Mục tiêu của Đề án là phát huy toàn bộ nguồn lực xây dựng Cục Hải quan thành phố Hải Phòng thành đơn vị hiện đại, thực hiện thông quan tự động, tập trung trong một tương lai gần (năm 2012)
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện Chỉ thị 2961/CT-TCHQ ngày 30/6/2006 của Tổng cục trưởngTổng cục Hải quan về việc đẩy mạnh công tác Hiện đại hóa ngành Hải quangiai đoạn 2006 - 2010 và Nghị quyết số 52/NQ-ĐU ngày 12/5/2006 của Đảng
ủy Cục Hải quan thành phố Hải Phòng về việc lãnh đạo giữ vững và phát huytruyền thống đơn vị Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới, tập thể cán bộ,công chức Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng dưới sự chủ trì của đồng chí
Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Mai Thế Huyên đã tập trung xây dựng Đề án
“Hiện đại hóa Hải quan Hải Phòng giai đoạn 2007 – 2012, tầm nhìn 2020”.Nội dung Đề án nhằm góp phần triển khai có hiệu quả Dự án “Hiện đạihóa Hải quan Việt Nam, vay vốn Ngân hàng Thế giới” và các cấu phần khácphục vụ cho việc hiện đại hóa Cục Hải quan thành phố Hải Phòng mà Dự ánchưa đề cập
Mục tiêu của Đề án là phát huy toàn bộ nguồn lực xây dựng Cục Hảiquan thành phố Hải Phòng thành đơn vị hiện đại, thực hiện thông quan tựđộng, tập trung trong một tương lai gần (năm 2012)
Quá trình xây dựng Đề án đã bám sát Báo cáo chuẩn đoán và Báo cáokhả thi của Dự án hiện đại hóa Hải quan gắn với việc đánh giá thực trạng vàtình hình thực hiện nhiệm vụ của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng Đặcbiệt Ban soạn thảo Đề án đã kịp thời điều chỉnh một số nội dung, kế hoạchthực hiện theo “Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hoá ngành Hải quangiai đoạn 2008-2010” ban hành theo Quyết định số 456/QĐ-TCHQ ngày14/03/2008 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Đề án được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực chủ yếu về “Tăng cườngnăng lực của cơ quan Hải quan” của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO)
Trang 2Triển khai thực hiện Đề án tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng làbước thực hiện cụ thể, đồng thời tạo cơ sở, kinh nghiệm trong việc triển khaicông tác cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan.
Cục Hải quan thành phố Hải Phòng xin chân thành cảm ơn sự quan tâmchỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan; Lãnh đạo các địaphương và ý kiến đóng góp của các đơn vị, cá nhân có liên quan trong quátrình xây dựng và thực hiện Đề án
Trang 3CHƯƠNG 1: CĂN CỨ LẬP ĐỀ ÁN
1.1 CĂN CỨ PHÁP LÝ
- Luật Hải quan và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan;
- Quyết định số 04/QĐ-2001/QĐ-TTg ngày 10/1/2001 của Thủ TướngChính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thànhphố Hải Phòng đến năm 2020;
- Quyết định số 271/QĐ-2006/QĐ-TTg ngày 27/11/2006 của Thủ TướngChính phủ về việc phê duyệt “Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế, xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2020”;
- Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 về việc thực hiện thíđiểm thủ tục Hải quan điện tử;
- Quyết định số 938/QĐ-TTg ngày 14/9/2005 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi “Hiện đại hóa Hải quan” vay vốn Ngânhàng thế giới;
- Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/2/2007 của Thủ tướng Chínhphủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động Tài chính;
- Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC ngày 22/06/2007 của Bộ trưởng BộTài chính về việc ban hành Quy định quy trình thực hiện thí điểm thủ tục Hảiquan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- “Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hoá ngành Hải quan giaiđoạn 2008-2010” ban hành theo Quyết định sô 456/QĐ-TCHQ ngày14/03/2008 của Bộ trưởng Bộ tài chính;
- Văn bản số 1509/TCHQ-CCHĐH ngày 02/04/2008 của Tổng cục Hảiquan về việc xây dựng kế hoạch hiện đại hoá Cục Hải quan Tỉnh, Thành Phố
Trang 41.2 YÊU CẦU CHUNG
- Xây dựng Cục Hải quan thành phố Hải Phòng thành Cục Hải quan hiệnđại, thông quan tự động, tập trung, tất cả các hoạt động của Hải quan HảiPhòng được vi tính hóa và điều hành qua mạng
- Việc thực hiện Đề án xuất phát từ những yêu cầu chung được nêu trong
“Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hoá ngành Hải quan giai đoạn2008-2010” và Báo cáo nghiên cứu khả thi hiện đại hóa ngành Hải quan vayvốn ngân hàng thế giới đã được Chính phủ phê duyệt với những nội dung cơbản sau đây:
1.2.1 Xuất phát từ yêu cầu khách quan phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 thông qua tại Đại hộiĐảng IX đã đặt ra mục tiêu to lớn “…tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” với GDP năm 2010tăng trưởng gấp đôi năm 2000, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sảnphẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế, nhịp độ tăng xuất khẩu gấp 2 lần nhịp độtăng GDP, tổng thu ngân sách nhà nước tăng bình quân hàng năm 8,7%, trong
đó thu từ thuế và phí chiếm 94,2% Việc đẩy mạnh kinh tế đối ngoại dẫn tớilưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng, yêu cầu tạo thuận lợithương mại để tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong nước, trong khivẫn duy trì được các hoạt động kiểm soát ở mức độ phù hợp
- Các chỉ tiêu định hướng phát triển đến năm 2010 có liên quan đến côngtác quản lý nhà nước về hải quan bao gồm các chỉ tiêu về kim ngạch, hànhkhách, phương tiện xuất nhập cảnh, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, số lượng tờkhai Hải quan (Xem Phụ lục 2 - trang 50)
Trang 51.2.2 Đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước và cải cách hành chính của Chính phủ
- Trước yêu cầu phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn hội nhập
quốc tế đòi hỏi Tổng cục Hải quan nói chung và Cục Hải quan thành phố HảiPhòng nói riêng phải nâng cao năng lực quản lý để đảm bảo: thực hiện cóhiệu quả chính sách kinh tế của Nhà nước; chống buôn lậu, gian lận thươngmại, ngăn chặn buôn bán, vận chuyển hàng cấm có hiệu quả; ngăn chặn cácgiao dịch thương mại bất hợp pháp; đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhànước; góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, lợi ích cho người tiêu dùng, anninh quốc gia, môi trường…
- Mặt khác, hoạt động quản lý Nhà nước về Hải quan đồng thời phải đảmbảo tạo thuận lợi, thông thoáng cho hoạt động xuất - nhập khẩu, đầu tư, dulịch, dịch vụ… Cụ thể: Thủ tục hải quan phải đơn giản, minh bạch; tăngnhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa trong giao dịch ngoại thương; thông quanhàng nhanh, giảm thiểu chi phí cho Doanh nghiệp; cung cấp thông tin nhanhchóng; công khai; sự tận tụy của cơ quan quản lý
1.2.3 Yêu cầu hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế
- Hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO, thực hiện các cam kết trongquan hệ đa phương và song phương như AFTA, APEC, Hiệp định thương mạiViệt Mỹ, Hiệp định Hải quan ASEAN… đặt ra cho ngành Hải quan nhữngvấn đề mới mà Tổng cục Hải quan cần phải tăng cường năng lực mới có khảnăng hoàn thành được nhiệm vụ như: xác định trị giá, bảo vệ quyền sở hữu trítuệ, thủ tục Hải quan một cửa… Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhữngyêu cầu cấp bách về đảm bảo an ninh xã hội và cộng đồng trước những mốinguy cơ gắn liền với quá trình hội nhập như khủng bố, ma túy, văn hóa phẩmđộc hại…
Trang 6- Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đòi hỏi ngành Hảiquan phải áp dụng các kỹ thuật nghiệp vụ Hải quan hiện đại, thành tựu khoahọc công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin, thương mại điện tử… tronghoạt động quản lý.
- Hải quan các nước trong khu vực, các nước thuộc khối Đông Âu trướcđây, các nước đang phát triển đều trong quá trình cải cách Hải quan rất khẩntrương, nếu Hải quan Việt Nam không cải cách và hiện đại hóa thì nguy cơ tụthậu là rất cao
- Các Hiệp định, Công ước quốc tế có liên quan đến hoạt động Hải quan
mà Việt Nam đã hoặc sẽ ký kết với các tổ chức WCO, WTO, Liên hợp quốc,
Asean… (Chi tiết tại Phụ lục 3).
1.3 YÊU CẦU CỤ THỂ
1.3.1 Xuất phát từ kết quả thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hoá Cục Hải quan Hải Phòng giai đoạn 2003-2007
1.3.1.1 Khái quát tình hình
- Cục Hải quan TP Hải Phòng là đơn vị Hải quan lớn trong cả nước, có
vị trí quan trọng trong hoàn thành nhiệm vụ của ngành Hải quan; trong yêucầu phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội của cả nước.Xác định rõ vị trí, vai trò của đơn vị; 05 năm qua, tập thể lãnh đạo Cục Hảiquan Hải Phòng luôn luôn coi trọng và tập trung chỉ đạo công tác cải cách,hiện đại hoá Hải quan Hải Phòng Kết quả đơn vị được lãnh đạo Bộ tài chính,Tổng cục Hải quan, lãnh đạo các địa phương: TP Hải Phòng, Tỉnh Thái Bình,Hải Dương, Hưng Yên đánh giá là đơn vị đi đầu trong cải cách thủ tục hànhchính và hiện đại hoá Hải quan
Trang 7- Cục Hải quan Hải Phòng luôn luôn chủ động thực hiện cải cách và hiệnđại hoá Hải quan theo đề án, kế hoạch đã được đơn vị xây dựng và thông quamột cách toàn diện và khoa học.
- Cụ thể, giai đoạn 2001-2005 đơn vị đã xây dựng và thực hiện thắng lợi
đề án “Cải cách hành chính thủ tục Hải quan” tại Cục Hải quan Hải Phòng vớitiêu chí để bộ hồ sơ Hải quan đi nhanh nhất, qua ít khâu nhất và với chi phíthấp nhất; với 10 giải pháp cụ thể Triển khai thực hiện Đề án này Cục Hảiquan Hải Phòng đã được lãnh đạo ngành Hải quan và Uỷ ban nhân dân TPHải Phòng, các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên đánh giá là đơn vị điđầu trong cải cách thủ tục hành chính Với kết quả đạt được thông qua thựchiện Đề án và những thành tích trong 50 năm xây dựng và phát triển, năm
2005 đơn vị đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳđổi mới
- Trước yêu cầu của công tác Hải quan trong tình hình mới, năm 2006tập thể cán bộ công chức Cục Hải quan Hải Phòng đã tiến hành tổng kết thựctiễn, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị trước mắt vàlâu dài; chủ động nghiên cứu, xây dựng đề án “Hiện đại hoá Hải quan HảiPhòng giai đoạn 2007-2010, tầm nhìn 2020” và “Bản kế hoạch thực hiện” đãđược Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan phê duyệt tại Quyết định số1392/QĐ-TCHQ ngày 10/08/2007
- Hoàn thiện đề án “Hiện đại hoá Hải quan Hải Phòng giai đoạn
2007-2010, tầm nhìn 2020” và “Bản kế hoạch thực hiện đề án” đã được Tổng cục
Trang 8trưởng Tổng cục Hải quan phê duyệt Xác định rõ cấu phần thuộc trách nhiệm
để triển khai thực hiện của Cục Hải quan Hải Phòng và những cấu phần đềnghị ban cải cách hiện đại hoá Hải quan - Tổng cục Hải quan trực tiếp chỉ đạo
- Ngay sau khi Đề án triển khai thực hiện, Cục Hải quan Hải Phòng đãkiện toàn Ban hiện đại hoá của Cục và thành lập các Tổ chuyên trách do cácđồng chí Phó cục trưởng trực tiếp phụ trách để thực hiện các cấu phần của Đềán
- Một số nội dung chính đã được triển khai thực hiện theo lộ trình của Đề
án như: Khảo sát đánh giá nguồn nhân lực; Tổ chức đào tạo và đào tạo bổsung cho hầu hết cán bộ công chức; Đã làm xong thủ tục để chuẩn bị khởicông xây dựng trụ sở mới; Phối hợp với Tổng cục Hải quan và cơ quan hợptác Quốc tế Nhật Bản (JICA) lập khả dự án xây dựng địa điểm kiểm tra tậptrung (bãi soi container); Triển khai ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tinvào các mảng công tác nghiệp vụ Hải quan; Cải tạo nâng cấp hiện đại hoá trụ
sở hiện tại, trang thiết bị làm việc, trang bị bổ sung các máy móc thiết bị,nâng cấp hệ thống thông tin liên lạc, đường truyền dữ liệu,… phục vụ thôngquan điện tử giai đoạn 2; đồng thời tích cực triển khai hoàn thiện các thủ tục
để xây dựng cơ sở vật chất phục vụ hiện đại hoá Hải quan
- Là đơn vị đi đầu trong ngành triển khai áp dụng thành công khai báo dữliệu Hải quan qua mạng, tạo tiền đề để mở rộng thông quan điện tử được cộngđồng doanh nghiệp hưởng ứng, đánh giá tốt
- Công tác thực hiện thí điểm Hải quan điện tử giai đoạn 2 về cơ bản đãđạt được kết quả bước đầu của mục tiêu đặt ra, đã và đang phối hợp với cácnhóm làm việc của Tổng cục Hải quan để triển khai mở rộng thủ tục Hải quanđiện tử đối với loại hình gia công và nhập nguyên liệu SXXK
Trang 91.3.1.4.Một số kết quả cụ thể
a Mô hình tổ chức bộ máy
- Bước đầu triển khai xây dựng mô hình tổ chức bộ máy Cục Hải quanHải Phòng theo mô hình Cục Hải quan điện tử; xây dựng khung chuẩn chứcnăng nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc theo mô hình mới Lên kế hoạch tổchức hội thảo trong nội bộ và mời các đơn vị trong ngành tham gia Đã xâydựng xong kế hoạch rà soát, đánh giá lại trình độ, năng lực của CBCC trongdây chuyền thông quan và một số CBCC có nhu cầu tự đăng ký trong toànCục theo phương pháp kiểm tra trắc nghiệm kết hợp với tự luận để đánh giáđúng trình độ CBCC phục vụ yêu cầu hiện đại hoá Để tái cơ cấu nguồn nhânlực, bước đầu trong năm 2007 và đầu năm 2008 đơn vị đã mở hơn 10 lớp đàotạo tại chỗ cho hàng trăm CBCC
b Góp phần xây dựng quy trình thông quan điện tử giai đoạn 2 và triểnkhai các thiết bị công nghệ thông tin và công cụ hỗ trợ phục vụ thông quanđiện tử giai đoạn 2 theo Quyết định 52/2007/QĐ-BTC ngày 22/06/2007
- Đã khảo sát lại quy trình nghiệp vụ 874 hiện đang thực hiện để đánhgiá tính thích hợp khi áp dụng thông quan tập trung Khảo sát mô hình và quytrình nghiệp vụ Hải quan điện tử đang áp dụng với các chi cục Hải quan cửakhẩu khác để đánh giá tính ưu việt và khả năng phát triển, mở rộng của Hảiquan điện tử Đánh giá hệ thống mạng kết nối giũa Trung tâm dữ liệu &CNTT với Chi cục Hải quan điện tử và các Chi cục Hải quan cửa khẩu
- Đã và đang triển khai thành công Đề án khai Hải quan qua mạng đốivới loại hình kinh doanh, dịch vụ XNK của các doanh nghiệp làm thủ tục Hảiquan tại Hải Phòng
- Bước đầu triển khai mở rộng thủ tục Hải quan điện tử cho hàng nhậpnguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và hàng hoá gia công XNK của một
Trang 10số doanh nghiệp Báo cáo đề xuất Tổng cục Hải quan đang khảo sát xem xét
mở rộng tiếp thông quan điện tử cho loại hình hàng tạm nhập tái xuất
- Nâng cấp hoàn thiện chương trình quản lý hàng gia công, đề xuất giảipháp hiệu chỉnh chương trình hỗ trợ quản lý và thanh khoản hàng nhập/xuấtchế xuất
- Chủ động thực hiện trên 10 đợt nâng cấp cơ sở dữ liệu và phần mềmứng dụng các loại (gồm: SLXNK- quản lý tờ khai; GTT22- tờ khai trị giá;KT32- phần mềm quản lý thuế; WEB duyệt và WEB tiếp nhận dữ liệu Hảiquan từ xa; GC- gia công; SXXK- quản lý loại hình sản xuất hàng xuất khẩu).Triển khai nối mạng cài đặt phần mềm nối mạng để phối hợp thu nộp NSNNgiữa Hải quan, Kho bạc, Sở tài chính và Cục thuế
- Phối hợp với chuyên gia công nghệ thông tin triển khai Đề án AD và anninh mạng; tiếp nhận đưa vào vận hành hệ thống công cụ Backup cơ sở dữliệu (CSDL) mới không để xảy ra sự cố về CSDL; Phối hợp Bưu điện TP HảiPhòng lắp đặt 01 đường cáp quang tốc độ cao từ Cục Hải quan Hải Phòngxuống Chi cục Hải quan điện tử phục vụ thông quan điện tử
- Chủ động nâng cấp đường truyền dữ liệu, nối mạng cục bộ, mạng diệnrộng phục vụ thí điểm thủ tục Hải quan điện tử và khai thác triệt để chươngtrình quản lý điều hành và xử lý văn bản trên mạng (Net.Office) Củng cốtrang WEB của Cục Hải quan Hải Phòng để tạo diễn đàn trao đổi/ hỏi đápgiữa Hải quan với doanh nghiệp nhằm giải đáp, tháo gỡ các vướng mắc choDoanh nghiệp tham gia Hải quan điện tử
- Xây dựng nhiều tài liệu kỹ thuật hướng dẫn và tự đào tạo nâng caonăng lực cho đội ngũ quản trị mạng về phần mềm ứng dụng và CSDL, qua đóđội ngũ quản trị mạng đã đáp ứng yêu cầu công việc được giao
Trang 11- Quản lý tốt hệ thống máy móc được trang bị, đảm bảo sự hoạt độngthông suốt của toàn bộ hệ thống, không để xẩy ra sự cố kỹ thuật ảnh hưởngtới hoạt động nghiệp vụ giữa các đơn vị trong Cục; thường xuyên hướng dẫn,đôn đốc các đơn vị triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho hệ thốngmáy trạm, máy chủ.
- Thiết kế, bổ sung một số hệ thống mạng phát sinh tại các đơn vị: Bổsung mạng LAN tại Chi cục kiểm tra sau thông quan/ số lượng 20 nút mạng;tại phòng làm việc của Chi cục Hải quan điện tử/ 13 nút mạng; tại phòng khaibáo dữ liệu điện tử cho doanh nghiệp tại các Chi cục Hải quan KVI, KVII,KVIII, ĐTGC, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, KCX&KCN
c Kết quả khai thí điểm thủ tục Hải quan điện tử
- Năm 2007 đã làm thủ tục Hải quan điện tử cho 5.096/300.880 tờ khaihàng hoá XNK, chiếm tỉ lệ 1,6%; làm thủ tục Hải quan điện tử cho 109/7.790doanh nghiệp, chiếm tỉ lệ 1,3% Trong 06 tháng đầu năm 2008 đã làm thủ tụcHải quan điện tử cho 3.905/172.500 tờ khai hàng hoá XNK, chiếm tỉ lệ 2,2%;làm thủ tục Hải quan điện tử cho 136/6.976 doanh nghiệp, chiếm tỉ lệ 1,95%;
Về trị giá và thu thuế XNK qua thủ tục Hải quan điện tử ước đạt 5% so vớitoàn Cục
- Chủ động phối hợp chặt chẽ với tổ công tác của TCHQ trong việc triểnkhai vận hành phần mềm Quản lý rủi ro, làm tốt công tác thu thập dữ liệu, lập
hồ sơ liên quan, đưa ra các thông tin cảnh báo rủi ro phục vụ thông quan hànghoá Thực hiện tốt công tác quan hệ công chúng, phối hợp thực hiện thủ tụcHải quan điện tử, làm tốt công tác hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia thủ tụcHải quan điện tử
- Phối hợp công tác với Tổ công tác của Ban CCHĐH - TCHQ, VANtrong việc triển khai, vận hành phần mềm Tiếp tục tập hợp, đóng góp nhiều
đề xuất trình lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Tổng cục bổ sung, hoàn thiện các quy
Trang 12định, quy trình thủ tục, phần mềm, mô hình tổ chức vv cho giai đoạn triểnkhai tiếp theo, rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng vàtriển khai Đề án hiện đại hoá của Cục Hải quan Hải Phòng Trong quá trìnhxây dựng quy định về thí điểm thủ tục thay thế các quy định tại Quyết định50/2005/QĐ-BTC và hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện, nhiều cán bộcủa Cục Hải quan TP Hải Phòng đã được lãnh đạo Tổng cục tin tưởng, trưngdụng, được Tổng cục ghi nhận đánh giá tốt.
- Triển khai, thực hiện tốt các yêu cầu chất lượng, tiến độ triển khai giaiđoạn 2 thủ tục Hải quan điện tử theo quy định tại Quyết định 52/2007/QĐ-BTC ngày 22/06/2007 của Bộ trưởng Bộ tài chính, Kế hoạch 4377/TCHQ-BCCHĐH của Tổng cục Hải quan, đẩy nhanh tiến độ, lộ trình phát triển theohướng: mở rộng đối tượng áp dụng, mổ rộng loại hình hàng hoá xuất nhậpkhẩu, phát triển doanh nghiệp đại lý Hải quan; ưu tiên hoàn thiện áp dụngquản lý rủi ro trong quy trình thủ tục Hải quan điện tử
- Chỉ đạo triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động công táccủa Chi cục Hải quan điện tử phù hợp với lộ trình, kế hoạch và thực tiễn triểnkhai Chủ động lên phương án, chuẩn bị các điều kiện cần thiết, tranh thủ caonhất sự hỗ trợ, phối hợp công tác của cơ quan đơn vị liên quan, sẵn sàng triểnkhai làm thủ tục Hải quan điện tử cho số lượng doanh nghiệp lớn, đa dạngloại hình quản lý ngay sau khi hệ thống có đủ phần mềm cài đặt, cho phépthực hiện; xứng đáng sự tin tưởng của Chính phủ, lãnh đạo Bộ và lãnh đạoTổng cục
d Xây dựng nội dung, quy chế phối hợp với các cơ quan hữu quan trongtrao đổi thông tin và thu thập thông tin nghiệp vụ Hải quan và quản lý rủi ro
- Đã xây dựng quy chế phối hợp với Công an, Cục thuế, Kho bạc thànhphố và đang nghiên cứu khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong trao
Trang 13- Đã xác lập kế hoạch và lộ trình thực hiện cho các đơn vị cơ sở thuộcCục và đang xây dựng quy chế phối hợp với các cơ quan có liên quan đếnthông quan hàng hoá như Cảng vụ, các đại lý giao nhận vận tải, Sở kế hoạchđầu tư, BQL khu chế xuất khu công nghiệp, Sở TNMT, Quản lý thị trường TPHải Phòng.
- Nghiên cứu khả thi hệ thống chuyển đổi, trao đổi dữ liệu tự động giữaHải quan và các đơn vị có liên quan
e Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ thông quan tự động, tập trung
- Đang tiến hành các thủ tục cần thiết để triển khai xây dựng trụ sở Cục;Địa điểm đặt máy soi hàng hoá (cả máy soi cố định và máy soi di động) Báocáo Tổng cục Hải quan nâng cấp một số trụ sở Chi cục hiện có, xây dựng mớitrụ sở Hải quan KCN & KCX, Hải quan Đình Vũ, Cầu tầu và nhà làm việccủa đội Kiểm soát chống buôn lậu,…
1.3.1.4.Những khó khăn vướng mắc
- Trong quá trình thực hiện, sự phối hợp của các đơn vị có liên quanchưa thực sự đáp ứng với yêu cầu của quá trình hiện đại hoá Hải quan; Khixây dựng chương trình xử lý dữ liệu phục vụ cho thủ tục Hải quan điện tử gặpkhó khăn rất lớn về công tác mã hoá hàng hoá do việc chuẩn hoá, mã hoádanh mục hàng hoá xuất nhập khẩu phải quản lý, thông tin về chính sách mặthàng của các Bộ, Ngành quản lý còn chậm ban hành hoặc ban hành chưathống nhất Việc kết nối trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan với Khobạc, Ngân hàng, các nhà vận chuyển hoặc cơ quan quản lý cảng chưa thườngxuyên dẫn tới thông tin phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hảiquan chưa tốt
- Công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của các Cục, Vụ, đơn vị chứcnăng thuộc cơ quan Tổng cục chưa kịp thời, cụ thể và tập trung thống nhất
Trang 14Quá trình triển khai thực hiện chưa đồng bộ, nhịp nhàng giữa đơn vị với cácCục, Vụ của Tổng cục và với các Ban, Ngành liên quan.
- Các điều kiện đảm bảo triển khai thí điểm thủ tục Hải quan điện tử cònnhiều tồn tại, bất cập: Phần mềm khai Hải quan điện tử và phần mềm xử lý dữliệu Hải quan điện tử còn nhiều điểm bất cập, chưa hoàn thiện; Chưa bao quáthết được các yêu cầu về quản lý làm thủ tục Hải quan, mức độ tự động hoácủa hệ thống còn chưa cao, nhiều bước nghiệp vụ còn phải can thiệp bằng thủcông (khai báo các thông tin liên quan quản lý giấy phép, xuất trình các chứng
từ liên quan, khai bổ sung thuế,…)
- Việc xây dựng phần mềm mới đối với thủ tục Hải quan điện tử chưađáp ứng được yêu cầu, tiến độ; Tốc độ đường truyền tới thời điểm trước17/12/2007 hết sức chậm, thường xuyên trục trặc khiến việc khai thác, vậnhành hệ thống, trao đổi truyền nhận thông tin, phân luồng, thông quan hànghoá,… mất nhiều thời gian; Chưa có khung pháp lý rõ ràng cũng như chưa cóvăn bản xác định rõ về trách nhiệm giữa C-VAN, doanh nghiệp, cơ quan Hảiquan nên sự phối hợp triển khai nhiều khi không đồng bộ,… gây tâm lý doanhnghiệp cảm nhận làm thủ tục Hải quan điện tử không thuận lợi, nhanh chóngbằng làm Hải quan thủ công
- Một số doanh nghiệp còn chưa thực sự yên tâm về lợi ích do triển khaicải cách, hiện đại hoá Hải quan đem lại cho hoạt động xuất nhập khẩu hànghoá; tư duy và cách làm việc của một số doanh nghiệp vẫn theo phương thức,lối mòn cũ, ngại đầu tư, thay dổi; một số doanh nghiệp không muốn thay đổi
vi lo ngại ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế (kể cả trong trường hợp khôngchính đáng) nên doanh nghiệp chưa thực sự ủng hộ với quá trình hiện đại hoá,
do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu đề ra
- Trong thực hiện thủ tục Hải quan nói chung và Hải quan điện tử nói
Trang 15định tại Nghị định 79/2005/NĐ-CP về điều kiện thành lập và hoạt động củađại lý làm thủ tục Hải quan và Thông tư 73/2005/TT-BTC hướng dẫn thựchiện thì những ưu đãi, quyền lợi cho các đối tượng này chưa có nhiều, chưahấp dẫn, thu hút họ tham gia Hải quan điện tử.
1.3.1.5 Những nội dung không đủ điều kiện để triển khai tại Cục
- Xây dựng quy trình thông quan tập trung: Đây là nội dung rất lớn,thuộc quy mô toàn ngành; đặt ra nội dung này trong Đề án của Cục là khôngthể thực hiện được Do vậy cần thay nội dung này thành nội dung: Tổ chứctriển khai, tích cực tham gia để hoàn thiện quy trình thủ tục thông quan điện
tử Phải xác định đây là quy trình nghiệp vụ cơ bản để nâng cấp thành quytrình thông quan tập trung trong phạm vi toàn Cục
- Xây dựng phần mềm ứng dụng và giải pháp xử lý đồng bộ cơ sở dữliệu (trong nội dung III của Đề án) rất khó thực hiện tại Cục vì muốn thựchiện được phải có kinh phí, phải kết hợp với một công ty viết phần mềm(Công ty Trúc An) - tham gia đấu thầu chung; trong khi Tổng cục Hải quan
đã và đang đầu tư cho FPT xây dựng, các điều kiện sẽ thuận lợi hơn
1.3.1.6 Bài học kinh nghiệm trong công tác cải cách, hiện đại hoá Hải quan giai đoạn 2003-2007 tại Cục Hải quan Hải Phòng
- Thứ nhất: Cải cách phát triển hịên đại hoá ngành Hải quan nói chung
và Cục Hải quan TP Hải Phòng nói riêng bao gồm nhiều nội dung, là một quátrình liên tục, diễn ra trong thời gian dài gồm nhiều giai đoạn do vậy trên cơ
sở đề án của Cục đã đuợc phê duyệt; kế hoạch tổng thể của ngành cần xâydựng Bản kế hoạch chi tiết cho từng giai đoạn, từng năm để triển khai thựchiện thật cụ thể và làm căn cứ để điều phối, kiểm tra, giám sát, đánh giá
- Thứ hai: Nhiều nội dung của Đề án hiện đại hoá của Cục Hải quan Hải
Phòng nằm trong kế hoạch tổng thể của ngành, vì vậy trong quá trình triển
Trang 16khai cần tranh thủ sự chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ của Tổng cục và Ban cải cáchhiện đại hoá Cần xác định rõ các cấu phần của Đề án do Cục Hải quan HảiPhòng chủ trì tổ chức thực hiện, cấu phần do các đơn vị thuộc và trực thuộcTổng cục chủ trì, đơn vị có trách nhiệm phối hợp để việc triển khai không bịchồng chéo trùng lắp và có cơ sở tập trung nguồn lực cho những mục tiêuchính.
- Thứ ba: Cục Hải quan Hải Phòng đánh giá nội dung tái cơ cấu tổ chức
bộ máy, quản lý phát triển nguồn nhân lực là khâu trọng tâm, có tính quyếtđịnh đến thành công của Đề án nên đã tập trung triển khai sớm và liên tục
- Thứ tư: Coi trọng công tác giáo dục tuyên truyền về cải cách, hiện đại
hoá nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBCC trong toàn Cục đểxác định quyết tâm chính trị của đơn vị trong việc thực hiện Đề án; tạo sựđồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan có liên quan để tranhthủ sự ủng hộ, hợp tác
- Thứ năm: Đổi mới công tác chỉ đạo điều hành trong cải cách hiện đạo
hoá Hải quan Trong năm qua Cục Hải quan Hải Phòng đã chỉ đạo tập trung,kiên quyết từng nội dung, cấu phần của Đề án; Có sự phân công, phân nhiệm
cụ thể kết hợp với điều phối, kiểm tra, giám sát thường xuyên
a Hiện đại hóa Cục Hải quan thành phố Hải Phòng xuất phát từ yêu cầuphát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Các chỉ tiêu thực tế của thành phố Hải Phòng đã đạt được trong nhữngnăm qua:
- Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân 22,5%/năm (xuất khẩu 24%,nhập khẩu 21%);
- Lượng khách du lịch đến thành phố tăng bình quân 23%/năm, trong đólượng khách quốc tế tăng bình quân 8,5%/năm;
Trang 17- Khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua cảng tăng bình quân10%/năm;
- Tỷ trọng hàng hóa vận chuyển bằng container qua cụm Cảng HảiPhòng chiếm khoảng 60% (Cảng Hải Phòng chiếm gần 50%); số lượng đạtđược năm 2006 là 624.768 TEU Dự kiến đến năm 2010 đạt khoảng 870.600TEU (Thực tế năm 2007 đạt gần 700.000 TEU);
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải phòng đến năm 2020
đã được chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 271/2006/QĐ-TTg ngày2711/2006, trong đó:
- Phấn đấu đưa tỷ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước đạt khoảng4,5% năm 2010 và 7,3% năm 2020; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 13– 13,5% giai đoạn 2006 – 2010 và 13,5 – 14% giai đoạn 2011 – 2020, caohơn mức tăng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ khoảng 1,3 lần
- Phấn đấu đưa giá trị kim ngạch xuất khẩu của Hải Phòng đạt 1,9 - 2,0
tỷ USD vào năm 2010 và khoảng 6 tỷ USD vào năm 2020
- Một số sản phẩm chủ lực như khối lượng hàng hóa qua cảng đạt từ
25-30 triệu tấn vào năm 2010 và 80 - 100 triệu tấn vào năm 2020; khối lượnghàng hóa vận tải biển đạt trên 20 triệu tấn vào năm 2010 và khoảng 55 triệutấn vào năm 2020; đón 3.700 nghìn lượt khách du lịch vào năm 2010 (kháchquốc tế là 1.200 nghìn lượt) và 6.900 nghìn lượt khách (khách quốc tế là4.200 nghìn lượt) vào năm 2020 (Thực tế năm 2007 lượng hàng hoá qua cảng
đã đạt 23 triệu tấn, trong đó hàng hoá XNK đạt gần 20 triệu tấn)
- Các dự án được ưu tiên đầu tư trên địa bàn Hải Phòng có tác động trựctiếp đến quy mô của đề án hiện đại hóa Hải quan Hải Phòng như: Cảng cửangõ Lạch Huyện, nâng cấp sân bay Cát Bi; đường cao tốc Hà Nội – HảiPhòng
Trang 18b Xuất phát từ tình hình thực hiện và định hướng phát triển cảng HảiPhòng
Hiện nay Cục Hải quan Hải Phòng đang thực hiện quản lý Nhà nước vềHải quan đối với cụm Cảng Hải Phòng bao gồm:
- Cảng Đình Vũ: Đã đưa vào hoạt động một cầu cảng, đến năm 2010 sẽ
là cảng nước sâu với 3 cầu cảng được khai thác
- Cảng Lạch Huyện đã được lập dự án xây dựng
(Nguồn thông tin: Cảng Hải Phòng)
c Xuất phát từ tình hình thực hiện nhiệm vụ gắn với cải cách hành chínhcủa Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng
Thực trạng về hoạt động của đơn vị:
- Từ năm 2002 - 2006, số lượng tờ khai hải quan tăng bình quân20%/năm (xuất khẩu 22%; nhập khẩu 18%); kim ngạch hàng hóa xuất nhập
Trang 19khẩu qua cảng tăng bình quân 25%/năm (xuất khẩu 32,28%; nhập khẩu tăng17,92%).
- Tỷ lệ số tờ khai phải kiểm tra thực tế hàng hóa trên tổng số tờ khai hảiquan năm 2005 là 57,6%; năm 2006 là 27,29% và 03 tháng đầu năm 2007 là26,7%
- Số vụ việc vi phạm pháp luật hải quan đã bị phát hiện và xử lý chiếmbình quân 0,5% /tổng số lượng tờ khai xuất nhập khẩu hàng năm
- Thu Hải quan tăng bình quân từ 15 – 17%/năm (năm 2006 đạt 9.116,8
(Chi tiết tình hình hoạt động của đơn vị tại Phụ lục 3).
(Nguồn thông tin: Trung tâm CNTT – Cục Hải quan TP Hải Phòng)
Thực trạng về cơ sở kỹ thuật:
- Cục Hải quan thành phố Hải Phòng đang áp dụng 13 chương trình phầnmềm ứng dụng, trong đó 11 chương trình tin học hỗ trợ thủ tục thông quanhàng hóa xuất nhập khẩu Mỗi chương trình được xây dựng và sử dụng các cơ
sở dữ liệu khác nhau, chưa được chuẩn hóa và đồng bộ, chưa đảm bảo tínhtiện ích, tính hỗ trợ cao cho công tác quản lý
- Đang áp dụng mô hình dữ liệu cơ sở phân tán gồm một trung tâm dữliệu với 02 cơ sở làm việc vận hành hệ thống CNTT thống nhất tại 18 đơn vịHải quan, trong đó có 3 Chi cục Hải quan tỉnh xa (Hải Dương, Hưng Yên,
Trang 20Thái Bình) Cục Hải quan Hải Phòng đang tích cực triển khai chuẩn bị cơ sởvật chất cho Trung tâm xử lý dữ liệu tập trung theo mô hình của Hải quanhiện đại.
- Điều kiện hệ thống đường mạng WAN hiện nay của Việt Nam nóichung và của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan nói riêng còn nhiều bất cập,vẫn tồn tại nhiều rủi ro trong quá trình truyền nhận dữ liệu
d Xuất phát từ yêu cầu tận dụng tối đa nguồn lực hiện có
Hải quan Hải Phòng đang đứng trước vận hội tiến hành hiện đại hóa vớinhiều điều kiện thuận lợi cả từ nội tại đơn vị đến ưu tiên đầu tư của các cấp,các ngành:
- Là 1 trong 5 đơn vị Hải quan có Cảng biển được ưu tiên đầu tư theo dự
án Hiện đại hóa ngành Hải quan vay vốn Ngân hàng Thế giới
- Bộ Tài chính đang tập trung đầu tư xây dựng trụ sở mới tại khu đất9.024m2 và trạm máy soi container hiện đại tại khu đất 16.000m2
- Là đơn vị có truyền thống trong ngành Hải quan với đội ngũ cán bộ cónăng lực quản lý, trình độ chuyên môn và công chức có chất lượng
- Quá trình thực hiện thí điểm thủ tục Hải quan điện tử theo quyết định
số 149/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số50/2005/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã thu được những kết quả vàkinh nghiệm quý báu
- Đơn vị đã được đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị tin học tương đốiđầy đủ, có thể đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa
- Là đơn vị Hải quan có 100% Doanh nghiệp làm hàng gia công, nhậpnguyên liệu sản xuất xuất khẩu, nhập xuất chế xuất và phần lớn các Doanhnghiệp làm thủ tục hàng kinh doanh xuất nhập khẩu, hàng chế độ riêng khai
Trang 21đ Đề án xuất phát từ yêu cầu thực hiện dự án Hiện đại hóa Hải quantoàn ngành
- Các cấu phần thuộc dự án Hiện đại hóa đầu tư cho đơn vị
- Những cấu phần Dự án chỉ hỗ trợ, đơn vị phải lập kế hoạch thực hiện
1.4 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN
1.4.1 Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đến năm 2012, xây dựng Cục Hải quan thành phố Hải Phòngthành một đơn vị Hải quan hiện đại, phù hợp với mục tiêu về hiện đại hóa củaNgành: “Có trình độ quản lý tương đương với Hải quan vùng của các nướctrong khu vực, với quy trình thủ tục Hải quan đơn giản, chuyên nghiệp,chuyên sâu; hệ thống thông quan chủ yếu dựa trên nền tảng tự động hóa, trên
cơ sở áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại; đápứng được yêu cầu của hệ thống pháp luật hải quan ổn định, minh bạch và phùhợp với các chuẩn mực quốc tế”
1.4.2 Các mục tiêu cụ thể
1.4.2.1 Về thủ tục Hải quan
- Quy trình thủ tục Hải quan được đơn giản, hài hòa và thống nhất theocác chuẩn mực và thông lệ quốc tế tiên tiến Quản lý rủi ro được áp dụng mộtcách có hệ thống và phổ biến trong toàn bộ quy trình thủ tục Hải quan đối vớihàng hóa, hành khách
- Thực hiện thủ tục Hải quan tự động đối với hàng hóa xuất nhập khẩu,phương tiện, hành khách xuất nhập cảnh thông qua Cảng Hải Phòng và Sânbay Cát Bi trên cơ sở áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệthông tin, viễn thông và các trang thiết bị kỹ thuật khác với một số đặc trưng
cơ bản sau:
Trang 22+ Hầu hết khai Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu được thựchiện thông qua mạng;
+ Xử lý hồ sơ hải quan thông qua Phần mềm xử lý dữ liệu tờ khai;
+ Hệ thống phân luồng tự động trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro;
+ Thiết lập kết nối trao đổi dữ liệu điện tử với các hãng vận chuyển,cảng vụ, sân bay, đại lý, kho bạc, ngân hàng, các cơ quan cấp phép để tiếpnhận thông tin về hàng hóa, hành khách trước khi phương tiện nhập cảnh;+ Thực hiện thông quan trước khi hàng đến đối với các Doanh nghiệp có
độ tuân thủ Pháp luật cao
- Phấn đấu đến năm 2010 là một trong những Cục Hải quan áp dụngthông quan điện tử trong toàn Cục
1.4.2.2 Về tổ chức bộ máy và cán bộ
- Được chuẩn hóa, kiện toàn, sắp xếp lại để đáp ứng được các yêu cầuquản lý Hải quan hiện đại và chương trình cải cách hành chính của ChínhPhủ
- Lãnh đạo đơn vị được đào tạo cơ bản về quản lý Hải quan hiện đại, kỹnăng quản lý và điều hành hệ thống, có kỹ năng chuyên sâu về các lĩnh vựcnghiệp vụ Hải quan, có trình độ ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu Hiện đại hóa
- Đội ngũ công chức làm công tác tham mưu, nghiên cứu được đào tạochuyên môn nghiệp vụ chuyên sâu; có khả năng nghiên cứu, tham mưu, đềxuất, kiểm tra hướng dẫn trong lĩnh vực phụ trách; có kinh nghiệm thực tiễn,trình độ ngoại ngữ đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu
- Đội ngũ cán bộ nghiệp vụ thừa hành được đào tạo có kỹ năng chuyênsâu về lĩnh vực nghiệp vụ được phân công Trình độ ngoại ngữ giao tiếp được
Trang 23đối với những công việc tiếp xúc với khách hàng người nước ngoài hoặc yêucầu nghiên cứu.
1.4.2.3 Về cơ sở vật chất
Xây dựng trụ sở Cục, địa điểm kiểm tra tập trung có lắp đặt máy soicontainer và các đơn vị hải quan với hệ thống công nghệ thông tin hiện đạitrong một quy trình thủ tục Hải quan thống nhất
1.4.2.4 Về công nghệ thông tin
Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và đầu tư, ứng dụng hệthống xử lý tích hợp hiện đại với cơ sở dữ liệu tập trung trên nền tảng hoànthiện hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử với các cơ quan quản lý có liên quanđến hàng hóa xuất, nhập khẩu, người và phương tiện xuất, nhập cảnh để hỗtrợ các quy trình thủ tục Hải quan đã được hoàn thiện lại và đạt mục tiêu tựđộng hóa hải quan, hải quan điện tử
1.4.2.5 Một số chỉ tiêu cụ thể phấn đấu thực hiện đến năm 2012
- Phấn đấu đến năm 2010, 80% số lượng tờ khai hải quan được xử lý qua
hệ thống thông quan tự động; đến năm 2012 đạt 90% sốlượng tờ khai và tiếntới được xử lý tự động hoàn toàn
- Thực hiện tốt quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu qua cảng với mức tăngbình quân đạt 20%/năm nhưng không tăng biên chế;
- Số thu ngân sách của đơn vị tăng bình quân hàng năm từ 12% - 14%;
- Tỷ lệ % các lô hàng nhập khẩu phải qua kiểm tra thực tế: dưới 10%;
- Cải thiện đáng kể sự hài lòng của khách hàng về hoạt động Hải quan
1.5 NGUYÊN TẮC LẬP ĐỀ ÁN
- Đề án HĐH đảm bảo tính khách quan, khoa học và toàn diện
Trang 24- Phù hợp với chương trình cải cách hiện đại hóa chung của Ngành.
- Tận dụng tối đa mọi nguồn lực hiện có
- Việc thực hiện đề án không làm xáo trộn, đổ vỡ hệ thống quản lý hiệntrạng của Cục Hải quan Hải Phòng nói riêng và ngành Hải quan nói chung.Quá trình thực hiện thí điểm một số nội dung của đề án được triển khai songhành nhưng độc lập, không ảnh hưởng tới hoạt động tác nghiệp bình thườngtại đơn vị
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG ĐỀ ÁN
Hiện đại hóa hải quan theo các chuẩn mực cơ bản về “Tăng cường nănglực của cơ quan Hải quan” của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) mang tínhtoàn diện, bao gồm rất nhiều nội dung, Đề án này chỉ lựa chọn trình bàynhững nội dung chủ yếu, mang tính quyết định và tính đặc thù của một CụcHải quan liên tỉnh
2.1 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ THÔNG QUAN ĐIỆN TỬ GIAI ĐOẠN 2
(Nội dung triển khai tại “Phần 2 - Quản lý doanh nghiệp và quy chế phốihợp với các cơ quan và các tổ chức quản lý hàng hoá” - Phụ lục 1- Chi tiết kếhoạch thực hiện giai đoạn 2008-2010; trang 43)
Hệ thống cơ sở dữ liệu để phục vụ thông quan điện tử phải được xâydựng một cách khoa học và được tích hợp từ nhiều nguồn:
1 Nguồn dữ liệu dồn tích trong nội bộ ngành Hải quan
2 Qua trao đổi dữ liệu với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
3 Từ hệ thống các cơ quan dịch vụ
4 Từ nguồn thông tin của khách hàng
Trang 252.2 QUY TRÌNH THỦ TỤC HẢI QUAN
(Nội dung triển khai tại “Phần 1 - Hiện đại hoá thủ tục Hải quan”- Phụlục 1- Chi tiết kế hoạch thực hiện giai đoạn 2008-2010; trang 41)
Quy trình thủ tục hải quan để đáp ứng thông quan tập trung bao gồm cácbước xử lý dữ liệu và tác nghiệp như sau:
MÔ PHỎNG QUY TRÌNH XỬ LÝ DỮ LIỆU THÔNG QUAN TỰ ĐỘNG
2.2.1 Bước 1: Khai hải quan và tiếp nhận dữ liệu khai báo
Sau khi nhận được giấy báo hàng đến, Doanh nghiệp đã có thể tiến hànhkhai báo hải quan cho hàng hóa xuất, nhập khẩu Dữ liệu khai báo của Doanhnghiệp được tiến hành theo quy trình:
- Doanh nghiệp khai báo hàng hóa dựa trên các thông tin có sẵn về hànghóa (thể hiện tại các chứng từ gốc như Hợp đồng ngoại thương, Invoice,Packing list, B/L…) Khi khai báo, Doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiệnnghiêm các quy định của pháp luật về trị giá tính thuế, mã số hàng hóa - thuế
Trang 26suất, chính sách thương mại, loại hình đăng ký… Việc khai báo của Doanhnghiệp được thực hiện với sự hỗ trợ của hệ thống: Hệ thống cung cấp cácthông tin có sẵn từ Chú giải HS, về mã số hàng hóa và thuế suất hàng hóa,chính sách thương mại liên quan đến các loại hình đăng ký (các thông tin nàyđược cán bộ hải quan cập nhật vào hệ thống); giúp cho Doanh nghiệp đăng kýđúng loại hình nhập khẩu, áp mã khai báo hàng hóa đúng với quy định
Ví dụ: Doanh nghiệp khai báo nhập khẩu mặt hàng Giấy can, xuất xứ
Anh Khi áp mã cho hàng hóa, Doanh nghiệp truy cập vào hệ thống (quyền
truy cập 1 chiều, không có quyền chỉnh sửa thông tin của hệ thống) để tìm mã
số hàng hóa, bằng cách sử dụng chức năng “Tìm kiếm”, Doanh nghiệp có thể tìm được thông tin mặt hàng Giấy can thuộc chương 48, nhóm 48.06, thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thuế suất thuế VAT, thuế suất theo CEPT… đồng thời
hệ thống có thể đưa ra cảnh báo cho Doanh nghiệp “Đề nghị đọc kỹ các chú giải chương và chú giải nhóm” Sau khi Doanh nghiệp đọc chú giải, sẽ nhận thấy rằng nhóm 4806 chỉ áp dụng đối với mặt hàng giấy có khổ rộng từ 36cm trở lên đối với dạng cuộn Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được việc khai báo áp mã sai.
Để thực hiện được bước này, cơ quan hải quan có trách nhiệm cập nhậttoàn bộ biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuếGTGT, thuế CEPT Để tránh việc khai báo sai tên hàng với quy định, Doanhnghiệp sẽ lấy tên hàng và đơn vị tính đúng như quy định tại Danh mục hànghóa Việt Nam có tại hệ thống Đối với các mặt hàng có tính năng, công nghệmới chưa được cập nhật tại Danh mục và các văn bản có liên quan, Doanhnghiệp sẽ phải khai báo thêm các tính năng mới đó và chịu trách nhiệm vềviệc áp mã khai báo của mình
Trang 272.2.2 Bước 2: Xử lý dữ liệu và giải quyết thủ tục
- Trước khi hàng hóa về đến Cảng, thông thường các hãng tàu thông báocho các Doanh nghiệp nhập khẩu bằng giấy báo hàng đến Đây chính là dữliệu đầu tiên bao gồm các thông tin: Hàng hóa, số lượng, trọng lượng, sốcontainer, số hiệu tàu, chuyến tàu, cảng đi, cảng đến, người gửi hàng, ngườinhận hàng, thời gian tàu rời cảng, đến cảng… Các dữ liệu này được cập nhậtvào hệ thống của hãng tàu và được truyền sang cho hệ thống xử lý dữ liệu cho
cơ quan hải quan, hệ thống sẽ nhận thông tin và đưa ra xác nhận với hãng tàu
Cơ quan hải quan đã có những thông tin đầu tiên về hàng hóa
- Sau khi hàng hóa về đến cảng, Cảng vụ sẽ có các thông tin về địa điểmhàng hóa được lưu (Ví dụ: Bãi Chùa Vẽ, Cảng Chính, Bãi Transvina…) Cácthông tin này sẽ được cập nhật và truyền đến Trung tâm xử lý dữ liệu của cơquan hải quan, giúp cho cơ quan hải quan xác định được vị trí hàng hóa, phục
vụ cho nghiệp vụ kiểm soát hải quan
- Sau khi hệ thống nhận được thông tin khai báo của Doanh nghiệp, hệ
thống sẽ gửi cho Doanh nghiệp xác nhận “Đã nhận được thông tin khai báo”
đồng thời đưa ra các cảnh báo cho Doanh nghiệp sau khi các thông tin đó đãđược xử lý qua chương trình quản lý rủi ro, được xử lý qua chương trình quản
lý trị giá tính thuế, chương trình quản lý mã số, thuế suất… (Lưu ý: các
chương trình này được hoạt động trong cùng 1 phần mềm dựa trên các Thông tin có sẵn – cần phải tích hợp các thông tin đó).
Ví dụ: Sau khi Doanh nghiệp khai báo mặt hàng có trị giá là 10 USD/chiếc, Hệ thống sẽ so sánh với các thông tin có sẵn, đưa ra cảnh báo cho Doanh nghiệp là mặt hàng đang được khai báo thấp hơn (Nếu cao hơn thông tin có sẵn thì không cần đưa ra cảnh báo) Điều này sẽ cảnh báo Doanh nghiệp về việc sai phạm.
Trang 28- Sau khi đưa ra xác nhận và cảnh báo, hệ thống sẽ yêu cầu Doanhnghiệp xác nhận lại thông tin khai báo Doanh nghiệp có thể sửa đổi thông tin(nếu cần) và xác nhận thông tin khai báo với hệ thống.
- Sau khi thông tin khai báo được xác nhận bởi Doanh nghiệp, hệ thống
sẽ phân luồng xanh, vàng, hoặc đỏ và thông báo kết quả phân luồng choDoanh nghiệp Nếu kết quả phân luồng là luồng vàng, hệ thống sẽ thông báoyêu cầu Doanh nghiệp cung cấp bổ sung chứng từ của lô hàng cho Phòngthông quan để tiến hành kiểm tra
Việc phân luồng hàng hóa xuất nhập khẩu có thể tiến hành theo hai giaiđoạn:
- Giai đoạn 1: Từ nay đến năm 2010, phát triển và hoàn thiện hệ thống,việc phân luồng vẫn do Chi cục trưởng các Chi cục đầu mối quyết định (như
mô hình hải quan điện tử giai đoạn 2 hiện nay), đồng thời thử nghiệm từngbước phân luồng tự động
- Giai đoạn 2: Phấn đấu đến 2012, việc phân luồng sẽ được thực hiện tựđộng hoàn toàn
Ví dụ: Hệ thống sẽ đưa ra các thông báo về việc xử lý phân luồng hàng hóa như: “Lô hàng của bạn đã được phân luồng xanh (vàng hoặc đỏ)”, đồng thời sẽ đưa các chế tài liên quan đến kết quả phân luồng như: “Lô hàng của bạn thuộc diện miễn kiểm tra thực tế, được thông quan” (luồng xanh); “Lô hàng của bạn thuộc diện phải kiểm tra thực tế, đề nghị bạn đến Trạm máy soi hàng hóa tại địa chỉ… để làm thủ tục kiểm tra hàng hóa khi nhận hàng”… (luồng đỏ)…
2.2.3 Bước 3: Thông quan hàng hóa
Sau khi hệ thống tiếp nhận thông tin khai báo của Doanh nghiệp và xử
lý, phân luồng thành công, sẽ tự động truyền xuống các Đội Giám sát hảiquan và Kiểm tra hàng hóa Dữ liệu sẽ được xử lý tiếp như sau:
a Tại Đội Giám sát hải quan
Trang 29Khi đến nhận hàng, Doanh nghiệp trình Lệnh giao hàng do Hãng tàucung cấp, cán bộ hải quan giám sát sẽ nhập số Lệnh giao hàng vào máy tính,máy tính sẽ đưa ra toàn bộ các thông tin quản lý (tương tự các thông tin tại tờkhai hải quan hiện nay), đưa ra các thông báo kết quả phân luồng, kết quả xử
lý tự động Căn cứ vào kết quả đó, đội giám sát sẽ thực hiện cho thông quanhàng hóa (đối với hàng hóa được phân vào luồng xanh) hay yêu cầu Doanhnghiệp đưa hàng đến địa điểm kiểm tra hàng hóa thực tế (trạm máy soi, kiểmtra thực tế hàng hóa tại địa điểm kiểm tra – đối với luồng đỏ) Kết quả xử lý
đó sẽ được ghi nhận trên một mẫu văn bản quy định nhằm phục vụ cho việcluân chuyển và vận chuyển hàng hóa trên đường, là chứng từ lưu của Doanhnghiệp để phục vụ cho công tác kế toán, kiểm toán cũng như kiểm tra sauthông quan (lưu cùng các chứng từ gốc)
b Tại Đội Kiểm tra hàng hóa
Căn cứ vào kết quả xử lý dữ liệu tại đội giám sát hải quan, kết quả phânluồng và thông tin do hệ thống cung cấp, Đội Kiểm tra hải quan sẽ tiến hànhkiểm tra thực tế của hàng hóa thông qua máy soi và các thiết bị hỗ trợ khác.Kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa sẽ là căn cứ cho các bước xử lý nghiệp vụtiếp theo
2.2.4 Bước 4: Xử lý dữ liệu sau thông quan.
- Sau khi hàng hóa thông quan, Đội giám sát hải quan và Đội kiểm trahàng hóa sẽ có trách nhiệm cập nhật thông tin cho hệ thống, xác nhận hànghóa đã được thông quan Hệ thống sẽ xác nhận một lần nữa là thông tin đãđược cập nhật
- Nếu hàng hóa có vướng mắc, Đội kiểm tra hàng hóa vẫn phải cập nhậtvào hệ thống, các thông tin phải được cập nhật liên tục cho đến khi hàng hóađược thông quan
- Đây là quy trình cơ bản phục vụ cho việc quản lý và thông quan hànghóa xuất nhập khẩu theo hướng thông quan tập trung (quy trình này xây dựng
Trang 30thoát khỏi các quy trình thông quan truyền thống), sẽ được xây dựng triểnkhai thí điểm, song hành với các quy trình hiện đang vận hành đến năm 2010.Những quy trình nghiệp vụ khác hỗ trợ cho quy trình thông quan như: Kiểmtra sau thông quan, điều tra chống buôn lậu và gian lận thương thực hiệnmại… theo quy trình mang tính đặc thù.
- Phát triển hệ thống Đại lý khai thuê Hải quan giải pháp hỗ trợ tích cực,hiệu quả cho thực hiện quy trình thông quan tự động, tập trung
Trang 31SƠ ĐỒ NGUYÊN TẮC QUY TRÌNH THÔNG QUAN TẬP TRUNG
Chú thích:
- Doanh nghiệp khai báo hải quan điện tử
- Hệ thống tại trung tâm dữ liệu xác nhận thông tin đã nhận và đưa ra cáccảnh báo
- Dữ liệu được truyền xuống các Đội: Đội Giám sát hải quan và Độikiểm tra hải quan (trạm máy soi…)
- Các Đội nghiệp vụ xác nhận thông tin đã nhận và khi hàng hóa đã đượcthông quan để cập nhật vào hệ thống
- Ngoài các thông tin hệ thống tiếp nhận từ Doanh nghiệp khai báo, Hệthống còn tiếp nhận các thông tin được cung cấp từ các cơ quan có liên quannhư: Ngân hàng, kho bạc, cục thuế, Hãng tàu, Cảng vụ… và thông tin từ kho
dữ liệu của Tổng cục Hải quan
2.3 MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ TÁI CƠ CẤU NGUỒN NHÂN LỰC.
(Nội dung triển khai tại “Phần 3 - Tổ chức bộ máy và tái cơ cấu nguồn nhânlực” - Phụ lục 1 – Chi tiết kế hoạch thực hiện giai đoạn 2008-2010; trang 45 )
Trang 332.3.1 Mô hình tổ chức.
- Bộ máy tổ chức theo hướng tập trung gồm 03 khối:
+ Khối Tham mưu, giúp việc có 03 phòng, không định biên cấp Đội.+ Khối quản lý điều hành việc thông quan hàng hóa và chống buôn lậu,gian lận thương mại gồm: Kiểm tra sau thông quan, Thông quan hàng hóa,Kiểm tra và kiểm soát hải quan Có định biên cấp Đội và Tổ
+ Khối trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tại cửa khẩu có 06 đơn vị (trong
tương lai, Cảng Đình Vũ, Lạch Huyện đi vào hoạt động sẽ thành lập thêm).
Các đơn vị trực tiếp có định biên cấp Đội công tác, tuỳ theo chức năng vàkhối lượng công việc từng đơn vị để định biên số đội công tác và biên chế
2.3.2 Chức năng nhiệm vụ các bộ phận theo mô hình thông quan tập trung.
Dự kiến các bộ phận của Hải quan Hải Phòng trong thực hiện thôngquan tập trung bao gồm:
1 Văn Phòng Cục
2 Phòng Tổ chức cán bộ - Thanh tra
3 Phòng Quản lý - Chính sách Hải quan
4 Đơn vị Kiểm tra và Kiểm soát Hải quan
5 Đơn vị Kiểm tra sau thông quan
6 Đơn vị Thông quan hàng hoá
7 Hải quan sân bay Cát Bi
8 Hải quan Cảng Hải phòng (Sát nhập tất cả các đơn vị Hải quan Cảng)
9 Hải quan Hải Dương, Hải quan Hưng yên, Hải quan Thái Bình
10 Hải quan Khu công nghiệp - Khu chế xuất
Trang 34(Chức năng, nhiệm vụ, định biên cụ thể của các bộ phận xem Phụ lục 4)
- Trong thời kỳ đầu triển khai thông quan tập trung thực hiện theo địnhbiên này
- Trong các năm tiếp theo: Lực lượng kiểm soát chống buôn lậu đượctăng dần lên, có thể chiếm từ 1/3 đến 1/2 biên chế toàn Cục Đây là lực lượngrất quan trọng trong việc nắm tình hình, thu thập thông tin, điều tra… phục vụcho công tác thông quan và Kiểm tra sau thông quan Lực lượng kiểm tra sauthông quan cũng sẽ được tăng cường tùy theo tỷ lệ luồng xanh được tăng lêntheo các năm
2.3.3 Phương án và thời gian thực hiện
a Khảo sát khối lượng, tính chất công việc theo yêu cầu của mô hìnhmới
- Tổ chức xây dựng quy trình thông quan điện tử, thông quan tập trung,theo đó xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các khâu công tác trong quytrình; yêu cầu nhân lực sẽ phải bố trí trong các khâu công tác
- Để làm được việc này, phải kết hợp chặt chẽ với các Vụ, Cục thuộcTổng cục Hải quan như: Giám sát quản lý, Kiểm tra thu thuế, Cục Điều trachống buôn lậu, Tổ chức cán bộ… Tổ chức nhiều cuộc hội thảo để có môhình, chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu nhân lực chuẩn:
+ Trình độ của các cán bộ, công chức quản trị mạng, số lượng
Trang 35+ Trình độ ngoại ngữ, kiến thức thương phẩm học, trình độ lý luận vàkiến thức khác.
- Xây dựng các yêu cầu và tiêu chuẩn các chức danh công chức thừahành tại các khâu công tác theo mô hình mới
b Phương án rà soát đánh giá lại trình độ năng lực của cán bộ, côngchức trong toàn Cục
- Xây dựng các biểu mẫu phục vụ cho công tác rà soát, kiểm tra
- Cán bộ, công chức tự kê khai, đánh giá năng lực, khả năng sở trường
- Trưởng các đơn vị chịu trách nhiệm triển khai việc rà soát, kết quả ràsoát và nhận xét đánh giá chính xác năng lực trình độ cấp do mình quản lý
- Cục sẽ thành lập hội đồng kiểm tra để đánh giá phân loại cán bộ, côngchức chính xác, khách quan
c Phương án quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại lực lượng
- Đội ngũ Lãnh đạo các cấp, nhất là lãnh đạo Cục và lãnh đạo các đơn vịchủ chốt: Phải đáp ứng yêu cầu quản lý thông quan tự động, tập trung (đã nêutại phần Mục tiêu cụ thể), trên cơ sở đó, ngay từ bây giờ, Cục Hải quan thànhphố Hải Phòng sẽ xây dựng phương án lựa chọn một bộ khung để quy hoạch,đào tạo và bồi dưỡng
- Tổ chức đào tạo, đào tạo lại để có một bộ khung hoàn chỉnh theohướng chuyên sâu Phương thức đào tạo là: Gửi đi Tổng cục Hải quan để đàotạo, gửi các trường chính quy, tự tổ chức; yêu cầu tất cả các cán bộ, côngchức tự đăng ký học 1 hoặc 2 nội dung theo yêu cầu trong một thời gian nhấtđịnh, nhằm hoàn thiện mình theo chức danh, tiêu chuẩn và mô hình mới; Cục
hỗ trợ thời gian và kinh phí
d Phương án sắp xếp lực lượng (Phụ lục 4 - trang 56).
Trang 36- Trên cơ sở mô hình tổ chức bộ máy mới, số cán bộ, công chức đã đượcđào tạo, tổ chức sắp xếp lại theo mô hình mới;
- Việc giải quyết số cán bộ, công chức dôi dư là vấn đề chính sách cán
bộ phải có phương án thật tỷ mỷ, có tình, có lý
2.4 GIẢI PHÁP VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
(Nội dung triển khai tại “Phần 4 - Công nghệ thông tin” - Phụ lục 1 –Chi tiết kế hoạch thực hiện giai đoạn 2008-2010; trang 48 )
2.4.1 Yêu cầu về giải pháp ứng dụng.
Thực hiện hiện đại hóa Hải quan với hệ thống thông quan chủ yếu dựatrên nền tảng xử lý dữ liệu tập trung trên hệ thống xử lý dữ liệu tự động, ápdụng kỹ thuật quản lý rủi ro, do đó đòi hỏi các giải pháp ứng dụng công nghệthông tin phải có kiến trúc tốt, chất lượng cao
a Đối với Hệ thống thủ tục hải quan điện tử phải đạt được các yêu cầusau:
- Cơ sở dữ liệu và việc xử lý dữ liệu phải tập trung tại trung tâm dữ liệucủa Tổng cục Hải quan
- Giao diện với hệ thống quản lý rủi ro để phân luồng hàng hóa trên cơ
sở hồ sơ rủi ro
- Tích hợp các chức năng quản lý nghiệp vụ hải quan trên một ứng dụngduy nhất
- Giao diện người dùng duy nhất và trong suốt đối với người sử dụng
- Có khả năng giao diện với các hệ thống thiết bị hỗ trợ công tác kiểmtra, giám sát khác để trao đổi thông tin phục vụ việc thông quan hàng hóa(VD: máy soi container, cân điện tử, hệ thống giám sát điện tử: seal điện tử,
Trang 37- Kiến trúc hệ thống được thiết kế trên nền tảng kiến trúc hướng dịch vụ.Các nghiệp vụ được phân rã thành các dịch vụ và các module thành phần đểđảm bảo khả năng định nghĩa lại các luồng nghiệp vụ khi có sự thay đổi vềquy trình nghiệp vụ cũng như dễ dàng hiệu chỉnh ứng dụng khi có thay đổi vềnghiệp vụ hoặc phát sinh thêm nhu cầu tích hợp với các hệ thống mới sao chochi phí hiệu chỉnh thấp và hiệu suất sử dụng cao.
- Có khả năng trao đổi thông tin với các hệ thống của các cơ quan kháccũng như của doanh nghiệp (VD: hệ thống cấp phép và quản lý về chính sáchđiều hành hoạt động xuất/nhập khẩu; trao đổi thông tin quản lý thuế; thanhtoán qua ngân hàng; hệ thống khai hải quan của doanh nghiệp…)
- Có khả năng tiếp nhận thông tin trước để phục vụ các khâu nghiệp vuhải quan đáp ứng khung tiêu chuẩn về an ninh và tạo thuận lợi thương mạicủa WCO
- Trong tầm nhìn chiến lược, hệ thống thông quan hàng hóa phải có kiếntrúc thích hợp để đảm bảo mục tiêu sẵn sàng năm 2012 như đã ký kết trongHiệp định về cơ chế một cửa ASEAN Để đáp ứng được các yêu cầu trên, hệthống thông quan sẽ được xây dựng và triển khai theo định hướng:
- Hệ thống phần mềm tích hợp các chức năng cơ bản của nghiệp vụ hảiquan, được kết nối trao đổi dữ liệu điện tử với các cơ quan quản lý có liênquan
- Có cổng thông tin điện tử để giao tiếp với bên ngoài trong đó ứng dụngtối đa khả năng trao đổi thông tin qua mạng INTERNET
- Đảm bảo xử lý các giao dịch 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần;
- Mức độ an ninh an toàn cao;
b Đối với hệ thống quản lý rủi ro
Trang 38- Xây dựng được kho dữ liệu thông tin thương mại tập trung phục vu choquan lý rủi ro từ nhiều nguồn cơ sở dữ liệu từ trong và ngoài ngành hải quan.
- Có khả năng kết nối với hệ thống của các cơ quan có liên quan và hảiquan các nuớc để trao đổi thông tin phục vụ quản lý rủi ro đảm bảo an ninh,
an toàn
- Có khả năng thu thập, quản lý, khai thác thông tin tình báo
- Có khả năng quản lý được hồ sơ rủi ro hiệu quả.tích hợp hoặc bổ sungthêm các module xử lý thông tin theo cơ chế một cửa hải quan (SingleWindow) trong mô hình chung về cơ chế một cửa hải quan ASEAN (ASEANSingle Window) vào
- Có khả năng phân tích xu hướng trên cơ sở kho dữ liệu để xây dựng hồ
sơ rủi ro phục vụ các quy trình nghiệp vụ hải quan tự động
- Có khả năng quản lý hồ sơ doanh nghiệp, lịch sử các đối tượng có liênquan đến hoạt động xuất nhập khẩu
- Có khả năng kết nối với với hệ thống thủ tục hải quan điện tử để phânluồng và cảnh báo các lô hàng có rủi ro
2.4.2 Yêu cầu cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật của hệ thống công nghệ thông tin
Để hệ thống phần mềm vận hành tập trung, thông suốt đòi hỏi hạ tầng vềCNTT hiện đại, thống nhất:
a Về hạ tầng mạng
- Hệ thống hạ tầng mạng dựa trên mạng WAN của Bộ Tài chính phảiđược kết nối tới tất cả các đơn vị hải quan trong toàn Cục, với Tổng cục, đảmbảo khả năng kết nối của hệ thống 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần; mức độ anninh an toàn mạng, hệ thống cao
Trang 39b Về Trung tâm xử lý dữ liệu
- Trung tâm xử lý dữ liệu chính cho toàn ngành được xây dựng tại Tổngcục hải quan có đủ trang thiết bị máy móc đảm bảo xử lý cho tất cả giao dịch
và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý đáp ứng tối thiểu chuẩn của UPTIMEInstitute về trung tâm dữ liệu từ mức 3 vào năm 2009 và mức 4 vào năm2012
- Xây dựng trung tâm dữ liệu dự phòng đề phòng khi trung tâm dữ liệuchính có sự cố có khả năng thay thế
2.4.3 Yêu cầu về cơ sở pháp lý và nguồn nhân lực
- Ban hành các quy định về khung pháp lý cho thủ tục hải quan điện tử
- Hình thành được tổ chức VAN có năng lực để đảm bảo làm khâu trunggian kết nối dữ liệu điện tử giữa Hải quan và bên ngoài
- Có cơ chế duy trì, vận hành và khai thác hệ thống CNTT Hải quan tincậy;
- Nguồn nhân lực về CNTT đủ để duy trì, vận hành và khai thác hệthống
Trang 40quan tập trung Cải tạo, nâng cấp các trụ sở hiện có là không khoa học và rấttốn kém
2.5.2 Quy mô xây dựng và các điều kiện cần thiết đầu tư
a Mục tiêu
Phấn đấu đến năm 2010, cơ bản hoàn thiện các trụ sở làm việc của cácđơn vị thuộc Cục đạt yêu cầu về vị trí thuận tiện, đủ diện tích làm việc đảmbảo phục vụ tốt công tác hiện đại hóa quản lý hải quan, cải cách thủ tục hànhchính mạnh mẽ cũng như góp phần tăng tốc đô thị hóa của Thành phố
b Các hạng mục cần xây dựng: Trước mắt cần ưu tiên đầu tư xây dựng
- Diện tích được xây dựng: 30% ( 3.000m2)
- Số người làm việc: 503 người
- Quy mô: 20.554m2 sàn; cao từ 11-13 tầng có từ 1 đến 2 tầng hầm, gồm:
1 khối nhà làm việc cao 13 tầng, 1 khối nhà cao 3 tầng: Hội trường; khối phụcvụ: phòng ăn, bếp cụ thể như sau (theo CV trình duyệt quy mô trụ sở Cụcsố: 1439/HQHP-VP ngày 13/3/2007 của Cục HQHP)
- Kế hoạch và tiến độ thực hiện: Năm 2007 – 2008, sẽ khánh thành vàđưa vào sử dụng vào tháng 6 năm 2009
(Chi tiết tại Phụ lục 6 - trang 45 )
b2 Xây dựng Trung tâm kiểm tra container