân tích, số lượng nhân sự của HTX chỉ để đáp ứng vừa đủ với quy mô hiện tại Khi có nhu cầu tăng cường sản xuất, HTX phải sử dụng lao động thời vụ Việc
sử dụng lao động như vậy ngoài ưu điểm là tiết kiệm chi phí cũng tồn tại nhược điểm là HTX rất có thể sẽ rơi vào tình bị thiếu nhân công lành nghề khi vào mùa cao điểm.
Trang 12Tổng Doanh thu (VNĐ)
Tỷ trọng DT bán hàng (%)
Tỷ trọng DT tài chính (%)
Tỷ lệ tăng DT bán hàng (%)
Tỷ lệ tăng
DT tài chính (%)
cơ cấu doanh thu; điều này là bình thường do Thái Dương là một đơn vị chuyên sảnxuất, gia công đồ thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
Tuy nhiên, nhìn vào xu hướng và tốc độ tăng trưởng của doanh thu, chúng tanhận thấy sự bất bình thường trong hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ Trongkhi hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ kinh doanh chính đang suy yếu đi thì hoạtđộng tài chính lại không ngừng tăng lên; đây là sự bất bình thường đòi hỏi chúng tacần nghiêm túc nghiên cứu và xem xét tình hình, nhìn nhận xem các sự chuyển biết
Trang 13đó là tích cực hay tiêu cực, nên duy trì hay loại bỏ, nguyên nhân do đâu và nên cógiải pháp như thế nào Điển hình năm 2008 được coi là năm thành công nhất trongquá trình sản xuất, kinh doanh với tổng doanh thu đạt trên 13,78 tỷ đồng, doanh thubán hàng chiếm gần 97% cơ cấu doanh thu Nhưng các năm sau đó tốc độ tăng doanhthu bị sụt giảm nghiêm trọng; năm 2009 giảm 21,8%, năm 2010 mặc dù tăng trên15% so với 2009 nhưng lại vẫn giảm 9% so với 2008; năm 2011 và 2012 được dự báo
là không mấy khả quan và vẫn trên đà suy giảm từ năm 2008
Biểu đồ1:Tăng trưởng của các loại doanh thu
0 2,000,000
Bên cạnh sự không mấy khả quan của hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụthì hoạt động tài chính lại chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc từ doanh thu tài chính ,chiếm 3% cơ cấu doanh thu lên 8% cơ cấu doanh thu và tốc độ tăng trưởng bình quânthời kỳ 2008 – 2011 là 38%, năm 2011 được coi là đột biến trong tốc độ tăng trưởngdoanh thu hoạt động tài chính lên tới 50% và xu hướng 2012 vẫn được coi là tiếp tụcduy trì tốc độ tăng trưởng cao này
1.5 Địa bàn kinh doanh
Phần lớn các mặt hàng của Thái Dương được sản xuất và xuất khẩu sang cácnước châu Âu, Á, Mỹ điển hình là các quốc gia như: Mỹ, Nhật, Phần Lan, Hy Lạp,Slovennia, Thái Lan, Cyprus, Đài Loan, Hàn Quốc, Ý, Tây Ban Nha, Đức,
Trang 14Newzealand, Uruguay, Lithunia … Trong đó phải kể tới các quốc gia châu Á nhưNhật có tốc độ tiêu thụ ổn định và tăng dần từ 14% lên tới 25%, Hàn Quốc có tốc độtăng trưởng đột biến lên tới từ 0% tới 30%, Thái Lan, phản anh xu hướng yêu thíchcác mặt hàng của Thái Dương Bên cạnh đó diễn biến trong thời gian các năm vừaqua cũng cho thay sự đi xuống của một số thị trường vốn là thị trường chủ lực củaThái Dương như Mỹ và các nước châu Âu như Hy Lạp, Đức, Phần Lan và tốc độ đixuống chưa có dấu hiệu ngừng lại Dự báo các thị trường chủ yếu và chiếm tỷ trọnglớn trong năm 2011 và các năm tiếp theo đang có xu hướng dịch chuyển từ Châu Âusang Châu Á.
1.6 Phương thức kinh doanh
Hiện tại, Thái Dương chủ yếu là gia công xuất khẩu theo đơn đặt hàng của cácthị trường Á, Âu, Mỹ trong đó phương thức gia công theo đơn đặt hàng chiếm phầnlớn tới 85 cơ cấu doanh thu còn lại tự doanh và tạm nhâp tái xuất chiếm rất ít 15 cơcấu doanh thu Nó phản ánh tính cạnh tranh và thương hiệu của Thái Dương khá thấp,không thể tự chủ động sản xuất, tìm kiếm, khai thác các thị trường bên ngoài nướcđược mà phải dựa vào sự liên kết, đặt hàng của các tổ chức lớn ở bên ngoài Tìnhtrạng này làm cho hàm lượng giá trị gia tăng trong khâu sản xuất của Thái Dươngkhông cao, giá và lợi nhuận khó có thể tăng được do phụ thuộc vào đơn đặt hàng giacông của các đối tác Nhìn chung trong một chừng mực nào đó việc gia công theo đơnđặt hàng giúp Thái Dương tích lũy kinh nghiệm, vốn, các cơ hội tiếp cận thị trường; tuy nhiên
về dài hạn những vần đề này sẽ là không tốt cho chiến lược phát triển.
Bảng 2: Phương thức kinh doanh STT Phương thức kinh doanh Tỷ trọng các phương thức
(Nguồn: Phòng Kinh doanh- HTX Thái Dương)
Phần lớn các đơn đặt hàng hiện tại đến từ Hà Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, TháiLan; trong khi các thị trường truyền thống EU – Mỹ thì lại đang giảm rõ rệt các giá trị
Trang 15đơn hàng Theo dự báo năm 2011 tổng số lượng đơn đặt hàng sẽ là 115 354 sản phẩmtrong đó các đơn đặt hàng của Nhật 34 ngàn sản phẩm, Phần Lan 20 ngàn sản phẩm,
Hy Lạp 10 ngàn, Hàn Quốc 16 ngàn, Thái Lan 8 ngàn (xem chi tiết bảng bên dưới về
số lượng các đơn hàng thị trường các năm)
1.7 Tình hình Tài chính của doanh nghiệp
Căn cứ vào bảng cân đối tài sản vào thời điểm cuối năm 2010 của Thái Dương chúng ta nhận thấy tình hình tài chính của đơn vị nhìn chung là khả quan với các chỉ số tài chính tương đối lành mạnh, thu chi hợp lý, cân đối nợ vốn, nợ tài sản là cân bằng; tuy nhiên bên cạnh đó cũng phản ảnh một số bất hợp lý như tồn kho giảm mạnh quá, phải trả tăng cao, ứng trước giảm mạnh Nó cho thấy một số dấu hiệu bất thường trong hoạt động sản xuất kinh doanh, và nếu tình hình này kéo dài sẽ rất nguy hiểm, đặc biệt khi đòn bảy tài sản cố định của đơn vị tương đối lơn Chúng ta sẽ đi xem xét một số vấn đề tiêu biểu về tình hình tài chính doanh nghiệp và bảng các chỉ số tài chính bên dưới để xác định rõ vấn đề hơn:
Trang 16BẢNG3: PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2008 - 2010
TÀI SẢN NGẮN HẠN 13,513,203,474 26.36% 100.00% 14,727,658,845 28.28% 100.00% 26.36% 100.00% -8.25% -5.25% Tiền và các khoản tương đương tiền 454,215,704 0.89% 3.36% 719,875,873 1.38% 4.89% 0.89% 3.36% -36.90% -22.06% Các khoản phải thu ngắn hạn 1,792,101,604 3.50% 13.26% 2,171,052,643 4.17% 14.74% 3.50% 13.26% -17.45% 82.70% Phải thu của khách hàng 1,642,262,604 3.20% 12.15% 1,967,013,643 3.78% 13.36% 3.20% 12.15% -16.51% 110.26% Trả trước cho người bán 99,839,000 0.19% 0.74% 104,039,000 0.20% 0.71% 0.19% 0.74% -4.04% 0.00% Các khoản phải thu khác 50,000,000 0.10% 0.37% 100,000,000 0.19% 0.68% 0.10% 0.37% -50.00% -95.00% Hàng tồn kho 3,010,016,645 5.87% 22.27% 3,732,788,251 7.17% 25.35% 5.87% 22.27% -19.36% -28.68% Hàng tồn kho 3,010,016,645 5.87% 22.27% 3,732,788,251 7.17% 25.35% 5.87% 22.27% -19.36% -28.68% Tài sản ngắn hạn khác 8,256,869,521 16.11% 61.10% 8,103,942,078 15.56% 55.03% 16.11% 61.10% 1.89% -2.61% Thuế GTGT được khấu trừ 340,127,149 0.66% 2.52% 113,550,428 0.22% 0.77% 0.66% 2.52% 199.54% 629.03% Thuế và các khoản phải thu Nhà
nước
29,548,673 0.06% 0.22% 20,950,042 0.04% 0.14% 0.06% 0.22% 41.04% -32.37%
Tài sản ngắn hạn khác 7,887,193,699 15.39% 58.37% 7,969,441,608 15.30% 54.11% 15.39% 58.37% -1.03% -5.97% TÀI SẢN DÀI HẠN 37,751,696,567 73.64% 100.00% 37,535,489,293 72.07% 100.00% 73.64% 100.00% 0.58% -2.23% Tài sản cố định 37,751,696,567 73.64% 100.00% 37,535,489,293 72.07% 100.00% 73.64% 100.00% 0.58% -2.23% Nguyên giá 46,122,149,377 89.97% 122.17% 45,481,349,792 87.33% 121.17% 89.97% 122.17% 1.41% -2.09% Giá trị hao mòn lũy kế 8,389,406,510 16.36% 22.22% 8,146,814,199 15.64% 21.70% 16.36% 22.22% 2.98% -1.48% Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 18,953,700 0.04% 0.05% 18,953,700 0.04% 0.05% 0.04% 0.05% 0.00% 0.00% TỔNG TÀI SẢN 51,264,900,041 100.00% 52,081,148,138 100.00% 100.00% -1.57% -3.04%
NỢ PHẢI TRẢ 41,609,260,826 81.17% 100.00% 42,439,558,440 81.49% 100.00% 81.17% 100.00% -1.96% -3.89%
Nợ ngắn hạn 2,350,129,610 4.58% 5.65% 2,230,427,224 4.28% 5.26% 4.58% 5.65% 5.37% -62.65% Vay ngắn hạn 975,000,000 1.90% 2.34% 1,000,000,000 1.92% 2.36% 1.90% 2.34% -2.50% -75.56% Phải trả cho người bán 822,496,526 1.60% 1.98% 588,083,502 1.13% 1.39% 1.60% 1.98% 39.86% 10.86% Nguời mua trả tiền trước 190,624,550 0.37% 0.46% 367,911,200 0.71% 0.87% 0.37% 0.46% -48.19% -78.37% Thuế và các khoản phải nộp NN 0.00% 0.00% 0.00% 0.00% 0.00% 0.00% #DIV/0! #DIV/0! Phải trả người lao động 235,662,613 0.46% 0.57% 186,282,878 0.36% 0.44% 0.46% 0.57% 26.51% 6.72% Các khoản phải trả ngắn hạn 126,345,921 0.25% 0.30% 88,149,644 0.17% 0.21% 0.25% 0.30% 43.33% -72.45%
Trang 17Nợ dài hạn 39,259,131,216 76.58% 100.00% 40,209,131,216 77.20% 100.00% 76.58% 100.00% -2.36% 6.10% Vay và nợ dài hạn 39,259,131,216 76.58% 100.00% 40,209,131,216 77.20% 100.00% 76.58% 100.00% -2.36% 6.10% VỐN CHỦ SỞ HỮU 9,655,639,215 18.83% 100.00% 9,641,589,698 18.51% 100.00% 18.83% 100.00% 0.15% 0.78% Vốn chủ sở hữu 9,655,639,215 18.83% 100.00% 9,641,589,698 18.51% 100.00% 18.83% 100.00% 0.15% 0.78% Vốn đầu tư của chủ sở hữu 9,000,000,000 17.56% 93.21% 9,000,000,000 17.28% 93.35% 17.56% 93.21% 0.00% -0.88% Chênh lệch tỷ giá hối đoái 43,264,215 0.08% 0.45% 88,855,200 0.17% 0.92% 0.08% 0.45% -51.31% #DIV/0! Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu 449,084,380 0.88% 4.65% 445,524,672 0.86% 4.62% 0.88% 4.65% 0.80% #DIV/0! Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 163,290,620 0.32% 1.69% 107,209,826 0.21% 1.11% 0.32% 1.69% 52.31% 96.55% Qũy khen thưởng phúc lợi 0.00% 0.00% 0.00% 0.00% 0.00% 0.00% #DIV/0! -100.%
(Nguồn: Báo cáo tài chính các năm 2008-2010, HTX Thái Dương)
Trang 18 Nhận xét, đánh giá về tình hình tài chính của HTX Thái Dương
Thái Dương có tài sản dài hạn lớn gấp 3 lần tài sản ngắn hạn, cơ cấu này đượcphân bổ cụ thể tài sản lưu động chiếm 26%, tài sản cố định chiếm 74% tổng tài sảnđây là tỷ lệ hợp lý khi so với mức bình quân của ngành
Trong cơ cấu tài sản lưu động lượng hàng tồn kho của Thái Dương tương đốithấp chỉ chiếm 22% cơ cấu tài sản ngắn cho thấy công ty có tốc độ tiêu thụ mặt hàngtương đối ổn định, tốt và chủ động nên cho phép công ty ước tính và duy trì đượclượng tồn kho hợp lý, giảm thiểu chi phí lưu kho
Nhìn vào cơ cấu nguồn vốn, Thái Dương có tỷ lệ nợ gấp hơn 4 lần vốn chủ sởhữu, đây cũng là tỷ lệ tương đối an toàn khi mà phần lớn nợ của đơn vị là nợ dài hạn(chiếm 94% trong tổng nợ và chiếm hơn 76% trong cơ cấu nguồn) Và phần lớn nợdài hạn của Thái Dương được sử dụng vào mục đích đầu tư trang thiết bị phục vụ choviệc mở rộng quy mô sản xuất
So với thời điểm đầu năm quy mô tài sản của Thái Dương bị giảm đi đôi chút
do sự biến động của khối tài sản lưu động; do vậy thời điểm cuối năm cơ cấu tài sảnlưu động của Thái Dương tốt hơn vì đã giảm được phần lớn các khoản phải thu, ứngtrước, hàng tồn kho … so với thời điểm đầu năm Tuy nhiên nếu so sánh với mốc đỉnhcao 2008, khoản phải thu tăng đột biến trong khi thời điểm hiện tại phải thu rất ít thìcho chúng ta thấy một vấn đề là hiện việc bán hàng đã giảm hơn rất nhiều so với trướckia Nó cũng hợp ly với các phân tích ở mục trên khi quy mô thị trường thu hẹp và có
su hướng dịch chuyển từ các thị trường truyền thống sáng các thị trương mới nổi
Trong vấn đề tài chính, Thái Dương còn đối mặt với rủi do biến động tỷ giá củacác loại ngoài tệ USD Euro, Yên, Đô la Đài Loan, Hồng Kông … với đồng tiền Việt;chính vì điều này nên trong các báo cáo của đơn vị thường xuyên xuất hiện cac khoảntrích lập dự phòng tỷ giá; gần đây các khoản trích lập này có xu hướng giảm Tuynhiên cùng với diễn biến giảm giá dài hạn của đồng tiền Việt và các diễn biến bấtthường trên thế giới, nguy cơ này vẫn còn và rất cao; nó sẽ tác động xấu tới kết quả
Trang 19kinh doanh và các báo cáo tài chính của đơn vị Mặt khác Thai Dương còn phải đốimặt với một số khoản lãi vay phát sinh từ việc vay dài hạn và ngắn hạn sẽ phải trahàng năm, nó làm xuất hiện chi phí lãi vay định kỳ và sẽ gây khó khăn nếu như việcquản trị dòng tiền không tốt hoặc tình hình kinh doanh bị xấu đi Đồng thời việcthường xuyên xuất hiện khoản chi phí khác rất lớn và không rõ ràng cũng là dấu hỏitrong công tác quản trị tài chính của Thái Dương.
Cơ cấu nguồn của Thái Dương cũng có sự chuyển biến tốt xấu đan xen, trong khi tỷ lệ
nợ ngắn hạn giảm đi do trả được bớt nợ ngắn và dài hạn và nguồn vốn tăng thêm 15%phản ánh việc kinh doanh vẫn ổn định và khả quan; thì một lần nữa khoản trả tiềntrước của khách hàng giảm mạnh và phải trả cho người bán tăng cao lại một lần nữa
phản ánh các dấu hiệu không tốt trong triển vọng kinh doanh trong tương lai gần 1.8 Khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước của doanh nghiệp
Do phần lớn hàng thủ công mỹ nghệ của Thái Dương tập chung cho xuất khẩutại các thị trường Á, Âu, Mỹ do vậy đề tài sẽ không đề cập tới khả năng cạnh tranhtrong nước của đơn vị mà chỉ tập chung phân tích khả năng cạnh tranh trên thị trườngquốc tế
Hàng thủ công mỹ nghệ cuả Thái Dương do sử dụng nguồn nguyên liệu trongmang lại hiệu quả từ thực thu giá trị ngoại tệ rất cao, có những mặt hàng thủ công mỹnghệ hầu như đạt 100% giá trị xuất khẩu, còn lại cũng đạt trên 80% giá trị kim ngạch.Các sản phẩm của Thái Dương có khả năng cạnh tranh về giá do hàng thủ công mỹnghệ của Thái Dương được sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sẵn có trong nước, cơ
sở sản xuất được bố trí gần nguồn nguyên liệu Nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu phụcho sản xuất khá nhỏ Nguồn lao động cho sản xuất mặt hàng này khá dồi dào, và chiphí lao động thấp Vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh nhìn chung không lớn
Đơn cử thị trường Nhật Bản là một thị trường có tốc độ tăng trưởng cao và ổn địnhtrong mấy năm qua của Thái Dương, nhưng tỷ trọng hàng thủ công mỹ nghệ của đơn
vị tại thị trường Nhật Bản nói chung vẫn còn nhỏ bé so với tiềm năng thực tế Nhu
Trang 20cầu của người tiêu dùng Nhật Bản về hàng thủ công mỹ nghệ của Thái Dương do đápứng được một số yêu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản
Tuy nhiên, mức độ phát triển của Thái Dương vẫn còn hạn chế so với tiềmnăng, đặc biệt những năm gần đây doanh thu xuất khẩu của đơn vị mặc dù có tăngtrưởng nhưng vẫn không đạt được chỉ tiêu đề ra, ngoài một số mặt hàng gốm sứ mỹnghệ, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ còn lại đã bộc lộ nhiều điểm yếu Việc thiếuvốn khiến cho quy mô sản xuất trở nên manh mún, nhỏ lẻ; mẫu mã đơn điệu, việc liênkết và gây dựng thưong hiệu quốc gia cũng không dễ Do thiếu vốn nên công tácnghiên cứu, dự báo thị trường còn yếu, thiếu chuyên nghiệp nên chỉ tiêu xuất khẩuchưa đạt được như mong muốn
Bên cạnh đó, hàng thủ công mỹ nghệ của Thái Dương thiếu, yếu các khâu lưukho và phân phối thành phẩm; marketing và bán hàng; dịch vụ hỗ trợ khách hàng, dẫnđến việc sản phẩm bị chèn ép trên thị trường Mặc dù Thái Dương có lợi thế vềnguyên liệu nhưng một số mặt hàng, trong đó có đồ gỗ nội thất lại phải nhập khẩunguyên liệu với giá thành không rẻ, Sản phẩm trong nước đang phải chịu sự cạnhtranh quyết liệt từ Trung Quốc, Ấn Độ, cũng như từ các sản phẩm có thể thay thếđược từ chất liệu nhựa
Thêm vào đó, Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Thái Dương vẫn thườngđược sản xuất với nguyên liệu đầu vào sẵn có trong khi nguồn này đang dần khanhiếm, bất ổn định Đơn vị hầu như chỉ khai thác những nguyên liệu sẵn có mà khôngquan tâm đến việc đầu tư vùng nguyên liệu Theo Cục Chế biến thương mại nông lâmthuỷ sản và nghề muối(thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), truớc đây,hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sẵn có trong nước,tạo lợi thế cạnh tranh lớn cho sản phẩm Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, nguyên liệunhập khẩu đã lên tới khoảng 60%, làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của hàngthủ công mỹ nghệ, Song việc nhập khẩu ngày càng khó khăn do giá nguyên liệu nhómtrên có xu hướng ngày càng tăng
Trang 21Hiện tại đối với Thái Dương xuất hiện một nghịch lý là lượng khách tìm kiếmhợp đồng khá nhiều song hợp đồng ký được rất ít; nguyên nhân lớn nhất hiện nay vẫn
là việc chi phí đầu vào tăng quá cao (khoảng 20-30%), trong khi khách hàng chỉ trảgiá tăng 5-10% Do vậy Thái Dương chỉ dám ký những hợp đồng nhỏ, ngắn hạn đểđảm bảo đủ vốn sản xuất và tránh rủi ro
Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam so với hàng Trung Quốc còn kém mẫu
mã, chủng loại…Nhu cầu của khách hàng quốc tế về hàng thủ công mỹ nghệ rất đadạng, thay đổi nhanh theo mùa Vòng đời của một sản phẩm rất ngắn nên đòi hỏi cácnước xuất khẩu phải rất nhanh nhạy mới có thể đáp ứng những yêu cầu đó Trong khiluật lệ, thủ tục nhập khẩu của các quốc gia rất rườm rà phức tạp và ngày càng cao, do
đó Thái Dương cần phải có chiến lược nhằm đáp ứng những yêu cầu này
Trên thực tế, Thái Dương vẫn chưa chủ động và có chiến lược phát triển lâu dàitrên các thị trương truyền thống và mới nổi Hiện nay phần lớn các đơn hàng vẫnmang tính phi vụ hợp đồng theo chuyến hàng nên tính ổn định trong xuất khẩu thấp.Khả năng cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ của Thái Dương còn thấp hơn cácnước trong khu vực như Trung Quốc, Philippin, Đài Loan… do chất lượng hàng hoá
và khả năng tiếp cận thị trường còn yếu
- Có được cơ sở vật chất, tư liệu sản xuất tốt tạo điều kiện cho việc mở rộng quy
mô, nâng cao năng lực
Trang 22- Năng lực tài chính nhìn chung là lành mạnh, sử dụng vốn hợp lý
- Sử dụng nhận lực một cách linh hoạt uyển chuyển, tiết giảm hợp lý nhằm tối ưucác nguồn lực và công suất
- Đã biết cảch sử dụng các công cụ marketing hiệu quả như tham gia hội chợquốc tế giới thiệu sản phẩm, marketing online …
- Ban lãnh đạo có tâm, có kinh nghiệm quản lý, năng động và tâm huyết
- Khả năng quản lý hiệu quả, tiết giảm các chi phí quản lý tốt
1.9.2 Nhược điểm
- Năng lực tài chính vốn còn hạn chế, do vậy dẫn tới lệ thuộc vốn vay trong đầu
tư trang bị tư liệu sản xuất và tiềm ẩn các rủi do khi thị trường suy yếu
- Tay nghề công nhân chưa cao và đồng đều, do có nhiều lao động thời vụ và quy
mô lao động là lớn trong khi lại không chú trọng công tác đào tạo nghề, giám sát quátrình sản xuất kỹ lưỡng
- Chưa chủ động các nguồn nguyên liệu, đăc biệt là các nguyên liệu bị hạn chếnguồn cung trong tương lai; dẫn tới nguy cơ nhập khẩu nguyên liệu về gia công làmtăng giá thành sản phẩm, thiếu chủ động … dẫn tới giảm năng lực cạnh tranh
- Chưa nắng bắt tốt nhu cầu, tâm lý, thói quen, luật lệ của khách hàng quốc tếdẫn tới bị suy giảm năng lực sản xuất, thiết kế mẫu mã mới, cạnh tranh; đơn cửa banđầu họ rất ưa thích việc sử dụng nhưng sau đó có độ chững và suy giảm
- Khả năng liên kết với các doanh nghiệp khác trong nước kém dẫn tới làm giảmsức mạnh cạnh tranh khi ra trường quốc tế
- Gần đây, do khâu sản xuất và dự báo có nhiều yếu kém làm cho giá vốn hàngbán có xu hướng tăng cao và xuất hiện nhiều khoản chi phí tài chính bất thường làmgiảm đáng kể hiệu quả kinh doanh
- Thương hiệu Thái Dương chưa thực sự được biết đến nhiều trong nước và khuvực
Trang 231.10 Định hướng phát triển của công ty trong những năm tới.
Hiện nay sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam đang tìm được chỗ đứng trênmột số thị trường lớn và rất được ưa chuộng Là một nhóm hàng tạo ra giá trị gia tănglớn, đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ chủ yếuđược sản xuất bằng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, nguyên phụ liệu nhậpkhông đáng kể, thường chỉ chiếm 35% giá trị hàng hoá được sản xuất Theo tính toáncủa các chuyên gia thì giá trị thực thu của ngành thủ công mỹ nghệ đạt tới 95-97%
Riêng đối với HTX Thái Dương, trong những năm qua hàng thủ công mỹ nghệcủa đơn vị đã cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm thoả mãn nhu cầu trong nước vàngoài nước, tạo việc làm cho hàng trăm lao động nông nhàn, giải quyết vấn đề thấtnghiệp đang bức xúc hiện nay
Trong thời gian tới mặt hàng thủ công truyền thống của HTX vẫn có khả năng
mở rộng hơn nữa ra thị trường trong nước và quốc tế, đặc biệt nếu HTX biết kết hợpchặt chẽ với các đơn vị trong ngành du lịch Thị trường hàng hoá phục vụ khách dulịch sẽ ngày càng phát triển trong đó nhóm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đặc biệt
là sản phẩm của các làng nghề truyền thống nổi tiếng sẽ được ưu tiên
Đối với thị trường nước ngoài, các sản phẩm truyền thống đang ngày càng mởrộng, một số lượng lớn người tiêu dùng, khách hàng ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ,Nhật Bản và các nước công nghiệp châu Á đang hướng đến những sản phẩm mangtính dân tộc, tính nghệ thuật cổ truyền dân gian; những sản phẩm thủ công truyềnthống mang bản sắc của quốc gia, nơi mà chúng được sản xuất
Trang 24CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
2.1 Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản.
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đề cho thấy làng xãViệt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống nhân dân ởnông thôn Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng phép nước
và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đến ngày nay
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nông nghiệp
và sản xuất nông thôn Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã Việt Nam xuất hiện
từ thời các vua Hùng dựng nước, những xóm làn định canh đã hình thành, dựa trên cơ
sở những công xã nông thôn Mỗi công xã gốm một số gia đình sống quây quần trongmột khu vực địa giới nhất định Đồng thời là nơi gắn bó các thành viên với nhau bằngkhế ước sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tín ngưỡng,lễ hội, tập tục, luật lệ riêng nhằmliên kết với nhau trong quá trình sản xuất và đời sống
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nôngnghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặtchẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo nghềnghiệp, tạo thành các phường hội: phường gốm, phường đúc đồng, phường dệt vải…
từ đó, các nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề Bên cạnh những ngườichuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề phụ Nhưng donhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường chỉgiới hạn trong quy mô nhỏ dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề
Trang 25thủ công Những làng nghề phát triển mạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thốngtăng nhanh và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều.
Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống vàcác sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc Quá trìnhphát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn.Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình rồi đến cả họ và lan ra cả làng Trải quamột quá trình lâu dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được gìn giữ, cónhững nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời Trong đó cónhững nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân cônglao động khá cao
Theo đó ta có thể đưa ra một số khái niệm sau:
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn( làng) có một hay một
hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thunhập của các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng
Làng nghề truyền thống
Để làm rõ khái niệm về làng nghề truyền thống cần có những tiêu thức sau
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở lên so vớitổng số hộ và lao động của làng
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổnggiá trị xuất và thu nhập của làng trong năm
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hoá và bản sắc dântộc Việt Nam
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định được truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác
Từ những tiêu thức trên có thể định nghĩa về làng nghề truyền thống như sau:
“Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyềnthống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu
Trang 26nhập chiếm phần chủ yếu trong năm Những nghề thủ công đó được truyền từ đờináy sang đời khác, thường là qua nhiều thê hệ Cùng với thử thách của thời gian, cáclàng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền tinh xảo, vớimột tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sảnxuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm
ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hoá trên thị trường.”
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã xuất
hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta còn tồn tại cho đến ngày nay,bao gôm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng nhữngmáy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.Như vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu cụ thể về hàng thủ công mỹ nghệ như
sau: sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và độc
đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm vănhoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hoá của dân tộc, mangbản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng
Hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm các nhóm hàng sau:
Trang 27hang công nghiệp sản xuất hàng loạt Ngay từ khi phát hiện ra các sản phẩm trốngđồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, thế giới đã biết đến một nền văn hoá Việt Namqua những sản phẩm phản ánh sinh động và sâu sắc nền văn hoá, tư tưởng và xã hộithời đại Hùng Vương Cho đến nay, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậmtính văn hoá như gốm Bát Tràng, hay bộ chén đĩa, tố sứ cao cấp có hình hoa văn Châu
á, mang đâm nét văn hoá Việt Nam như chim lạc, thần kim quy, hoa sen…đã đượcxuất khẩu rộng rãi ra khắp thế giới, người ta đã có thể tìm hiểu phần nào văn hoá củaViệt Nam Có thể nói đặc tính này là điềm thu hút mạnh mẽ đối với khách hàng nhất
là khách quốc tế, nó tạo nên một ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ và đượccoi như món quà lưu niệm đặc biệt trong mỗi chuyến du lịch của du khách nướcngoài Khách du lịch khi đến thăm Việt Nam không thể không mang theo về nướcmột món đồ thủ công mỹ nghệ , cho dù ở nước họ có thể sản xuất ra nhưng sẽ khôngthể mang hồn bản sắc văn hoá của Việt Nam Sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ
là hàng hoá đơn thuần mà trở thành sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao và đượccoi là biểu tượng của nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam
2.1.2.2.Tính mỹ thuật
Sản phẩm mang tính mỹ thuật cao, mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ là một tácphẩm nghệ thuật, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ Nhiều loịa sản phẩmvừa là phục vụ tiêu dùng , vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa nơi công sở…cácsản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệthuật Khác với các sản phẩm công nghiệp được sản xuất hàng loạt bằng máy móc,hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị cao ở phương diện nghệ thuật sáng tạo thì chỉ đượcsản xuất bằng công nghệ mang tính thủ công, chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léocủa người thợ Chính đặc điểm này đã đem lại sự quý hiếm cho các sản phẩm thủcông mỹ nghệ Nhờ đó, tai các hội chợ quốc tế như EXPO, hội chợ ở NEW YORK ,Milan( ý) …hang thủ công mỹ nghệ đã gây được sự chú ý của khách háng nước ngoàibởi sự tinh xảo trong các đường nét hoa văn trạm trổ trên các sản phẩm , hay những
Trang 28kiể u dáng mẫu mã độc đáo, mặc dù nguyên liệu rất đơn giản có khi chỉ là một hòn đá,
xơ dừa…qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ thuật
có giá trị cao
2.1.2.3 Tính đơn chiếc
Hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc thái riêngcủa mỗi làng nghề Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu
là gốm Bát Tràng, Thồ Hà, Hương Canh…nhờ các hoa văn, màu men, hoạ tiết trên
đó Bên cạnh đó, tính đơn chiếc có được là do hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nammang hồn của dân tộc Việt Nam , mang nét văn hoá và bản sắc của dân tộc Việt Nam, chính vì vậy hàng của Trung Quốc hay Nhật bản cho dù có phong phú hay đa dạngđến đâu cũng không thể có được những nét đặc trưng đó,cho dù kiểu dáng có thểgiống nhưng không thể mang “hồn” của dân tộc Việt Nam Cùng với đặc trưng vềvăn hoá, tính riêng biệt đã mang lại ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ củaViệt Nam trong xuất khẩu Đối với Việt Nam và cả khách hàng nước ngoài, nó khôngnhững có giá trị sử dụng mà còn thúc đẩy quá trình giao lưu văn hoá giữa các dân tộc
2.1.2.4 Tính đa dạng
Tính đa dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện ở phương thức, nguyênliệu làm nên sản phẩm đó và chính nét văn hoá trong sản phẩm Nguyên liệu làm nênsản phẩm có thể là gạch, đất, cói , dây chuối, xơ dừa…mỗi loại sẽ tạo nên một sảnphẩm thủ công mỹ nghệ với những sắc thái khác nhau, cho người sử dụng có nhữngcảm nhận khác nhau về sản phẩm Là một đôi dép đi trong nhà, nhưng dép làm bằngcói đã quá cũ đối với người tiêu dùng nên hiện nay, các nghệ nhân sử dụng chất liệudây chuối, tạo cảm giác rất mới lạ, vừa có màu vàng ngà của chuối vừa có mầu mốc
tự nhiên của thân chuối…Bên cạnh đó, tính đa dạng còn được thể hiện qua những nétvăn hoá trên sản phẩm thủ công mỹ nghệ bởi vì mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đêùmang những nét văn hoá đặc trưng của từng vùng, từng thời đại sản xuất ra chúng.Chính vì vậy trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mỗi loại
Trang 29đều có sự khác biệt rõ rệt, không đồng nhất Cũng là đồ gốm sứ nhưng người ta vẫn
có thể thấy đâu là gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , gốm Trung quốc…
2.2.2.4 Tính thủ công
Có thể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công mỹnghệ Tính chất thủ công thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều là sự kếtgiao giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật Chính đặc tính nàytạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công mỹ nghệ và những sản phẩm côngnghiệp hiện đại được sản xuất hàng loạt và ngày nay,cho dù không sánh kịp tính íchdụng của các sản phẩm này nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ luôn gây được sự yêuthích của người tiêu dùng
2.2 Xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
2.2.1 Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác hàng hoá khác ở chỗ nó vừa có thể sử dụngvừa có thể là vật trang trí, làm đẹp cho nhà cửa, văn phòng hay cũng có thể là đồ lưuniệm hấp dẫn trong mỗi chuyến du lịch của khách quốc tế Chính vì vậy, hàng thủcông mỹ nghệ có thể được xuất khẩu ra nước ngoài theo các phương thức sau:
2.2.1.1 Xét theo địa lý diễn ra giao dich xuất khẩu
- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nước ngoài vào Việt Nam và mua hàngthủ công mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam hoặc các thương nhân nước ngoài vàoViệt Nam tìm kiếm các nguồn hàng và đặt mua Với xu hướng phát triển của dulịch như hiện nay, hình thức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể vào kim ngạchxuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hàng năm
- Xuất khẩu ra nước ngoài: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ công mỹnghệ cho các đối tác nước ngoài bằng cách mang hàng sang tận nơi băng cácphương tiện vận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số thủ tục xuấtkhẩu nhất định
Trang 302.2.1.2 Xét theo kênh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
- Kênh 1: Đơn vị sản xuất TCMN => Đầu mối trong nước => Nhà phân phối quốc
tế => Khách hàng Đây là kênh tổ chức xuất khẩu phổ biến hiện tại đối với các đơi
vị sản xuất hàng TCMN Mô hình này sẽ xuất hiện 2 khâu trung gian trong nước
và quốc tể đảm nhận 2 khâu gom hàng trong nước về một mối và tìm kiếm phânphối ở đầu bên kia 2 Nhà trung gian nàu sẽ đóng vai trò 2 “thương lái” ở 2 khuvực địa lý, một bên am hiểu nội địa và thạo các nghiệp vụ xuất khẩu, tạo tìm kiếmđối tác, một bên am hiểu khách hàng, địa bàn và có hệ thống bán lẻ sẵn có Kênh 1này làm cho nhà sản suất thủ công mỹ nghệ chỉ chuyên vào khâu sản suất và giaophó toàn bộ các vấn đề còn lại cho chuỗi hệ thống Nó cũng là gia tăng hàng loạtchi phí lưu thông làm giảm lợi nhuậ của nhà sản xuất và tăng tính phụ thuộc, bịđộng chiến lược
- Kênh 2: Nhà sản xuất => Trung gian quốc tế => Nhà phân phối quốc tế => Khách
hàng Kênh này tương tự kênh 1, tuy nhiêm điểm khác biệt duy nhất là đầu mốitiếp xúc với nhà sản xuất không phải là tổ chức trung gian trong nước, nó đượcthay bằng một đối tác ngoại đã am hiểm thị trường Việt Nam hoặc đang tìm kiếmcác mặt hàng kinh doanh Họ sẽ đóng vai trò xúc tác thúc đẩy các đơn vị sản xuất
Sơ đồ 2: Kênh phân phối xuất khẩu
Trung gian trong nước
Trung gian Quốc tế
Nhà PP Quốc Tế
Nhà PP Quốc Tế
Chuỗi Bán Lẻ Quốc Tế
Trang 31thủ công mỹ nghệ phát triển và cũng bao tiêu luôn mảng thị trường “bên kia”.Trong nhiều trường hợp kênh 2 có thể được coi như một hình thức quá độ để đơn
vị sản xuất làm quen với các hoạt động xuất khẩu vốn còn khá lạ lẫm với họ
- Kênh 3: Đơn vị sản xuất => Văn phòng giới thiệu sản phẩm của đơn vị sản xuất
=> Chuỗi bán lẻ quốc tế => Khách hàng hoặc Đơn vị sản xuất => Văn phòng giớithiệu sản phẩm của đơn vị sản xuất => Khách hàng Đây là hình thức kênh tươngđối khó tổ chức với đơn vị sản xuất trong giai đoạn hiện tại do yếu kém về nhân
sự, quy mô vốn, am hiệu thị trường Theo kênh này, đơn vị sản xuất sẽ chú trongxây dựng chuỗi nhận diện của mình, chuỗi này sẽ đảm trách việc đưa hàng ra bênngoài Hình thức đưa hàng có thể là thông qua hệ thống bán lẻ quốc tế hoặc cũng
có thể là các điểm bán trực tiếp của họ tại các nước Mô hình này là mục tiêu cầnhướng tới của đơn vị xuất khẩu, nếu thành công nó sẽ giúp đơn vị gia tăng lợinhuận, tiết giảm chi phí, xây dựng được vị thế hình ảnh, tăng cường năng lực cạnhtranh và hoàn toàn chủ động trong chiến lược sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu ,xâm nhập thị trường quốc tế gia tăng kim ngạch
- Kênh 4: Kênh hỗn hợp, ngoài 3 kênh chủ đạo trên còn có một số hình thức pha
trộn kết hợp giữa các hình thức trên thông qua sự đan xen của các thành viên kênh,tùy thuộc vào từng thời điểm, diễn biến tình hình xuất khẩu và cạnh tranh
2.2.2 Vai trò của xuất khẩu hàng TCMN
2.2.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân
a) Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta trong mấy năm gần đây đãmang lại cho nước ta nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển củanền kinh tế quốc dân Cụ thể trong năm 2003 Việt Nam đã xuất khẩu được gần 400triệu USD, và tính đến tháng 4 năm nay, kim ngạch hàng thủ công mỹ nghệ đã đạttrên 100 triệu USD, tăng 10% so với năm ngoái Đây là nguồn thu ngoại tệ to lớn
Trang 32thực thu về cho đất nước từ nguồn nguyên liệu rẻ tiền có sẵn trong tự nhiên và từ lựclượng lao động nhàn rỗi ở các vùng nông thôn nước ta.
Nhờ có nguồn vốn đó, các làng nghề truyền thống Việt Nam có điều kiện đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đàotạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành thủ công mỹ nghệ
b)Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng hiện đại hoá
Chuyển dịch cơ cấu nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên mộtbước về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất , cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm , cơ cấugiá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập cua ra dân cư nông thôn bằng các nguồn lợi thuđược từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp
Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngàycàng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành công nghiệp và cả các bộphận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn Việc phát triển các làng nghềtruyền thống dẫ có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển từ lao động sảnxuất nông nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề nông nghiệp có thu nhập cao hơn.Ngay từ đầu khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngànhnông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại
và dịch vụ cùng tồn tại phát triển
Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập va giá trịsản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp Do từng bước tiếp cận với nềnkinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên người lao động nhanh chóngchuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, dặc biệt là những sản phẩm
có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và ngoài nước Khi đó khu vựcsản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp , khu vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp được tăng lên
Trang 33Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nôngthôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động Khác với sản xuất nôngnghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cung cấpthường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Do đó dịch vụnông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và phong phú , đem lạithu nhập cao cho người lao động.
Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphoá- hiện đại hoá Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy
mô và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động Cho đếnnay cơ cấu kinh tế ởnhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông nghiệp
c) Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.
Tác động của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt.Trước hết thông qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu với nhiều công đoạn khác nhau đãthu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp tăng gía trị laođộng tăng thu nhập quốc dân Bên cạnh đó, xuất khẩu thủ công mỹ nghệ còn tạonguồn để nhập nguồn vật phẩm tiêu dùng thiết yếu, phục vụ đời sống và đáp ứng nhucầu tiêu dùng ngày một phong phú của nhân dân và nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho người lao động
Trên phương diện xã hội đẩy mạnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đã kích thíchviệc phát triển các làng nghề truyền thống Hiện nay trong các làng nghề truyền thốngbình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thườngxuyên và 8 đến 10 lao động thời vụ, mỗi hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4 đến 6 laođộng thường xuyên và 2 đến 5 lao động thời vụ Đặc biệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tređan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 đến 250 lao động
Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương màcòn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác Làng gốm bát tràng ngoài
Trang 34việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao động của xã, còn giải quyết thêm việc làmcho khoảng 5500 đến 6000 lao động của các khu vực lân cận đến làm thuê
Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã kéo theo sự pháttriển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện,tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động Ngoài các hoạt động dịch vụphục vụ sản xuất trực tiếp còn có các dịch vụ khác như dịch vụ tín dụng ngân hàng
Từ kinh nghiệm thực tiễn đã tính toán cho thấy cứ xuất khẩu 1 triệu USD hàngthủ công mỹ nghệ thì tạo được việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 đến 4000 laođộng chủ yếu là lao động tại các làng nghề nông thôn, trong đó có lao đông nông nhàntại chỗ và các vùng lân cận( trong khi đó chế biến hạt điều thì 1 triệu USD kim ngạchxuất khẩu chỉ thu hút được 400 lao động)
Ngoài việc được coi là động lực gián tiếp giải quyết việc làm cho người laođộng xuất khẩu thủ công mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sốngcho người lao động ở nông thôn ở nơi nào có ngành nghề phát triển thì nơi đó thunhập cao và mức sống cao hơn các vùng thuần nông Nếu so sánh với mức thu nhậplao động nông nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề cao hơn khoảng 2 đến 4lần, đặc biệt là so với chi phí lao động và diện tích sử dụng đất thấp hơn nhiều so vớisản xuất nông nghiệp Bình quân thu nhập của 1 lao động trong hộ chuyên ngànhnghề phi nông nghiệp là 430000- 450000 đồng / tháng, ở hộ kiêm nghề từ 190000-
240000 đồng/ tháng, trong khi đó ở hộ lao động thuần nông chỉ có khoảng
70000-100000 đồng/ người/ tháng Có những làng nghề có thu nhập cao như làng gốm BátTràng : Mức bình quân thu nhập của các hộ thấp cũng đạt từ 10-20 triệu/năm Thunhập từ nghề gốm sứ Bát Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của toàn xã Vì vậy thunhập của các làng nghề truyền thống đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu thunhập của hộ gia đình và của địa phương
Sự phát triển ổn định của làng nghề tạo ra nguồn hàng ổn định đối với cácdoanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này từ đó tạo ra sự thuận lợi trong kinh doanh,
Trang 35mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao thu nhập và mức sốngcho người lao động.
Ngoài ra việc khôi phục và sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn kéo theonhiều ngành khác phát triển nhất là ngành du lịch và các ngành dịch vụ có liên quan.Sản xuất thủ công mỹ nghệ và du lịch là 2 nhân tố có tác động 2 chiều Các sảnphẩm thủ công mỹ nghệ luôn là một nét hấp dẫn rất quan trọng và ấn tượng đối vớikhách du lịch nhất khách du lịch văn hoá ,các sản phẩm càng đa dạng phong phú càng
có tác dụng thu hút mạnh mẽ du khach tới tham quan, qua đó các dịch vụ về du lịchphát triển đồng thời hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cũng được các nước bạnbiết đến nhiều hơn, đây chính là một biểu hiện của hình thức xuất khẩu tại chỗ.Ngược lại, nếu du lịch phát triển, có nhiều khách du lịch đến tham quan tại các làngnghề c sản phẩm thủ công mỹ nghệ sẽ được biết đến nhiều hơn, được quảng bá nhiềuhơn, đó cũng là một hình thức khuyêch trương giới thiệu sản phẩm của Việt Nam ranước ngoài, từ đó ta có thể mở rộng quan hệ kinh doanh và có thể tăng kim ngạchxuất khẩu thủ công mỹ nghệ
d) Xuất khẩu TCMN là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta.
Đẩy mạnh xuấu khẩu nói chung và thủ công mỹ nghệ nói riêng có vai trò tăngcường sự hợp tác quốc tế với các nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước ta trên thịtrường quốc tế…Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và công nghiệp sản xuất hàngxuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế…Mặt khác, chínhcác quan hệ kinh tế đối ngoại mà chúng ta kể trên lại tạo tiền đề mở rộng xuất khẩu
Có thể nói xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ đóng vai trò xúc tác hỗ trợphát triển kinh tế mà nó còn cùng với hoạt động nhập khẩu như là yếu tố bên trongtrực tiếp tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế như: vốn, kỹ thuật, lao động, thị trường tiêu thụ…Đối với nước ta, hướng mạnh về xuất khẩuhàng là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế đối ngoại
Trang 36e) Góp phần giữ gìn các giá trị văn hoá và ngành nghề truyền thống của dân tộc.
Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống luôn gắn liền với lịch sử pháttriển văn hoá của dân tộc, nó là nhân tố tạo nên nền văn hoá ấy đồng thời là sự biểuhiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là sự kết tinh của lao động vật chất và lao độngtinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và trí óc sáng tạo của người thợ thủcông Vì vậy mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng nét đặc sắc của dântộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làng nghề vàmang mỗi dấu ấn của mỗi thời kỳ Tìm hiểu lịch sử của mỗi làng nghề ta thấy kỹ thuậtchế tác ra các sản phẩm có từ rất xa xưa và được bảo tồn đến ngày nay Kỹ thuật đúcđồng và hợp kim đồng thau đã có từ thời văn hoá Đông Sơn - một nền văn hoá vớinhững thành tựu rực rỡ, đặc biệt là trống đồng Ngọc Lũ gắn liền với lịch sử thời HùngVương dựng nước Cho đến sau này nghề đúc đồng vẫn để lại những dấu ấn lịch sử.Mới đây nhất ta thấy có tượng phật mới đúc được đặt ở chùa Non Nước cao và nặngnhất Đông nam á
Ngày nay các sản phẩm thủ công mỹ nghệ với tính độc đáo và độ tinh xảo của
nó vẫn có ý nghĩa rất lớn với nhu cầu đời sống của con người Những sản phẩm này là
sự kết tinh, sự bảo tồn các giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc, là sự bảo lưu những vănhoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác tạo nên những thế hệ nghệnhân tài ba với những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng Chính vì vậy xuất khẩuthủ công mỹ nghệ không những góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá củadân tộc Việt nam mà còn có nhằm quảng bá chúng trên khắp thế giới
2.2.2.2 Đối với các doanh nghiệp
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm do doanh nghiệp sản xuất ra Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của các doanhnghiệp không chỉ được khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trườngnước ngoài
Trang 37Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp , tăng dự trữ, qua đó nângcao khả năng nhập khẩu ,thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị phục vụ choquá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao tính năng động sáng tạo của các cán bộ xuất nhập khẩucũng như các đơn vị tham gia, tích cực tìm tòi và phát triển các mặt hàng trong khảnăng xuất khẩu vào các thị trường có khả năng thâm nhập
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện côngtác quản trị kinh doanh , đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ chu kỳsống của sản phẩm
Xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia xuấtkhẩu trong và ngoài nước Chính vì vậy, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao chấtlượng hàng hoá, tìm mọi cách để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, từ đótiết kiệm các yếu tố đầu vào hay tiết kiệm nguồn lực
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động vàtăng thêm thu nhập,ổn định đời sống cán bộ công nhân viên và tăng lợi nhuận chodoanh nghiệp
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buônbán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có lợi
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu TCMN
2.3.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
a) Chính trị và pháp luật
Các yếu tố chính trị và pháp luật có thể ảnh hưởng đến việc mở rộng phạm vithị trường cũng như dung lượng thị trường, ngoài ra cũng có thể mở rộng nhiều cơ hộikinh doanh hấp dẫn trên thị trường quốc tế Các yếu tố chính trị có ảnh hưởng rất lớntới hoạt động xuất khẩu : sự bất ổn về chính trị sẽ làm chậm lại sự tăng trưởng, kìmhãm sự phát triển của khoa học công nghệ gây khó khăn cho việc cải tiển công nghệ,tăng chất lượng sản phẩm xuất khẩu
Trang 38Luật pháp cũng là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới xuất khẩu Bất kì doanhnghiệp nào muốn kinh doanh xuất khẩu muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì phảituân thủ pháp luật, không những pháp luật của nước mình mà con tuân thủ luật phápnước nhập khẩu Nghiên cứu kỹ chế độ chính trị và pháp luật sẽ giúp các doanhnghiệp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.
b) Chính sách về thuế quan và công cụ phi thuế quan.
Hệ thống thuế quan cũng là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuấtkhẩu thông qua thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất hàng hoáphải nhập nguyên liệu từ nước ngoài Nếu như thuế nhập nguyên vật liệu quá cao sẽlàm chi phí sản xuất cao dẫn đến giá thành hàng hoá xuất khẩu cao, làm giảm khảnăng cạnh tranh của hàng hoá, giảm lợi nhuận cho nhà xuất khẩu, và như vậy làmgiảm lượng xuất khẩu và ngược lại
Các công cụ phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu đối với nguyên vật liệunhập khẩu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu và hạn ngạch xuất khẩu cũng gây khókhăn rất lớn cho hoạt động xuất khẩu
Vì những ảnh hưởng đó, để khuyến khích xuất khẩu Chính phủ thường miễmthuế xuất khẩu và giảm thuế nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất hàng hoá xuấtkhẩu đối với những mặt hàng có lợi thế sản xuất Chính phủ thường áp dụng hạnngạch xuất khẩu đối với những hàng hoá mà sản xuất không đủ đáp ứng nhu cầu trongnước và tăng thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng hóa xuấtkhẩu
c) Chính sách tỷ giá hối đoái
Trong thanh toán quốc tế, người ta thường sử dụng những đồng tiền của cácnước khác nhau, do vậy tỷ suất ngoại tệ so với đồng tiền trong nước có ảnh hưởng rấtlớn đến hoạt động xuất khẩu: nếu tỷ gia hôi đoái lớn hơn tỷ suất lợi nhuận thì hoạtđông xuất khẩu có lãi, vì vậy thúc đẩy xuất khẩu và ngược lại Chính vì thế mà tỷ giáhối đoái trở thành một công cụ điều tiết của Nhà nước
Trang 39d) Hệ thống ngân hàng tài chính.
Hoạt động xuất nhập khẩu liên quan chặt chẽ đến vấn đề thanh toán quốc tế,thông qua hệ thống Ngân hàng Tài chính giữa các quốc gia Nó tạo ra những điều kiệnthuận lợi cho việc thanh toán được thực hiện một cách đơn giản, nhanh chóng, chắcchắn Nhờ có hệ thống ngân hàng này dẽ đảm bảo rằng người bán sẽ thu được tiền vàngười mua sẽ nhận được hàng, làm giảm bớt việc phài dành nhiều thời gian và chi phí
để các bên đối tác tìm hiểu nhau
Nếu như một quốc gia có hệ thống tài chính phát triển, hiện đại thì đó cũng làmột điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước trong hoạt động xuất khẩu
và ngược lại
e) Khả năng sản xuất
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam chịu sự tác động của nhiều nhân
tố, những nhân tố này có sự biên đổi trong từng thời kỳ và tác động theo chiều hướngkhác nhau Chúng có thể là những nhân tố thúc đẩy nhng ngược lại cũng có thể lànhững nhân tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất ở mỗi vùng, mỗi địa phơng, mỗilàng nghề do có những đặc đIểm khác nhau về các đIều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ,văn hóa nên sự tác động của các nhân tố này là không giống nhau Có thể hiểu mộtcách khái quát chúng bao gồm các nhân tố sau:
Thứ nhất, nguồn nhân lực: là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của
sản xuất tại các làng nghề, nguồn nhân lực chính là các nghệ nhân, những người thợthủ công , và những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh Những nghệ nhân là người có vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời là những ngườisáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm tính truyền thống Có được nguồnnhân lực có tay nghề và trình độ cao sẽ là một yếu tố thúc đẩy sản xuất và xuất khẩuthủ công mỹ nghệ
Trang 40Thứ hai, nguồn vốn: đây là nguồn lực vật chất rất quan trọng trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh Nhiệm vụ chủ yếu nhất của nguồn vốn là đầu tư pháttriển sản xuất , đầu tư phát triển cơ sở vật chật và kết cấu hạ tầng, đầu tư đổi mớicông nghệ Vì vậy phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phụ thuộc rất lớn vàocác nguồn vốn huy động được Trước đây, vốn của các hộ sản xuất kinh doanh đềurất nhỏ bé, chủ yếu là vốn tự có nên đã làm hạn chế việc tăng trởng sản xuất Ngàynay, sự phát triển của thị trường luôn đòi hỏi lượng vốn rất lớn để đáp ứng các nhucầu của thị trường Vì vậy rất cần sự hỗ trợ tích cực và cụ thể từ phía nhà nước, đặcbiệt là việc đề ra những chính sách phù hợp với đặc đIểm sản xuất của các làng nghềtruyền thống để có thể đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất và xuất khẩu
Thứ ba, nguồn nguyên vật liệu: trong những giai đoạn trước đây, gần nguồn
nguyên vật liệu được coi là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và pháttriển của các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ hay các làng nghề truyền thống Songhiện nay vấn đề này trở nên không quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghềbởi sự hỗ trợ tích cực của các phương tiện giao thông và các phương tiện kỹ thuật.Tuy nhiên vấn đề khối lượng chất lượng, chủng loại và khoảng cách của các nguồnnguyên liệu này vẫn có những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng và giá thành sảnphẩm Nếu có được nguồn nguyên vật liệu ổn định dẫn đến sản xuất cũng ổn định, cácnhà xuất khẩu sẽ có nguồn hàng thường xuyên, tạo uy tín cho doanh nghiệp
Thứ tư, trình độ kỹ thuật và công nghệ: trong điều kiện hiện nay, khi mà
giao lưu thương mại mang tính toàn cầu hoá thì việc ứng dụng khoa học công nghệmới có ý nghĩa quyết định, có tác động trực tiếp tới sự đảm bảo và nâng cao năng lựccạnh tranh của sản phẩm Nhận thức được điều đó, nhiều làng nghề thủ công mỹnghệ đã đẩy mạnh việc áp dụng kỹ thuật và đổi mới công nghệ, cải tiện phương phápsản xuất để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành tạo ra
sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho ngành Tuy nhiên, việc áp dụng khoa học kỹ