Sau hơn hai mươi năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, ngành côngnghiệp dược Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể theo hướng công nghiệphóa nhằm đảm bảo phát triển vững chắc cả về số lư
Trang 1Tôi xin chân thành cám ơn bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Vũ Trí Dũng
đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi hoàn báo cáo này
Tôi chân thành cảm ơn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các giảngviên của khoa Quốc Tế - Trường Đại học Quốc gia hà nội, những người đãtận tình hướng dẫn tôi hoàn thành báo cáo này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban tổng giám đốc Công ty cổ phầndược TW Mediplantex, các bạn bè thân thiết đã giúp đỡ tôi trong qua trìnhthực tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã ở bên cạnhđộng viên, chăm sóc tôi trong suốt thời gian hoàn thành báo cáo này
Hà Nội, tháng 10 năm 2011
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH 6
1.1 Năng lực cạnh tranh và cơ sở lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành 6
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành 6
1.2 Các cấp năng lực cạnh tranh 10
1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14
1.3.1 Thị phần của doanh nghiệp 14
1.3.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm 15
1.3.3 Năng lực sản xuất 16
1.3.4 Năng lực thu hút và đào tạo nguồn nhân lực 16
1.3.5 Năng lực nghiên cứu và phát triển 16
1.3.6 Năng lực tài chính 16
1.3.7 Năng lực quản lý, lãnh đạo 18
1.3.8 Đánh giá tổng quan năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 18
1.4 Thực trạng năng lực cạnh tranh và định hướng phát triển ngành công nghiệp dược Việt Nam 19
1.4.1 Thực trạng của Việt nam trên thế giới 19
1.4.2 Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dược Việt nam 22
1.5 Kết quả đạt được của ngành công nghiệp dược Việt Nam 24
1.5.1 Các kết quả chung 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠN PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
Trang 32.2.2 Từ tháng 33
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Phương pháp mô tả cắt ngang 33
2.4 Phương pháp thu nhập thông tin 33
2.4.1 Phương pháp hồi cứu 33
2.4.3 Các phương pháp quản trị học 34
2.4.4 Phương pháp phỏng vấn 34
2.4.5 Xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Phân tích năng lực cạnh tranh của MEDIPLANTEX qua một số chỉ tiêu 36
3.1.1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 36
3.2 Năng lực sản xuất 40
3.2.1 Trình độ ,công nghệ sản xuất của doanh nghiệp 40
3.2.2 Năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp 42
3.2.3 Nguồn nhân lực 43
3.2.4 Năng lực Marketing 44
3.2.5 Đánh giá tổng quát về năng lực cạnh tranh của công ty Mediplantex 48
Trang 4Biểu đồ 1.1 Tăng trưởng tiền thuốc (USD) bình quân đầu người qua các năm .26
Bảng 1.2 Các nhóm thuốc có nhiều số đăng ký trong nước: 27
Bảng 1.3 Các nhóm thuốc có ít số đăng ký trong nước: 28
Bảng 1.4: Một số hoạt chất kháng sinh có nhiều số đăng ký trong nước 29
Bảng 1.5: Tỷ lệ mẫu thuốc không đạt chất lượng 31
Bảng 1.6: Thống kê tỷ lệ thuốc giả từ năm 2005 đến nay 32
Bảng 3.1 Sản phẩm của Mediplantex năm 2011 36
Bảng 3.2 Số lượng các chế phẩm được cấp số đăng ký qua các năm 37
Bảng 3.3 Tỷ lệ hạn dùng của sản phẩm Mediplantex năm 2010 38
Bảng 3.4 các sản phẩm doanh thu cao nhất của năm 2010 38
Bảng 3.5 Gíá của một số sản phẩm của Mediplantex với một số công ty khác39 Bảng 3.6 39
Bảng 3.7 Một số thiêt bị mới mua năm 2007 – 2011 của Mediplantex 41
Bảng 3.8 Mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của Mediplantex 42
Bảng 3.9 Số lượng và chất lượng cấp quản lý của Mediplantex 42
Bảng 3.10 Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của Mediplantex 43
Bảng 3.11 Cơ cấu nguồn lực có trình độ đai học và trên đại học 44
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Với việc chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, Việt nam
đã từng bước tạo lập một môi trường kinh doanh cạnh tranh giữa các chủ thểkinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Cùng với việc tăngcường mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt với sự kiện Việtnam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cạnh tranh ngày càng trởlên gay gắt cả trong nước và quốc tế Nhờ có sự canh tranh mà các doanhnghiệp cũng được nâng cao năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế Cũng docạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng trở lên gay gắt, mà yêu cầu vềnâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh
tế nói chung đang là vấn đề bức xúc hiện nay
Là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, ngành côngnghiệp dược Việt nam cũng không nằm ngoài xu thế phát triển và hội nhậpcủa nền kinh tế nước nhà
Sau hơn hai mươi năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, ngành côngnghiệp dược Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể theo hướng công nghiệphóa nhằm đảm bảo phát triển vững chắc cả về số lượng và chất lượng, về cơbản có thể đảm bảo cung ứng được đầy đủ nhu cầu thuốc phục vụ cho côngtác phòng bệnh và chữa bệnh của nhân dân góp phần vào sự nghiệp chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, từng bước chủ động hội nhập với thị trườngdược phẩm thế giới Tuy nhiên trên thị trường dược phẩm hiện nay cũng đangchứng kiến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp dược phẩm trongnước và các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài Trong đó, các doanhnghiệp dược phẩm nước ngoài đang tỏ ra có nhiều ưu thế hơn với việc chiếmlĩnh gần như hoàn toàn phân khúc thuốc đặc trị và đang mở rộng sang phânkhúc thuốc phổ thông Việc Việt nam gia nhập WTO, một mặt vừa tạo ra
Trang 6nhiều cơ hội, những mặt khác cũng đặt ra nhiều thách thức cho các doanhnghiệp dược trong nước khi phải cạnh tranh trên một sân chơi bình đẳng hơn.
Công ty cổ phần dược trung ương Mediplantex là một Doanh nghiệpchuyên sản xuất và kinh doanh dược phẩm , kinh doanh dược liệu nguyên liệuhóa chất làm làm thuốc Trong những năm gần đây công ty đang từng bướcphát triển để nâng cao và khẳng định vị thế của mình trên thị trường dượcphẩm Tuy nhiên để tồn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh cạnhtranh ngày càng khốc liệt, Công ty cổ phần dược trung ương Mediplantex cầnphải nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình
Từ yêu cầu cấp thiết đó, đề tai:”Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công
ty cổ phần dược trung ương Mediplantex) đã được thực hiện voeis mục tiêu:
- Đánh giá năng lực canh tranh của Công ty cổ phần Dược phẩm trungương Mediplantex năm 2007 – 2010 qua một số tiêu chí
- Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực canh tranhcủa Công ty cổ phần Dược phẩm trung ương Mediplantex
Trang 7GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG ƯƠNG
MEDIPLANTEX
Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex, với 28% vốn nhà nước Công
ty chính thức hoạt động sang mô hình công ty cổ phần từ tháng 4/2005, vớichức năng kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu các mặt hàng dược phẩm,dược liệu, nguyên liệu hoá dược, tinh dầu, mỹ phẩm, máy móc thiết bị, bao bìcao cấp ngành dược phẩm, mỹ phẩm
Tầm nhìn
Trở thành một trong những công ty đầu ngành trong lĩnh vực sản xuất
và phân phối dược phẩm
- Nguyên liệu sản xuất hoá dược chủ yếu nhập khẩu từ các nhà cungcấp, các công ty đa quốc gia có uy tín, các sản phẩm được sản xuất từ dượcthảo đều tiêu chuẩn hoá cao, đạt các tiêu chuẩn dược điển Việt Nam và Quốctế
- Công ty là đơn vị tiên phong đi đầu và chủ lực trong lĩnh vực nuôitrồng và chế biến dược liệu, chiết xuất và tinh chế các loại cây tinh dầu (Bạc
hà, Sả, Tràm, Hồi, Quế…) Các loại thuốc sốt rét ( Artemisinin, Artersunat,Artemethe,…) Berberin, Rutin các loại thuốc y học cổ truyền được bào chếhiện đại phục vụ tiêu dùng cả nước và xuất khẩu
Trang 8- Công ty đã thực hiện nhiều thành công nhiều đề tài nghiên cứu cấpnhà nước và cấp Bộ.
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên trên 500 người, trong đó có 277 cán bộ
có trình độ đại học và trên đại học thuộc các lĩnh vực dược phẩm, hoá học, kinh tế,tài chính, xây dựng, cơ khí, y khoa, 100 cán bộ có trình độ trung cấp, số còn lại tất
cả đều qua đào tạo sơ cấp, là kỹ thuật viên, công nhân có tay nghề cao
- Mạng lưới phân phối nhanh chóng, hiệu quả, rộng khắp các tỉnhthành phố trong cả nước Với 3 cửa hàng đặt tại Hà Nội, 2 chi nhánh đặt tạiTPHCM và Bắc Giang Và hơn 200 đại lý phân phối chính thức đặt tại cáctỉnh thành trong cả nước
- Công ty có mối quan hệ thương mại với các Công ty ở trên 20 nước
từ châu Âu tới châu Á như: Pháp, Anh, Áo, Đức, Tiệp, Trung Quốc, Ấn độ Kim ngạch nhập khẩu của công ty trong các năm gần đây đạt khoảng20.000.000 USD mỗi năm trên 6 thị trường trọng điểm: Pháp, Úc, Đức, Ấn
độ, Nhật, Hàn Quốc Sản phẩm thuốc nhập khẩu có số Visa của Cục quản lýdược với số lượng trên 200 loại thuốc khác nhau với các nhóm đặc thù như:nhóm thuốc kháng sinh, hạ sốt, đường ruột, tim mạch, thần kinh, bổ dưỡng
- Công ty Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex đã tham gia cungcấp thuốc cho nhiều chương trình thuốc của nhà nước và của Bộ Y tế cũngnhư cung cấp thuốc cho các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Việt Đức, Viện
108, Viện 103 , Hữu nghị, Viện 198, Viện Nhi Thuỵ Điển, Viện Da liễu
Và hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước
- Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu, thành phẩm thuốcchữa sốt rét được chiết xuất từ Thanh Hao Hoa Vàng, các loại thành phần tândược, đông dược, tinh dầu
Mục tiêu phát triển
Đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp Dược, sản xuất các loại thuốc cógiá trị cao, đẩy mạnh nghiên cứu chế tạo nhiều mặt hàng mới được người tiêu
Trang 9dùng ưa chuộng và có giá trị kinh tế cao.
Song song với đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, công ty cũng chú ý đầu
tư, phát triển các mặt công tác quản lý chất lượng, nghiên cứu phát triển quản lýkinh tế tài chính, phát triển thương hiệu, mở rộng phát triển thị trường trongnước và nước ngoài, từng bước quốc tế hoá hoạt động của công ty trên các mặtquản lý chất lượng kinh tế, thương hiệu, nhân lực thích ứng với yêu cầu của hoạtđộng kinh doanh mang tính chất toàn cầu ngày càng cao Xây dựng thương hiệuMediplantex trở thành thương hiệu nổi tiếng và được yêu thích
Lĩnh vực kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh chuyên ngành:
Dược phẩm, mỹ phẩm, sản phẩm vệ sinh và thực phẩm dưỡng sinh,lương thực, thực phẩm; nguyên liệu làm thuốc, dược liệu, tinh dầu, hương liệu,phụ liệu, hóa chất (trừ hóa chất Nhà nước cấm), chất màu phục vụ cho dượcphẩm, mỹ phẩm, thực phẩm và công nghệ; xuất nhập khẩu các mặt hàng Công
ty kinh doanh; Mua bán máy móc, thiết bị y tế, máy móc, thiết bị bao bì phục vụcho sản xuất tân dược, thuốc y học cổ truyền, mỹ phẩm, thực phẩm bổ dưỡng;trồng cây dược liệu; vacxin sinh phẩm y tế; dịch vụ nghiên cứu khoa học,chuyển giao công nghệ, tư vấn, đào tạo huấn luyện chuyên ngành y dược ; doanhnghiệp sản xuất thuốc (Doanh nghiệp chỉ được kinh doanh khi cơ quan nhànước có thẩm quyền cho phép); phòng chẩn trị y học cổ truyền
Lĩnh vực kinh doanh khác
Kinh doanh bất động sản; cho thuê văn phòng, nhà cửa, kho tàng; dịch vụmôi giới đầu tư, môi giới thương mại và ủy thác xuất nhập khẩu; sản xuất, muabán đồ gia dụng, các mặt hàng điện tử, điện lạnh, điện thoại và thiết bị linh kiệnđiện tử, điện lạnh, điện thoại; đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa
Phương châm hoạt động: “Vì sức khoẻ và vẻ đẹp con người”
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
1.1 Năng lực cạnh tranh và cơ sở lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành
1.1.1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh
Nền kinh tế thế giới ngày càng đi vào tình trạng cạnh tranh toàn diện,các rào cản thương mại truyền thống dần được gỡ bỏ hoặc không còn tácdụng, các đối thủ cạnh tranh mới nổi lên, và sự cạnh tranh toàn cầu trở nêngay gắt hơn
Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể
có chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùngquan tâm
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiềulĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao; thườngxuyên được nhắc tới trong các tài liệu chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng nhưcác phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đốitượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau
Trang 11(ii) Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tếgiữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điềukiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu lợinhiều nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất vớingười tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn muarẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa nhữngngười sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ
(iii) Theo Michael Porter [46] thì: cạnh tranh là giành lấy thị phần Bảnchất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợinhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là
sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫnđến hệ quả giá cả có thể giảm đi
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh bằng giá cả (giảm giá, chiếtkhấu,…) hoặc cạnh tranh phi giá cả (quảng cáo, nỗ lực phân phối,…) Cạnhtranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó,dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sảnphẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo
ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế
Cạnh tranh là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, nó thúc đẩyquá trình phát triển của các hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá, dịch
vụ Ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới đều nhận thức và coi cạnh tranhvừa là môi trường, vừa là động lực của quá trình phát triển kinh tế xã hội
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng,
và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển,góp phần vào sự phát triển kinh tế Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệtcho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm cóchất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học,
Trang 12công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng.Cạnh tranh, làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắttốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụngnhững tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoànthiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng caonăng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
1.1.2 Các khái niệm về năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” có nguồn gốc la-tinh là competere,
tức là cùng gặp nhau tại một điểm, chỉ ra khả năng đương đầu với tình trạngcạnh tranh và ganh đua với người khác
Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng kiểm soát các lợi thế tươngđối (vượt trội) so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Khái niệm năng lực cạnhtranh được sử dụng không chỉ đối với sự ganh đua giữa các sản phẩm của cácdoanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau mà còn được sử dụng trongviệc so sánh năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia trong điều kiện cạnh tranhquốc tế
Ngày nay, vấn đề năng lực cạnh tranh ngày càng được đặt ra như làmột tiêu thức quan trọng để xem xét các triển vọng phát triển của các quốc giatrên thế giới, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển muốn hội nhậpsâu vào nền kinh tế thế giới
Những năm gần đây, khái niệm năng lực cạnh tranh ngày càng đượcnhiều người quan tâm, từ các nhà nghiên cứu, các chính trị gia đến các nhàquản lý chính quyền và giới doanh nhân Tuy nhiên, cho đến nay khái niệmnày vẫn chưa được quan niệm và sử dụng một cách thống nhất Từ thực tếtham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, năng lực cạnh tranh có thể được địnhnghĩa như sau:
Trang 13Theo OECD “năng lực cạnh tranh” được định nghĩa là sức sản xuất rathu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làmcho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực pháttriển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
Theo Bạch Thụ Cường [1], từ điển thuật ngữ chính sách thương mại lạiquan niệm năng lực cạnh tranh là “năng lực của một doanh nghiệp hoặc mộtngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khácđánh bại về năng lực kinh tế”
Theo Chủ tịch Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ [50]: “năng lựccạnh tranh là khả năng của một quốc gia, trong điều kiện thị trường tự do vàlành mạnh, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trườngquốc tế”
Diễn đàn Kinh tế thế giới [51] lại quan niệm “năng lực cạnh tranh làkhả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhậpbình quân đầu người cao và bền vững”
Theo Nhóm tư vấn về năng lực cạnh tranh [31]: “Năng lực cạnh tranhliên quan đến các yếu tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lợi Năng lựccạnh tranh là một phương tiện nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúclợi xã hội Xét trên bình diện toàn cầu, nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bốicảnh phân công lao động quốc tế, năng lực cạnh tranh tạo nền tảng cho việctăng thu nhập thực tế của người dân”
Như vậy, có thể kết luận rằng quan niệm về năng lực cạnh tranh hiệnđược hiểu rất rộng theo nhiều nghĩa, và chưa có được một khái niệm thực sự rõràng Từ các quan niệm trên, có thể rút ra một kết luận chung là: “năng lực cạnhtranh là khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thịtrường và tạo ra cơ hội thu nhập cao hơn và bền vững cho chủ thể cạnh tranh”
Trang 14ưu thế về giá trị cho khách hàng (tạo sự khác biệt so với các sản phẩm, dịch
vụ cùng loại, mang lại giá trị cao hơn cho khách hàng, và có thể bán với giácao hơn)
Năng lực cạnh tranh sản phẩm thường được nhận biết thông qua (i)đánh giá trực tiếp từ thị trường (tăng trưởng doanh thu, thị phần), (ii) đánh giátrực tiếp trên sản phẩm (tính năng, chất lượng, giá cả, tiện ích, mẫu mã, vv) và(iii) đánh giá từ ý kiến của khách hàng (mức độ thỏa mãn nhu cầu, mức độnhận biết sản phẩm, mức độ trung thành với nhãn hiệu, vv)
Đối với sản phẩm xuất khẩu, ngoài các dấu hiệu nhận biết nêu trên,năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm còn có thể được đánh giá thông
qua Hệ số cạnh tranh biểu hiện (RCA) Hệ số này phản ánh vị trí lợi thế so
sánh đạt được của sản phẩm trên thị trường quốc tế trong tương quan với tổnggiá trị xuất khẩu của quốc gia
Trang 151.2.2 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Năng cạnh tranh của một doanh nghiệp thể hiện khả năng của nó trongdài hạn Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh tốt khi nó đạtđược các kết quả tốt hơn mức trung bình Như vậy, đối với doanh nghiệp,năng lực cạnh tranh là khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiệu quảhơn so với các đối thủ cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua khảnăng cạnh tranh về giá và năng lực cạnh tranh ngoài giá (thị phần, chất lượngsản phẩm, năng suất, vv)
Đối với doanh nghiệp có tham gia hoạt động ngoại thương, việc đánhgiá năng lực cạnh tranh có thể thông qua tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ xuất khẩu(doanh thu xuất khẩu so với tổng doanh thu), thị phần cho từng vùng hay thịphần tổng thể
Vị thế trên thị trường quốc tế cũng là một thước đo trực tiếp năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Trong lĩnh vực thương mại, năng lực cạnh tranh
có nghĩa là sự duy trì được thành công trên thị trường quốc tế mà không cần
có sự bảo hộ hoặc trợ cấp Mặc dù chi phí vận chuyển có thể cho phép cácdoanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn tại thị trường trong nước, nhưng năng lựccạnh tranh lại thường được tính đến nhiều hơn thông qua lợi thế có được nhờnăng suất cao hơn
Trong lĩnh vực phi thương mại, năng lực cạnh tranh là khả năng theokịp hoặc vượt qua doanh nghiệp tốt nhất trên thị trường về mặt chi phí và chấtlượng của sản phẩm hay dịch vụ Đo lường năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp trong lĩnh vực phi thương mại thường khó khăn hơn và thường baogồm các thước đo về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, chi phí và chấtlượng Với các ngành được đầu tư trực tiếp nước ngoài, thước đo năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp có thể là phần trăm doanh thu từ nước ngoàihoặc thị phần của doanh nghiệp trên thị trường vùng hoặc thị trường toàn cầu
Trang 161.2.3 Năng lực cạnh tranh ngành
Đối với một ngành, năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được nhữngthành tích bền vững của các doanh nghiệp (của quốc gia) trong ngành so vớicác đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp [29]
Theo Liên Hiệp Quốc, năng lực cạnh tranh của một ngành có thể đượcđánh giá thông qua khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong ngành, cáncân ngoại thương của ngành, cán cân đầu tư nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài
và đầu tư từ nước ngoài vào), và những thước đo trực tiếp về chi phí và chấtlượng ở cấp ngành [49]
Năng lực cạnh trạnh cấp ngành thường được xem là dấu hiệu phù hợp
về “sức khoẻ” của nền kinh tế đối với ngành lên quan hơn là năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp Sự thành công của một doanh nghiệp của mộtquốc gia có thể là nhờ sở hữu những yếu tố đặc thù của doanh nghiệp mà khóhoặc không thể nhân rộng Ngược lại, sự thành công của một số doanh nghiệptrong một ngành thường được xem là bằng chứng thuyết phục về sự sở hữunhững yếu tố đặc thù của quốc gia và có thể nhân rộng hoặc cải thiện được.Tổng cộng các năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp riêng lẻ không cónghĩa là năng lực cạnh tranh của cả một ngành
1.2.4 Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia được quan niệm và phản ánh qua mộtloạt các chỉ tiêu và được nghiên cứu ngày càng nhiều từ những năm 1970-
1980 Nổi tiếng nhất là những đóng góp của nhà nghiên cứu Michael Portervới nhiều công trình về cạnh tranh nói chung, cạnh tranh của doanh nghiệp,lợi thế cạnh tranh quốc gia trong một số lĩnh vực của một số quốc gia quantrọng như Tây Âu, Mỹ, Nhật, vv
Đối với một quốc gia, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất sảnphẩm và dịch vụ, trong điều kiện một thị trường tự do và bình đẳng, phù hợp
Trang 17với yêu cầu của thị trường quốc tế đồng thời nâng cao thu nhập thực sự chocông dân của quốc gia đó.
Năng lực cạnh tranh của quốc gia được đánh giá thông qua mức độ vàtốc độ tăng của mức sống, mức độ và tốc độ tăng của năng suất tổng thể, vàkhả năng thâm nhập của các doanh nghiệp vào các thị trường quốc tế thôngqua xuất khẩu hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài [29]
Sự gia tăng mức sống của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng cạnhtranh của các doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn khidoanh nghiệp muốn có được lợi thế trong việc tiếp cận các cơ hội của thịtrường thế giới, nhất là trong điều kiện mà thương mại quốc tế và đầu tư nướcngoài tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với tăng trưởng sản lượng của nền kinh
tế thế giới những năm vừa qua
Năng lực cạnh tranh của các ngành tham gia thương mại quốc tế có thểtrở thành một đòn bẩy quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Điều này đặc biệtđúng với các nước nhỏ, khi mà năng lực cạnh tranh tốt cho phép họ vượt quađược những hạn chế về quy mô thị trường trong nước để khai thác hết nhữngtiềm năng của ngành
Một nền kinh tế mạnh phải có những doanh nghiệp mạnh Năng lựccạnh tranh cũng rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nước nhằmchống lại những đe doạ từ môi trường kinh tế quốc tế, vốn ngày càng trở lênkhốc liệt hơn bao giờ hết Sự cạnh tranh này đang tạo những sức ép rất lớn lênmọi chủ thể của nền kinh tế, từ các nhà quản lý, đến lực lượng lao động vàchính phủ Trong một môi trường mà mọi doanh nghiệp cần phải liên tục cảithiện năng lực của mình để vượt qua những thách thức từ đội ngũ đông đảocác đối thủ, mỗi yếu kém về quản lý, lao động hay chính quyền đều làm tăngnguy cơ thất bại và có thể trở thành thảm hoạ đối với doanh nghiệp
Trang 18Đối với cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh có nghĩa là khả năng đạtđược các tiêu chuẩn sống cao hơn của người dân Ở hầu hết các quốc gia, tiêuchuẩn sống được xác định bởi năng suất theo các nguồn lực được huy động,sản lượng của nền kinh tế theo đơn vị lao động hay đơn vị vốn sử dụng Mộtmức sống cao cho mọi người dân của quốc gia có thể được duy trì nhờ sựnâng cao năng suất liên tục, nhờ có năng suất cao hơn trong các ngành hiệntại hoặc nhờ tham gia vào các ngành có năng suất cao hơn Năng lực cạnhtranh của quốc gia có thể được đo lường thông qua mức độ và sự gia tăng củamức sống, mức độ và sự tăng trưởng của năng suất tổng thể, và khả năngthâm nhập thị trường thế giới của các doanh nghiệp trong nước thông quaxuất khẩu và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải thểhiện được bản chất của năng lực canh tranh doanh nghiệp, thể hiện được mức
độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc chiếm lĩnh được thị trường, thu hútđược các yếu tố đầu vào Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp cần làm đảo bảo tính bền vững, nghĩa là tính đếnviệc sử dụng các điều kiện sẵn có để duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn
1.3.1 Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp, quan trọng, phản ánhnăng lực cạnh tranh theo kết quả đầu ra của doanh nghiệp Thi phần của nănglực cạnh tranh theo kết quả đầu ra của doing nghiệp Thị phần của doanhnghiệp càng lớn và ngược lại Tiêu chí này thường được đo bằng doanh thuhoặc doanh số tiêu thụ của doanh nghiệp trong một giai đoanh nhất định sovới tổng doanh thu hay sản lượng tiêu thụ trên thị trường
Trang 19TPi=Di/D x 100%
Trong đó TPi: Thị phần doanh nghiệp i
Di: Doanh thu hoặc doanh số tiêu thụ của doanh nghiệp iD: Tổng doanh thu hoặc doanh số tiêu thụ trên thị trường
Để tính được sự biến chuyển của năng lực canh tranh theo thời gian,chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng thị phần cũng được xem xét đến, thường trongkhoảng 3 – 5 năm
1.3.2 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Chỉ tiêu này được xác định dựa trên một số tiêu chí như:
Chất lượng của sản phẩm và bao gói: Đối với ngành dược,các doanhnghiệp thường xuyên phải đổi mới và hoàn thiện về chất lượng , kiểu dáng,mẫu mã, tạo được những nét độc đáo riêng,
Chủng loại sản phẩm: Đó là danh mục các thuốc, hàm lượng , các dạngbào chế
Giá của sản phẩm: Chỉ tiêu này được xác định đủ sức mạnh cạnh tranhvới giá cả cùng loại hoặc tương đương của các nước khác, chi ít la đối thủtrong khu vực và những đối thủ cạnh tranh với mình
Hệ thống phân phối và tiêu thụ sản phẩm : Hệ thống phân phối đượccoi là một tiêu chí quan trọng dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
Hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh:
Hoạt động xúc tiến có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng uy tín
và doang thu Hoạt động xúc tiến là cần thiết, để công bố sự có mặt của sảnphẩm trên thị trường, thiêt lập chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị trường, sảnphẩm của doanh nghiệp sẽ được bảo vệ, tạo điều kiện mở rộng thị trường,duy trì khác hàng thường xuyên và thu hút khách hàng tiềm năng
Trang 201.3.3 Năng lực sản xuất
Chỉ tiêu này được thể hiện qua 2 tiêu chí:
Trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp: Nhà xưởng, máy móc,trang thiết bị,…
Năng suất lao động bình quân theo doanh thu của cán bộ nhân viên:Được xác định bằng doanh số bán chia cho tổng số cán bộ công nhântrong sản xuất và kinh
1.3.4 Năng lực thu hút và đào tạo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực (Man) là một trong bốn nguồn nhân lực của doanh nghiệp(Man, Money, Management, Materia) Nhờ có khả năng thu hút nguồn nhân lực cótrình độ, tay nghề cao mà doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh Đây là một tiền đề đảm bảo cho việc nâng cao năng lực cạnh tranhtrong dài hạn Năng lực này được thể hiện qua một số tiêu chí:
Chất lượng của nguồn nhân lực hiện tai: Thể hiện qua cơ cấu trình độcán bộ
Đào tạo nguồn nhân lực: Các hình thức đào tạo mà doanh nghiệp đã sửdụng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện tại
1.3.5 Năng lực nghiên cứu và phát triển
Bao gồm cân nhắc về thành tựu đổi mới để triển khai các sản phẩmmới, quy trình mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, cảitiến mẫu mã, nâng cao sản suất Yếu tố này có thể được đo lường dựa trên :
Nhân lực nghiên cứu, chi phí tài chính cho hoạt động nghiên cưu vàphát triển
Khả năng đổi mới các sản phẩm của doanh nghiệp
1.3.6 Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở qui mô vốn, khảnăng huy động vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính trong doanh
Trang 21nghiệp, …Việc sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh có ý nghĩa rấtlớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm Việc huyđộng vốn kịp thời làm giảm đáp ứng vật tư, thuê công nhân, mua sắm thiết bị,công nghệ Năng lực tài chính doanh nghiệp được đánh giá dựa trên một sốchỉ tiêu:
Chỉ tiêu về khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh ng hiệp
Hệ số thanh toán hiện hành (Current Ratio) = Tổng tài sản lưu động/Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh (Quick Ratio) = (Tổng tài sản lưu động – Hàngtồn kho)/Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu quy mô nguồn vốn và cơ cấu vốn:
Quy mô nguồn vốn
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
Hệ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần
Hệ số lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tư
Trang 221.3.7 Năng lực quản lý, lãnh đạo
Năng lực quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp là yếu tố quan trọng cấuthành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Có tổ chức tốt doanh nghiệp sẽlàm tốt
Thể hiện qua:
Hệ thống tổ chức doanh nghiệp
Trình độ đội ngũ lãnh đạo
1.3.8 Đánh giá tổng quan năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Đây là yếu tố mang tính tổng hợp các yếu tố đã trình bầy ở trên Uy tín,danh tiếng của doanh nghiệp đòi hỏi một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trìtheo đuổi mục tiêu chiến lược đúng đắn của mình
Ngoài tiêu chí trên còn còn có thể đánh giá “ lợi nhuận của doanhnghiệp “ ,”Lợi ích người lao động “…, tùy thuộc vào doanh nghiệp cụ thể,ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh cà thực trạng của doanh nghiệp
Trên đây là chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nóichung Tích hợp các tác nhân trên chính là xác định tổng nội lực của doanhnghiệp trên những thị trường mục tiêu xác định với tập các đối thủ cạnh tranhtrực tiếp xác định , từ đó vận dụng phương pháp chuẩn, đối sách với kỹ thuậtthang 5 điểm ( Trong đó:5-Hoàn toàn đồng ý; 4-Đồng ý; 3 - Lưỡng lự; 2 –Không đồng ý; 1- Hoàn toàn không đồng ý) để lập bảng câu hỏi đánh giá cáctham số quan trọng nhất, xác định cho điểm trình độ năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp, mỗi thông số đo cường độ tác động và ảnh hưởng có hệ sốquan trọng đến năng lực canh tranh tổng thể của doanh nghiệp khác Có thểkhái quát quy trình xác định tổng nội lực của doanh nghiệp gồm các bước sau:
Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quan trọng quyết định nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 23Bước 2: Xác định mức độ quan trọng của từng yếu tố thông qua chođiểm theo các mức độ quan trọng khác nhau.
Bước 3:Xác định tổng số ảnh hưởng của từng yếu tố tương ứng
Bước 4:Tính điểm của từng yếu tố
Bước 5: Cộng điểm toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng
Nếu tổng điểm là 3,5 là trung bình, đạt 5 la tốt và đạt 2 là yếu
Mỗi tham số trên của doanh nghiệp được đánh giá bởi tập mẫu đại diệnđiển hình có liên quan (Nhà quản trị của doanh nghiệp, các khách hàng và cáccông chúng trực tiếp của doanh nghiệp ) và tính điểm bình quân
Khi đó NLCT tuyệt đối của doanh nghiệp được:
- Pi: Điểm bình quân tham số I của tập hợp mẫu đánh giá
- Ki: Hệ số quan trọng của tham số i
- Trong đó Ki = 1
- n là số chỉ tiêu lựa chọn
1.4 Thực trạng năng lực cạnh tranh và định hướng phát triển ngành công nghiệp dược Việt Nam
1.4.1 Thực trạng của Việt nam trên thế giới
Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010-2011 của WEF chothấy, Việt Nam đạt điểm số năng lực cạnh tranh (GCI) 4,3 điểm, tăng so với mức4,0 điểm trong báo cáo 2009-2010 và mức 4,1 điểm trong báo cáo 2008-2009
Cùng với sự cải thiện điểm số này, thứ hạng của Việt Nam trong xếphạng năng lực cạnh tranh toàn cầu đã tăng lên vị trí thứ 59 trong tổng số 139
Trang 24nền kinh tế được xếp hạng trong báo cáo năm nay, từ vị trí 75/133 trong báocáo năm ngoái, và vị trí 70/134 của báo cáo năm 2008.
Như vậy, sau khi bị giảm điểm và xuống hạng trong năm 2009, nănglực cạnh tranh của Việt Nam đã được cải thiện dưới góc nhìn của WEF
Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu được WEF công bố ngày 10/9 tạiBắc Kinh, Trung Quốc, trước thềm hội nghị thường niên của tổ chức này diễn
ra tại Thiên Tân
WEF đánh giá năng lực cạnh tranh của các quốc gia dựa 3 hạng mụccho điểm chính, bao gồm 12 trụ cột khác nhau Hạng mục thứ nhất (các Yêucầu cơ bản) gồm 4 trụ cột là thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô,giáo dục cơ bản và chăm sóc y tế Hạng mục thứ hai (Các nhân tố cải thiệnhiệu quả) gồm 6 trụ cột là giáo dục bậc cao và đào tạo, tính hiệu quả của thịtrường hàng hóa, tính hiệu quả của thị trường lao động, mức độ phát triển củathị trường tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường Hạngmục thứ ba (Các nhân tố về sáng tạo và phát triển) gồm 2 trụ cột là trình độphát triển của doanh nghiệp, và năng lực sáng tạo
Trong mỗi trụ cột này lại bao gồm nhiều yếu tố khác nhau để xếp hạng,chẳng hạn, trụ cột thể chế bao gồm 21 yếu tố, từ quyền sở hữu trí tuệ tới mức
độ bảo vệ nhà đầu tư
Ở hạng mục Yêu cầu cơ bản, Việt Nam đạt điểm số 4,4 và xếp hạng thứ74; ở hạng mục Các nhân tố cải thiện hiệu quả, điểm số dành cho Việt Nam là4,2, tương đương vị trí thứ 57; còn ở hạng mục Các nhân tố về sáng tạo vàphát triển, Việt Nam đạt 3,7 điểm, xếp thứ 53
Khi đánh giá các yếu tố trong từng trụ cột, WEF xếp Việt Nam ở các vịtrí khá cao ở các yếu tố như: tiền lương và năng suất (hạng 4/139), mức độ tintưởng của dân chúng vào các chính trị gia (32), mức độ đáng tin cậy của lựclượng cảnh sát (41), hệ thống điện thoại cố định (35), sự phủ sóng Internet tại
Trang 25trường học (49), tỷ lệ tiết kiệm quốc gia (17), trình độ của người tiêu dùng(45), mức độ tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động (20), khả năng huyđộng vốn qua thị trường chứng khoán (35), FDI và chuyển giao công nghệ(31), quy mô thị trường nội địa (39), quy mô thị trường nước ngoài (29)…
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có rất nhiều những yếu tố mà Việt Namgần ở cuối bảng như: mức độ bảo vệ các nhà đầu tư (133), gánh nặng thủ tụchành chính (120), năng lực kiểm toán và tiêu chuẩn báo cáo (119), chất lượng
cơ sở hạ tầng nói chung (123), cân bằng ngân sách chính phủ (126), thời gianthành lập doanh nghiệp (118), quyền sở hữu của nước ngoài (114), mức độsẵn có của công nghệ tân tiến nhất (102)…
Chính mức độ bảo vệ nhà đầu tư cũng là một yếu tố khiến Việt Nam bịgiảm điểm trong xếp hạng môi trường kinh doanh (Best countries forbusiness) do tạp chí Forbes công bố mới đây Ở yếu tố đánh giá này trong xếphạng của Forbes, Việt Nam xếp 125/128 nền kinh tế được đưa vào báo cáo
Vị trí của Việt Nam trong đánh giá môi trường kinh doanh của Forbes là 118
WEF cũng liệt kê những yếu tố gây cản trở nhiều nhất đối với hoạtđộng kinh doanh tại các quốc gia được xếp hạng trong báo cáo Đối với ViệtNam, 5 rào cản hàng đầu bao gồm khả năng tiếp cận vốn, lạm phát, mức độ
ổn định thấp của chính sách, lực lượng lao động chưa được đào tạo đầy đủ, và
cơ sở hạ tầng hạn chế
Tuy thăng hạng so với báo cáo năm ngoái, nhưng năng lực cạnh tranhcủa Việt Nam theo WEF vẫn thấp hơn so với hầu hết các quốc gia khác trongkhu vực Đông Nam Á như Singapore (5,5 điểm/hạng 3), Malaysia (4,9 điểm/hạng 26), Brunei (4,8 điểm/hạng 28), Thái Lan (4,5 điểm/hạng 38), Indonesia(4,4 điểm/hạng 44)
Ba quốc gia Đông Nam Á có điểm số và xếp hạng kém Việt Nam làPhilippines (4 điểm/hạng 85) và Cambodia (3,6 điểm/hạng 109), Timor-Leste
Trang 26(3,2 điểm/hạng 133) Trong khi đó, theo báo cáo của Forbes, cả Philippines vàCambodia đều được đánh giá cao hơn Việt Nam.
Hai nền kinh tế đứng liền trên Việt Nam trong xếp hạng này làAzerbaijan và Brazil, hai nền kinh tế đứng liền dưới là Slovak và Thổ Nhĩ Kỳ
Quốc gia láng giềng Trung Quốc của Việt Nam đạt 4,8 điểm và đứng ở
vị trí thứ 27, thăng 2 hạng so với năm ngoái Trong khi đó, nền kinh tế lớnnhất thế giới là Mỹ bị tụt 2 bậc, xuống vị trí thứ 4 từ vị trí thứ 2 năm ngoái
Cả nhóm dẫn đầu và nhóm “đội sổ” của Báo cáo Năng lực cạnh tranhtoàn cầu 2010-2011 do WEF thực hiện đều không gây bất ngờ Top 10 từdưới lên của báo cáo đa phần là các quốc gia châu Phi, gồm Chad, Angola,Burundi, Zimbabwe, Mauritania, Burkina Faso, Timor-Leste, Mali,Mozambique và Nepal
Chad bị WEF xem là quốc gia có năng lực cạnh tranh kém nhất thế giớinăm nay, trong khi báo cáo của Forbes coi quốc gia Nam Mỹ Venezuela mới
là nơi có môi trường kinh doanh tệ hại nhất thế giới Vị trí của Venezuelatrong xếp hạng của WEF là số 122
Top 10 đầu bảng xếp hạng của WEF không khác nhiều so với nhậnđịnh của Forbes trong báo cáo “Best countries for business” của tạp chí này
Dẫn đầu Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010-2011 là đất nướcchâu Âu Thụy Sỹ (5,6 điểm), tiếp theo là Thụy Điển (5,6 điểm), Singapore(5,5 điểm), Mỹ (hơn 5,4 điểm), Đức (5,4 điểm), Nhật (5,4 điểm), Phần Lan(5,4 điểm), Hà Lan (5,3 điểm), Đan Mạch (5,3 điểm) và Canada (5,3 điểm)
Năm ngoái, Thụy Sỹ cũng là quốc gia được WEF đánh giá là có nănglực cạnh tranh cao nhất thế giới
1.4.2 Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dược Việt nam
Sau hơn hai mươi năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, ngành côngnghiệp dược Việt Nam đã và đang phát triển vững chắc cả về số lượng và chất