1.1.2.2 Cạnh tranh trong ngân hàng thương mại Cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả cáclợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các
Trang 1Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VŨ THỊ THU HIỀN
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 KHÁI QUÁT CẠNH TRANH CỦA NHTM 4
1.1.1 Khái niệm NHTM 4
1.1.2 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM 5
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM 11
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong NHTM .11
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM trong điều kiện hiện nay 12
1.2.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của NHTM 13
1.3 CÁC TIÊU THỨC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM .16
1.3.1 Năng lực tài chính 16
1.3.2 Năng lực kinh doanh 21
1.3.3 Năng lực công nghệ 24
1.3.4 Năng lực quản trị 26
1.3.5 Uy tín, thương hiệu và khả năng hợp tác của NHTM 27
1.4 MỘT SỐ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC – NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY 27
1.4.1 Luật và môi trường cạnh tranh trong ngành 28
1.4.2 Số lượng đối thủ cạnh tranh trong ngành 28
1.4.3 Vai trò của Ngân hàng Nhà nước 30 1.5 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐỐI PHÓ VỚI KHỦNG HOẢNG NGÀNH
Trang 3CÁC NHTM 31
1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước về đối phó với khủng hoảng ngân hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh 31
1.5.2 Những bài học cho Việt Nam trong việc đối phó khủng hoảng ngành ngân hàng và tăng cường năng lực cạnh tranh của NHTM trong điều kiện hội nhập 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 41
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK – THANH HÓA 42
2.1 TỔNG QUAN VỀ AGRIBANK – NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 42
2.2 KHÁI QUÁT VỀ AGRIBANK – THANH HÓA 43
2.2.1.Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Agribank – Thanh Hóa 43
2.2.2 Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank -Thanh Hoá 47
2.3 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK – THANH HÓA SO VỚI CÁC ĐỐI THỦ KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG 53
2.3.1 Năng lực tài chính 53
2.3.2 Năng lực kinh doanh của Agribank – Thanh Hóa 57
2.3.3 Năng lực đổi mới tài sản và công nghệ 70
2.3.4 Chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị điều hành 71
2.4 PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK – THANH HÓA BẰNG MÔ HÌNH SWOT 72
2.4.1 Điểm mạnh (S-strengths) 72
2.4.2 Điểm yếu (Weaknesse) 75
2.4.3 Cơ hội (O -Opportunitties) 83
Trang 4KẾT LUẬN CHƯƠNG II 86
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THANH HÓA (AGRIBANK – THANH HÓA) 87
3.1 MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK – THANH HÓA 87
3.1.1 Bối cảnh của nền kinh tế trong và ngoài tỉnh Thanh Hóa 87
3.1.2 Nhận định môi trường cạnh tranh của ngành ngân hàng tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa 88
3.1.3 Mục tiêu, định hướng chiến lược của Agribank – Thanh Hóa 90
3.2 NHỮNG NHÓM GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK THANH HÓA 92
3.2.1 Nhóm giải pháp theo mô hình SWOT 92
3.3.2 Nhóm giải pháp về các lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ 97
3.4 NHỮNG KIẾN NGHỊ 108
3.4.1 Kiến nghị với Agribank Việt Nam: 108
3.4.2 Kiến nghị với NHNN Việt Nam 109
3.4.3 Kiến nghị với UBND tỉnh Thanh Hoá 109
3.4.4 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành TW 110
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 112
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 5Ti ng Anhếng Anh
ATM Automatic teller machine Máy giao dịch tự động
ACB Asia Commercial Bank Ngân hàng thương mại CP Á ChâuAgribank Vietnam Bank of Agriculture
and Rural Bank
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn
ANZ Australia and NewZealand
Banking Group Limited
CAR Capital Adequacy Ratio Hệ số an toàn vốn
HSBC Hongkong and Shanghai
Ngân hàng Công thương Trung Quốc
IPCAS The modernnization of
Interbank paymet and customer Accounting system
Dự án hiện đại hóa hệ thống thanh toán
Hệ thống thông tin quản lý
ROA Return on Total Assets Thu nhập trên tổng tài sản
ROE Return on common Equity Thu nhập trên vốn cổ phần
Sacombank Sai Gon Thuong Tin Bank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương TínVIB Vietnam V International Joint
Stock Bank
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Vietcombank Joint Stock Commercial Bank
for Foreign Trade of Vietnam
Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
Vietinbank Vieetjnam Technological and
Commercial Joint Stock Bank
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
VP Vietnam Prosperity Joint -
Stock Commercial Bank./
Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng
Trang 6NHTM Ngân hàng Thương Mại
DPRR Dự phòng rủi ro
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
NHTMCP Ngân hàng Thương Mại Cổ phần
PGD Phòng giao dịch
SPDV Sản phẩm dịch vụ
TCKT Tổ chức kinh tế
TCTD Tổ chức tín dụng
TTCK Thị trường Chứng khoán
TTQT Thanh toán quốc tế
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 7SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức hoạt động của Agribank –Thanh Hóa 46
BẢNG Bảng 2.1: Tổng quan về thị phần hoạt động chung 47
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh 2008 - 2012 51
Bảng 2.3: Bảng phân loại nợ của Agribank –Thanh Hóa thời điểm 31/12/2012 .57
Bảng 2.4: Kết quả tăng trưởng huy động vốn giai đoạn 2008 – 2012 58
Bảng 2.5: Kết quả tăng trưởng dư nợ giai đoạn 2008 – 2012 62
Bảng 3.1: Mạng lưới hoạt động của các TCTD – TCTC trên địa bàn thành phố Thanh Hóa 88
Bảng 3.2: Các chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2015 91
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Diễn biến kết quả kinh doanh của Agribank Thanh Hoá 53
Biểu đồ 2.2: Vốn chủ sở hữu của một số Chi nhánh NH lớn nhất tỉnh Thanh Hóa thời điểm 31/12/2012 53
Biểu đồ 2.3: Chỉ số ROA của Agribank – Thanh Hóa từ 2008-2012 55
Biểu đồ 2.4: So sánh với nợ xấu / Tổng dư nợ của các TCTD khác trên địa bàn 56
Biểu đồ 2.5: Diễn biến thị phần huy động vốn của Agribank – Thanh Hoá giai đoạn 2008 – 2012 trên phạm vi toàn tỉnh 58
Biểu đồ 2.6: Diễn biến thị phần huy động vốn của Agribank – Thanh Hoá giai đoạn 2008 – 2012 trên địa bàn đô thị loại 2 60
Biểu đồ 2.7: Diễn biến thị phần dư nợ của Agribank – Thanh Hoá giai đoạn 2008 – 2012 trên phạm vi toàn tỉnh 62
Biểu đồ 2.8: Cơ cấu cho vay theo ngành nghề kinh tế năm 2012 63
Biểu đồ 2.9: Danh mục cho vay theo thành phần kinh tế 2012 63
Biểu đồ 2.10: Diễn biến thị phần thu dịch vụ ngoài tín dụng toàn tỉnh 66
Biểu đồ 2.11: Thu nhập từ dịch vụ thanh toán của một số CNNH tại Thanh Hoá năm 2012 69
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đã qua rồi thời các ngân hàng gặt hái lợi nhuận dễ dàng mà đã đến lúcphải cạnh tranh quyết liệt để tồn tại Bởi thực tế, năm 2012, lợi nhuận củangành ngân hàng không mấy sáng sủa Bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàngtrong năm qua sụt giảm mạnh là điều đã được cảnh báo từ vài năm trước Nếutrước đây, gánh nặng lãi suất vay vốn quá cao đè nặng đã “lấy bớt” lợi nhuậncủa doanh nghiệp và nền kinh tế chuyển sang các ngân hàng thì nay, kinh tếkhó khăn, doanh nghiệp hoạt động sa sút, phá sản hàng loạt khiến tín dụngkhó khăn, nợ xấu cao đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng Khoản
lỗ năm nay của các ngân hàng Thương mại còn do các khoản cho vay từnhững năm trước chưa thu hồi được khi nợ xấu tăng cao Các ngân hàng cũngkhông còn được hưởng mức chênh lệch quá cao giữa huy động – cho vay khisức chịu đựng của doanh nghiệp không còn Xử lý nợ xấu, trích lập quỹ dựphòng rủi ro đầy đủ trong năm 2013 và giảm tăng trưởng tín dụng sẽ tiếp tụckhiến lợi nhuận và sức cạnh tranh của các ngân hàng bị ảnh hưởng Tuy nhiên,điều này sẽ giúp hoạt động của ngành ngân hàng hiệu quả và thực chất hơn
Năm 2012 và đầu năm 2013 cũng là giai đoạn mà hàng loạt những tinxấu khác từ ngành ngân hàng như giải thể, sát nhập, thoái vốn với quy mô lớnhay hàng loạt nhân sự cấp cao của các Ngân hàng vướng vào vòng lao lý,nhân viên Ngân hàng bị giảm lương, thưởng và nguy cơ thất nghiệp tăng cao.Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế là lúc bộc lộ rõ nhất năng lực cạnh tranhcủa từng ngân hàng trước gian nan, thử thách Vì thế, năm 2013, bức tranhngành ngân hàng sẽ tiếp tục phân hoá mạnh, chỉ những ngân hàng nào mạnhdạn tái cấu trúc, tận dụng nguồn lực, đổi mới chất lượng dịch vụ mới ổn địnhtăng trưởng và phát triển bền vững
Nằm trong vòng xoáy ảnh hưởng chung do tác động của khủng hoảngkinh tế thế giới và kinh tế trong nước, thời gian qua, các ngân hàng có mặt
Trang 10trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá cũng đã và đang gặp nhiều khó khăn, tháchthức Từ năm 2008, tại tỉnh Thanh Hoá, một loạt các NHTM đã mở rộngphạm vi hoạt động, nâng tổng số các chi nhánh cấp 1 lên 26, ngoài ra là cácphòng giao dịch, quỹ tiết kiệm Việc hàng loạt Ngân hàng TMCP ồ ạt ra đời
đã buộc các NHTM hoạt động yếu kém phải cơ cấu lại, các NHTM Nhànước cũng phải nhìn nhận lại năng lực toàn diện của mình để giữ vững thịphần Argibank –Thanh Hoá là một trong những ví dụ điển hình Cùng vớikhó khăn chung của hệ thống, trong năm qua, năng lực cạnh tranh và thịphần của Agribank – Thanh Hoá bị suy giảm ở cả khu vực thành thị và nôngthôn Ngoài những khó khăn chung của nền kinh tế, Agribank – Thanh Hoácòn phải đối mặt với khó khăn trong cạnh tranh do số lượng TCTD trên địabàn ngày càng nhiều và đang có xu hướng mở rộng hoạt động về nông thôn;đặc biệt là hệ thống Quỹ TDND với hơn 60 Quỹ TDND cơ sở đang cạnhtranh rất mạnh với Agribank – Thanh Hoá ở khu vực này.Vì vậy, nâng caonăng lực cạnh tranh trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết, cần có giải phápkịp thời, phù hợp trong từng giai đoạn và đặc thù vùng miền đối vớiAgribank – Thanh Hoá
Từ những nhận thức trên, đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh Thanh Hoá”
được lựa chọn nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá lý luận về cạnh tranh của NHTM Phân tích, đánh giánăng lực cạnh tranh của Agribank –Thanh Hoá Phân tích những lợi thế vàkhó khăn thách thức của Agribank –Thanh Hoá và những đối thủ cạnh tranh.Trên cơ sở đó, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và rút rađược các nguyên nhân để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị, nâng caonăng lực cạnh tranh của Agribank –Thanh Hoá
Trang 113 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là những vấn đề cơ bản về cạnhtranh và năng lực cạnh tranh của NHTM, năng lực cạnh tranh của Agribanknói chung và Agribank –Thanh Hoá nói riêng, từ đó tìm ra giải pháp nâng caonăng lực cạnh tranh của Agribank –Thanh Hoá
- Phạm vi nghiên cứu: Số liệu thu thập và phân tích về năng lực cạnhtranh của Agribank-Thanh Hoá và về thời gian tập trung vào giai đoạn từ
2008 – 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này, tác giả sử dụng những phương phápnghiên cứu: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; Phương pháp thống kê, phântích, so sánh, tổng hợp, sử dụng mô hình ma trận SWOT…
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của NHTM Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Argibank –Thanh Hoá Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Argibank –
Thanh Hoá
Trang 12CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI QUÁT CẠNH TRANH CỦA NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng, bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vậtquý cho những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phảitrả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công Cùng với sự phát triển kinh tế
xã hội, các hoạt động của ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú,NHTM trở thành một định chế trung gian đóng vai trò quan trọng đối với sựphát triển của nền kinh tế quốc dân Trong nghiên cứu, có những cách tiếpcận khác nhau về khái niệm ngân hàng:
Tại Anh: NHTM là tổ chức tài chính trực tiếp giao dịch với công chúngđể huy động các khoản tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chínhkhác cho công chúng
Theo Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED): NHTM là một tổ chức tài chínhdưới dạng công ty cổ phần, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, sẵn sàng choviệc cho vay
Theo từ điển Tài chính – Ngân hàng của Việt Nam: “NHTM là tổ chức chịu sự điều tiết về luật lệ của một nước hoặc pháp luật của một nước và thuộc sở hữu của các cổ đông Ngân hàng có nhiệm vụ thu nhận tiền gửi, cấp tín dụng, và một số loại dịch vụ tài chính khác”.
Theo điều 20 Nghị định 49/2000 NĐ - CP ngày 12/09/2000: “NHTM
là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan với mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.”
Như vậy, có thể hiểu NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trong
Trang 13lĩnh vực tiền tệ, tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Hay
nói cách khác, NHTM là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất củangân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn NHTM là cầu nói giữa các cánhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan hiếm Hoạtđộng của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hoá đặcbiệt đó là “vốn – tiền”, trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vayvốn, cũng như thu phí từ các loại hình dịch vụ để tạo nên lợi nhuận Hoạtđộng của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọitầng lớp nhân dân, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội
1.1.2 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.2.1 Lý thuyết về cạnh tranh
a Khái niệm về cạnh tranh
Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trongnhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thểthao; thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh
tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm củanhiều đối tượng từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệmkhác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau:
- Theo K.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
- Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”.
- Theo Michael Porter thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi
Trang 14nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là
sự bình quân hoá lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.”(1980)
Mặc dù có sự khác nhau về thuật ngữ sử dụng, tuy nhiên những khái
niệm trên đây tựu chung có thể rút ra khái niệm về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (giữa các quốc gia, doanh nghiệp) trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế kết hợp áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất cũng như trong dịch vụ để thoả mãn nhu cầu khách hàng bằng sản phẩm đảm bảo chất lượng, sự khác biệt và giá cả hợp lý qua đó giúp doanh nghiệp giành lấy những lợi thế cạnh tranh trong sản xuất, tiêu thụ hàng hoá để tối đa hoá lợi nhuận.
b Tính tất yếu của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lựcmạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất phải năngđộng, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoahọc công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động,hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thìthường trì trệ và kém phát triển Cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nềnkinh tế thị trường tự do dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãnđược nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng
Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thểhiện ở cạnh tranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đứchay vi phạm pháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại…)
c Các loại hình cạnh tranh
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại
* Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại:
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng
Trang 15hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất.Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ
thuộc vào quan hệ cung - cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộccạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người muaphải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ cần
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh
nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và cólợi cho người mua Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuốisức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phầncủa mình cho các đối thủ mạnh hơn
* Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế cạnh tranh được phân thành hai loại:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
khác nhau trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, sự cạnh tranhnày hình thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua
sự dịch chuyển của các ngành với nhau
* Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh được phân thành 3 loại:
- Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán
trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trênthị trường Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng nhất, tức làkhông khác nhau về quy cách, chất lượng, mẫu mã Để chiến thắng trong cuộccạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thànhhoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh
- Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa những
người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau
Mỗi sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để
Trang 16giành được ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗtrợ bán như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây làloại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
- Cạnh tranh độc quyền: bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá
cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định khôngphụ thuộc vào quan hệ cung cầu
* Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành:
- Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với
chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thường diễn ra sòng phẳng,công bằng và công khai
- Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa bào kẽ hở của luật
pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án (như trốn thuế, buôn lậu,móc ngoặc, khủng bố vv )
1.1.2.2 Cạnh tranh trong ngân hàng thương mại
Cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả cáclợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTMkhác, là nỗ lực hoạt động đồng bộ của ngân hàng trong một lĩnh vực khi cungứng cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, chi phí rẻnhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượt lên khỏi các ngân hàng khác trongcùng lĩnh vực hoạt động ấy
Giống như mọi doanh nghiệp, NHTM được coi là một doanh nghiệp rađời và tồn tại vì mục tiêu lợi nhuận Khi nền kinh tế của đất nước phát triển vànhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì sự cạnh tranh giữa các ngânhàng ngày một gay gắt hơn, đòi hỏi các NHTM tìm mọi cách để làm mới cácsản phẩm và dịch vụ của mình với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá
và chi phí cạnh tranh nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần và đểđạt lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng Về yếu tố cạnh tranh, các NHTM cũngbao gồm các yếu tố tương tự các TCKT khác như thị phần, nguồn nhân lực,
Trang 17công nghệ, sản phẩm dịch vụ, thương hiệu và văn hoá kinh doanh Tuy nhiên,
sự cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc trưng và khác biệt nhất định:
- Hoạt động và lĩnh vực kinh doanh của các NHTM có liên quan đến tất cả các ngành, các mặt của đời sống kinh tế – xã hội và các cá nhân: Thực
vậy, hoạt động ngân hàng chính là kênh quan trọng để Nhà nước điều tiếtlượng tiền mặt trong lưu thông phù hợp với quy luật lưu thông tiền tệ, đảmbảo điều kiện không “thiếu tiền” cũng như không “thừa tiền” quá mức Thôngqua việc huy động vốn nhàn rỗi và cấp tín dụng lại cho các tổ chức và cánhân, hoạt động của các ngân hàng đã làm tăng khả năng và hiệu quả sử dụngđồng vốn của nền kinh tế Vì vậy, hoạt động của các NHTM cũng chính làphong vũ biểu thể hiện “sức khoẻ”, tính lành mạnh hay rủi ro của nền kinh tếquốc gia Nếu như một NHTM bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ
vỡ, thì tất yếu tác động dây chuyền đến gần như tất cả các NHTM và tổ chứctài chính phi ngân hàng khác, tất nhiên ở nhiều cấp độ khác nhau Chính vìvậy, các NHTM vừa phải cạnh tranh lẫn nhau để giành giật thị phần, vừa phảihợp tác lẫn nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành mạnh để tránh rủi ro
hệ thống Để tránh sự hoạt động của các NHTM mạo hiểm gây nguy cơ đổ vỡ
hệ thống, tất cả NHTW các nước đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này
và đưa ra hệ thống cảnh báo khi cần thiết đề phòng ngừa rủi ro
- Sản phẩm và dịch vụ của các NHTM liên quan đến một hàng hoá đặc biệt – Tiền tệ: Ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - là lĩnh vực rất
nhạy cảm, chịu tác động bởi nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý,truyền thống, văn hoá mỗi một nhân tố này có sự thay đổi, dù là rất nhỏcũng tác động nhanh chóng tới môi trường kinh doanh chung Chẳng hạn: Chỉcần một tin đồn thổi dù là thất thiệt cũng có thể gây nên một cơn địa chấn lớn,thậm chí đe doạ cả sự tồn vong của một hệ thống tín dụng Một NHTM hoạtđộng yếu kém, khả năng thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng vàmối rủi ro cho nhiều tổ chức kinh tế và dân chúng trên địa bàn Vì vậy, trong
Trang 18hoạt động kinh doanh, chữ “uy tín” đối với các NHTM càng được đặt lênhàng đầu Nhân viên ngân hàng luôn cần có một phong cách chuyên nghiệp,lịch sự, am hiểu nghiệp vụ, khả năng tư vấn và đôi khi cả yếu tố hình thể.Dịch vụ của ngân hàng cũng đòi hỏi cao về việc đầu tư công nghệ nhanhchóng, chính xác, thuận tiện và bảo mật Trong cạnh tranh, thương hiệu củangân hàng được xây dựng, phát triển và tồn tại đầu tiên vẫn là nhờ sự tintưởng của khách hàng đối với những sản phẩm và dịch vụ theo thời gian.
- Hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống cao:
Vì kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên hoạt động kinh doanh của cácNHTM mang tính rủi ro rất cao – Nó chính là “chỗ trũng” của nền kinh tế,nên mọi rủi ro hay sự nhạy cảm từ các biến động đều “chảy về” ngân hàng.Hơn nữa, các NHTM đều chịu tác động chung của quy luật tiền tệ, mục đíchkinh doanh trên cùng một thị trường Vì vậy để đảm bảo tính đồng bộ, thốngnhất, cùng nhau giảm thiểu rủi ro, hoạt động của các NHTM phải có mối liên
hệ, hợp tác và gắn bó với nhau, vừa cạnh tranh để từng bước mở rộng kháchhàng, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sửdụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính lẫn nhau Đặc biệt ở nước
ta hiện nay, vấn đề sở hữu chéo ngân hàng đã và đang thể hiện sự liên quanchặt chẽ của các ngân hàng Năm 2012 đã chứng kiến nhiều cuộc rời bỏ, rútvốn của các “ông lớn” NHTM ra khỏi các NHTM bé hơn đã làm cả hệ thốngphản ứng “co lại” Điển hình như loạt thoái vốn quy mô lớn của ACB tại một
số nhà băng, hay thay đổi cổ đông lớn tại Navibank, Western Bank
- Hoạt động của các NHTM không chỉ giới hạn ở phạm vi trong nước,
mà có liên quan đến các nước khác trong hoạt động kinh tế đối ngoại Vì vậy,hoạt động trong hệ thống NHTM chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong nước
và quốc tế, như: Môi trường pháp luật, tập quán, các thông lệ quốc tế Đặcbiệt, nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính, trong
đó, công nghệ thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng, có tính chất quyếtđịnh đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM Điều này cũng có nghĩa là
Trang 19sự cạnh tranh trong hệ thống các NHTM phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiềuthông lệ, tập quán kinh doanh tiền tệ của các nước, sự cạnh tranh phải dựatrên nền tảng kỹ thuật công nghệ tiên tiến Rõ ràng, sự cạnh tranh của cácNHTM là loại cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất
cứ loại hình kinh doanh nào khác
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong NHTM
* Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt đượcmột số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chấtlượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thịtrường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới
Theo WEF (Diễn đàn kinh tế thế giới – 1997) trong bản Báo cáo cạnh
tranh toàn cầu: “Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu doanh nghiệp đề ra.”
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trêncấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Cụ thể là:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt
được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xãhội, nâng cao đời sống của nhân dân
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranhtrong và ngoài nước Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệuquả kinh doanh, lợi nhuận và thị phần doanh nghiệp có được
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần
của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường Khả năng cạnh ranh của sản
Trang 20phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh như: chất lượng, tính độc đáocủa sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm dịch vụ đó.
* Năng lực cạnh tranh trong NHTM
Theo PGS.TS Trần Huy Hoàng, trong cuốn Quản trị ngân hàng thương
mại, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng được hiểu như sau: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận ngày càng cao, có khả năng chống lại một cách thành công sức ép của các đối thủ”.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM trước hết phải xem xét cáclợi thế cạnh tranh (competitive advantages) của ngân hàng đó, các yếu tố tácđộng đến năng lực cạnh tranh thực tế của ngân hàng đó thông qua hệ thốngcác chỉ tiêu đánh giá, sử dụng công cụ SWOT để phân tích và cuối cùng làđánh giá các kết quả thu được Đây chính là cơ sở cho việc đưa ra các giảipháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM trong điều kiện hiện nay
- Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại những cơ hội phát triển to lớn chongành ngân hàng trước những khó khăn và thách thức Có thể thấy, khi nhữngrào cản đối với các ngân hàng nước ngoài được tháo bỏ sẽ mở ra một sân chơilành mạnh hơn cho các ngân hàng Các ngân hàng nước ngoài sẽ được pháttriển tự do hơn trên mảng tài chính ngân hàng trong khi các ngân hàng nội sẽkhông ngừng cải tiến sản phẩm và nâng cao dịch vụ của mình để cùng cạnhtranh Đây cũng được coi như “cú hích” để các NHTM Việt Nam đi lên Vànếu một trong số các ngân hàng Việt chưa có sự chuẩn bị kỹ và năng lực cạnhtranh còn yếu kém sẽ bị đào thải và lúc đó phải sát nhập hoặc bán lại.Thịtrường sẽ sang lọc và những ngân hàng nào quản trị tốt, năng lực cạnh tranhcao sẽ tồn tại và phát triển mạnh Hơn nữa, từ 1-1-2011, chi nhánh Ngân hàng
Trang 21nước ngoài đã được bình đẳng trong việc áp dụng các giới hạn về cấp tíndụng và bảo lãnh Chính vì vậy, các NHTM Việt Nam càng cần thiết phảinâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại được trong bối cảnh hội nhập.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của kháchhàng: Hiện nay, khi điều kiện sống và dân trí tăng lên, nhu cầu về giao dịchqua hệ thống ngân hàng cũng phát triển nhanh chóng với quy chuẩn và tiệních đa dạng hơn Ngân hàng nào có chất lượng tín dụng tốt nhất, đa dạng hóađược các sản phẩm dịch vụ, tạo ra được sự khác biệt trong phương pháp phụcvụ và giá cả phải chăng sẽ giành được chiến thắng trong quá trình cạnh tranhkhốc liệt này
- Năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam còn yếu, trong đó dễdàng nhận thấy đó là điểm yếu về vốn tự có còn rất thấp, trình độ tiếp cậnkhoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế, đội ngũ quản lý điều hành còn kém xa
so với chuẩn mực quốc tế…Chính vì vậy mà bản thân các ngân hàng phảikhông ngừng học hỏi và tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để ngàycàng vững vàng hơn
- Hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển, số lượng các ngân hàngquốc tế có tiềm lực ngày càng tăng,bối cảnh khó khăn của nền kinh tế tácđộng xấu đến hoạt động của các ngân hàng Nhiều ngân hàng nhỏ còn đối mặtvới áp lực tái cơ cấu bởi sức cạnh tranh yếu kém, có nguy cơ phá sản Vì vậy,nâng cao năng lực cạnh tranh là một tất yếu giúp các ngân hàng có thể tồn tại
và phát triển được
1.2.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của NHTM
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng rất phong phú và đa dạng, nóđược xem như chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực, các chủ thể khác nhau trongnền kinh tế Do vậy, có rất nhiều nhân tố tác động đến hoạt động ngân hàngbao gồm nhân tố vi mô và nhân tố vĩ mô Các nhân tố này có thể làm chonăng lực cạnh tranh của ngân hàng tăng lên hoặc ngược lại, bị đẩy lùi nếu
Trang 22không có khả năng chống đỡ và thích ứng Từ việc xác định đúng và có dựbáo xu hướng theo từng thời kỳ, các NHTM có thể đề ra những chiến lược vàmục tiêu phù hợp để làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
1.2.3.1 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô
Môi trường kinh tế: Năng lực cạnh tranh của ngân hàng phụ thuộc rất
nhiều vào môi trường kinh tế Môi trường kinh tế lành mạnh và ổn định tạođiều kiện để ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh và ngược lại
Môi trường chính trị – Pháp luật: Môi trường chính trị - pháp luật bao
gồm hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của Nhànước, cơ chế - tổ chức bộ máy của chính phủ, của tổ chức chính trị xã hội Nó
là một trong những yếu tố tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh của ngânhàng Vì vậy, nó ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng.Khi chính trị bất ổn hay hệ thống luật không phù hợp với xu hướng của nềnkinh tế sẽ cản trở sự phát triển của nền kinh tế, khi nền kinh tế không pháttriển được sẽ kéo theo nhiều ngành nghề khác cũng bị kìm hãm và ngân hàngcũng không ngoại lệ
Môi trường văn hoá xã hội: Mỗi tổ chức kinh tế đều nằm trong những
môi trường xã hội cụ thể và chịu sự tác động của môi trường đó Ví dụ: dân
số, văn hoá, cơ sở vật chất, trình độ dân trí và khả năng hiểu biết của ngườidân về các dịch vụ ngân hàng… Quan niệm, lòng tin của khách hàng cũngnhư thói quen, tập quán đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng.Những đặc điểm văn hoá - xã hội còn ảnh hưởng đến nguồn nhân lực củangân hàng như: quan điểm về học tập và tự đào tạo, quan điểm về văn hoáứng xử, quan điểm về đạo đức nghề nghiệp
Môi trường khoa học và công nghệ: Khoa học – công nghệ trên thế giới
ngày càng phát triển, nhiều ngân hàng nước ngoài có tiềm lực mạnh đang làmối đe doạ lớn, đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải tự đổi mới công nghệ,hoàn chỉnh hệ thống máy móc thiết bị tận dụng môi trường khoa học – công
Trang 23nghệ tiên tiến để giúp cho NHTM Việt Nam đi tắt đón đầu, đáp ứng được yêucầu cạnh tranh và hội nhập.
Môi trường quốc tế: Khi tiến trình hội nhập nền kinh tế diễn ra nhanh
chóng, nền kinh tế mở cửa vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với kinh tế ViệtNam nói chung và với ngành ngân hàng nói riêng Khi gia nhập WTO, ngânhàng có thể thu hút được nhiều vốn hơn, học hỏi tiếp thu được công nghệ caohơn và thị trường nước ngoài cũng mở rộng hơn Tuy nhiên, khi nền kinh tếhội nhập sâu hơn, nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hơn, với nhữngtiềm lực lớn mạnh hơn sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến các ngân hàng Việt Nam
1.2.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến từ môi trường vi mô
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp: Là những doanh nghiệp hoạt động trong
cùng lĩnh vực, có hệ thống sản phẩm tương đồng, cùng chia sẻ lợi nhuận trênthị trường Đối thủ của ngân hàng là các ngân hàng khác, các tổ chức tín dụngcác doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ giống với ngân hàng Các đốithủ này là yếu tố quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh của ngân hàng
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Là những đối thủ cạnh tranh sẽ xuất hiện
trong tương lai Trong thời kỳ nền kinh tế mở cửa sẽ có rất nhiều ngân hàngnước ngoài đầu tư vào Việt Nam và sẽ trở thành đối thủ mới Do vậy, cầnphải chú trọng đến vấn đề này để có những biện pháp hiệu quả, giữ vững vàphát triển thị phần của mình
Sản phẩm thay thế: Khi đời sống càng ngày càng nâng cao, nhu cầu của
con người đòi hỏi sự thoả mãn mong muốn nhiều hơn Vì thế, các nhà đầu tưluôn đưa ra những sản phẩm thay thế nhằm giúp cho người tiêu dùng có nhiều
sự lựa chọn và chính họ cũng sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn Do vậy, ngânhàng cần mở rộng dịch vụ hơn nữa để người tiêu dùng có thể lựa chọn sảnphẩm ngay trong ngân hàng mình Như vậy ngân hàng sẽ giữ được thị phần từ
đó tăng lợi nhuận cho mình
Khách hàng: Trong kinh doanh, không chỉ ngân hàng mà đối với mọi
Trang 24doanh nghiệp, khách hàng vô cùng quan trọng bởi sản phẩm, dịch vụ làm ra làđể bán cho khách hàng tiêu dùng.Nếu không quan tâm đến nhu cầu, tâm lýcủa khách hàng thì ngân hàng khó giữ được khách hàng cũ và không pháttriển được khách hàng mới Điều này dẫn đến quy mô hoạt động bị thu hẹp,doanh thu ít đi năng lực cạnh tranh bị suy giảm mạnh.
1.3 CÁC TIÊU THỨC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM
Các tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
Có nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh củaNHTM.Tuy nhiên, hiện nay, khi đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTMngười ta thường quan tâm tới các chỉ tiêu cho biết năng lực tài chính, năng lựckinh doanh, năng lực công nghệ thông tin, nguồn nhân lực và năng lực quản
lý điều hành, danh tiếng, uy tín và khả năng hợp tác
1.3.1 Năng lực tài chính
Chỉ tiêu tiềm lực tài chính của ngân hàng thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá
về quy mô nguồn vốn chủ sở hữu, khả năng huy động vốn, khả năng thanh toán,khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của NHTM
1.3.1.1 Nguồn vốn chủ sở hữu
“Vốn tự có gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một
số tài sản nợ khác của TCTD theo quy định của NHNN Vốn tự có là cơ sở để tính toán các tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng”.
Vốn chủ sở hữu ban đầu đối với các NHTM chính là vốn do cổ đônggóp thông qua việc mua cổ phần (hoặc cổ phiếu) bao gồm các cổ phần thường
và cổ phiếu ưu đãi Mức vốn này phải đảm bảo tối thiểu bằng vốn pháp định.Vốn chủ sở hữu bổ sung bao gồm cổ phần phát hành thêm hoặc ngân sách cấpthêm trong quá trình hoạt động, lợi nhuận tích lũy, các quỹ, phát hành giấy nợdài hạn Nhìn trên bảng cân đối kế toán của các NHTM, khoản mục vốn vàcác quỹ thể hiện nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản mục chính như sau: Vốnđiều lệ, quỹ dự trữ phòng tài chính,quỹ khen thưởng và phúc lợi Vốn chủ sở
Trang 25hữu có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động ngân hàng vì góp phần hìnhthành tài sản của ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, đặcbiệt là đầu tư trung và dài hạn cũng như tạo ra trang thiết bị và công nghệngân hàng hiện đại để mở rộng hoạt động và thu hút khách hàng Vốn tự cócũng quyết định quy mô của ngân hàng lớn, vừa hay nhỏ Hiện nay, theo quyđịnh, vốn điều lệ tối thiểu của ngân hàng là 10.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, vốn tự có quyết định số tiền mà ngân hàng được phép chovay tối đa Dựa trên số vốn tự có mà ngân hàng có thể thực hiện các nghiệpvụ phát hành bảo lãnh, thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ
1.3.1.2 Khả năng sinh lời
Đây là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng đồng thờicũng phản ánh phần nào kết quả cạnh tranh của ngân hàng Các chỉ tiêu cụ thểđánh giá khả năng sinh lời của một NHTM gồm có: Giá trị tuyệt đối của lợinhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu lợi nhuận (lợi nhuậnđược hình thành từ nguồn nào, từ hoạt động kinh doanh thông thường hay từcác khoản thu nhập bất thường), tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE), tỷsuất sinh lời trên tổng tài sản có (ROA), các chỉ tiêu về mức sinh lợi trongmối tương quan với chi phí… Trong số các chỉ tiêu này, hai chỉ tiêu thườngđược quan tâm để đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng làROE, ROA
ROA = Lợi nhuận sau thuế X 100 %
Tổng tài sản
Chỉ tiêu trên cho thấy khả năng bao quát của hoạt động NHTM trongviệc tạo thu nhập từ tài sản Các ngân hàng thường sử dụng ROA để đo lườngmối quan hệ sinh lời của tài sản và nguồn vốn bởi vì một bộ phận nguồn vốnđược sử dụng tạo nên tài sản không sinh lãi và có một bộ phận tài sản khôngsinh lãi lại tham gia tạo nên thu nhập cho ngân hàng Do vậy, nếu ROA lớn,chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của NHTM tốt, cơ cấu tài sản hợp lý Tuy
Trang 26nhiên, nếu ROA quá lớn làm cho các nhà quản trị lo lắng vì rủi ro nhìn chungluôn song hành với lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu x 100 %
ROE không những được các ngân hàng quan tâm mà nó còn thu hút sựquan tâm của các cổ đông, bởi ROE là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn chủ sởhữu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Điều này đồng nghĩa với việc cổđông được hưởng bao nhiêu lợi tức trên 1 đồng vốn bỏ ra Do vậy, các ngânhàng luôn chú ý tăng chỉ tiêu này để tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư,nhằm kêu gọi vốn góp Tuy nhiên, nếu ROE quá cao so với ROA chứng tỏnguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn và
do vậy sẽ ảnh hưởng đến tính lành mạnh trong hoạt động của ngân hàng
1.3.1.3 Khả năng thanh khoản
Là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán tiềncủa khách hàng, được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản và tính thanhkhoản của nguồn vốn
Kh n ng thanh kho n c a ngân h ng ủa ngân hàng được thể hiện thông qua các àng được thể hiện thông qua các được thể hiện thông qua cácc th hi n thông qua cácể hiện thông qua các ện thông qua các
ch tiêu chính nh sau:ỉ tiêu chính như sau: ư
Khả năng thanh toán ngay =
Tài sản Có phải thanh toán ngay Tài sản Nợ phải thanh toán ngay
Chỉ tiêu này đo lường khả năng ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu tiềnmặt của người tiêu dùng Tỷ lệ này theo quy định của NHNN tối thiểu phảibằng 1 Khi nhu cầu tiền mặt của người gửi tiền bị giới hạn thì uy tín củangân hàng sẽ bị giảm một cách đáng kể, rủi ro thanh khoản xảy ra, đe dọa đến
sự sống còn của NHTM
Trang 27*Khả năng quản trị rủi ro thanh khoản: Việc quản lý tốt rủi ro thanh
khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng lưc cạnh tranhcho NHTM Bởi lẽ, những NHTM nào đã xây dựng cho mình một chiến lượcquản trị thanh khoản một cách khoa học và bài bản với các công cụ hữu ích,
có khả năng dự báo sát các diễn biến của thị trường tài chính, tiền tệ, nhữngthay đổi về lưu lượng tiền gửi cho vay…sẽ giúp ngân hàng hạn chế tối thiểurủi ro về vấn đề thanh khoản trước mọi diễn biến của thị trường Từ đó tạoniềm tin trong lòng khách hàng cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh củangân hàng…
Để xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro thanh khoản hiệu quả, đòi hỏicác ngân hàng phải có được hệ thống thông tin đầy đủ để đo lường, giám sát vàkiểm soát, báo cáo rủi ro thanh khoản Bên cạnh đó, phải có một đội ngũchuyên viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, có khả năng xây dựng đượcchiến lược và các quy trình quản lý thanh khoản, có khả năng giám sát và phảnứng linh hoạt trước những biến động bất thường trong cơ cấu tài sản nợ/có
*Mức độ rủi ro: Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt
và những rủi ro đối với hoạt động ngân hàng là rất cao và mang tính đặc thù.Bản chất của hoạt động kinh doanh luôn mang tính mạo hiểm nên bất kỳ nhàphân tích nào cũng phải quan tâm đến rủi ro Trong phân tích rủi ro ngânhàng, người ta chú trọng đến các rủi ro thường gặp là: rủi ro thanh khoản, rủi
ro tín dụng, rủi ro lãi suất và rủi ro thu nhập Một ngân hàng có năng lực cạnh
Trang 28tranh cao khi mà các loại rủi ro của nó được đánh giá là thấp và ngược lại Cóhai chỉ tiêu thường sử dụng để phân tích rủi ro của ngân hàng:
Hệ số an toàn vốn
Vốn chủ sở hữu
x 100 Tổng tài sản điều chỉnh “Có” rủi ro
Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng càngmạnh, càng tạo được uy tín, sự tin cậy trong lòng khách hàng
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn thể hiện chất lượng tín dụng tại NHTM Nếu tỷ lệ nàycàng thấp cho thấy chất lượng tín dụng của NHTM càng tốt, tình hình tàichính lành mạnh và ngược lại
Căn cứ quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng củaTCTD do Thống đốc NHNN ban hành thì nợ quá hạn của các TCTD đượcphân làm 5 loại:
+ Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá
có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinhtrong tương lai như các khoản bảo lãnh
+ Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ
cơ cấu lai thời hạn trả nợ
+ Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày tới
180 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
+ Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360ngày và cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
+ Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ
xử lý
1.3.2 Năng lực kinh doanh
Trang 29NHTM Kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu
tư và cung cấp các dịch vụ khác Có thể đánh giá năng lực kinh doanh củaNHTM qua các chỉ tiêu sau:
* Các chỉ tiêu về huy động vốn:
Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanhngân hàng Trên bảng cân đối tài sản, vốn huy động được nằm bên “tài sảnNợ” do đây là những tài sản của các tổ chức, cá nhân kinh tế gửi vào ngânhàng và ngân hàng dùng chủ yếu nguồn vốn này để kinh doanh Các chỉ tiêunày bao gồm:
Thị phần vốn huy động của ngân hàng:
Tổng vốn huy động của các TCTD
Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng chiếm vị trí nào trên thị trường huyđộng vốn Thị phần huy động vốn chiếm tỷ trọng càng lớn chứng tỏ khả nănghuy động vốn của ngân hàng càng lớn so với đối thủ cạnh tranh
Mức tăng trưởng huy động vốn:
Mức tăng trưởng huy động vốn năm N =
Vốn huy động năm N -
Vốn huy động năm N-1
Chỉ tiêu này cho biết sự tăng trưởng nguồn vốn huy động theo sốtuyệt đối của năm nay so với năm trước Mức tăng trưởng dương và lớnchứng tỏ hoạt động huy động của ngân hàng càng phát triển.Tuy nhiên đểđánh giá toàn diện mức tăng trưởng nguồn huy động chúng ta cần đánh giáthêm chỉ tiêu sau:
Tốc độ tăng trưởng huy động vốn:
Tốc độ Vốn huy động - Vốn huy động
Trang 30*Các chỉ tiêu về cho vay và đầu tư:
Đây là những chỉ tiêu thể hiện khả năng sử dụng vốn của Ngân hàng.Trên bảng cân đối, nó là “tài sản Có”
Khi đánh giá năng lực cạnh tranh, các ngân hàng thường chỉ xem xét đếncác tài sản sinh lời như cho vay và đầu tư Đối với các ngân hàng Việt Nam,tuy đã đổi mới, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh dịch vụ nhưng doanh thuchủ yếu vẫn từ cho vay Vì vậy, việc đánh giá chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêusau:
Thị phần tín dụng của Ngân hàng:
Thị phần tín dụng của NH = Dư nợ của NH x 100%
Tổng dư nợ của các TCTD
Chỉ tiêu này cho biết vị trí của Ngân hàng trong hoạt động cho vay trênthị trường Thị phần tín dụng của Ngân hàng càng lớn càng tốt, chứng tỏ khảnăng về cho vay của ngân hàng mạnh hơn so với các đối thủ cạnh tranh Tuynhiên, sẽ là tốt hơn nếu thị phần về cho vay phát triển tương ứng với thị phầnhuy động vốn, điều này càng thể hiện khả năng thu hút và sử dụng vốn củaNgân hàng
Mức tăng trưởng dư nợ tín dụng
Mức tăng trưởng
dư nợ tín dụng =
Dư nợ tín dụng năm N -
Dư nợ tín dụng năm N-1
Trang 31Chỉ tiêu này cho thấy mức tăng trưởng dư nợ tuyệt đối của năm nay sovới năm trước là bao nhiêu Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng cho vay củangân hàng đối với nền kinh tế và khả năng thu hút khách hàng so với các đốithủ cạnh tranh.
T c ốc độ tăng trưởng tín dụng: độ tăng trưởng tín dụng: t ng trưởng tín dụng:ng tín d ng:ụng:
Dư nợ tín dụng năm N-1
Đây là mức tăng trưởng tương đối của dư nợ tín dụng Từ đó cho thấy
sự biến động của hoạt động tín dụng và có những chiến lược phù hợp để pháttriển hoạt động kinh doanh
*Các chỉ tiêu về hoạt động dịch vụ ngoài tín dụng:
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của NHTM trong lĩnh vựchoạt động thu ngoài tín dụng (gọi tắt là thu dịch vụ) bao gồm:
Số lượng các dịch vụ cung cấp cho khách hàng:
Trang 32KH Chỉ tiêu này phản ánh một KH sử dụng cùng loại dịch vụ tại Ngân hàngvới các NHTM khác.
Nói chung, các nghiệp vụ thu ngoài tín dụng ngày càng phong phú, đadạng và đem lại nhiều thu nhập cho NHTM
S lốc độ tăng trưởng tín dụng: ược thể hiện thông qua cácng các khi u n i, ph n n n c a khách h ng v thu d ch v :ếng Anh ại, phàn nàn của khách hàng về thu dịch vụ: àng được thể hiện thông qua các àng được thể hiện thông qua các ủa ngân hàng được thể hiện thông qua các àng được thể hiện thông qua các ề thu dịch vụ: ịch vụ tăng thêm: ụng:
năm N
-Số lượng các khiếu nại, phàn nàn của khách hàng về thu dịch vụ năm
N-1
*Khả năng phát triển mạng lưới:
Mạng lưới chi nhánh của Ngân hàng thể hiện ở số lượng chi nhánh vàcác đơn vị trực thuộc ngân hàng, sự phân bổ mạng lưới theo địa lý lãnh thổ.Phát triển một mạng lưới chi nhánh rộng lớn đồng nghĩa với việc nâng caonăng lực cạnh tranh của NHTM, đặc biệt trong điều kiện các dịch cụ truyềnthống của ngân hàng vẫn còn chiếm ưu thế như ở Việt Nam Mạng lưới chinhánh rộng, phân bổ hợp lý giữa các vùng, miền sẽ tăng tính hiệu quả chocông tác quản lý, giám sát hoạt động của các chi nhánh cũng như đưa sảnphẩm của Ngân hàng đến tận tay nhiều khách hàng ở các vùng miền khácnhau hơn
1.3.3 Năng lực công nghệ
Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như
là một trong nhưng nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất củamỗi ngân hàng Mức độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng được đánh giá quacác chỉ tiêu sau:
* Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hỗ trợ các dịch vụ hiện đại:
Bao gồm hệ thống ứng dụng công nghệ nền tảng (Core banking), hệthống mạng và viễn thông đảm bảo kết nối trực tuyến Cụ thể đó là các hệthống thanh toán điện tử, máy ATM, hệ thống thông tin quản lý MIS, hệthống cảnh báo rủi ro trong nội bộ ngân hàng
Trang 33* Quy trình vận hành và quản lý các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại: Đây là yếu tố quan trọng vì dù các ngân hàng đã đầu tư vào cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin mà chưa xây dựng được quy trình vận hành và quản
lý phù hợp thì cũng chưa thể phát triển được các sản phẩm dịch vụ ứng dụngcông nghệ hiện đại Chỉ tiêu này thể hiện ở tính đa dạng, quy mô và tốc độphát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại (Internet banking, phonebanking, mobile banking, SMS banking, thẻ rút tiền bằng máy ATM, thẻ tíndụng…)
* Khả năng tự nâng cấp và đổi mới công nghệ của các NHTM để thích ứng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng: Với tốc độ phát triển rất nhanh của ngành công nghệ thông tin nói
chung và công nghệ lĩnh vực ngân hàng nói riêng, nếu chỉ tập trung phân tíchvào khả năng công nghệ hiện tại mà không chú ý tới khả năng nâng cấp vàthay đổi trong tương lai thì sẽ rất dễ có những nhận thức sai lầm về năng lựccông nghệ của các ngân hàng.Vì thế, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở
số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng mở(nghĩa là khả năng đổi mới) của công nghệ hiện tại
Bên cạnh đó, để công nghệ phát huy hiệu quả đòi hỏi trình độ của độingũ cán bộ ngân hàng đáp ứng được các yêu cầu quản lý, vận hành được côngnghệ mới Do đó, song hành với việc trang bị công nghệ, phần mềm mới, hiệnđại thì ngân hàng phải quan tâm đến việc chuyển giao công nghệ, đào tạo độingũ cán bộ của mình, đặc biệt là đội ngũ làm cán bộ công nghệ thông tin đểlàm chủ được công nghệ của mình
1.3.4 Năng lực quản trị
Năng lực quản lý điều hành có thể nói là một trong những năng lực cótính chất tiên quyết nhất đối với sự thành công và phát triển của bất kỳ mộtdoanh nghiệp nào Năng lực quản lý điều hành được thể hiện ở trình độ cảuHội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc của một ngân hàng Nó thể hiện
Trang 34mức độ chi phối và khả năng giám sát của Hội đồng quản trị đối với BanGiám đốc cũng như Hội đồng quản trị đối với việc duy trì và nâng cao nănglực cạnh tranh của Ngân hàng; chính sách tiền lương và thu nhập; số lượng,chất lượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lươc, chính sách và quy trìnhkinh doanh cũng như quy trình quản lý rủi ro, kiểm toán kiểm soát nộibộ.Năng lực quản lý quyết định hiệu quả sử dụng những nguồn lực của Ngânhàng Một Hội đồng quản trị hay một Ban giám đốc yếu kém , không có khảnăng đưa ra những chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những thayđổi của thị trường…sẽ làm lãng phí các nguồn lực, làm yếu đi năng lực cạnhtranh và nguy cơ đẩy lùi chỗ đứng của Ngân hàng đó trong ngành.
Năng lực quản lý của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc bị chiphối bởi cơ cấu tổ chức của NHTM Cơ cấu tổ chức là một chỉ tiêu quan trọngphản ánh cơ chế phân bổ các nguồn lực của một ngân hàng có phù hợp vớiquy mô trình độ quản lý, đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thịtrường hay không Cơ cấu tổ chức của một ngân hàng thể hiện ở sự phân chiacác phòng ban chức năng, các bộ phận tác nghiệp, các đơn vị trực thuộc…Hiệu quả của cơ chế quản lý không chỉ phản ánh ở số lượng các phòng ban,
sự phân công, phân cấp giữa các phòng ban mà còn phụ thuộc vào mức độphối hợp giữa các phòng ban, các đơn vị trong việc triển khai chiến lược kinhdoanh,các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, khả năng thích nghi và thay đổicủa cơ cấu trước những biến động của ngành hay những biến động trong môitrường vĩ mô…
1.3.5 Uy tín, thương hiệu và khả năng hợp tác của NHTM
Uy tín và thương hiệu của ngân hàng là những dấu hiệu (hữu hình và
vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm dịch vụ nào đó được cung cấpbới một NHTM.Thương hiệu là một tài sản của ngân hàng thương mại,thường được cấu thành bởi một cái tên, hay các chữ, các cụm từ một logo,
Trang 35một biểu tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên Uy tín vàthương hiệu được thể hiện số năm hoạt động và chất lượng dịch vụ mà mộtNHTM cung cấp cho khách hàng Một NHTM được coi là có thương hiệu khiđược nhiều khách hàng thừa nhận và đánh giá cao bởi chất lượng phục vụ.
Ngày nay, ngoài uy tín và thương hiệu, NHTM muốn tăng khả năngcạnh tranh của mình còn phải tăng cường liên kết, hợp tác lẫn nhau Việc liênkết có thể diễn ra giữa ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ hay giữa các ngânhàng lớn với nhau hoặc giữa các ngân hàng nhỏ với nhau Sự liên kết giữangân hàng lớn và ngân hàng nhỏ thì ngân hàng nhỏ sẽ tăng thêm uy tín, thêmsức mạnh tài chính, thu hút thêm khách hàng
Nhiều nhận định cho rằng, sau một thời gian gia nhập WTO, hệ thốngngân hàng Việt Nam đã có bước chuyển biến rõ rệt theo hướng tạo ra một thịtrường mở cửa và có tính cạnh tranh cao hơn, thúc đẩy khu vực dịch vụ ngânhàng tăng trưởng cả về quy mô và loại hình hoạt động, thích ứng nhanh hơnvới những tác động từ bên ngoài; từ đó có khả năng đóng góp nhiều hơn vàchủ động hơn vào sự phát triển chung của nền kinh tế
1.4 MỘT SỐ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC – NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong hoạt động ngân hàng ở nước ta, cạnh tranh không lành mạnh đã
và đang diễn ra rất phức tạp, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của hệthống ngân hàng và quyền lợi của người tiêu dùng Thực tế trên đòi hỏi cầnphải nhận diện được những hành vi này và có những giải pháp khắc phục kịpthời trong thời gian tới
1.4.1 Luật và môi trường cạnh tranh trong ngành
Hiện nay, hầu như pháp luật ngân hàng nước ta không đề cập đủ rõnhững hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm thực hiện, mà chỉ liệt kê một số
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, dưới một cách gọi khác là “hành vi cạnh tranh bất hợp pháp” (Luật các tổ chức tín dụng 1997) Hiện tượng này
Trang 36tuy không cản trở việc áp dụng trực tiếp các quy định của Luật cạnh tranhchung về những hành vi hạn chế hành vi cạnh tranh bị cấm, nhưng lại khôngnói rõ tính đặc thù của ngành Ngân hàng cần phải quy chiếu điều luật chuyênngành, trong khi đó Luật chuyên ngành “giao Chính phủ” quy định.
Khuôn khổ pháp lý của Việt Nam áp dụng cho lĩnh vực Ngân hàng chủyếu được điều chỉnh bằng 2 luật, gồm: Luật cạnh tranh chung số27/2004/QH11; và Luật các TCTD số 47/2010/QH12 Tuy nhiên, thực tế chothấy vấn đề cạnh tranh mang tính độc quyền đang tồn tại trong tất cả các lĩnhvực kinh doanh của ngân hàng Trong đó, nổi cộm nhất là pháp lý đang ủng
hộ các Ngân hàng có sở hữu nhà nước và/ hoặc Nhà nước sở hữu chi phối.Theo đó, những Ngân hàng này hầu như được mặc nhiên giữ vai trò chủ đạo,chủ lực nhờ được cung cấp vốn từ ngân sách nhà nước, được ưu ái nơi đầu tư,được chỉ định tín dụng, ủy thác đầu tư và không bị hạn chế giới hạn sở hữu.Thuật ngữ “Nhà nước” được cụ thể hóa bởi những cá nhân đầy quyền năng,không một đồng vốn trong tay Thậm chí, không ít còn rất hạn chế về kiếnthức ngân hàng nhưng lại có quyền sử dụng mọi phương tiện sản xuất sẵn cócủa một ngân hàng để kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng – lĩnh vực dùngvốn xã hội gián tiếp đầu tư vào nền kinh tế qua đối tượng do mình lựa chọn…
1.4.2 Số lượng đối thủ cạnh tranh trong ngành
Các TCTD đang cạnh tranh trong tình trạng mật độ các điểm dịch vụNgân hàng dày đặc do việc cho việc cho mở quá nhiều NHTM có quy mô, sởhữu, năng lực khác nhau nhưng sản phẩm, thị trường cạnh tranh giống nhau.Thực trạng này đã dẫn đến chính sách khách hàng không hợp lý, làm chi phí
hoạt động và lãi suất huy động tăng,“miếng bánh huy động bị dàn mỏng”.
Toàn ngành ngân hàng Việt Nam hiện có: 1 hệ thống NHNN gồm Hộisở chính với 63 chi nhánh ở 63 tỉnh, thành phố; Hệ thống TCTD có 5 NHTMnhà nước, 37 NHTM CP, 17 Công ty Tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính,
Trang 371 Quỹ tín dụng Nhân dân TW (Có khoảng 30 chi nhánh và 1044 quỹ tín dụngnhân dân cơ sở); 47 chi nhánh NH nước ngoài;5 NH liên doanh; 5 NH 100%vốn nước ngoài; 50 văn phòng đại diện nước ngoài Hệ thống trên có tới trên10.000 chi nhánh và điểm dịch vụ ngân hàng Tính ra mật độ bình quân lêntới 14,3 đơn vị dịch vụ ngân hàng trên một quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh(10.000/698) và tới 2 cán bộ ngân hàng/ 1.000 dân ở mọi độ tuổi Đây đượccho là quá cao so với một quốc gia GDP chưa tới 150 tỷ USD/1 năm và chưa
có một nền công nghiệp ngân hàng hiện đại như nước ta
Từ môi trường và “mật độ” như vậy, các hiện tượng cạnh tranh khônglành mạnh rất đa dạng đã xuất hiện phổ biến Điển hình như các hình thức:Quảng cáo đưa ra không đúng hoặc gây hiểu lầm về nguồn lực tài chính củaTCTD này so với TCTD đối thủ khác, đưa ra những báo cáo kiểm toán gâyhiểu lầm để thu hút nguồn tiền gửi từ đối thủ cạnh tranh; cung cấp các thôngtin về vấn đề khó khăn của các TCTD khác, đóng giả khách hàng đến gièmpha hoặc gây rối đối với đối thủ cạnh tranh; khoán lương, thưởng và thù laođặc biệt cho cá nhân không dựa vào doanh thu chung mà căn bản chỉ dựa trênmức huy động vốn…
Ngoài ra, nhìn vào thực lực “năng lực” của TCTD, có thể thấy: Nănglực tiếp cận nguồn tái cấp vốn hay thị trường mở (OMO) tại NHNN của cácTCTD còn rất chênh lệch, và không bị điều chỉnh bởi quy định bắt buộc nào
về đặt cọc công cụ nợ; hoạt động kiểm soát nội bộ yếu, thiếu tính độc lập; cácTCTD ra sức áp dụng công nghệ hiện đại nhưng không đồng bộ trong hệthống, gây trở ngại lớn cho quản lý và sử dụng các dịch vụ nghiệp vụ ngân
hàng hiện đại; Tình trạng “cá lớn nuốt cá bé ” trên cả thị trường 1 và thị
trường 2 giữa các NHTM vẫn khá phổ biến Trong khi việc đầu tư chéo giữacác TCTD, hình thành các công ty “sân sau” của các Tập đoàn kinh tế hay ỷvào các quyền lực lớn, dùng công ty con để làm cầu, biến NHTM thành ngânhàng của nhà mình và thao túng các NHTM khác là những hiện tượng không
Trang 38hiếm, thì văn hóa hợp tác cạnh tranh hay đồng tài trợ trong ngành lại rất yếu,thậm chí nghi kỵ và gây mất lòng tin với nhau trong thị trường 2…
Tình trạng trên thể hiện những bất cập cả về sức khỏe, năng lực quản trịkinh doanh lẫn văn hóa cạnh tranh khá phổ biến giữa các TCTD ở nước tahiện nay
1.4.3 Vai trò của Ngân hàng Nhà nước
Bất cập lớn nhất hiện nay trong vấn đề môi trường cạnh tranh củangành Ngân hàng chính là NHNN đang đóng vai trò “Bộ chủ quản” và đạidiện vốn chủ sở hữu Nhà nước tại các TCTD nhà nước/ coi như là đại diệncủa Nhà nước hơn là Ngân hàng Trung Ương Chính vì vậy, việc “cầm còi”với tư cách trong một môi trường cạnh tranh là rất khó trọn vẹn Thực tế, trênthị trường dịch vụ ngân hàng hiện nay, chỉ bằng những quan sát thông thườngcũng nhìn thấy rõ việc cạnh tranh ở cả hai đầu của nhiều hoạt động kinhdoanh của các TCTD phải diễn ra trong điều kiện bị chặn bằng mệnh lệnhhành chính Điển hình như “trần” huy động, đối tượng ưu tiên, tín dụng chỉđịnh, các loại lãi suất chính sách, hạn mức tín dụng theo nhóm… khiến nguồnvốn và “cầu” tín dụng trong xã hội hầu hết chảy về những ngân hàng sở hữunhà nước hoặc Nhà nước nắm tỷ trọng vốn lớn
Thực trạng trên có thể xem như là tình trạng “Nhà nước vừa đá bóngvừa thổi còi” trên sân dịch vụ Ngân hàng Vô hình chung đẩy nhiều ngânhàng phi sở hữu nhà nước vào tình thế “đói vốn”, kéo theo khả năng thanhkhoản kém, và từ đó tìm cách lách lệnh (chứ không phải lách luật), biến tướngdưới rất nhiều hiện tượng, như: Khuyến mại, tìm vốn tiền đồng qua huy độngvàng, ngoại tệ, qua các công ty sân sau để tạo ra nguồn vốn
1.5 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐỐI PHÓ VỚI KHỦNG HOẢNG NGÀNH NGÂN HÀNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NHTM
1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước về đối phó với khủng hoảng ngân hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 39Năm 2012 chứng kiến tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong 20 năm, nợxấu tăng vọt, loạn giá vàng, lợi nhuận sụt giảm, nhiều TCTD làm ăn thua lỗ, 9ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu, nhiều TCTD lỡ hẹn với kế hoạchtăng vốn hoặc lên sàn, nhân viên nhiều ngân hàng mất việc, cắt giảm lương,thưởng, thậm chí không có thưởng Tết, nhiều cán bộ ngân hàng rơi vào vònglao lý…Vì vậy, trong phạm vi của đề tài, tác giả đề cập đến kinh nghiệm củamột số nước tiên tiến đã thành công trong việc xử lý ba vấn đề mà Chính phủ
và ngành Tài chính – Ngân hàng đang quan tâm, đó là:
1.5.1.1 Kinh nghiệm tái cơ cấu ngân hàng của Nhật Bản
Bong bóng kinh tế và sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng
Vào giữa những năm 1980, với cam kết của Ngân hàng Trung ươngNhật Bản là sẽ giữ ổn định tỷ giá đồng yên, các công ty chỉ tập trung vào hoạtđộng sản xuất, phó thác việc tạo vốn cho các ngân hàng khiến nền kinh tếtăng trưởng nhanh, mức đầu tư lớn (khoảng 30% GDP) Giá bất động sản tăngnhanh liên tục, làm tăng giá trị tài sản thế chấp Những khoản vay lại tiếp tụcđược đầu tư vào bất động sản và thị trường cổ phiếu, khiến ”bong bóng” bấtđộng sản ngày một bị bơm căng Các thống kê cho thấy, giá bất động sản vàcổ phiếu tăng vọt từ năm 1987 - 1990 đã làm tăng sự giàu có của Nhật Bảnlên gấp 4 lần
Đến năm 1990, nền kinh tế bị tăng trưởng quá nóng và hậu quả là
“bong bóng” bất động sản vỡ tung Giá bất động sản và cổ phiếu tụt dốcnhanh chóng (giá bất động sản chỉ còn ¼ so với trước kia) mà “nhà tài trợchính” cho tất thảy các hoạt động này lại chính là các ngân hàng Nhật Bản
Do vậy, khi giá tài sản giảm mạnh và kéo dài thì giá trị tài sản thế chấp cũng
vì thế mà giảm theo, các doanh nghiệp con nợ bị thua lỗ hàng loạt, nợ quá hạn
và nợ khó đòi tăng cao đã gây ra cuộc khủng khoảng tín dụng trong hệ thốngngân hàng
Làn sóng phá sản của các tổ chức tài chính lên tới cao trào vào cuối
Trang 40năm 1997 khi có tới 5 tổ chức tài chính lớn của Nhật bị phá sản, với nhữngmón nợ khổng lồ, trong đó, có Ngân hàng Tokyo và Ngân hàng Hokkaido,với món nợ không có khả năng thanh toán lần lượt là 59 tỷ yên và gần 200 tỷyên Thêm nữa, 20 ngân hàng lớn nhất tại Nhật Bản đã phải tuyên bố xoá nợkhó đòi với tổng số nợ lên tới 7.000 – 8.000 tỷ yên
Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính Nhật Bản trong tình trạnggần như tê liệt hoàn toàn Hầu hết trong số họ không dám cho vay do bị ngậptrong đống tài sản thế chấp chẳng còn mấy giá trị dưới dạng chứng khoán vàbất động sản và núi nợ khó đòi
Tuy nhiên, không cho vay đồng nghĩa với “vốn chết”, điều này khôngthể chấp nhận được trong hoạt động kinh doanh tiền Chính vì thế, một sốngân hàng phải chấp nhận cho vay với lãi suất cực thấp, thậm chí lỗ vốn để cóthể duy trì một số hoạt động kinh doanh cơ bản của mình
Mặc dù Chính phủ đã can thiệp và bảo vệ các tổ chức tài chính, tíndụng nhưng các DN tư nhân vẫn không vững tâm và bắt đầu thắt chặt chi tiêu,giảm đầu tư máy móc, thiết bị Lãi suất chiết khấu từ tháng 9/1995 tuy đã ởmức thấp chưa từng có là 0,5%, song các doanh nghiệp vẫn không dám đi vayđể đầu tư Đầu tháng 9/1998, một lần nữa, NHTW Nhật Bản lại phải tuyên bốgiảm mức lãi suất này xuống còn 0,25% để khuyến khích hoạt động vay tiền.Nền kinh tế Nhật Bản bị kẹt trong những trục trặc có tính chu kỳ lẫn cơ cấu
và thể chế do không thích nghi được với những thay đổi nhanh chóng và biếnđộng phức tạp của tình hình mới, gây trở ngại cho phát triển kinh tế
Giải pháp “nóng” cứu ngân hàng
Với mục đích cứu trợ cho các ngân hàng yếu kém, cùng với kế hoạchrót 13 nghìn tỷ yên, Chính phủ Nhật Bản còn đề nghị khoản hỗ trợ trị giá 50nghìn tỷ yên dưới hình thức trái phiếu và các phiếu bảo đảm của chính phủvào tháng 2/1998; trong đó, dành riêng 13 nghìn tỷ yên để hỗ trợ vốn cho cácngân hàng và khu vực tài chính và 17 nghìn tỷ yên để bảo vệ người gửi tiền
Số tiền này được chuyển cho công ty bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản để