Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 1LỜI MỞ ĐẦUTính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Việt Nam trong những nămvừa qua thể hiện Việt Nam đã và đang đẩy mạnh phát triển các loại thị trường:Thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học công nghệ… Trong đó,thị trường lao động là một trong những thị trường tác động mạnh nhất đến sự pháttriển kinh tế Bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam bắt đầu thực hiện khai thác vàphân bổ nguồn lực lao động theo nguyên tắc thị trường Trong xu thế hội nhậpkhu vực và thế giới, thị trường lao động Việt Nam những năm qua luôn vận động
và phát triển mạnh mẽ theo những xu hướng phổ biến ở các nước đang phát triển.Bên cạnh đó là sự xuất hiện của một số ““hiện tượng lạ”” Theo nhóm nghiêncứu, “hiện tượng lạ”là những hiện tượng rất mới, chưa từng xuất hiện trên thịtrường lao động Việt Nam hay cũng có thể hiểu đây là những hiện tượng không
đi theo xu hướng phát triển chung của thị trường lao động các nước đang pháttriển Những hiện tượng này hình thành tự phát nằm ngoài định hướng phát triển,
sự điều hành vĩ mô của Chính phủ
Vì vậy, việc phát hiện, khảo sát, nghiên cứu những hiện tượng này là rấtcần thiết để lý giải hướng phát triển của thị trường lao động Việt Nam Xuất phát
từ vấn đề nêu trên, đề tài “Thị trường lao động Việt Nam –suy nghĩ về những
hướng đi mới từ các “hiện tượng lạ”” được lựa chọn để nghiên cứu.
Những đóng góp của đề tài
Một là, hệ thống hóa những đặc điểm và những vấn đề mang tính phổ biến ở thị
trường lao động Việt Nam
Hai là, phát hiện và phân tích các “hiện tượng lạ” diễn ra trong thị trường lao động
Việt Nam
Ba là, đề xuất các hướng đi mới cho sự phát triển thị trường lao động từ các hiện
tượng trên
Trang 2Câu hỏi nghiên cứu chính
1 Xu hướng phát triển chung của thị trường lao động các nước đang pháttriển và của Việt Nam là gì?
2 Các “hiện tượng lạ”nào xuất hiện ở thị trường lao động Việt Nam hiệnnay?
3 Tại sao lại xuất hiện các hiện tượng đó?
4 Các hiện tượng này có tác động như thế nào đến thị trường lao động,đến quá trình phát triển của nền kinh tế?
5 Nên hạn chế hay phát huy những hiện tượng này? Giải pháp thực hiện
là gì?
Tổng quan các công trình nghiên cứu về thị trường lao động
Cho đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về thị trường lao động Mỗicông trình nghiên cứu lại đi sâu vào phân tích những khía cạnh khác nhau của thịtrường lao động Việt Nam như: giải pháp nâng cao chất lượng LLLĐ, nâng caochất lượng lao động xuất khẩu, giải pháp việc làm cho lao động, giải pháp tăngcường đội ngũ lao động kỹ thuật… Tuy nhiên, nghiên cứu về những “hiện tượnglạ” xuất hiện ở thị trường lao động Việt Nam thì chưa có một đề tài nào đề cậptới Việc nghiên cứu vấn đề này ở thị trường lao động Việt Nam là một việc làmcấp thiết vì nó đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các thị trường lao động Việt Nam: Khu vực thành
thị, khu vực nông thôn, khu vực thành thị phi chính thức…
- Phạm vi nghiên cứu: Các nước đang phát triển và trọng tâm là ở Việt
Nam
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân tích tình hình, thu thập số liệu thứ cấp
- Phương pháp so sánh chuỗi, so sánh chéo để tìm ra xu thế vận động củathị trường lao động
Trang 3- Phương pháp chuyên gia, trên cơ sở nhận định, đánh giá của các chuyêngia về các mặt, các lĩnh vực của thị trường lao động
- Phương pháp tổng hợp và phân tích
Kết cấu của đề tài
Tên đề tài nghiên cứu khoa học “Thị trường lao động Việt Nam – Suy
nghĩ về những hướng đi mới từ các “hiện tượng lạ””
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài bao gồm ba chương được kếtcấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề mang tính phổ biến ở thị trường lao động các
nước đang phát triển và Việt Nam Chương 2: Một số “hiện tượng lạ”xuất hiện trong thị trường lao động
Việt Nam những năm vừa qua Chương 3: Một số suy nghĩ về những hướng đi mới từ các “hiện tượng lạ”
Phân tích và nghiên cứu về các “hiện tượng lạ”của thị trường lao động ViệtNam là công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều nỗ lực và hợp tác Mặc dù đề tài đã đạtđược những kết quả nhất định, song vẫn không tránh khỏi thiếu sót Nhóm nghiêncứu rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của các thầy cô, các nhà chuyênmôn để đề tài có chất lượng cao hơn
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ LĐ-TB&XH : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
CNH – HĐH : công nghiệp hoá - hiện đại hoá
XKLĐ&CG : xuất khẩu lao động và chuyên gia
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Ảnh 1: Công nhân khu công nghiệp Bình Dương
Ảnh 2: Người lao động háo hức tham khảo thông tin tuyển dụng
Ảnh 3: Xe đưa đón công nhân công ty may Bình Định
Ảnh 4: Tình trạng thiếu lao động phổ thông ở KCN, KCX
Ẩnh 5: Khi cuộc sống không đảm bảo, đình công dễ xảy ra
Ảnh 6: Hoạt động xuất khẩu của công ty Sovilaco
Ảnh 7: GS.TS Võ Tòng Xuân tại Sierra Leone
Ảnh 8: Cảng Freetown, Sierra Leone
Ảnh 9: Trường Đại học FPT – một trong những trường thực hiện quyền tự
chủ hiện nay
Ảnh 10: Sàn giao dịch việc làm Hà Nội tại Cầu Giấy
Ảnh 11: Công ty Ernst & Young
Bảng 1: Lực lượng lao động Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006 theo khu vựcBảng 2: Tổng sản phẩm quốc nội của 1 số nước qua các năm
Bảng 3: Quy mô và tốc độ tăng số việc làm qua các năm
Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp của một số nước Châu Á
Bảng 5: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và sử dụng thời gian lao động ở nông thôn
Bảng 6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động có việc làm
Bảng 7: Luồng di cư nông thôn, thành thị 1/4/2005 – 1/4/2006
Bảng 8: Giá gạo thế giới tính đến ngày 05/08/2008
Biểu 1: Trình độ giáo dục phổ thông của lao động có việc làm
Biểu 2: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 2000 – 2007
Biểu 3: Lao động xuất khẩu qua các năm
Biểu 4: Tỷ lệ chất xám chảy ra ở một số nước
Sơ đồ 1: Đồ thị thể hiện cân bằng cung – cầu lao động
Sơ đồ 2: Mối quan hệ và các giải pháp cho các trường học và doanh nghiệp
Sơ đồ 3: Mối liên hệ giữa các đối tượng trong việc thực hiện giải pháp cho
xuất khẩu chuyên gia
Trang 6MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH PHỔ BIẾN Ở THỊ
TRƯỜNG LAO ĐỘNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ VIỆT NAM Error! Bookmark not defined 1.1 Lý luận về thị trường lao động Error! Bookmark not defined.
1.1.1 Khái niệm Error! Bookmark not defined 1.1.2 Các yếu tố của thị trường lao động Error! Bookmark not defined 1.1.2.1 Cung lao động Error! Bookmark not defined 1.1.2.2 Cầu lao động Error! Bookmark not defined 1.1.2.3 Giá cả sức lao động Error! Bookmark not defined.
1.2 Những vấn đề mang tính phổ biến ở thị trường lao động các nước đang phát triển và Việt Nam Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Mất cân đối cung – cầu lao động, thất nghiệp là một hiện tượng đáng
lo ngại Error! Bookmark not defined 1.2.1.1 Cung lao động tăng nhanh Error! Bookmark not defined 1.2.1.2 Cầu lao động tăng chậm Error! Bookmark not defined 1.2.1.3 Thất nghiệp vẫn là hiện tượng đáng lo ngạiError! Bookmark not
defined.
1.2.2 Thiếu lao động “phức tạp” Error! Bookmark not defined.
1.2.3 Cơ cấu cấp bậc đào tạo bất hợp lý dẫn đến tình trạng “thừa thầy - thiếu
thợ” Error! Bookmark not defined 1.2.4 Luôn tồn tại dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thịError!
Bookmark not defined.
1.2.5 Di chuyển lao động ra nước ngoài bằng hình thức xuất khẩu lao động
Error! Bookmark not defined 1.2.6 Chảy máu chất xám Error! Bookmark not defined.
Trang 7CHƯƠNG 2: MỘT SỐ “HIỆN TƯỢNG LẠ” XUẤT HIỆN TRÊN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM NHỮNG NĂM VỪA QUA Error!
Bookmark not defined
2.1 Hiện tượng lao động từ thành thị trở về nông thônError! Bookmark not defined.
2.1.1 Nguyên nhân Error! Bookmark not defined 2.1.2 Phân tích tác động Error! Bookmark not defined.
2.2 Hiện tượng thiếu lao động phổ thông Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Nguyên nhân Error! Bookmark not defined 2.2.2 Phân tích tác động Error! Bookmark not defined.
2.3 Hiện tượng thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong khi lượng sinh viên ra trường thất nghiệp khá cao Error! Bookmark not defined.
2.3.1 Nguyên nhân Error! Bookmark not defined 2.3.2 Phân tích tác động Error! Bookmark not defined.
2.4 Hiện tượng xuất khẩu chuyên gia trong khi trong nước đang thiếu nhân sự cấp cao Error! Bookmark not defined.
2.4.1 Nguyên nhân Error! Bookmark not defined 2.4.2 Phân tích tác động Error! Bookmark not defined.
2.5 Hiện tượng xuất khẩu nông dân và chuyên gia nông nghiệp Error!
Bookmark not defined
2.5.1 Nguyên nhân Error! Bookmark not defined 2.5.2 Phân tích tác động Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG HƯỚNG ĐI MỚI CHO THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM Error! Bookmark not defined 3.1 Quan điểm đối với các “hiện tượng lạ” Error! Bookmark not defined 3.2 Kiến nghị về những hướng đi mới cho thị trường lao động Việt Nam Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Thúc đẩy dòng di chuyển lao động từ thành thị về nông thôn.Error!
Bookmark not defined.
Trang 83.2.2 Giải quyết tốt các dịch vụ hậu cần bảo đảm đời sống cho người lao
động ngoại tỉnh làm việc trong các khu công nghiệpError! Bookmark not
defined.
3.2.3 Thực hiện đổi mới đào tạo theo hướng đạt chuẩn và phù hợp với nhu cầu
xã hội Error! Bookmark not defined 3.2.4 Xuất khẩu chuyên gia có chọn lọc ở một số ngànhError! Bookmark
not defined.
3.2.5 Nhân rộng mô hình xuất khẩu nông dân và chuyên gia nông nghiệp
Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH PHỔ BIẾN Ở THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ
Theo các nhà khoa học Việt Nam (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trungương), thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện cácquan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và ngườimua sức lao động (người sử dụng lao động), thông qua các hình thức thoả thuận
về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở mộthợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồnghay thoả thuận khác
Những khái niệm trên cho thấy tính phức tạp của chính khái niệm “thịtrường lao động” cùng với tính đa dạng và sự đặc biệt của nó Tuy nhiên, trongphạm vi nghiên cứu này, thị trường lao động được hiểu là một cơ chế hoạt độngtương hỗ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một không giankinh tế xác định, thể hiện những quan hệ kinh tế và pháp lý giữa họ với nhau
1.1.2. Các yếu tố của thị trường lao động
Các yếu tố thị trường lao động bao gồm: (1) cung lao động; (2) cầu laođộng và (3) giá cả sức lao động
Trang 101.1.2.1 Cung lao động
Về lý thuyết, cung lao động là mối quan hệ giữa lượng lao động (cả số lượng
và chất lượng) có khả năng và mong muốn làm việc với mỗi mức giá cả của laođộng (với giả thiết các yếu tố khác không đổi)
Trên thực tế, lượng cung lao động là bộ phận dân số tham gia hoạt độngkinh tế Bao gồm: bộ phận dân số trong tuổi lao động (ở Việt Nam là đủ 15 – 55,60) có khả năng và có mong muốn lao động (bao gồm những người đang có việclàm và đang tìm việc làm) Ngoài ra, còn bao gồm một bộ phận dân số trên tuổilao động đang tham gia hoạt động kinh tế
Với các quan niệm trên, các yếu tố ảnh hưởng đến cung lao động bao gồmyếu tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng lao động Yếu tố ảnh hưởng đến sốlượng lao động như: (1) quy mô và tốc độ tăng dân số; (2) tỷ lệ dân số tuổi laođộng/dân số; (3) tỷ lệ tham gia lực lượng lao động Bên cạnh đó, yếu tố ảnhhưởng đến chất lượng lao động bao gồm: (1) trình độ học vấn, (2) trình độchuyên môn kĩ thuật; (3) sức khoẻ, tác phong, tính kỉ luật của người lao động
1.1.2.2 Cầu lao động
Về lý thuyết, cầu lao động là mối quan hệ giữa lượng lao động (bao gồm cả
số lượng và chất lượng) mà nền kinh tế có nhu cầu sử dụng với mỗi mức giá cảlao động (với giả thiết các yếu tố khác không đổi)
Trên thực tế, quyết định đến cầu lao động là số chỗ làm việc mà nền kinh
tế quốc dân đem lại trong một thời gian nhất định
Theo quan điểm đó, lượng cầu lao động phụ thuộc vào các nhân tố sau: (1)Quy mô, dung lượng nền kinh tế - nếu các nhân tố khác không đổi thì lượng cầulao động là một đại lượng có mối quan hệ đồng biến với quy mô của nền kinh tế;(2) Năng suất lao động - năng suất lao động là yếu tố có mối quan hệ nghịch biếnvới số lượng lao động, nhưng lại đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn để tăngnăng suất; (3) Các yếu tố công nghệ, kỹ thuật của nền kinh tế - nếu công nghệ, kỹthuật cao thì giảm cầu về số lượng nhưng lại đòi hỏi tăng cầu về chất lượng
Trang 111.1.2.3 Giá cả sức lao động
Theo lý thuyết kinh tế thị trường, giá cả lao động được xác định bởi điểmcân bằng giữa cung và cầu trên thị trường lao động Sự cân bằng trên thị trườnglao động quyết định mức giá cả cân bằng, tại đó số lượng lao động được cung cấp
Trang 12trong một thời kỳ nhất định bằng số lượng lao động được yêu cầu.
S
DW
Trang 13Theo sơ đồ trên, E là điểm cân bằng trong thị trường lao động, và nếu giá
cả xác định tại điểm cân bằng E thì W* gọi là mức giá cả chung của thị trường
lao động Tuy vậy, thị trường lao động không phải là một thị trường cạnh tranhhoàn hảo, mức giả cả lao động (W) không chỉ được xác định tại điểm cân bằng E,
mà nó còn có thể lên tới W 1 hoặc xuống W 2
Việc thay đổi giá cả lao động như trên phụ thuộc vào các yếu tố phi thịtrường lao động như: chính sách lao động và việc làm, tiền lương của Chính phủ;
áp lực và sự đấu tranh của các tổ chức đại diện cho người lao động như tổ chứcliên đoàn lao động ; giá cả của thị trường hàng hóa tiêu dùng
1.2 Những vấn đề mang tính phổ biến ở thị trường lao động các nước đang phát triển và Việt Nam
1.2.1 Mất cân đối cung – cầu lao động, thất nghiệp là một hiện tượng đáng
lo ngại
Đây chính là biểu hiện của sự mất cân đối cung cầu lao động trên TTLĐ –cung lao động tăng nhanh trong khi tốc độ tăng cầu lao động không đáp ứng
1.2.1.1 Cung lao động tăng nhanh
Đặc điểm chung đầu tiên dễ nhận thấy của các nước đang phát triển là hiệntượng bùng nổ dân số Tốc độ dân số tăng nhanh (tỷ lệ tăng tự nhiên từ 2 – 3%hoặc cao hơn) tạo ra một nguồn cung rất lớn cho thị trường lao động Sở dĩ nhưvậy là do mối tương quan giữa tỷ lệ sinh - tử tại các nước này Mặt khác, khi xã hộingày càng phát triển, y học ngày càng tiến bộ khiến cho tỷ lệ tử vong ở các nướcnày giảm nhanh Ngoài ra, các nước đang phát triển thường có cơ cấu dân số trẻ, tỷ
lệ số dân trong độ tuổi 15 - 24 là khá lớn (độ tuổi nằm trong lực lượng lao động),đây chính là nguồn cung chủ yếu cho TTLĐ
Có thể thấy, TTLĐ Việt Nam những năm qua cũng vận động, phát triểnkhông nằm ngoài xu hướng này Diễn biến cung lao động của Việt Nam thời gianqua được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Lực lượng lao động Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006 theo khu vực
Trang 14Đơn vị: Triệu người
1.2.1.2 Cầu lao động tăng chậm
Thứ nhất, do quy mô nền kinh tế nhỏ bé dẫn đến nhu cầu về lao động gia tăng chậm.
Hiện nay, quy mô nền kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển còn nhỏ
bé, điều này được thể hiện qua bằng sự so sánh tương quan với các nước pháttriển qua bảng sau:
Bảng 2: Tổng sản phẩm quốc nội của một số nước qua các năm
Đơn vị: tỷ USD
Tên nước 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Trang 15Mỹ 9764.8 10076 10418 10908 11657 12398 13164Nhật 4746.1 4162.4 3918.3 4229.1 4605.9 4549.1 4368.4
lượng và tạo thêm công ăn việc làm không phải là mức tổng cầu không đủ cao mà
do những hạn chế về mặt cơ cấu và thể chế đối với khâu cung ứng Tình trạngthiếu vốn, thiếu nguyên vật liệu, các sản phẩm trung gian… đã gây nên nhữnghạn chế đáng kể về mặt cung cả khi có sự gia tăng về tổng cầu Chính điều này đã
kéo theo tốc độ tăng cầu lao động chậm
Đối với Việt Nam, cầu lao động giai đoạn vừa qua tăng nhanh nhưng chậmhơn cung lao động Khi hội nhập với nền kinh tế thế giới, tất cả các ngành nghề,lĩnh vực đều tăng trưởng nhanh dẫn đến nhu cầu về lao động cũng tăng nhanh.Điều đó được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3: Quy mô và tốc độ tăng số việc làm qua các năm
Trang 16Từ bảng trên ta thấy: Quy mô số việc làm tăng dần qua các năm, từ 38,4
triệu người năm 2000 đến 44,6 triệu người năm 2006 Tỷ lệ tăng trưởng việc làm
từ 2,5 – 2,7%/năm Số liệu này cũng cho thấy tuy tốc độ tăng cầu lao động tươngđương với tốc độ tăng cung lao động, nhưng quy mô tăng của cầu lao động chậmhơn cung lao động
1.2.1.3 Thất nghiệp vẫn là hiện tượng đáng lo ngại
Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp của một số nước châu Á
ở các nước đang phát triển Ở Đông Á, tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 2,5 % năm
1994 lên 3,6% năm 2004 và ở Đông Nam Á từ 4,1% lên 4,8% Bên cạnh
đó, việc không sử dụng hết lao động còn tăng nhiều hơn cả tỷ lệ thấtnghiệp đặc biệt ở những vùng nông thôn
Nguồn: http://tintuc.ethitruong.com
Trang 17Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu của các nước đang phát triển thuộc châu Á
-Thái Bình Dương, Ngân hàng Phát triển châu Á, 2005; Niên giám Thống kê các nước Đông Nam Á 2005; Niên giám Tổ chức Lao động quốc tế 2005
Tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta tuy có giảm trong những năm qua, nhưng hiện nayvẫn thuộc loại cao so với các nước trong khu vực châu Á (xem bảng 5) Cụ thểhơn, thất nghiệp Việt Nam những năm gần đây ở cả khu vực thành thị và nôngthôn tuy có giảm, nhưng giảm chậm, thể hiện qua bảng sau:
Bảng 5: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và sử dụng thời gian lao động
-Nguồn: Niên giám thống kê 2004 - NXB Thống kê; Báo cáo kết quả điều
tra lao động - việc làm 1/7/2005
Từ số liệu ở các bảng trên nhận thấy: Số người thất nghiệp trong nền kinh
tế ngày càng giảm, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm dần qua các năm Điềunày cũng đúng với cả ở thành thị và nông thôn Tình trạng thất nghiệp của LLLĐtrong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị giảm dần qua các năm trong giai đoạn2000-2006, nhưng vẫn còn cao từ 6.42% năm 2000 xuống còn 5.32% năm 2006
Trang 18Tỷ lệ sử dụng thời gian làm việc ở nông thôn tăng dần lên qua các năm, từ74.16% năm 2000 tăng lên 80.7% năm 2005 Nói cách khác, vẫn còn khoảng20% người lao động nông thôn không có đủ việc làm.
1.2.2 Thiếu lao động “phức tạp”
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, lao động “phức tạp” là laođộng được đào tạo, huấn luyện, có trình độ chuyên môn nhất định, hoạt độngtrong những ngành sử dụng kĩ thuật từ kĩ thuật cơ khí thông thường đến kĩ thuậthiện đại (điện tử, tin học ), những ngành nghề nghiên cứu khoa học, nhữngngành nghề đòi hỏi có trình độ nghệ thuật nhất định, …
Nhìn chung, các nước đang phát triển hiện nay đều có tỷ lệ lao động đã quađào tạo thấp chủ yếu do nền giáo dục còn chưa được đổi mới phát triển theohướng hiện đại Tại các nước đang phát triển trong khu vực châu Á - Thái BìnhDương, lao động qua đào tạo đạt trên 50%, còn ở các nước phát triển cao hầu hếtlao động đã qua đào tạo nghề
Ở Việt Nam, tình trạng này càng thể hiện rõ rệt và chủ yếu do các nguyênnhân sau:
Trang 19Nguồn: Số liệu thống kê lao động và việc làm ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005
(2006)
Đến năm 2005, nước ta vẫn còn 4.3% số lao động không được đi học, tỷ lệtốt nghiệp THPT chỉ chiếm 10.9% Phần lớn tỷ lệ lao động có trình độ giáo dụcphổ thông thấp là ở khu vực nông thôn, do những điều kiện khó khăn vật chất, đilại hoặc do quan điểm lạc hậu ở một số vùng núi, vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên,
tỷ lệ chưa tốt nghiệp THPT ở khu vực thành thị cũng chiếm tỷ lệ lớn
Thứ hai, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của lao động tăng qua các năm,
nhưng vẫn còn ở mức thấp
Biểu 2: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2000 - 2007
Nguồn: Tổng cục Thống kê Động thái và thực trạng KT – XH 2001 –
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2000 - 2007
Trang 20cơ cấu ngành nghề, cơ cấu đào tạo theo cấp trình độ, kỹ năng và tay nghề Thiếutrầm trọng lao động kỹ thuật cao, lao động dịch vụ cao cấp (tài chính, ngân hàng,
du lịch, bán hàng, ), nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài,XKLĐ đa phần là lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc chỉ qua giáodục định hướng
1.2.3 Cơ cấu cấp bậc đào tạo bất hợp lý dẫn đến tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”
-Đây là hiện tượng thể hiện sự mất cân đối trong cơ cấu đào tạo theo cấp bậc.Theo nhận định của nhóm nghiên cứu, “thầy” ở đây có thể hiểu là những người
có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao, đã qua đào tạo và có bằng cấp; “thợ” có thểhiểu là những người có trình độ trung cấp hoặc đã qua đào tạo nghề
Cơ cấu đào tạo ở các nước đang phát triển vẫn đang gặp phải vấn đề về sựbất hợp lý trong việc đào tạo chưa đúng ngành nghề và chưa đúng nhu cầu của
DN Trong khi cơ cấu đào tạo của các nước phát triển hiện nay là 1 cử nhân - 4trung học chuyên nghiệp (THCN) - 20 công nhân kỹ thuật (CNKT) thì tỉ lệ này ởcác nước đang phát triển là 1 - 4- 10
Tại Việt Nam, cơ cấu đào tạo bất hợp lý cũng được coi là một trong nhữngrào cản lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung Cho đến nay vẫn chưa
có giải pháp, chính sách đồng bộ để thúc đẩy phát triển dạy nghề, khắc phục tìnhtrạng “thừa thầy, thiếu thợ” Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động có việc làm
Năm 2000 2001 Số lượng (1000 người)2002 2003 2004 2005
Trang 21-hành) như ngành kinh tế, luật chiếm 43% số sinh viên đào tạo Tỷ lệ đào tạo sinhviên cho các ngành khoa học kỹ thuật chỉ chiếm 25,5% Và cũng mới có hơn 20%lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp trở lên, số lao động bậc 6, bậc 7 chiếm tỷ lệ rất
ít Hệ quả là sinh viên ĐH ngày càng nhiều, trong khi công nhân kĩ thuật khôngtăng, dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” tái diễn
1.2.4 Luôn tồn tại dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị
Trong TTLĐ, để đảm bảo sự phân bổ và bố trí lao động, sử dụng nguồnnhân lực một cách hợp lý và hiệu quả, luôn cần có dịch chuyển lao động giữa cáckhu vực, ngành nghề Do những tác động khách quan trong quá trình phát triểnKTXH, làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị là một “xu hướng tất yếu” trongTTLĐ các nước đang phát triển TTLĐ khu vực thành thị luôn có sự hấp dẫn vềtiền công, và cơ hội làm việc so với TTLĐ nông thôn Xu hướng này đã và đanglàm cho mức thất nghiệp ở thành thị ngày càng tăng đồng thời cũng dẫn đến tìnhtrạng mất cân đối trong các cơ hội về kinh tế ở cả nông thôn lẫn thành thị
Cũng như ở các nước đang phát triển khác, di dân từ nông thôn ra thành thịcũng là xu hướng phổ biến ở TTLĐ Việt Nam
Bảng 7: Luồng di cư nông thôn, thành thị 1/4/2005 – 1/4/2006
Đơn vị: %; người
% số người di cư Nơi cư trú trước khi di chuyển
Nguồn: Niên giám thống kê 2006
Trong 486,5 ngàn người di cư giữa các tỉnh, số người đến khu vực thànhthị chiếm 56,7% gấp 1,3 lần số người về khu vực nông thôn Luồng di cư lớn nhất
là từ nông thôn ra thành thị 39,9%; nông thôn – nông thôn 30%; thành thị - nôngthôn chỉ chiếm 13,3%
Trang 221.2.5 Di chuyển lao động ra nước ngoài bằng hình thức xuất khẩu lao động
Theo báo cáo của WEF (Diễn đàn Kinh tế Thế giới): Tại 15 nước EU, sốlượng người trong độ tuổi 20 – 60 sẽ giảm còn 150 triệu so với gần 300 triệu hiệnnay Trong khi đó, riêng Ấn Độ trong 30 năm tới, dân số trong độ tuổi lao động sẽtăng thêm 335 triệu người; Mexico tăng gần 50 triệu người Do vậy, một hệ quảtất yếu của sự mất cân đối lao động trên thế giới trong bốn, năm thập kỷ tới là sự
di cư hay còn gọi là xuất khẩu lao động từ các nước đang phát triển sang các nướcphát triển
Tình hình XKLĐ nước ta trong giai đoạn 2000-2007 được thể hiện quabảng sau:
Biểu 3: Lao động xuất khẩu qua các năm
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Phụ san “Kinh tế Việt Nam và thế giới” năm
2007-2008
Trong những năm gần đây, công tác XKLĐ cũng phát triển mạnh Sốlượng lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài có xu hướng tăng Từ con số10.000 năm 1995, lên 30.000 người năm 2000, hơn 67.000 người năm 2004, hơn70.000 năm 2005 và khoảng 85.000 năm 2007 Trong 5 năm, chúng ta đã đưa294.000 lao động, chuyên gia đi xuất khẩu Lao động Việt Nam tập trung chủ yếu
ở các nước và lãnh thổ trong khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài
Trang 23Loan, Malaysia Một vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu mở TTLĐ sang khuvực Trung Đông Hiện nay, có khoảng 3000 lao động làm việc ở các Tiểu VươngQuốc Ả Rập thống nhất, gần 2000 lao động làm việc tại Qatar
Đông Âu) sang các quốc gia giàu, đã phát triển, ở Tây Âu và Bắc Mỹ
Biểu 4: Tỷ lệ chất xám chảy ra ở một số nước
Nguồn: http://vietbao.vn (2005)
Trên đây là báo cáo của Ngân hàng Thế giới về nguồn lực chất xám công
bố năm 2005 Kết quả trên cho thấy: vấn đề chảy máu chất xám ở các nước đangphát triển rất đáng lo ngại Rất nhiều nước có tỷ lệ chảy máu chất xám trên 50%
Việt Nam
Ấn Độ
Trung Quốc Úc
Trang 24Đối với Việt Nam, đây cũng là một vấn đề đáng quan tâm khi tỷ lệ này là tươngđối cao 27% Hậu quả tiêu cực của chảy máu chất xám khiến đất nước nghèo vàlạc hậu, không thể tiến triển nhanh để bắt kịp đà văn minh của nhân loại.
Trang 25Kết luận:
Trên đây là những xu hướng mang tính phổ biến mà gần như đã trở thànhđặc trưng của các nước đang phát triển Thị trường lao động Việt Nam trong quátrình vận động và phát triển cũng không nằm ngoài những xu hướng đó Nghiêncứu này không có ý định phân tích sâu các xu hướng phổ biến nói trên Mục đíchtrong việc nhấn mạnh các xu hướng này để nhấn mạnh thị trường lao động cácnước đang phát triển trong đó có Việt Nam, luôn có những đặc trưng riêng biệt.Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy, điều quan trọng là trên thực tế, ở ViệtNam đã và đang diễn ra những hiện tượng không theo xu hướng trên Chúng tacần phải “chụp” nhanh những hiện tượng ấy, phân tích và tìm cách “nhân điểnhình” những hiện tượng không mang tính xu hướng, nhưng lại có nhiều tác độngtích cực, để từ đó biến chúng trở thành những xu hướng mới ở Việt Nam
Trang 26CHƯƠNG 2 MỘT SỐ “HIỆN TƯỢNG LẠ” XUẤT HIỆN TRÊN THỊ
TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM NHỮNG NĂM VỪA QUA
“hiện tượng lạ”theo quan điểm của nhóm nghiên cứu là những hiện
tượng rất “mới”, chưa từng xuất hiện trong thị trường lao động Việt Nam, cũng
có thể hiểu đây là những hiện tượng đi ngược lại xu hướng chung của TTLĐ các nước đang phát triển như đã phân tích ở trên Những hiện tượng này có thể đã xuất hiện và trở thành phổ biến của các quốc gia khác, nhưng lại rất mới đối với TTLĐ Việt Nam
Với cách hiểu như vậy, nhóm nghiên cứu đã quan sát, phát hiện và đưa ranhững “hiện tượng lạ”chủ yếu sau đây:
2.1 Hiện tượng lao động từ thành thị trở về nông thôn
Trong những năm gần đây, bên cạnh xu hướng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị, ở Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện hiện tượng lao động chảy ngược
từ thành thị về nông thôn Hiện tượng này đang diễn ra như một cơn sóng ngầm, trên một diện rộng, từ Bắc vào Nam với quy mô và tốc độ ngày càng lớn Hiện tượng này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2003, ở TP.HCM Và đến năm 2008, hiện tượng này đã lan rộng ra hầu hết các tỉnh thành trong cả nước.
Sau Tết Mậu Tý, trong khi các khu công nghiệp
(KCN), khu chế xuất (KCX) ở các tỉnh, thành phía
Nam đang phải “đốt đuốc” tìm lao động thì nhiều
tỉnh miền Trung đang háo hức đón chào một dòng
lao động ở lại làm việc sau khi về quê ăn Tết Tuy
đây mới chỉ là một dòng mạch nhỏ nhưng báo
hiệu một chuyển biến đáng mừng về sự phát triển
kinh tế ở dải đất miền Trung Dọc tuyến Quốc lộ
1A qua các tỉnh miền Trung như Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định đã phần nào bớt “chóng
mặt” trước cảnh hàng vạn lao động trẻ lũ lượt lên
đường “Nam tiến” Năm nay, một lượng lớn lao
động đang làm trong Nam “chuyển động ngược”
về quê tìm cơ hội.
Nguồn: http://www.phapluattp.vn
(24/5/2004)
Có một thời nguồn nhân lực từ các tỉnh ùn ùn đổ về TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai; có một thời tìm một việc làm trong các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) phía Nam người ta phải “chạy” bằng tiền Nhưng giờ đây các doanh nghiệp (DN) luôn kêu ca thiếu lao động, nhiều nhà máy phải bỏ chi phí hàng trăm ngàn đồng để tìm từng lao động một Nguồn nhân lực đang chuyển hướng “chảy” về các tỉnh
Nguồn:http://www.tuoitre.com.vn
(11/04/2006)
Trang 27Để hiểu được nguyên nhân của việc di chuyển lao động “có vẻ” như đi ngượclại xu hướng của TTLĐ Việt Nam, trước hết chúng ta cùng tìm hiểu các hình thức dichuyển lao động từ thành thị về nông thôn Qua quá trình nghiên cứu, có hai hìnhthức sau:
(1) Lao động di chuyển từ các thành phố (thành phố loại 1) (Hà Nội, Hải Phòng,
Đà Nẵng, TP HCM) về quê hương mình (các quận, huyện, thị trấn) làm việc.(2) Lao động di chuyển từ các thành phố (trực thuộc tỉnh) về quê hương mình(các quận, huyện, thị trấn) làm việc
(3) Lao động di chuyển từ các thành phố lớn về các thành phố nhỏ (quê hươnghọ) làm việc
Đây là một hiện tượng rất mới xảy ra ở thị trường lao động Việt Nam Hiệnnay chưa có một số liệu thống kê nào nghiên cứu về hiện tượng này Những phântích dưới đây được nhóm nghiên cứu tổng hợp và phân tích từ rất nhiều bài báo
có liên quan Điểm lại “tít” của những bài báo nói về hiện tượng trên như sau:
Lao động phổ thông “chảy ngược” ra ngoại thành - Lao động phổ thôngđang từ TP.HCM đổ ra các tỉnh, gây nên tình trạng khan hiếm tại thànhphố Đó có phải là một tín hiệu đáng mừng?
Nhìn lại vấn đề trên, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp lấy ý kiến
chuyên gia và những đối tượng có liên quan để phân tích:
Ông Nguyễn Xuân Thủy - Trưởng ban Quản lý các KCN Quảng Ngãi chobiết đã xuất hiện xu hướng lao động miền Trung về quê tìm cơ hội vào khoảngthời gian từ năm 2003 đến 2004 và hiện tượng này tiếp tụp tiếp diễn cho đến nay
Phó giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm - Ban quản lý các KCN & KCX
TP Đà Nẵng cho biết: con số lao động do trung tâm giới thiệu đã tăng lên hàng
Trang 28năm, từ 3500 người (năm 2003) đến 5000 người (năm 2004) và 6777 người (năm2005) Riêng quí 1-2006, đã có gần 1000 LĐ được trung tâm này giới thiệu, chủyếu là các KCN Hòa Khánh, Liên Chiểu, Hòa Cầm, An Đồn Theo ông Cho, córất nhiều CN từng làm việc tại các KCN TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai.
Theo ông Bùi Quốc Hồng - trưởng
BQL các KCN tỉnh Bình Định, “mức sống
ngay tại TP Qui Nhơn thấp hơn 2-3 lần so
với các tỉnh phía Nam” Nếu so sánh về thu
nhập thì sự chênh lệch lại không đáng kể!
Lương bình quân của CN hai KCN Phú Tài
và Long Mỹ trên lý thuyết là 900.000
đồng/tháng Thực tế 80% LĐPT (trong tổng
số gần 20.000 người) đang làm việc tại
KCN Phú Tài và Long Mỹ cũng như CN các
DN chế biến thủy hải sản, lâm sản xuất khẩu
trên địa bàn tỉnh Bình Định đều có thu nhập
Ảnh 1: Công nhân khu công nghiệp Bình Dương
Trang 29làm Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi), tiết lộ: có gần 50% LĐphổ thông và khoảng 10-15% trong số đó là LĐ trình độ, kỹ thuật vốn là ngườicủa tỉnh Quảng Ngãi từ các KCN phía Nam đã hồi hương về đây
Một số công ty ở TP.HCM mở chi nhánh tại các tỉnh miền Trung thu hút rất nhiều LĐ, nhưng khi công ty muốn chuyển CN vào TP.HCM làm việc đều gặp
sự phản ứng! “Đã về quê và có công việc ổn định, ít CN nào nghĩ đến chuyện
“mạo hiểm” quay lại TP.HCM Mặc dù không ít lần phòng nhân sự công ty đề cập đến mức lương cao hơn gấp rưỡi nếu đồng ý chuyển vào miền Nam làm việc!” - Nguyễn Thị Trang (KCN Điện Nam - Điện Ngọc, Quảng Nam)
Số liệu khảo sát năm 2008 của Sở LĐ-TB&XH của các tỉnh Quảng Nam,Quảng Ngãi, Bình Định cho thấy hàng năm mỗi tỉnh có từ 35.000 đến 40.000 laođộng vào Nam kiếm sống Năm nay, một lượng lớn lao động đang làm trong Nam
“chuyển động ngược” về quê tìm cơ hội Số lao động này tập trung nhiều nhất ởcác ngành nghề may mặc, da giày, điện, điện tử, cơ khí
Theo thống kê chưa đầy đủ của Trung tâm Giới thiệu việc làm QuảngNam, từ ngày 11/2/2008 đến ngày 24/2/2008, cả tỉnh có hơn 2.500 lao động ở lạilàm việc cho các doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp tổ chức “săn lùng” số laođộng từ trong Nam về quê ăn Tết mà theo họ đánh giá đây là những lao động cótay nghề cao, có kinh nghiệm làm việc trong các KCN và đặc biệt là được đào tạobài bản
Ông Trần Hữu Doãn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Tuấn Đạt,thuộc KCN Trường Xuân, TP Tam Kỳ (Quảng Nam), cho biết: Chỉ trong haingày 12 và 13-2 công ty đã tuyển dụng được gần 300 công nhân ngành may mặc,trong đó hơn một nửa đã từng làm việc ở TP.HCM
Ông Phạm Giang Trung, Trưởng phòng Tổ chức - Nhân sự Công ty TNHHPhước Hưng, thuộc KCN Phú Tài (Bình Định), cho biết từ ngày 18-2 đến naycông ty đã tuyển dụng được hơn 100 công nhân ngành gỗ xuất khẩu, trong đó cógần 20 công nhân đã từng làm việc ở các tỉnh phía Nam
Trang 302.1.1 Nguyên nhân
Đối với một nước mà hơn 50% làm nông nghiệp thì trong quá trình côngnghiệp hóa – hiện đại hóa, di chuyển lao động từ nông thôn về thành thị là mộthiện tượng rất phổ biến Vậy tại sao ở Việt Nam lại có hiện tượng “lao động từthành thị trở về nông thôn”? Có thể nói, hiện tượng này xảy ra ở một nước nôngnghiệp đang trong quá trình CNH – HĐH là đi ngược với xu thế của các nướcđang phát triển hiện nay Nguyên nhân của việc xuất hiện hiện tượng này xuấtphát từ nhiều phía:
Một là, từ phía người lao động
Về kinh tế, hiện nay, mức lương của công nhân tại các KCN, KCX còn
thấp, bình quân 500.000-700.000 đồng/tháng, nếu tăng ca, làm thêm giờ mỗicông nhân cũng chỉ kiếm thêm khoảng 100.000 – 200.000đồng Khoản tiền nhưvậy không đủ cho họ chi tiêu trong sinh hoạt thường ngày, đặc biệt khi lạm pháttăng, giá cả trở nên đắt đỏ Lương thấp cộng thêm tính chất công việc phần lớn làvất vả, nặng nhọc làm cho hầu hết người lao động không muốn làm việc lâu dàitại thành phố
Bên cạnh đó, hầu hết các KCX, KCN nhà ở và cơ sở vật chất phục vụ đờisống tinh thần của công nhân chưa được đưa vào quy hoạch xây dựng Phần lớn
Trang 31ăn, ở, sinh hoạt của người lao động rất tạm bợ Trong các KCX, KCN rất ít nơi cótrung tâm vui chơi, giải trí cho công nhân
Về tâm lý, LĐPT có ý thức, kỷ luật chưa cao nên thường thay đổi công việc
theo ý thích Họ có thể nghỉ việc về quê bất cứ lúc nào, hoặc sẵn sàng bỏ DN cũ
để sang làm việc cho một DN mới chỉ với thu nhập cao hơn vài chục ngànđồng/tháng Mặt khác, LĐPT chủ yếu là lao động từ nông thôn nên khi làm việctại quê nhà họ sẽ cảm thấy tự do, thoải mái hơn
Hai là, từ phía doanh nghiệp
Các chủ DN thành phố thường chỉ lo công việc làm ăn mà ít quan tâm đếnđời sống của NLĐ Sự gắn bó giữa công nhân với DN khá lỏng lẻo Vai trò củacông đoàn chưa được phát huy đúng mức Báo cáo của nhiều ban quản lý các khucông nghiệp ở TP đều thừa nhận rằng: công tác chăm lo đời sống cho công nhânlao động tại các KCN còn hạn chế: thiếu nhà ở, chất lượng bữa ăn giữa ca thấp,thiếu các sinh hoạt văn hóa, tinh thần, doanh nghiệp vẫn còn vi phạm các quyđịnh về lao động, nhất là các chế độ lương, thưởng, bảo hiểm xã hội
Trong khi các chủ đầu tư TP cắt bớt một số
khoản phụ cấp và chậm trễ trong việc chi trả theo
lương mới; thì tại các KCN, KCX ở địa phương, các
DN (vốn đầu tư nước ngoài) đã không ngần ngại trả
lương theo mức qui định Ngoài ra, DN không những
cạnh tranh về lương mà còn chú trọng nhiều mặt: hỗ
trợ tiền nhà trọ, tăng lương theo tay nghề, xây dựng
khu ký túc xá dành cho công nhân ở xa, miễn phí
suất ăn trưa, các chế độ bảo hiểm Theo ông Trần Ngọc Hưng - giám đốc Trungtâm dịch vụ việc làm khu kinh tế Dung Quất, DN khi tuyển dụng đều tổ chức thitay nghề, qui định rõ ràng mức lương, bố trí công việc cụ thể, hỗ trợ 100% tiền ăngiữa ca, 60% tiền thuê trọ; tổ chức xe đưa đón CN Do đó NLĐ càng quyết tâm
về nông thôn làm việc Và khi đã về quê, có một công việc ổn định, ít công nhân
Ảnh 3: Công nhân Công ty May Bình Định (KCN Phú Tài)
có xe công ty đưa rước mỗi ngày
Trang 32được gần 50% lao động phổ thông, khoảng 10 – 15% trong số đó là lao độngtrình độ kỹ thuật vốn là người của tỉnh Quảng Ngãi từ các KCN phía Nam hồihương về
Ba là, từ phía Nhà nước
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có chính sách đầu tư vào khu vựcnông thôn để giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Đầu tưcủa Nhà nước vào khu vực nông thôn tăng lên đáng kể Nhà nước đã có nhữngchính sách khuyến khích, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tưnước ngoài phát triển công nghiệp tại khu vực nông thôn Điều này được thể hiện
ở sự sự ra đời, mở rộng hoạt động của hàng loạt khu, cụm công nghiệp, khu chếxuât rải đều trên địa bàn tỉnh như kinh tế mở Chu Lai (huyện Núi Thành), ThuậnYên (Tam Kỳ), Điện Nam-Điện Ngọc (Điện Bàn), Đại Hiệp (Đại Lộc)
Cụ thể là, đến cuối năm 2007, cả nước đã có 183 KCN được thành lập, vớitổng diện tích đất tự nhiên là 43,687 ha, phân bố khắp 54 tỉnh, thành phố trong cảnước, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 29,179 ha, bằng66,8% Trong số này có 111 KCN đã đi vào hoạt động và đã cho thuê được13,120 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp 73,7% các khu côngnghiệp vẫn tập trung nhiều tại các địa phương thuộc các vùng kinh tế trọng điểm.Hơn nữa, một số TP hiện nay đã có chủ trương sẽ không cấp giấy phép cho cácngành sử dụng nhiều LĐPT nữa mà chỉ tập trung cho những ngành nghề mũinhọn sử dụng nguồn lao động chất lượng cao
2.1.2 Phân tích tác động
Tác động của việc “lao động từ thành thị trở về nông thôn” gồm cả tácđộng tích cực và tác động tiêu cực
Tác động tích cực
Với các thành phố, sự chuyển đổi bước đầu của NLĐ ngoại tỉnh như hiện
nay là phù hợp với xu hướng của các TP là chuyển dần các ngành nghề tập trungnhiều LĐPT về khu vực ngoại thành và các tỉnh Nếu khu vực nông thôn tiếp tục
Trang 33nền kinh tế, xã hội TP sẽ theo đúng quy luật: tập trung ở TP sẽ chỉ là nhữngngành nghề lao động chất xám, tay nghề cao Như vậy, trong quá trình phát triểnnền kinh tế theo hướng trên, TP sẽ giảm được chi phí để giải quyết một số lượng
LĐ ngoại tỉnh quá lớn, giảm sức ép đối với thành phố lớn (sức ép về y tế, giáodục, điện nước, môi trường), giảm thiểu bộ máy hành chính quản lý đô thị và xâydựng nếp sống đô thị hiện đại
Với các doanh nghiệp ở các tỉnh thành, nguồn lao động từ các thành phốtrở về làm việc có một lợi thế rất lớn là đã được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp,không tốn chi phí đào tạo, tuyển vào là có thể làm việc được ngay Họ sẽ khônggặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và đào tạo lao động phổ thông, góp phầnđẩy mạnh quá trình phát triển ở nông thôn, giảm khoảng cách phát triển giữathành thị và nông thôn Các doanh nghiệp ở nông thôn có điều kiện cạnh tranhvới các doanh nghiệp ở thành phố lớn
Với người lao động, về nông thôn làm việc đồng nghĩa với việc cuộc sống
của họ sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, cụ thể: cũng với mức lương ấy, họ cóthể tìm được việc ở quê, chi phí sinh hoạt không đắt đỏ như ở thành phố, được ởgần người thân và gia đình, tránh được những phức tạp ở thành phố, lại đỡ tiềncho các khoản chi phí thuê nhà, ăn uống…
Tác động tiêu cực
Đối với các KCN, KCX ở thành phố lớn, chi phí cho việc tuyển dụng, giữ
chân người lao động tăng lên sẽ tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN ở thành thị Các DN thiếu lao động dẫn đến tình trạng chậm trễ hợp đồng,không hoàn thành được kế hoạch đã đề ra, mức lương không phản ánh đúng nănglực của người lao động Chính điều này cũng làm giảm sức cạnh tranh trong thuhút đầu tư vào thành phố (tác động này sẽ được phân tích rõ hơn ở “hiện tượnglạ”thứ hai)
Đối với các thành phố nhỏ và khu vực nông thôn, hiện tượng này cũng làm
ảnh hưởng đến tính bền vững của nguồn lao động ở các địa phương Một số
Trang 34hẹn những điều kiện làm việc thật hấp dẫn để lôi kéo công nhân ở lại làm việccho họ Nhưng thực chất sau này, đơn giá sản phẩm thấp, điều kiện ăn ở, làm việckhông thuận lợi nhiều công nhân lại đình công, bỏ việc lên thành phố
2.2 Hiện tượng thiếu lao động phổ thông
Trong khi tỷ lệ thất nghiệp nước ta ngày càng gia tăng thì trong những năm gần đây, các doanh nghiệp của một số ngành đã rơi vào tình trạng thiếu nhân lực, đặc biệt là LĐPT Hiện nay, nhu cầu về LĐPT luôn tăng cao - điều mà không ai ngờ tới vào thời điểm trước năm 2004 Khan hiếm LĐPT tại các TP lớn, các KCN, KCX diễn ra triền miên và tình hình trên càng trở nên nghiêm trọng vào năm 2007 Theo ban quản lý nhân sự ở những nơi này, họ thường xuyên phải đối mặt với sự biến động lực lượng LĐ.
Để hiểu hơn về hiện tượng này và xem có phải nó đang trở thành xu hướngtrong TTLĐ Việt Nam hay chỉ là một hiện tượng mang tính cục bộ, nhất thời, cầnnhìn lại nhu cầu về lao động phổ thông ở các thành phố lớn trong cả nước
Tại Bình Dương
Đây là một trong những tỉnh có nhiều KCN, KCX lớn nhất cả nước Năm
2005, ở Bình Dương có thêm 16 KCN mở thêm, đặt ra nhu cầu về 40.000 laođộng, trong đó 27.000 là LĐPT, tập trung chủ yếu trong các ngành dệt may, sản
Trang 35cần có.
Năm 2007, tại các KCN Bình Dương diễn ra cảnh thiếu lao động trầmtrọng, ở đâu cũng thấy những bảng hiệu tuyển dụng lao động Tại Công ty TNHHOleeh Việt Nam (KCN Sóng Thần - chuyên sản xuất các mặt hàng may mặc), từhơn một tháng qua, dù đã treo băng rôn rất lớn tuyển 3.000 công nhân, nhưngcũng chỉ có ba chục bộ hồ sơ đăng ký
Tại Đồng Nai
Năm 2005, toàn tỉnh Đồng Nai thiếu hụt khoảng trên 20,000 lao động
Đi qua KCX, KCN thấy hầu như lúc nào cũng thấyngoài cổng các công ty treo biển tuyển dụng lao
động nhưng thiếu vẫn hoàn thiếu
Ảnh 4: Tình trạng thiếu lao động phổ thông ở các KCN, KCX
Do bị hạn chế về số liệu, nên trong công trình nghiên cứu này chỉ đưa rađược số liệu của một vài năm và một vài thành phố lớn (là nơi luôn có số liệuthống kê về lao động – việc làm) Tuy nhiên, không phải do vậy mà kết quảnghiên cứu mất đi tính chính xác Có thể nhận thấy, hiện tượng thiếu LĐPT đãkhông còn là hiện tượng mang tính bộ phận của riêng TP.HCM mà nó đang códấu hiệu lan dần ra tất cả các tỉnh thành trong cả nước: Bắt đầu là năm 2004 ởTP.HCM, tiếp theo là năm 2005 ở Bình Dương, tiếp diễn vào những năm sau đó
và được thể hiện rõ nhất vào năm 2008, khi ở Hà Nội thiếu trầm trọng LĐPT
Trang 36Theo đăng ký của các doanh nghiệp gửi về các trung tâm giới thiệu việc làm,nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ, bằng cấp đã chững lại, thay vào đó chủ yếu
là các chỉ tiêu tuyển LĐPT và lao động thời vụ
Đầu năm 2008, theo dự báo, sự mất cân đối cung - cầu nhân lực sẽ tiếpdiễn mạnh trong năm này Ở Hà Nội, phiên giao dịch việc làm lần I có tổng cộng
64 DN tham gia với nhu cầu tuyển dụng 6210 lao động, trong đó có khoảng 3000LĐPT Tuy nhiên, phiên đầu tiên này rơi vào dịp áp Tết Nguyên đán, LĐPT chỉtuyển được 50 người, tức là 1/60 nhu cầu; Phiên giao dịch việc làm lần II có 49đơn vị với nhu cầu tuyển dụng LĐPT là 1054 người, nhưng hết phiên giao dịch,các DN chỉ tuyển được khoảng 1/10 nhu cầu; Phiên giao dịch việc làm lần III có
99 đơn vị với nhu cầu tuyển dụng LĐPT là 2469 người, hết phiên giao dịch chỉtuyển được 182 người, tức là 1/14 nhu cầu
Cả nước:
Năm 2006, cả nước có khoảng 1/4 số doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài (FDI) hiện có nhu cầu tuyển lao động Trung bình mỗi doanh nghiệp cần
tuyển thêm 27% quy mô lao động bình quân của doanh nghiệp Nhu cầu LĐ của
các doanh nghiệp là LĐPT (70%), còn nhu cầu tuyển dụng công nhân kỹ thuật và
sơ cấp là 26,23%, nhu cầu tuyển dụng trình độ trung cấp và đại học, cao đẳng trởlên chỉ khoảng trên 3%
2.2.1 Nguyên nhân
Kể từ năm 2004 đến nay, thiếu LĐPT đang là khó khăn chung của nhiều
DN tại các thành phố lớn, các KCN, KCX Đây là một nghịch lý khi Việt Namđược coi là nước có nguồn LĐ dồi dào Vậy nguyên nhân của vấn đề trên là gì?
Một là, do sự di chuyển lao động từ thành thị về nông thôn: Nguyên nhân
quan trọng nhất, trực tiếp nhất tác động đến hiện tượng trên là do lao độngchuyển về nông thôn làm việc Như đã phân tích ở trên, thời gian gần đây, lượnglao động ngoài tỉnh đến làm việc tại các TP lớn đã hạn chế hơn những năm trước do
ở lại làm việc tại các KCN, KCX tại quê hương
Trang 39ưu đãi để thu hút lao động Thế nhưng, khi bài toán nhân sự mới còn chưa kịp giải quyết thì không ít công
ty lại rối bời, xoay xở đủ cách để giữ chân những lao động cũ
http://www.xaluan.com (15/3/2008)
Trang 40Về phía doanh nghiệp: Một số DN vi phạm quyền lợi của NLĐ về việc làm
thêm giờ, chế độ lương và một số chế độ khác dẫn đến một số vụ ngừng việc tậpthể, ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của đơn vị và gây khó khăn cho công tácquản lý nhà nước
Về phía người LĐ: NLĐ chưa có sự hiểu biết thấu đáo về quyền lợi và
nghĩa vụ LĐ của mình Hơn nữa, cũng từ vấn đề tiền lương thấp, cuộc sốngkhông đảm bảo dễ dẫn đến đình công Mặt khác, NLĐ thường có tâm lý “nhảyviệc”, chỉ cần DN thành lập sau trả lương cao hơn NLĐ sẵn sàng bỏ nơi làm việc
cũ để chuyển sang nơi làm việc mới
Ảnh 5: Khi cuộc sống không đảm bảo, đình công dễ xảy ra.
Ba là, tác động của quá trình phát triển kinh tế Việc phân bổ đầu tư không
đồng đều giữa các vùng, địa phương đã dẫn đến hệ quả những vùng kinh tế trọngđiểm, tốc độ phát triển đô thị nhanh thì lại thiếu LĐ từ phổ thông đến cao cấp
Việc gia nhập WTO đã tác động đến công ăn việc làm trên 3 lĩnh vực: Thứnhất, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) sẽ chịu ảnh hưởng bởi những quyđịnh về đầu tư của WTO; thứ hai, các DN trong khu vực XK, đặc biệt là những
DN sử dụng nhiều LĐ, sẽ chịu tác động của các qui định về thương mại củaWTO; thứ ba, là những khu vực khác bị tác động trực tiếp bởi thương mại toàn