Khi thực hiện hoạt động này, CTCK đứng ra làm dịch vụ thu nhận và sau đóchi trả cổ tức cho khách hàng, thực hiện các quyền khác cho khách hàng như nhận cổ phiếu thưởng, mua cổ phiếu phát
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 5
1.1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỦ YẾU 5
1.1.1 Khái niệm CTCK và phân loại 5
1.1.1.1 Khái niệm CTCK 5
1.1.1.2 Phân loại CTCK 6
1.1.2 Vai trò và chức năng của CTCK 7
1.1.2.1 Đối với các tổ chức phát hành 7
1.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư 7
1.1.2.3 Đối với TTCK 8
1.1.2.4 Đối với các cơ quan quản lý thị trường 9
1.1.3 Các nghiệp vụ của CTCK 9
1.1.3.1 Môi giới chứng khoán 10
1.1.3.2 Tự doanh chứng khoán 10
1.1.3.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán 10
1.1.3.4 Tư vấn đầu tư chứng khoán 11
1.1.3.5 Các dịch vụ khác 12
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC CTCK 13
1.2.1 Khái quát về năng lực cạnh tranh 13
1.2.1.1 Khái niệm 13
1.2.1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp 14
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của CTCK 15
1.2.2.1 Tiêu chí định tính 16
1.2.2.2 Tiêu chí định lượng 18
1.2.3 Năng lực cạnh tranh trên từng nghiệp vụ của CTCK 20
1.2.3.1 Môi giới chứng khoán 20
1.2.3.2 Tự doanh chứng khoán 20
1.2.3.3 Bảo lãnh phát hành 20
Trang 21.2.3.4 Tư vấn đầu tư chứng khoán 20
1.2.4 Điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCK 21
1.2.4.1 Điều kiện mang tính nhân tố: nguồn nhân lực, nguồn lực tri thức, nguồn lực công nghệ, vốn 21
1.2.4.2 Điều kiện về cầu 22
1.2.4.3 Sự phát triển của các ngành liên quan và phụ trợ 23
1.2.4.4 Yếu tố kinh tế vĩ mô 24
1.2.4.5 Yếu tố văn hóa, xã hội 24
1.3 KINH NGHIỆM CTCK NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 25
1.3.1 Nghiên cứu trường hợp: Tập đoàn Merrill Lynch 25
1.3.2 Bài học kinh nghiệm 29
1.4 SỰ GIA TĂNG CẠNH TRANH TRÊN TTCK VIỆT NAM 30
1.4.1 Sự bùng nổ của TTCK Việt Nam 30
1.4.2 Tính tất yếu nâng cao năng lực cạnh tranh của các CTCK Việt Nam nói chung và Agriseco nói riêng 32
Chương 2: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 35
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 35
2.2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRISECO 36
2.2.1 Tiềm lực tài chính 36
2.2.1.1 Quy mô vốn 36
2.2.1.2 Tăng trưởng lợi nhuận 38
2.2.2 Năng lực công nghệ 43
2.2.2.1 Nền tảng công nghệ 43
2.2.2.2 Khả năng thích ứng với công nghệ mới 43
2.2.3 Nguồn nhân lực 44
2.2.3.1 Quy mô 44
2.2.3.2 Chất lượng nguồn nhân lực 45
2.2.4 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức 46
Trang 32.2.4.1 Hiệu quả quản lý của Ban lãnh đạo 46
2.2.5 Sản phẩm và nghiệp vụ 52
2.2.5.1 Các dịch vụ hiện có 52
2.2.5.2 Nghiên cứu và phát triển các dịch vụ mới 61
2.2.6 Khả năng phản ứng với những cú sốc 63
2.2.6.1 Rủi ro hệ thống 63
2.2.6.2 Rủi ro phi hệ thống 64
2.2.7 Một số tiêu chí khác 66
2.2.7.1 Hoạt động marketing và dịch vụ khách hàng 66
2.2.7.2 Hoạt động đối ngoại và mở rộng khách hàng quốc tế 67
2.3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRISECO 67
2.3.1 Kết quả 67
2.3.1.1 Xây dựng quy trình nghiệp vụ 67
2.3.1.2 Lợi nhuận đạt được qua các năm liên tục tăng 68
2.3.1.3 Quy mô các nghiệp vụ tăng trưởng rõ rệt 68
2.3.1.4 Hoạt động có bài bản 69
2.3.2 Thế mạnh 69
2.3.3 Điểm yếu và nguyên nhân 71
2.3.3.1 Điểm yếu 71
2.3.3.2 Nguyên nhân 73
2.3.4 Cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập 76
2.3.4.1 Bối cảnh mới về TTCK Việt Nam 76
2.3.4.2 Dự báo xu hướng hội nhập và cạnh tranh trên TTCK, cơ hội và thách thức 77
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 80
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN AGRISECO 80
3.1.1 Định hướng phát triển TTCK Việt Nam 80
3.1.2 Định hướng phát triển Agriseco 80
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRISECO 83
Trang 43.2.1 Giải pháp dài hạn 83
3.2.1.1 Tăng cường tiềm lực tài chính 83
3.2.1.2 Cải tiến công nghệ 83
3.2.1.3 Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển để đưa ra các dịch vụ mới 84 3.2.2 Giải pháp trước mắt 85
3.2.2.1 Đổi mới cơ chế quản lý và cơ cấu tổ chức 85
3.2.2.2 Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro 85
3.2.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực 87
3.2.2.4 Công tác marketing và dịch vụ khách hàng 88
3.2.2.5 Hợp tác với các CTCK trong nước và ngoài nước 89
3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỪNG NGHIỆP VỤ 90
3.3.1 Môi giới chứng khoán 90
3.3.2 Tự doanh chứng khoán 90
3.3.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán 91
3.3.4 Tư vấn đầu tư chứng khoán 91
3.4 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN 91
3.4.1 Điều kiện vĩ mô 91
3.4.2 Điều kiện nội tại Agriseco 94
3.4.2.1 Nguồn nhân lực 94
3.3.2.2 Cơ chế trả lương 94
3.3.2.3 Phối hợp giữa Agribank và Agriseco trong hoạt động 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới nhưngmới chỉ được thành lập tại Việt Nam chưa đầy một thập kỷ Trước năm 2000, thuậtngữ TTCK còn khá xa lạ Từ cuối tháng 7 năm 2000, TTCK Việt Nam đi vào hoạtđộng nhưng chưa có dấu hiệu của sự sôi nổi, đối tượng tham gia chủ yếu là cáccông ty chứng khoán (CTCK) và một số ít nhà đầu tư cá nhân Đến cuối năm 2006,TTCK Việt Nam mới thực sự bùng nổ Có được kết quả này là do định hướng pháttriển và hội nhật kinh tế đúng đắn của Đảng và Chính phủ, do môi trường đầu tư tạiViệt Nam ngày càng thuận lợi hơn
Trước cơ hội TTCK Việt Nam phát triển chưa từng thấy, các đối tượng thamgia thị trường đã tận dụng nhiều nguồn lực để đầu tư kiếm lời TTCK Việt Nam đãđược ví như “cỗ máy hái ra tiền” hiệu quả thứ hai trên thế giới, chỉ sau TTCKZimbabwe, đó là lý do khiến giới đầu tư không thể đứng ngoài cuộc Cũng xuấtphát từ lợi ích không nhỏ đó, cuộc cạnh tranh giữa các chủ thể thị trường được đẩylên cao hơn bao giờ hết
Trên phương diện nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoàiliên tục mở tài khoản giao dịch tại các CTCK, số lượng tài khoản và lượng tiền đổvào thị trường tăng vọt theo từng ngày, các CTCK phục vụ hết công suất nhưng đôilúc cũng không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Một số CTCK lớn đã phảihạn chế lượng khách hàng đến giao dịch Trên phương diện trung gian thị trường,các CTCK cũng cạnh tranh nhau gay gắt để giành lấy thị phần Đổi mới công nghệ,miễn và giảm phí môi giới, dịch vụ khách hàng tốt, tặng tiền khi khách hàng mở tàikhoản giao dịch… là những chính sách thu hút khách hàng khá hiệu quả của một sốCTCK mới gia nhập thị trường Với chi phí thành lập và duy trì hoạt động rất lớn,nhiều CTCK mới đã có sự khởi đầu tốt đẹp song lại sớm gặp khó khăn, thậm chíhoạt động cầm chừng trong những giai đoạn thị trường trồi sụt Trái lại, một sốCTCK mới khác đã phát triển bền vững, tăng dần thị phần và khẳng định được vị
Trang 6thế nhờ vào định hướng chiến lược đúng đắn và nắm bắt chính xác nhu cầu kháchhàng Nhóm công ty này thực sự là đối thủ cạnh tranh của một số CTCK lớn đi đầuđang có dấu hiệu chững lại Sức mạnh cạnh tranh còn có thể lớn hơn khi nhiềuCTCK nước ngoài đang chờ cấp phép thành lập và hoạt động trên TTCK Việt Nam.
Công ty Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam (Agriseco) là CTCK thứ 8 ra đời ở nước ta với 100% vốn được cấp từ Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) Ngay từ nhữngngày đầu thành lập, Agriseco có thế mạnh riêng là kinh doanh trái phiếu Đây là thếmạnh, cũng chính là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranhkhông cao của Agriseco trong các nghiệp vụ kinh doanh
Xuất phát từ thực tế đó và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam hiện nay, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” để triển khai luận văn tốt nghiệp chương trình
Cao học về Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về chứng khoán và TTCK trên thế giới đã được thực hiện từ rấtlâu trên nhiều phương diện khác nhau Tại Việt Nam, trước khi xuất hiện TTCK vàotháng 7 năm 2000 cũng đã có những giáo trình, bài viết nhận định và phân tích tổngquan về mặt lý thuyết và một số đánh giá thực tế TTCK thế giới Đến khi TTCKViệt Nam đi vào hoạt động, các bài viết, nghiên cứu, phân tích về thị trường và cácchủ thể thị trường mới đa dạng và đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau
Tuy vậy, những nghiên cứu về CTCK, đặc biệt là năng lực cạnh tranh của cácCTCK chưa nhiều và mới chỉ được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Khoa học
và Đào tạo chứng khoán - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Một số đềtài điển hình như:
- Những vấn đề cơ bản trong việc hình thành và phát triển công ty chứng khoán Việt Nam.
Trang 7- Những cơ sở lý luận thực hiện tin học hoá công tác kế toán tại các công ty chứng khoán.
- Giải pháp tin học quản lý khách hàng tại công ty chứng khoán Việt Nam.
- Giải pháp kết nối thông tin giữa TTGDCK và công ty chứng khoán.
- Vai trò của công ty chứng khoán trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng.
- Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các tổ chức trung gian trong việc hỗ trợ phát hành chứng khoán ra công chúng.
- Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát công ty chứng khoán.
- Giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa công ty chứng khoán và khách hàng.
- Các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán trong điều kiện hội nhập.
Còn lại đa số là các bài báo, phân tích, nhận định mang tính thời sự về chứngkhoán, TTCK và các CTCK đang hoạt động tại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục đích đưa ra đánh giá về năng lực cạnh tranhcủa Agriseco sau bảy năm hoạt động, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnhtranh của Agriseco trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Agriseco trên TTCK Việt Nam;
- Tìm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Agriseco
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Agriseco trên TTCK
Trang 8Việt Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi TTCK Việt Nam, có thamkhảo thông tin về TTCK ở một số quốc gia khác trên thế giới Tác giả tiến hànhnghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến cuối năm 2007
5 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh phương pháp truyền thống là dựa trên quan điểm của Chủ nghĩaMác – Lênin để xem xét các hiện tượng, trong luận văn này, tác giả còn sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau đây để làm rõ các luận điểm của mình
- Phương pháp phân tích SWOT: để làm sáng tỏ thế mạnh, điểm yếu của
Agriseco cũng như những cơ hội, thách thức đặt ra
- Phương pháp lịch sử: để nhìn nhận lại một số vấn đề, thực tế đã diễn ra trong
quá khứ, từ đó xây dựng nền tảng cho các phân tích trong luận văn
- Phương pháp so sánh: để đánh giá năng lực cạnh tranh của Agriseco với các
CTCK khác qua các con số và các hiện tượng
- Phương pháp thống kê: để thu thập và xử lý các số liệu cho phù hợp với mục
đích sử dụng trong luận văn
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của Agriseco sau bảy năm hoạt động;
- Khuyến nghị một số định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agrisecotrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 9CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỦ YẾU 1.1.1 Khái niệm CTCK và phân loại
1.1.1.1. Khái niệm CTCK
TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, có ý nghĩa rất quan trọng đốivới quá trình huy động và sử dụng vốn cho nền kinh tế Để hình thành và phát triểnTTCK có hiệu quả không thể thiếu các chủ thể tham gia kinh doanh trên TTCK.Trên thị trường, chứng khoán được các tổ chức phát hành bán cho nhà đầu tư cũngnhư được mua đi bán lại giữa các nhà đầu tư với nhau Tuy nhiên, giao dịch trênTTCK không phải được thực hiện trực tiếp giữa người mua và người bán mà phảiqua các trung gian chủ yếu là các CTCK Có thể hiểu, CTCK là một tổ chức kinhdoanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và thực hiện các nghiệp vụtrên TTCK
Hiện nay chưa có một định nghĩa nào thực sự rõ ràng về CTCK, nhưng định
nghĩa phổ biến nhất là: “Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”
CTCK đóng vai trò là tổ chức trung gian trong các giao dịch trên TTCK, lànơi kết nối và thực hiện giao dịch giữa người mua và người bán Bên cạnh đó,CTCK còn là trung gian về thông tin, cung cấp thông tin tư vấn, các sản phẩmnghiên cứu nhằm hỗ trợ nhà đầu tư chọn lựa được các chứng khoán cho danh mụcđầu tư của mình CTCK cũng là trung gian về vốn khi đóng vai trò là cầu nối giữanhà đầu tư và tổ chức phát hành,…
Tại Việt Nam, trong Luật Chứng khoán và các nghị định hướng dẫn đều khôngnêu định nghĩa hay khái niệm CTCK Duy chỉ trong Quyết định 27/2007/QĐ-BTC
ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính có quy định: “Công ty chứng khoán là tổ chức có
Trang 10tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”.
1.1.1.2. Phân loại CTCK
Hiện nay trên thế giới, các CTCK có rất nhiều hình thức pháp lý như quốcdoanh, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, liên doanh, doanh nghiệp tư nhân… TheoLuật Chứng khoán hiện hành, các CTCK hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam chỉ cóhai hình thức pháp lý là công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn Quy định nàygiúp CTCK có khả năng huy động vốn lớn và chia sẻ rủi ro trong phạm vi vốn góp
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanhnghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môi trường hoạt động là TTCK -thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường Do hoạt động đa dạng vàphức tạp như vậy nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK ởmỗi quốc gia lại có những điểm khác biệt nhất định tùy theo đặc điểm của hệ thốngtài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người làm chính sách ở quốc gia đó
Nhưng khái quát lại, hai mô hình được áp dụng phổ biến hiện nay là mô hình công
ty đa năng và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
Mô hình công ty đa năng được chia làm hai dạng: đa năng một phần (cácngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con độc lập,hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ) và đa năng hoàn toàn (các ngânhàng thương mại được phép kinh doanh tổng hợp, bao gồm cả tiền tệ, chứng khoán
và bảo hiểm) Mô hình này có ưu điểm là sự kết hợp rất cao, do đó giảm bớt đượcrủi ro cho hoạt động kinh doanh chung bằng việc đa dạng hóa đầu tư Ngoài ra, môhình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước nhữngbiến động trên thị trường tài chính Tuy nhiên ở mô hình đa năng hoàn toàn này tínhchuyên môn hóa không cao, và nếu môi trường luật pháp không chặt chẽ sẽ dễ dẫntới tình trạng lũng đoạn thị trường, kéo theo là khủng hoảng tài chính
Trang 11Ngược lại, theo mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động kinhdoanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vựcchứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được trực tiếp tham gia vào kinhdoanh chứng khoán Mô hình này có ưu điểm là hạn chế được rủi ro cho hệ thốngngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vựcchứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển, tuy nhiên khả năng phân tán rủi rotrong kinh doanh bị hạn chế Mô hình này được áp dụng phổ biến ở các nước Mỹ,Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan… Tuy nhiên do xu thếhình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên ngày nay một số thị trường cũngcho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm nhưngđược tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con, có sự quản lý, giám sát chặtchẽ và hoạt động tương đối độc lập với nhau Hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng
mô hình công ty đa năng một phần
1.1.2 Vai trò và chức năng của CTCK
1.1.2.1 Đối với các tổ chức phát hành
- Hỗ trợ chuyên môn thông qua tư vấn: CTCK cung cấp cho doanh nghiệpcác giải pháp tổng hợp về tài chính công ty, cơ cấu lại doanh nghiệp, lập và đánhgiá dự án, quản lý tài sản và định hướng đầu tư
- Tạo cơ chế huy động vốn: Mục tiêu của các tổ chức phát hành khi tham giavào TTCK là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Vì thế, quahoạt động bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành, CTCK cung cấp cơ chế huy độngvốn phục vụ đối tượng khách hàng này
1.1.2.2 Đối với các nhà đầu tư
- Kiểm soát rủi ro trong hoạt động đầu tư: TTCK là thị trường của những sảnphẩm tài chính, để thẩm định chất lượng và giá cả của chúng thì cần phải thu thập,
xử lý thông tin Vì thế CTCK có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xácgiá trị khoản đầu tư của mình Với dịch vụ tư vấn, CTCK trở thành một kênh thôngtin hiệu quả cho nhà đầu tư Những thông tin này bao gồm giá cả các loại cổ phiếu,
Trang 12trái phiếu, tình hình chính sách, môi trường kinh tế trong và ngoài nước Nhữngthông tin này được CTCK cung cấp chính xác và kịp thời, là cơ sở để các nhà đầu tưthực hiện các quyết định mua bán của mình.
- Đảm bảo an toàn trong giao dịch: Thông qua việc lưu ký và đăng ký chứngkhoán, các CTCK nắm được thông tin về các chứng khoán và tỷ lệ sở hữu chứngkhoán của nhà đầu tư, từ đó kịp thời đưa ra các quyết định xử lý khi tỷ lệ này vượtquá mức quy định của pháp luật hiện hành Cũng qua hoạt động này, CTCK cungcấp cho nhà đầu tư những thông tin về chứng khoán bị mất cắp hay không còn giátrị lưu hành, đảm bảo cho các chứng khoán mua bán là các chứng khoán thực nhằmbảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Khi giao dịch chứng khoán được thực hiện, cácCTCK tiến hành chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán tiền giữa cácbên tham gia giao dịch Như vậy, CTCK làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho cácgiao dịch chứng khoán
1.1.2.3 Đối với TTCK
- Góp phần tạo lập giá cả và điều tiết thị trường: Giá cả là do thị trường quyếtđịnh, nhưng để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông quaCTCK vì họ không được trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán Ngoài ra, CTCKcòn thực hiện vai trò ổn định thị trường, can thiệp để điều tiết giá cả Vai trò nàyxuất phát từ nghiệp vụ tự doanh, qua đó CTCK dành một tỷ lệ nhất định các giaodịch của mình (do luật pháp quy định) để thực hiện vài trò bình ổn thị trường
- Là tác nhân tạo hàng hoá và tính hấp dẫn của hàng hoá cho TTCK Trên thịtrường sơ cấp, bằng hoạt động bảo lãnh phát hành, CTCK tham gia vào quá trìnhtạo hàng hoá cho thị trường Với chuyên môn và uy tín của mình, cổ phiếu và tráiphiếu khi được CTCK bảo lãnh phát hành sẽ rút ngắn thời gian phát hành và nhanhchóng được giao dịch Trong quá trình bảo lãnh, CTCK định giá chứng khoán chođợt phát hành phù hợp với thực trạng của tổ chức phát hành và tình hình thị trường,đồng thời bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu Điều này khiến chứngkhoán được nhà đầu tư tín nhiệm hơn Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tư vấn
Trang 13của CTCK trên thị trường thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho chứng khoán, làmcho chúng hấp dẫn hơn trong con mắt của nhà đầu tư Từ đó tác động trở lại, tạođiều kiện cho các doanh nghiệp tiếp tục phát hành trên thị trường sơ cấp.
1.1.2.4 Đối với các cơ quan quản lý thị trường
Mục tiêu của các cơ quan quản lý, giám sát thị trường là đảm bảo giao dịch
an toàn và kiểm soát thị trường CTCK có vai trò cung cấp thông tin cho các cơquan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó Các CTCK thực hiện được vai trònày vì họ vừa là người phân phối các chứng khoán mới phát hành thông qua hoạtđộng bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành, vừa là trung gian mua bán chứngkhoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường Một trong những yêu cầu củaTTCK là các thông tin phải được công khai hoá dưới sự giám sát của các cơ quanquản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp,vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì CTCK cần phải minh bạch và côngkhai trong hoạt động của mình Các thông tin mà CTCK có thể cung cấp bao gồmthông tin về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, tráiphiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư… Nhờ các thông tin này,các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng
và lũng đoạn thị trường
CTCK cùng với hoạt động của mình trên TTCK không chỉ tạo ra lợi ích kinh
tế cho các chủ thể tham gia thị trường mà còn tạo ra lợi ích kinh tế cho toàn xã hội
Đó là việc giảm chi phí giao dịch, lưu thông các dòng chảy tài chính, từ đó thúc đẩy
từ tiết kiệm sang đầu tư cho nền kinh tế
1.1.3 Các nghiệp vụ của CTCK
Hoạt động của CTCK rất đa dạng và phong phú với nhiều sản phẩm, dịch vụ
để thích ứng với sự phát triển của TTCK Để tham gia thị trường, các CTCK có thểthực hiện một, một vài hoặc tất cả các hoạt động sau:
Trang 141.1.3.1 Môi giới chứng khoán
Là việc CTCK làm trung gian môi giới giúp khách hàng mua và bán chứngkhoán, qua đó hưởng hoa hồng trên tổng doanh số mà khách hàng thực hiện muabán và chính khách hàng phải tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình
Hoạt động môi giới cung cấp cho khách hàng thông tin và các khuyến nghịđầu tư, cũng qua hoạt động môi giới, CTCK chuyển đến nhà đầu tư các sản phẩm vàdịch vụ tài chính
1.1.3.2 Tự doanh chứng khoán
Hoạt động tự doanh chứng khoán là hoạt động kinh doanh của CTCK, trong
đó CTCK mua bán chứng khoán cho chính mình Khi thực hiện hoạt động tự doanh,công CTCK có nhiều mục tiêu khác nhau Nó có thể là đầu tư hưởng chênh lệch giá,đầu tư nắm quyền kiểm soát, bình ổn giá chứng khoán hoặc tạo thị trường cho cácchứng khoán mới phát hành
Hoạt động này diễn ra song song với hoạt động môi giới, vừa phục vụ lệnhgiao dịch của khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho giao dịch của chính mình Vìvậy, trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa khách hàng vàbản thân CTCK Do đó, luật pháp các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa hoạtđộng môi giới và tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trướckhi thực hiện lệnh của mình Vì vậy đòi hỏi CTCK phải có nguồn vốn lớn và độingũ nhân viên có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn, có khả năng phântích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò
là nhà tạo lập thị trường Khoản thu từ hoạt động tự doanh đến từ hai nguồn: Cổtức/trái tức và lãi vốn, nhưng phần thu từ lãi vốn là chủ yếu
1.1.3.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Để thực hiện thành công đợt phát hành chứng khoán, tổ chức phát hành cầnđược các CTCK tư vấn cho đợt phát hành, thực hiện bảo lãnh phát hành, phân phốichứng khoán ra công chúng và bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu Đó
Trang 15chính là hoạt động bảo lãnh phát hành của CTCK và là hoạt động chiếm tỷ lệ doanhthu khá lớn trong tổng thu của CTCK.
Các khoản thu từ nghiệp vụ này được xuất phát từ các nguồn:
- Thu phí bảo lãnh phát hành, được tính bằng một tỷ lệ nhất định trên doanh
số bảo lãnh phát hành
- Chênh lệch giá trong quá trình phân phối chứng khoán
- Phí quản lý, nếu CTCK là nhà bảo lãnh phát hành chính trong tổ hợp bảolãnh phát hành
1.1.3.4 Tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là hoạt động phân tích, đưa ra các khuyến nghịliên quan đến chứng khoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liênquan đến chứng khoán
Trong hoạt động tư vấn đầu tư, CTCK cung cấp thông tin, cách thức đầu tư
và loại chứng khoán cần đầu tư đối với các khách hàng của mình Hoạt động nàyđòi hỏi nhiều kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của các CTCK Mặt khác, tínhtrung thực của CTCK có tầm quan trọng lớn trong việc thu hút khách hàng
Hoạt động tư vấn là hoạt động mà người tư vấn sử dụng kiến thức, chính làvốn chất xám nhằm đem lại cho khách hàng các quyết định đầu tư đúng đắn nhất.Người tư vấn cần phải hết sức thận trọng trong việc đưa ra những khuyến cáo chokhách hàng, vì từ những khuyến cáo đó khách hàng có thể thu về lợi nhuận hoặcthua lỗ, còn người tư vấn vẫn thu về cho mình phí dịch vụ tư vấn bất kể kết quảkinh doanh của khách hàng có thành công hay không CTCK có thể cung cấp dịch
vụ tư vấn cho nhiều đối tượng như tổ chức phát hành, người đầu tư tổ chức hoặc
cá nhân…
Nguồn thu từ hoạt động này được hình thành từ phí tư vấn, thường được tínhtrên tỷ lệ phần trăm doanh số giao dịch chứng khoán của khách hàng
1.1.3.5 Các dịch vụ khác
Trang 16Bên cạnh các hoạt động nghiệp vụ chính, CTCK còn thực hiện một số cáchoạt động phụ trợ để cung cấp cho khách hàng Có thể kể đến một vài hoạt độngphụ trợ sau:
a, Lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là hoạt động nhằm lưu giữ, bảo quản chứng khoán củakhách hàng thông qua các tài khoản lưu ký và giúp khách hàng thực hiện các quyềncủa mình đối với chứng khoán Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứngkhoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung được thực hiện dướihình thức giao dịch ghi sổ Khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tạicác CTCK nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ hoặc ký gửi các chứngkhoán nếu chúng được phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất Khi thực hiệnhoạt động lưu ký cho khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản phí như phí lưu
ký và chuyển nhượng chứng khoán
b, Quản lý quyền
Hoạt động này của CTCK xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho kháchhàng Khi thực hiện hoạt động này, CTCK đứng ra làm dịch vụ thu nhận và sau đóchi trả cổ tức cho khách hàng, thực hiện các quyền khác cho khách hàng như nhận
cổ phiếu thưởng, mua cổ phiếu phát hành thêm…
c, Hoạt động tín dụng
Đối với TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán chokhách hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho khách hàng vaychứng khoán để thực hiện giao dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền đểthực hiện mua chứng khoán Ở Việt Nam hiện nay, các CTCK không được thựchiện hoạt động tín dụng, do đó, các CTCK không được trực tiếp thực hiện dịch vụnày Vì vậy, CTCK đứng ra làm trung gian giúp khách hàng tiếp cận và vay vốn củangân hàng, đồng thời CTCK giúp ngân hàng phong tỏa các chứng khoán làm tài sảnthế chấp cho các khoản vay
d, Quản lý danh mục đầu tư
Trang 17Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của những người đầu
tư, được ủy thác cho công ty quản lý quỹ đầu tư quản lý và đầu tư vào chứng khoánnhằm đem lại lợi ích cho những người đầu tư vào quỹ
Ở một số TTCK, pháp luật cho phép CTCK được thực hiện hoạt động quản
lý danh mục đầu tư Theo đó, CTCK cử đại diện của mình quản lý quỹ Ngoài cáchoạt động trên, CTCK còn tham gia vào một số hoạt động khác (ví dụ như kinhdoanh bảo hiểm) theo quy định của pháp luật từng nước
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC CTCK
1.2.1 Khái quát về năng lực cạnh tranh
1.2.1.1. Khái niệm
a, Cạnh tranh
Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay
các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợinhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác Thuật ngữcạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế,thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao Cạnh tranh có thể là giữa hai haynhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữnày được sử dụng Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau Một vài kếtquả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thểthúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vì chúng có cơ hội, được cungcấp lợi thế cho sự sống sót, tồn tại
Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế(nhà sản xuất/cung cấp dịch vụ, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thếtương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ để thu đượcnhiều lợi ích nhất Đối với nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ thì lợi ích đó là lợinhuận và thị phần, còn đối với người tiêu dùng thì đó là độ thỏa dụng Cạnh tranh
có thể xảy ra giữa những nhà cung cấp dịch vụ với nhau khi giành thị phần hoặc có
Trang 18thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bánhàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp.
b, Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế củadoanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi củakhách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tốnội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ,tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cầnđánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực,cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trongdoanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng vớicác đối tác cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnhtranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình.Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàngmục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh
1.2.1.2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủtất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặtnày và có hạn chế về mặt khác Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết đượcđiều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốtnhất những đòi hỏi của khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong mộtdoanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh
nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin… Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần
phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạtđộng khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng Cácdoanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có
Trang 19các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổnghợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm:giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sảnphẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại; năng lực nghiên cứu
và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phầnsản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài chính; năng lực tổchức và quản trị doanh nghiệp
1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của CTCK
Năng lực cạnh tranh của CTCK là thể hiện thực lực và lợi thế của công ty sovới đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng vàtăng thị phần ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranh của CTCK trước hếtphải được tạo ra từ thực lực của công ty Đây là các yếu tố nội hàm, không chỉ đượctính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanhnghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranhtrong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếunhững điểm mạnh và điểm yếu bên trong công ty được đánh giá không thông quaviệc so sánh tương ứng với các đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốntạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi CTCK phải tạo lập được lợi thế so sánh với đốithủ của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏicủa khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh
Thực tế cho thấy, không một CTCK nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cảnhững yêu cầu của khách hàng Thường thì CTCK có lợi thế về mặt này và có hạnchế về mặt khác Vần đề cơ bản là, công ty phải nhận biết được điều này và cố gắngphát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏicủa khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một CTCK được biểuhiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty như marketing, năng lựctài chính, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…
1.2.2.1. Tiêu chí định tính
Trang 20a, Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có thể được xếp vào tiêu chí định lượng khi xét về số lượngnhân viên Tuy nhiên, đó chỉ là phần nổi Đánh giá nguồn nhân lực chủ yếu đượcdựa trên chất xám và hiệu quả hoạt động của họ
Khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, nhân viên của CTCK thường xuyênphải độc lập ra những quyết định Đối với nghiệp vụ tự doanh, một quyết định cógiá trị hàng tỷ đồng chỉ trong thời gian tính bằng giây, bằng phút Chính vì vậy nhânviên kinh doanh phải có kinh nghiệm cũng như trình độ chuyên môn nhất định, khảnăng tự quyết cao và đặc biệt là sự “nhạy cảm” đối với thị trường
b, Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức
Mọi hoạt động kinh doanh được thực hiện đều phải tuân thủ chiến lược đầu tưnói riêng và chiến lược hoạt động tổng thể của CTCK nói chung Việc hoạch địnhnên những chiến lược này mang đậm dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo, nhất là phong cáchcủa người đứng đầu Quan điểm khác nhau sẽ dẫn đến việc hoạch định chiến lượchoạt động khác nhau, cách thức tổ chức bộ máy kinh doanh khác nhau, lựa chọnchiến lược đầu tư khác nhau và do đó kết quả kinh doanh cũng sẽ khác nhau
CTCK là một định chế tài chính đặc biệt, vì vậy hoạt động của CTCK rất đadạng và phức tạp Việc tổ chức quản lý của công ty có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả hoạt động nói chung và hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty nói riêng
Do các hoạt động của CTCK có đặc thù là độc lập nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất địnhtới nhau nên cơ cấu tổ chức của CTCK phải đáp ứng được yêu cầu cơ bản là chuyênmôn hóa ở mức độ cao, mỗi bộ phận chỉ chuyên trách một hoạt động cụ thể
Một CTCK muốn hoạt động tốt ngoài việc đáp ứng yêu cầu chuyên môn hoácòn phải tổ chức sao cho các bộ phận chuyên môn phối hợp nhịp nhàng với nhau.Mọi hoạt động của CTCK có thể trở nên hỗn loạn trước những biến động bất ngờcủa thị trường nếu chúng không được sắp xếp hợp lý bởi một chiến lược rõ ràng vàmột định hướng ưu tiên có cơ sở
c, Mức độ cạnh tranh và hợp tác giữa các CTCK
Trang 21Nền kinh tế thị trường mang trong mình đặc trưng cạnh tranh Cạnh tranhcủng cố thêm sức mạnh cho các thành phần tham gia Cạnh tranh giúp các doanhnghiệp tăng thị phần Các CTCK cũng không thể hoạt động mà không có cạnh tranh
ở nơi được ví như một “chiến trường” Mức độ cạnh tranh càng cao thì năng lựccạnh tranh của các CTCK càng phải tốt mới hy vọng tạo chỗ đứng nhất định trongtâm trí khách hàng Các doanh nghiệp không trụ được trong cuộc chiến giành thịphần tất yếu sẽ phải rời bỏ cuộc chơi hoặc bị mua lại, sáp nhập, hoạt động dưới sựquản lý mới hiệu quả hơn
Bên cạnh mức độ cạnh tranh là sự hợp tác giữa các đối thủ cạnh tranh đểcùng phát triển và tiếp tục cạnh tranh lành mạnh hơn Hợp tác giúp trao đổi kinhnghiệm, học hỏi các kiến thức mới, mở rộng nguồn khách hàng tiềm năng hoặcđơn thuần chỉ là tạo dựng các mối quan hệ phục vụ cho chiến lược lâu dài trongtương lai
Việc hợp tác phải ở chừng mực không làm ảnh hưởng đến sự cạnh tranh lànhmạnh, không tạo ra những liên minh chính thức hay ngầm định nhằm tạo ra sự độcquyền hay cạnh tranh không bình đẳng Những sự hợp tác như thế một mặt làmgiảm sự lành mạnh của môi trường cạnh tranh, mặt khác thường dẫn đến trì trệ,chậm thích ứng với những đổi mới và cải tiến
d, Khả năng phản ứng với những cú sốc
Hoạt động kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực đều ẩn chứa rủi ro, đặc biệtđối với các ngành nghề liên quan đến ngân hàng, tài chính - nơi niềm tin và sự nhạycảm là yếu tố tác động rất lớn
Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á mà trọng tâm là tại Đông Á những nămcuối thập kỷ 90 của thế kỉ trước có thể coi là một cú sốc lớn trong lĩnh vực ngânhàng, tài chính Châu Á Dư âm và hậu quả nặng nề của cú sốc đó đến nay vẫn còn
và ảnh hưởng chung đến tình hình kinh tế thế giới Nhiều thị trường chứng khoánChâu Á vẫn chưa thể lấy lại được “phong độ” như trước khi khủng hoảng xảy ra
Tất nhiên, khủng hoảng và những cú sốc hiếm khi xảy ra và các quốc gia
Trang 22cũng nỗ lực hết sức để ngăn chặn Nói vậy không có nghĩa là người ta được phépchủ quan Chuẩn bị đối phó với các rủi ro không bao giờ thừa, đặc biệt trong điềukiện kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế đang diễn ra rất nhanh và có nhiềuràng buộc, ảnh hưởng lẫn nhau.
Ở tầm vi mô, các cú sốc ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp đến hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp Các CTCK, nơi thông qua đó, công chúng đặt niềm tinvào TTCK sẽ chịu tác động sớm từ nhiều phía khi khủng hoảng xảy ra Chính vìthế, chuẩn bị mọi nguồn lực và phương sách đối phó với rủi ro là công tác quantrọng được đặt lên hàng đầu để giảm thiểu thiệt hại do khủng hoảng gây ra
Năng lực phản ứng với những cú sốc có thể bao gồm các công cụ trong hệthống quản trị rủi ro của CTCK và các công cụ kế hoạch của công ty Quản trị rủi ro
và dùng kế hoạch là công cụ điều hành sẽ là “vũ khí” có hiệu quả để đối phó vớitừng cú sốc, với từng loại rủi ro khác nhau, mang đến sức mạnh cạnh tranh khôngnhỏ của các trung gian hoạt động trên TTCK nói chung và các CTCK nói riêng
1.2.2.2. Tiêu chí định lượng
a, Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính của một CTCK bao gồm các chỉ tiêu như: vốn điều lệ, vốnchủ sở hữu, tổng tài sản, các khoản nợ, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận Bêncạnh đó còn là các chỉ tiêu khác như Tài sản cố định (lưu động)/Tổng tài sản, Tỷsuất lợi nhuận trên doanh thu, Tỷ suất lợi nhuận trên vốn, Nợ phải trả/Tổng tài sản,Khả năng thanh toán (hiện thời, thanh toán nhanh, thanh toán bằng tiền)
Khả năng tài chính luôn là yếu tố hàng đầu trong mọi hoạt động của CTCK,đặc biệt, hoạt động tự doanh và bảo lãnh phát hành đòi hỏi công ty phải có mộtlượng vốn rất lớn CTCK khi triển khai hoạt động tự doanh không chỉ mua mộthoặc hai loại chứng khoán có triển vọng thu lời cao mà phải xây dựng cho mình mộtdanh mục đầu tư nhằm giảm thiểu các rủi ro, vì vậy trong danh mục này thường baogồm khá nhiều loại chứng khoán thuộc các ngành nghề khác nhau Mặt khác, sốlượng chứng khoán trong danh mục cũng phải tương đối lớn để công ty có khả năng
Trang 23thu được lợi nhuận đề ra Trong trường hợp tạo lập thị trường, CTCK cũng cần nắmgiữ một số lượng chứng khoán đủ lớn cũng như lượng tiền mặt dồi dào để sẵn sàngmua bán nhằm điều tiết được giá cả trên thị trường Vì vậy, khả năng tài chính tốthoặc có một chỗ dựa tài chính vững chắc là rất cần thiết
b, Năng lực công nghệ
Năng lực công nghệ cũng có thể được coi là một trong các tiêu chí định tính,bởi công nghệ một phần là máy móc, thiết bị Phần còn của công nghệ là các phátkiến, sáng chế, cách thức vận dụng, ứng dụng… Chính vì vậy, trong luận văn này,tác giả xếp năng lực công nghệ vào nhóm tiêu chí định lượng
Trong thời đại hiện nay, công nghệ thông tin trở thành một yếu tố không thểthiếu trong tiến trình phát triển của nhân loại Để kinh doanh thành công, các CTCKluôn phải chạy đua để nắm bắt được thông tin một cách nhanh nhất, vì vậy mà việc
áp dụng công nghệ thông tin đối với CTCK trở nên rất quan trọng
Bên cạnh phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật cũng hỗ trợ rất nhiều cho cácCTCK trong quá trình ra quyết định tự doanh, tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành Việc thống kê số liệu, sử dụng số liệu trong những khoảng thời gian dài để phântích và dự đoán những biến động giá trong tương lai của một loại chứng khoánkhông hề đơn giản Chính vì thế, việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ để phân tích sẽrất hữu hiệu và việc phát triển công nghệ đã và đang trở thành mối quan tâm hàngđầu của các CTCK
c, Mức độ đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ
Đa dạng ở đây được hiểu là sự phát triển đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ củacông ty (Môi giới chứng khoán, Tự doanh chứng khoán, Bảo lãnh phát hành chứngkhoán, Tư vấn đầu tư chứng khoán) và các sản phẩm phụ khác Không chỉ là tiêuchí đánh giá mức độ phát triển, sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh còn thể hiệnkhả năng giảm thiểu rủi ro của CTCK khi tham gia thị trường và khả năng chiếmlĩnh thị phần của đối thủ cạnh tranh
Trang 241.2.3 Năng lực cạnh tranh trên từng nghiệp vụ của CTCK
1.2.3.1. Môi giới chứng khoán
Đối với nghiệp vụ Môi giới chứng khoán, năng lực cạnh tranh của CTCK thểhiện ở:
- Cơ sở khách hàng: khách hàng lớn, khách hàng quen thuộc, khách hàngtiềm năng
- Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ giao dịch: giao dịch trực tuyến, giaodịch qua tin nhắn điện thoại, giao dịch qua điện thoại bàn
- Chất lượng đội ngũ cán bộ môi giới của doanh nghiệp
1.2.3.2. Tự doanh chứng khoán
Năng lực cạnh tranh trong nghiệp vụ Tự doanh của CTCK thể hiện qua:
- Tiềm lực tài chính: vốn điều lệ, tổng tài sản
- Quy mô đầu tư (vốn cho đầu tư), đối tượng đầu tư (cổ phiếu – trái phiếu) vàloại hình đầu tư (ngắn hạn – dài hạn)
- Chất lượng đội ngũ cán bộ tự doanh của doanh nghiệp
1.2.3.3. Bảo lãnh phát hành
Sức cạnh tranh trong nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành của CTCK được thể hiệnqua các chỉ tiêu như:
- Tiềm lực tài chính: vốn điều lệ, vốn khả dụng
- Quan hệ khách hàng: khách hàng lớn, khách hàng tổ chức, đối tác chiến lược
- Đối tượng bảo lãnh phát hành (Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp…)
1.2.3.4.Tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là một nghiệp vụ đòi hỏi nhiều chất xám, do vậynăng lực cạnh tranh của CTCK trong nghiệp vụ này thể hiện ở các chỉ tiêu sau:
Trang 25- Chất lượng cán bộ tư vấn.
- Mức độ đa dạng các loại hình tư vấn (tư vấn cổ phần hóa, tư vấn định giádoanh nghiệp, tư vấn niêm yết…)
- Mức độ thu phí các dịch vụ tư vấn
1.2.4 Điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCK
1.2.4.1. Điều kiện mang tính nhân tố: nguồn nhân lực, nguồn lực tri thức,
nguồn lực công nghệ, vốn
a, Nguồn nhân lực
Lợi thế cạnh tranh về yếu tố nguồn nhân lực trong lĩnh vực chứng khoán thểhiện qua các chỉ tiêu như: quy mô đào tạo hàng năm, trình độ, kỹ năng của đội ngũsinh viên được đào tạo trong lĩnh vực chứng khoán khi ra trường và khả năng đápứng yêu cầu phát triển của các CTCK ở một nước; số lượng các chuyên gia chứngkhoán, các nhà quản lý công ty giàu kinh nghiệm, có trình độ cao; các chuyên viênnước ngoài đến làm việc Lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ởtrình độ theo bằng cấp, mà còn thể hiện ở động cơ, ý thức và tác phong làm việc,khả năng học tập và tự đào tạo, mức độ cam kết với ngành Các phẩm chất quantrọng của nguồn nhân lực có thể kể ra là sự trung thực, độ tin cậy, tính cẩn thận vàtinh thần sẵn sàng tiếp thu tư tưởng mới trong quá trình đáp ứng về dịch vụ củakhách hàng
Đánh giá về nguồn nhân lực còn bao gồm cả việc đánh giá các chỉ tiêu nhưmức lương bình quân, các chế độ lương thưởng, thời gian làm việc theo quy địnhcủa Bộ luật Lao động, các quy định có liên quan và so sánh với điều kiện ở cácnước có môi trường tương đương
b, Nguồn lực tri thức
Nguồn lực tri thức trong lĩnh vực chứng khoán thể hiện ở số lượng cáctrường đại học, các viện đào tạo và nghiên cứu về chứng khoán và hoạt động kinhdoanh chứng khoán; số lượng và chất lượng các ấn phẩm khoa học, các công trình
Trang 26nghiên cứu về lĩnh vực chứng khoán; các cơ sở dữ liệu, các trung tâm lưu trữ vàcung cấp thông tin trong lĩnh vực chứng khoán; các tổ chức đánh giá, xếp hạngdoanh nghiệp.
Các chỉ tiêu đánh giá tác động của nguồn lức tri thức đến lợi thế cạnh tranhcủa CTCK có thể bao gồm: các công trình nghiên cứu hàng năm trong lĩnh vựcchứng khoán và mức độ ứng dụng cũng như khả năng tạo ra những cải tiến và đổimới đối với các hoạt động của CTCK; hệ thống cơ sở dữ liệu về hoạt động của cácdoanh nghiệp và hiệu quả cung cấp thông tin đầu vào để xử lý các số liệu và dữ kiệnliên quan đến mức độ rủi ro của khách hàng…
c, Yếu tố công nghệ
Công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, là thành phần quan trọng nhấttrong các yếu tố cơ sở hạ tầng cần thiết trong lĩnh vực tài chính và chứng khoán.Môi trường công nghệ thông tin quốc gia có thể được phản ánh thông qua các chỉtiêu như số lượng và trình độ nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin; dunglượng đường truyền quốc gia; tính ổn định của đường truyền; các quy định pháp lýliên quan đến bảo mật, đến các giao dịch điện tử; mức độ tin học hóa trong cácdoanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý; mức độ tin học hóa trong cộng đồngdân cư (thể hiện qua trình độ sử dụng công nghệ thông tin của người dân, số lượngmáy tính trên đầu người…) Đây là những điều kiện mang tính cơ sở cho việc triểnkhai các dịch vụ hiện đại
d, Điều kiện về vốn
Điều kiện này thể hiện rõ nhất ở sự phát triển của hệ thống tài chính quốcgia Điều kiện về vốn còn được thể hiện qua mức tiết kiệm trong dân cư phản ánhtổng quan về lượng cung vốn của nền kinh tế, khả năng huy động các nguồn vốn hỗtrợ từ bên ngoài
1.2.4.2. Điều kiện về cầu
Ngành chứng khoán là một ngành dịch vụ cung cấp một số lượng lớn, đa
Trang 27dạng các loại hình dịch vụ khác nhau Cầu đối với dịch vụ chứng khoán vì thế cũngrất đa dạng và phong phú Khách hàng của CTCK là các tổ chức lớn trong nước vànước ngoài và một bộ phận lớn cư dân Đánh giá về cầu đối với dịch vụ chứngkhoán vì thế là một việc làm rất phức tạp Cầu trong nước trên phương diện là mộtyếu tố trong môi trường quốc gia tác động đến năng lực cạnh tranh của hệ thống cácCTCK ở những khía cạnh sau:
- Cấu trúc cầu trong nước đối với các dịch vụ chính của CTCK là: cầu vềdịch vụ môi giới, dịch vụ lưu ký, dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh phát hành…
- Quy mô của tổng cầu và tốc độ tăng trưởng cũng như mức độ bão hòa củacầu: là yếu tố kích thích đầu tư và thu hút những thành viên mới tham gia thị trường
- Cơ chế chuyển đổi cầu trong nước thành cầu quốc tế và ngược lại là mộtkhía cạnh mới khi nghiên cứu về cầu Nhu cầu đối với các sản phẩm, dịch vụ, đặcbiệt là các sản phẩm, dịch vụ tài chính, chứng khoán có khả năng di chuyển rất caocùng với sự di chuyển của các luồng vốn quốc tế, các hoạt động thanh toán quốc tếlàm cho cầu trong nước và cầu quốc tế có mối liên hệ rất mật thiết
1.2.4.3. Sự phát triển của các ngành liên quan và phụ trợ
Chứng khoán là ngành liên quan đến nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốcdân Những ngành có mối quan hệ phụ trợ và có liên kết mật thiết có thể kể đến là ngânhàng - tài chính, công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, dịch vụ kiểm toán…
Trình độ phát triển của các ngành liên quan và phụ trợ kể trên có tác độngtrực tiếp đến sự phát triển của lĩnh vực chứng khoán Thị trường tiền tệ hay các địnhchế tài chính phát triển vừa tạo áp lực buộc ngành chứng khoán phát triển, mặt kháctạo ra cơ hội hợp tác nghiên cứu, triển khai những ứng dụng công nghệ mới tronglĩnh vực tài chính - tiền tệ nói chung, nhờ đó các bên cùng có lợi và cùng phát triển
Bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin phát triển sẽ tạo lợi thế cho ngànhchứng khoán trong việc tiến hành cải cách, đổi mới nhằm giảm chi phí giao dịch,ứng dụng công nghệ hiện đại tạo cơ sở cho sự khác biệt hóa sản phẩm và dịch vụ
Trang 28Dịch vụ kiểm toán cũng là ngành phụ trợ quan trọng của ngành chứng khoán.Dịch vụ kiểm toán phát triển sẽ góp phần tăng cường công tác thẩm định báo cáo tàichính của các CTCK, về năng lực tài chính của các doanh nghiệp tham gia trên cácsàn giao dịch và ngoài sàn giao dịch, trên cơ sở đó kiểm soát chặt chẽ được tínhchính xác của thông tin tài chính.
1.2.4.4. Yếu tố kinh tế vĩ mô
Trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính - chứng khoán, môi trường kinh tế vĩ
mô có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của toàn bộ hệ thống các CTCK Vì thế,khi phân tích về năng lực cạnh tranh của các CTCK, chúng ta không thể không phântích đến các yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô
Chứng khoán là một ngành chứa đựng nhiều rủi ro Mỗi một biến động bấtlợi của môi trường kinh tế vĩ mô đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động bình thườngcủa các CTCK và tâm lý của các nhà đầu tư Một nước có nền kinh tế phát triển ổnđịnh, tốc độ tăng trưởng cao, các chỉ số về lạm phát, lãi suất, tỷ giá phát triển ổnđịnh sẽ là một điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển của TTCK nói chung vàcác CTCK nói riêng Ngược lại, sự bất ổn về kinh tế có thể tạo ra sự dè dặt, co cụmnhững nỗ lực đầu tư của các CTCK cũng như của khách hàng
Nghiên cứu các chỉ tiêu của môi trường kinh tế vĩ mô cũng như chiều hướngphát triển của toàn bộ nền kinh tế còn là cơ sở quan trọng để các nhà chiến lượchoạch định chiến lược đầu tư, đổi mới của mình
1.2.4.5. Yếu tố văn hóa, xã hội
Năng lực cạnh tranh, đặc biệt là năng lực cạnh tranh quốc tế của một ngành cóthể bị tác động rất nhiều bởi một số yếu tố về văn hóa, xã hội Những đặc điểm đó tácđộng đến nhiều mặt của một ngành và trong lĩnh vực chứng khoán, tác động đến nhiềunhất đến yếu tố con người thông qua việc tác động đến nhu cầu và nguồn nhân lực
Những đặc điểm xã hội ảnh hưởng đến cầu đối với dịch vụ chứng khoán cóthể kể đến như lòng tin của dân chúng, thói quen tiêu dùng và tiết kiệm, trình độ
Trang 29dân trí và mức độ hiểu biết về các dịch vụ chứng khoán, mức thu nhập của ngườidân Bên cạnh đó, những đặc điểm về văn hóa (quan điểm về doanh nhân và kinhdoanh, về sự giàu có, về sự thăng tiến, đạo đức nghề nghiệp, học tập và tự đào tạo,
sự gắn bó với nghề nghiệp, quan điểm về rủi ro và sự thất bại) tạo ra ảnh hưởng đếncầu dịch chứng khoán, theo đó tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực này
1.3 KINH NGHIỆM CTCK NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.3.1 Nghiên cứu trường hợp: Tập đoàn Merrill Lynch
Việc phân tích năng lực cạnh tranh của một CTCK trong nước trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế nhất thiết phải được gắn với việc phân tích năng lực cạnhtranh của CTCK nước ngoài điển hình Trong khuôn khổ luận văn này, tác giảnghiên cứu trường hợp Tập đoàn Merrill Lynch
Được thành lập năm 1914 dưới tên Charles E Merrill & Co, đến nay, saugần 100 năm hoạt động, đội ngũ nhân viên của Merrill Lynch đã lên đến hơn 63.100người Merrill Lynch nằm trong số các công ty hàng đầu về chứng khoán, quản lýtài sản, tư vấn và hoạt động trên thị trường vốn hàng đầu của Mỹ và thế giới
Mạng lưới hoạt động của Merrill Lynch trải trên 40 quốc gia với các vănphòng đại diện và các công ty thành viên Có thể coi đó là sức mạnh trên thị trườngtoàn cầu của doanh nghiệp này Tính đến hết quý 1 năm 2008, Merrill Lynch đạtdoanh thu ròng khoảng 2,9 tỷ USD, tổng giá trị tài sản quản lý ước đạt 1,6 nghìn tỷUSD, tổng vốn cổ đông là 36,5 tỷ USD và hiện đang xếp thứ 30 trong bảng xếp
hạng Fortune 500.
Mã chứng khoán niêm yết của Merrill Lynch là MER đã trở nên quen thuộc
và tiếng nói của Merrill Lynch có uy tín lớn trên toàn thế giới Merrill Lynch đã đưa
ra một vài nhận định về TTCK Việt Nam, trong đó chính xác có, nhầm lẫn cũng cóbởi TTCK Việt Nam còn non trẻ, chưa đủ lớn và chưa đủ trải nghiệm để vận hànhtheo đúng những quy luật hiện hành của chứng khoán quốc tế
Trang 30Để có thể đưa ra được một đánh giá khái quát về sức cạnh tranh của MerrillLynch, cần thiết phải đi sâu hơn vào các hoạt động và quản trị công ty của MerrillLynch
a, Sản phẩm và dịch vụ
Merrill Lynch, tên chi tiết là Merrill Lynch & Co Inc., là một tập đoàn hoạt
động thông qua các công ty con, cung cấp đa dạng các dịch vụ trên thị trường vốn;ngân hàng đầu tư; các dịch vụ tư vấn, quản lý tài sản, quản lý đầu tư, bảo hiểm; hoạtđộng ngân hàng và các sản phẩm cũng như dịch vụ có liên quan Dưới đây là liệt kê chitiết các sản phẩm và dịch vụ mà Merrill Lynch cung cấp, qua đó có thể thấy được sứcmạnh và khả năng quản trị doanh nghiệp rất chuyên nghiệp của Merrill Lynch:
- Dịch vụ chứng khoán bao gồm: môi giới chứng khoán, đại lý phân phối,phát hành chứng khoán và các hoạt động có liên quan như:
+ Cấp vốn cho doanh nghiệp thông qua việc mua vào cổ phiếu của doanhnghiệp đó;
+ Cung cấp các hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn
+ Cung cấp và thực hiện các dịch vụ Swaps (hợp đồng hoán đổi), kinh doanhtiền tệ, buôn bán hàng hóa (commodities);
+ Dịch vụ chung quỹ (mutual funds); và
+ Các sản phẩm phái sinh khác
- Dịch vụ ngân hàng đầu tư với các sản phẩm:
+ Mua lại và sáp nhập (M&A);
+ Định giá chiến lược;
+ Các hoạt động khác trong tư vấn tài chính doanh nghiệp
- Tự doanh tài sản tư nhân và các hoạt động tự doanh khác
- Dịch vụ thanh toán chứng khoán, thỏa thuận mua bán chứng khoán, hoạt
Trang 31động tài chính, bao gồm cả môi giới sơ cấp.
- Các sản phẩm và dịch vụ quản lý tài sản, bao gồm hoạch định kế hoạch tàichính, kế hoạch hưu trí
- Hoạt động ngân hàng, ủy thác, cho vay và các dịch vụ liên quan khác: + Cho vay cầm cố;
+ Ủy thác thanh toán;
+ Cho vay thương mại;
+ Cho vay trên cơ sở chứng khoán;
+ Quản lý tiền mặt
- Sản phẩm bảo hiểm, trợ cấp và bảo lãnh hàng năm
- Dịch vụ quản lý đầu tư và tư vấn đầu tư
- Nghiên cứu đầu tư toàn cầu, bao gồm:
+ Nghiên cứu tài sản;
+ Nghiên cứu kinh tế;
+ Nghiên cứu thu nhập;
+ Chiến lược tài sản;
+ Chứng khoán có liên quan đến tài sản;
+ Chiến lược quản lý tài sản
- Bên cạnh việc cung cấp đa dạng các sản phẩm, Merrill Lynch còn sở hữugần một nửa tài sản của BlackRock - Công ty quản lý tài sản hàng đầu tại Mỹ Cổphần của BlackRock được giao dịch đại chúng và hiện Công ty này đang quản lýtrên 1.000 tỷ USD
b, Định vị chiến lược
Ban lãnh đạo Merrill Lynch luôn đặt doanh nghiệp của mình vào vị trí mộtngân hàng đầu tư toàn cầu nổi trội, một công ty tư vấn và quản lý tài sản, một đối
Trang 32tác thiết thực của khách hàng.
c, Nguyên tắc của Merrill Lynch
Với định vị chiến lược nêu trên, Ban lãnh đạo Merrill Lynch cần có một hệthống các nguyên tắc để quản lý chặt chẽ doanh nghiệp và hướng doanh nghiệp đếnthành công Các nguyên tắc đó là:
* Khách hàng là trung tâm: Khách hàng là động lực đằng sau mọi hoạt động tại
Merrill Lynch
Hiểu được khách hàng qua tiên đoán, từ đó đáp ứng nhu cầu của họ
Đưa ra lời khuyên và chỉ dẫn với giá trị gia tăng cho khách hàng bằng việcphân tích nhu cầu khách hàng và giải quyết các khó khăn
Cung cấp một hệ thống nhiều nhất, chất lượng tốt nhất các sản phẩm và dịch vụ
Thông qua nhóm hoạt động, Merrill Lynch đánh giá được năng lực và nguồn lực
để thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của khách hàng
* Trân trọng từng cá nhân: Tại Merrill Lynch, họ trân trọng tất cả mọi người,
không phân biệt đó là nhân viên, cổ đông, khách hàng hay chỉ là một người dânbình thường
Bất kể hoàn cảnh nào, các cá nhân đều được đề cao và tôn trọng
Tạo môi trường để những cá nhân với nền tảng khác nhau có thể phát huy tối
đa khả năng và tiếp cận các cơ hội một cách công bằng
Trang 33Khuyến khích một môi trường mà ở đó lòng tin và sự cởi mở là các tiêuchuẩn để đánh giá các nhóm ý tưởng khác nhau, phát huy tính sáng tạo.
Cố gắng hiểu người khác và tích cực lắng nghe ý kiến của người khác
Dành thời gian để giải thích các vấn đề và trả lời thắc mắc
* Tăng cường làm việc theo nhóm: Merrill Lynch luôn nỗ lực trở thành một khối
thống nhất, để trong mắt khách hàng chỉ có duy nhất một Merrill Lynch
Thẳng thắn, cởi mở khi truyền đạt và chia sẻ thông tin
Cộng tác trong nhóm và giữa các nhóm
Đánh giá và đề cao sự khác biệt mang tính cá nhân về xuất thân và xu hướnghoạt động của mỗi người
Chia sẻ kinh nghiệm thành công và thất bại để mỗi cá nhân có thể học được
từ người khác và tăng cường kết quả cho nhóm của mình
Ghi nhận và tặng thưởng cho cá nhân và nhóm có thành tích
Xây dựng và truyền đạt các mục đích, mục tiêu và chuẩn mực của doanh nghiệp.Tăng cường quan hệ đồng nghiệp dựa trên lòng tin và sự tôn trọng, khôngphân biệt cấp bậc
* Tinh thần trách nhiệm: Tại Merrill Lynch, họ luôn nỗ lực cải thiện chất lượng
cuộc sống cộng đồng nơi nhân viên của họ sống và làm việc
Ghi nhận, tuân thủ và tôn trọng các truyền thống, quy tắc và luật lệ màMerrill Lynch dùng để điều hành kinh doanh
Đóng góp thời gian, tài năng và các nguồn lực để tạo ra sự khác biệt
Đối xử có trách nhiệm với môi trường chung
* Tính toàn vẹn: Danh tiếng của Merrill Lynch là quan trọng nhất.
1.3.2 Bài học kinh nghiệm
Qua nghiên cứu trường hợp điển hình Merrill Lynch, có thể nhận thấy, năng
Trang 34lực cạnh tranh của các CTCK Việt Nam còn rất yếu Tuy nhiên, sự so sánh nàocũng khập khiễng, và để phát triển hơn nữa trong bối cảnh hội nhập hiện nay, đểdần vươn tới một chuẩn mực chung của các CTCK mang tầm quốc tế thì dưới đây
là một số kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các CTCK hàng đầu thếgiới mà Agriseco cần học hỏi:
- Tích cực hoạt động theo nhóm và phát huy chất xám của từng cá nhân
- Tạo điều kiện và ra sức xây dựng để mỗi nhân lực là một công dân có tráchnhiệm
- Đẩy mạnh hoạt động marketing để thu hút khách hàng và phát triển thươnghiệu
- Luôn đề cao và chú trọng vấn đề hội nhập
1.4 SỰ GIA TĂNG CẠNH TRANH TRÊN TTCK VIỆT NAM
1.4.1 Sự bùng nổ của TTCK Việt Nam
Báo cáo tổng kết năm 2006 của UBCKNN đã đưa ra những con số hết sứclạc quan về tốc độ phát triển của thị trường với mức vốn hoá chiếm 22,7% GDP,tăng 20 lần so với năm 2005 và đặt mục tiêu đến năm 2010, mức vốn hoá sẽ chiếm30-40% GDP Tuy nhiên, những con số mục tiêu đó đã nhanh chóng trở nên lạc hậukhi tính đến hết năm 2007, tổng giá trị vốn hoá thị trường đã đạt gần 500.000 tỉđồng, bằng khoảng 43,7% GDP của năm 2007
Nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng trưởng vượt bậc này là sự thay đổi vềnhận thức của cộng đồng doanh nghiệp đối với TTCK Nếu cuối năm 2006, sự thúc
ép về miễn thuế thu nhập đã góp phần lớn vào việc "đẩy" các doanh nghiệp lên sàn
Trang 35theo đúng nghĩa đen thì năm 2007, làn sóng lên sàn đã thay đổi về chất với mục tiêuhuy động vốn cho sản xuất kinh doanh
Tính đến ngày 28/12/2007, đã có 138 công ty niêm yết tại Sở GDCK TP.HCM (HoSE) và 113 công ty niêm yết tại TTGDCK Hà Nội (HaSTC) Nếu tính cả
3 chứng chỉ quỹ, số lượng CK niêm yết đã lên tới 254
Giá trị huy động vốn khổng lồ bằng cách phát hành thêm chứng tỏ TTCK đãtrở thành một kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế Đã có 179 công ty được cấpphép chào bán 2,46 tỉ cổ phiếu ra công chúng, tương đương giá trị 48.000 tỉ đồng,gấp 25 lần so với năm 2006
Nếu tính cả hoạt động chào bán trái phiếu, chứng chỉ quỹ, đấu giá, mức huyđộng vốn đạt tới 90.000 tỉ đồng, gấp 3 lần năm 2006
Điều đáng nói là nguồn vốn khổng lồ này được huy động chính từ thị trường
- nơi quy tụ nguồn vốn của nhà đầu tư - và đưa vào sản xuất dài hạn của nền kinh tế.Điều này chứng tỏ nhu cầu vốn phục vụ tăng trưởng rất lớn và việc huy động cũngbền vững hơn, gánh nặng của hệ thống ngân hàng đã được chia sẻ
Mục tiêu 50-60% GDP quy mô vốn hoá thị trường năm 2008 dường như sẽđạt được trong tầm tay khi tiến trình cổ phần hóa (CPH) đang được gấp rút tiếnhành với hàng loạt tổng công ty, tập đoàn lớn
Một nguyên nhân nữa góp phần gia tăng đột biến quy mô thị trường là nguồntiền nhàn rỗi được huy động hết sức dồi dào, giá trị của chứng khoán được xác địnhchính xác hơn
Qua một thời gian khá dài, TTCK Việt Nam phát triển rất èo uột do khôngthu hút được nguồn vốn trong dân chúng và giá trị doanh nghiệp không được xácđịnh đúng mức Cuối năm 2006 vẫn được coi là thời kỳ hoàng kim của thị trườngnhưng số tài khoản cũng chỉ trên dưới 100.000, trong đó nhà đầu tư nước ngoài cókhoảng 1.700 tài khoản Số liệu của Trung tâm lưu ký năm 2007 đã cho thấy mộtbức tranh khác: Tổng số tài khoản đã tăng lên gần 300.000, trong đó nhà đầu tư
Trang 36nước ngoài đạt trên 2.800 tài khoản, với 477 tổ chức đầu tư Giá trị danh mục đầu tưcủa nguồn vốn ngoại trên thị trường chính thức vào khoảng 7,6 tỉ USD và nếu tính
cả thị trường không chính thức, con số đó lên tới 20 tỉ USD
Giới đầu tư quốc tế quan tâm đến các cơ hội đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam
vì một nền kinh tế đang chuyển đổi có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới.Những cam kết quốc tế khi Việt Nam hội nhập một cách đầy đủ giúp niềm tin của
họ tăng lên Lần đầu tiên TTCK Việt Nam xuất hiện trên hàng loạt các phương tiệntruyền thông đại chúng quốc tế Chỉ số VN-Index, HaSTC-Index được xuất hiệntrên hệ thống số liệu thị trường của những kênh thông tin tài chính toàn cầu nhưBloomberg
Các định chế tài chính hàng đầu thế giới như Merrill Lynch, HSBC, JPMorgan, Citi Group cũng đều đặn cung cấp các báo cáo nghiên cứu về thị trườngViệt Nam, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà đầu tư quốc tế
1.4.2 Tính tất yếu nâng cao năng lực cạnh tranh của các CTCK Việt Nam nói
chung và Agriseco nói riêng
Theo thống kê của UBCKNN, đến 31/12/2007, cả nước có 69 CTCK đanghoạt động, con số đã được cấp phép là gần 100 Ngoài ra còn hơn 80 hồ sơ xinthành lập CTCK đang chờ xét duyệt So với đầu năm 2006, số lượng các CTCKtăng gấp 5 lần
Trong năm 2007, hầu hết các CTCK đều đạt hoặc vượt kế hoạch kinh doanh.Mạng lưới hoạt động và vốn điều lệ của các công ty cũng tăng từ hai đến ba lần.Phân hóa giữa các công ty đã rõ nét Theo thống kê, SSI chiếm 20% thị phần môigiới trên cả hai sàn BVSC chiếp 70% thị phần bảo lãnh phát hành Nhóm các công
ty có hỗ trợ từ ngân hàng mẹ như ACBS, SBSC, DAS, VCBS, Agriseco cũng khẳngđịnh lợi thế về khách hàng và vốn
Với dân số hơn 84 triệu dân, TTCK Việt Nam hứa hẹn còn nhiều tiềm năngphát triển khi số tài khoản giao dịch mới chỉ gần 300.000, mức vốn hóa so với GDPcòn khiêm tốn Mặc dù vậy, cạnh tranh khốc liệt trong tương lai là điều khó tránh khỏi
Trang 37Do tài khoản của nhà đầu tư tập trung ở khoảng 10 công ty lớn, chiếm 85%thị phần, nên các CTCK nhỏ không thể trông đợi nguồn thu từ phí môi giới Nguồnthu chính nằm ở mảng tự doanh.
Với các CTCK mới thành lập, nhiệm vụ trước mắt là tập trung thu hút kháchhàng, chú trọng chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, đẩy mạnh giao dịch trực tuyến,thực hiện đặt lệnh qua điện thoại, hỗ trợ thông tin qua SMS, liên kết với các ngânhàng quản lý tài khoản chứng khoán và hỗ trợ vốn cho nhà đầu tư tái kinh doanh lànhững biện pháp được nhiều công ty thực hiện
Theo ý kiến của một số giám đốc, tổng giám đốc các CTCK, một CTCK đạtchuẩn mực quốc tế cần có mức đầu tư ban đầu khoảng 3 - 4 triệu USD, tổng chi phícho các hoạt động khoảng 500 triệu đồng/tháng; nguồn thu chính là từ phí môi giới,
tư vấn tài chính, tự doanh và bảo lãnh phát hành chứng khoán Tuy nhiên, phần lớncác CTCK mới thành lập tại Việt Nam lấy lợi nhuận từ mảng đầu tư chứng khoán
bù vào chi phí để tồn tại Phương thức kinh doanh này ngày càng trở nên khó khănbởi thị trường không còn những đột biến đem lại nhiều lợi nhuận như cuối năm
2006 và đầu năm 2007 Do đó, thu nhập mang tính dài hạn của CTCK sẽ là mảngdịch vụ
Hiện cả nước có gần 300.000 tài khoản giao dịch chứng khoán, trong đó nhàđầu tư cá nhân chiếm đến 70%, nước ngoài có hơn 2.800 tài khoản Trong thời giansắp tới, việc mua bán chứng khoán sẽ hướng đến giao dịch không sàn Nghĩa lànhiều nhà đầu tư sẽ mua bán chứng khoán qua mạng Do đó, CTCK nào chưa đápứng được những yêu cầu về giao dịch điện tử sẽ khó tránh khỏi nguy cơ bị đào thải
Thực tế cho thấy, các CTCK cạnh tranh nhau về phí (giảm phí, tặng tiền phí)chưa đủ lực để thu hút nhà đầu tư nên cuộc đua về đầu tư công nghệ sẽ là yếu tốquyết định Thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008 và các năm tới sẽphát triển mạnh mẽ với nhiều đợt chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng(IPO) của những “đại gia” như Incombank, Mobifone; đồng thời thị trường OTCcũng sẽ đi vào khuôn khổ, như vậy khối lượng giao dịch sẽ tăng mạnh, số lượng nhà
Trang 38đầu tư cũng tăng lên đáng kể Khi đó, CTCK nào có hạ tầng công nghệ hiện đại, antoàn, đem lại nhiều dịch vụ tiện ích cho nhà đầu tư thì sẽ thành công Để chạy đuatrong cuộc cạnh tranh khốc liệt này, hàng loạt CTCK đã và đang đầu tư với số tiềnrất lớn cho công nghệ để khẳng định vị thế trên thị trường CTCK Thăng Long đãmua phần mềm của Thái Lan trị giá hơn 600.000 USD, CTCK Sacombank bỏ ragần 1 triệu USD mua phần mềm của Anh Một số CTCK cũng liên kết với ngânhàng thương mại để cung cấp dịch vụ tài chính cho nhà đầu tư
Ngoài yếu tố công nghệ, nếu nhân sự của các CTCK mới thành lập khôngtheo kịp đà phát triển của thị trường, không cung cấp thông tin, tư vấn tốt sẽ khônggiữ được chân nhà đầu tư Nhiều CTCK dùng các chiêu trả lương cao, bán cổ phầnvới giá ưu đãi, đưa đi nước ngoài đào tạo, tham quan để thu hút nhân tài chứngkhoán
Năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ có hơn 100 CTCK hoạtđộng Do cạnh tranh khốc liệt nên sẽ có nhiều công ty thua lỗ Trên 50% thị phầnmôi giới và giao dịch hằng ngày hiện thuộc về 3 CTCK hàng đầu là CTCK Sài Gòn(SSI), CTCK Bảo Việt và CTCK ACB Vì vậy, trong tương lai nhiều khả năng hìnhthành xu hướng giải thể và sáp nhập
Theo ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT SSI, đến năm 2010, Việt Nam
có thể chỉ còn khoảng 20 CTCK tồn tại Những CTCK mạnh về vốn, công nghệ,nhân lực, uy tín hiện nay ngày càng mở rộng hoạt động, chiếm lĩnh phần lớn mảngdịch vụ Trong khi đó, mảng tự doanh chứng khoán không đem lại lợi nhận cao nhưtrước đây vì thế những CTCK mới thành lập khó có thể tồn tại
Những phân tích trên đây cho thấy tính tất yếu phải nâng cao năng lực cạnhtranh của các CTCK đang hoạt động trên TTCK Việt Nam nói chung và Agriseconói riêng, một mặt để khai thác tốt hơn các cơ hội của thị trường, nhưng quan trọnghơn là để tránh khỏi “cơn bão” mua lại và sáp nhập đang ở không xa
Trang 39CHƯƠNG 2
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM
2.1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn Việt Nam (Agriseco) được thành lập theo Quyết định Số 269/QĐ ngày 20tháng 12 năm 2000 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn Việt Nam (Agribank), hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệmhữu hạn một thành viên vốn nhà nước, kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán vàcung cấp dịch vụ tư vấn tài chính Agriseco chính thức đi vào hoạt động ngày 05tháng 11 năm 2001
Là CTCK thứ 8 được thành lập tại Việt Nam, Agriseco gặp rất nhiều khókhăn trong việc thu hút khách hàng, mở rộng và phát triển các dịch vụ kinh doanhchứng khoán Chính vì vậy, trong những năm qua, Agriseco đã thực hiện rất nhiềubiện pháp nhằm mở rộng phát triển các dịch vụ kinh doanh
Agriseco được Agribank cấp vốn lần đầu là 60 tỷ đồng Tháng 01/2004, tháng11/2005 và tháng 6/2007, Agriseco lần lượt được Agribank bổ sung vốn điều lệ lên
100, 150 và 700, tỷ đồng Agribank cũng đã cam kết tăng vốn cho Agriseco lên 1.100
tỷ đồng Hiện tại Agriseco là CTCK có vốn điều lệ lớn nhất trên TTCKVN Với sốvốn điều lệ như trên, Agriseco được phép thực hiện đầy đủ 4 nghiệp vụ kinh doanhchứng khoán theo luật định, bao gồm Môi giới chứng khoán, Tư vấn đầu tư chứngkhoán, Tự doanh chứng khoán và Bảo lãnh phát hành chứng khoán
* Đặc thù riêng: Agriseco là CTCK hàng đầu Việt Nam trong kinh doanh trái phiếu.
Agriseco bắt đầu thâm nhập thị trường trái phiếu bằng việc mua Trái phiếuChính phủ thời hạn 15 năm qua Quỹ hỗ trợ phát triển (nay là Ngân hàng Phát triển
Trang 40Việt Nam) Đến khoảng giữa năm 2003 khi các tổ chức tài chính, các ngân hàngthương mại có nhu cầu mua, bán trái phiếu bằng vốn ngắn hạn thì một hướng kinhdoanh mới đã mở ra cho Agriseco Sẵn có một lượng trái phiếu dài hạn lớn, Agriseco
đã tiến hành các giao dịch mua bán theo một mức lãi suất ổn định cho các tổ chức và
cá nhân có nhu cầu theo phương thức thỏa thuận Việc mua bán trái phiếu như trên đãbước đầu tạo ra sự luân chuyển vốn trên thị trường chứng khoán Với doanh số kinhdoanh trái phiếu thời điểm cao nhất lên tới 25.000 tỷ đồng, trong những năm qua,Agriseco đã góp phần tạo tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu
Với định hướng rõ ràng, doanh thu từ hoạt động kinh doanh trái phiếu củaAgriseco tăng liên tục trong những năm gần đây, năm 2004 đạt 184,23 tỷ, năm 2005
là 218,35 tỷ và năm 2006 tăng đột biến, đạt 399,67 tỷ đồng
Agriseco hiện đang chiếm thị phần số 1 trên thị trường chứng khoán ViệtNam về kinh doanh trái phiếu (có thời điểm lên tới 80%) Các dịch vụ kinh doanhtrái phiếu của Agriseco đa dạng trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp Agriseco luônđảm bảo chắc chắn cho những thoả thuận với khách hàng bằng tiềm lực tài chínhlớn mạnh và sự hỗ trợ về vốn của Agribank cũng như các tổ chức tài chính trunggian lớn tại Việt Nam
2.2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRISECO
2.2.1 Tiềm lực tài chính
2.2.1.1 Quy mô vốn
Trong giai đoạn đầu, Agriseco cũng như ba CTCK thuộc sở hữu nhà nước lànhững công ty có vốn điều lệ lớn nhất trên thị trường Tuy nhiên đến nay, chỉ cònAgriseco là công ty có vốn điều lệ lớn nhất trong khi đó một số CTCK cổ phần đãtận dụng được lợi thế của mình để tăng vốn điều lệ lên rất nhanh
Ngoài ra, Agriseco có khả năng tiếp cận nguồn vốn lớn và dồi dào từAgribank Đây là một thế mạnh giúp Agriseco có ưu thế hơn các CTCK khác trongviệc thực hiện nghiệp vụ Tự doanh và Bảo lãnh phát hành