1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam

92 668 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Hoè
Trường học Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 799 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, khi mà toàn cầu hoá ngày càng phát triển thì hội nhập Kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu đối với mỗi một quốc gia

Trang 1

MỞ ĐẦU

Ngày nay, khi mà toàn cầu hoá ngày càng phát triển thì hội nhập Kinh

tế quốc tế là xu hướng tất yếu đối với mỗi một quốc gia.Việt Nam cũng khôngnằm ngoài xu hướng chung đó.Từ sau đổi mới đến nay đến nay,Việt Nam đã

mở rộng quan hệ với rất nhiều quốc gia khác trên thế giới.Nhờ vậy mà trình

độ phát triển kinh tế ở nước ta tăng nhanh trong những năm qua.Và Nhật Bản được xác định là một trong những thị trường hàng đầu trong quan hệ Thương mại quốc tế của Việt Nam đó chính là Nhật Bản

Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về bề dày lịch sử ,văn hoá ,bởi vậy từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đã

có những bước phát triển đầy ấn tượng Nhật Bản hiện là đối tác Thương mại lớn nhất,nhà cung cấp vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất và là nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam.Với những cơ sở đó, Nhật Bản luôn được xem là thị trường xuất nhập khẩu số một của Việt Nam Một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản chính là mặt hàng thuỷ sản Xuất khẩu thuỷ sản đã đạt được những thanh tựu to lớn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước.Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của nước ta sang thị trường Nhật Bản còn gặp nhiều khó khăn bởi Nhật Bản là một thị trường lớn và rất khắt khe,đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng cao Hơn thế hàng thuỷ sản của Việt Nam gặp phải rất nhiều đối thủ cạnh tranh lớn trên thị trường Nhật Bản

Các doanh nghiệp Việt Nam khi tiếp cận thị trường Nhật bản, đã có một số doanh nghiệp vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào hoạt động xuất khẩuthuỷ sản của doanh nghiệp mình.Tuy nhiên, việc vận dụng lý thuyết chuối giátrị của các doanh nhiệp còn chưa mang tính hệ thống, mới chỉ là nghĩ đến đâu thì vận dụng đến đó Những doanh nghiệp này chưa hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc về cách vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị như thế nào cho hiệu quả

Trang 2

Còn hầu hết các doanh nghiệp còn lại vẫn vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị trong hoạt động xuất khẩu của mình Những doanh nghiệp này mới chỉ tập trung vào một số lĩnh vực nhất định như sản xuất, hay chế biến, nuôi trồng thuỷ sản Chính vì vậy mà hiệu quả xuất khẩu đạt được là chưa cao, chưa nâng cao được giá trị cho khách hàng

Xuất phát từ thực tế đó,với những kiến thức về lý luận và thực tế có được trong quá trình nghiên cứu, tôi muốn đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.Vì vậy mà tôi đã lựa chọn đề tài “ Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam ” làm đề tài luận văn

Kết cấu của luận văn gồm 3 chương :

- Chương I : Lý thuyết chuỗi giá trị và vận dụng vào xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp

- Chương II : Thực trạng vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Nhật Bản

- Chương III : Các giải pháp nhằm thúc đẩy việc vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Nhật Bản

Trong quá trình làm bài luận văn này,do kinh nghiệm và kiến thức thực

tế chưa nhiều nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.Vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn Tôi xin chân thành cảm ơn TS- Trần Văn Hoè, giáo viên trực tiếp hướng dẫn tôi, đã giúp tôi hoàn thành bài luận văn này Tôi cũng xin cảm ơn các bác,các

cô các chú tại Viện Kinh tế và chính trị thế giới,đặc biệt là thạc sĩ Bùi TrườngGiang đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản báo cáo này

Trang 3

CHƯƠNG I :

LÝ THUYẾT CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ VẬN DỤNG VÀO XUẤT KHẨU

THUỶ SẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Lý thuyết chuỗi giá trị

Môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Trong đó Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá,xã hội…Môi trường bên ngoài còn bao gồm cả môi trường quốc gia và môi trường quốc tế Môi trường bên trong là tổng hợp các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố về nhan lực, công nghệ, tài chính, bộ máy quản lý, yếu tố văn hoá, triết lý kinh doanh của doanh

nghiệp…Như vậy môi trường kinh doanh là một tổng thể các quan hệ phức tạp.Các doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh thì chịu sự tác động trực tiếp của môi trường kinh doanh Do vậy việc phân tích môi trường kinh doanh là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp khi họ tiến hành kinh doanh Việc phân tích môi trường kinh doanh giúp cho các doanh nghiệp có thể tránh được những rủi ro có thể xảy ra,đồng thời tạo điều kiện cho họ xây dựng và thực hiện chiến lược thành công cũng như điều chỉnh chiến lược cho phù hợp Các công cụ phân tích môi trường kinh doanh bao gồm các mô hình phân tích môi trường hiện tại của doanh nghiệp Một trong những mô hình rất quan trọng và được sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp

đó chính là lý thuyết chuỗi giá trị

Lý thuyết chuỗi giá trị được sử dụng để xác định một cách có hệ thống các thế mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp Thông qua việc đánh giá những thế mạnh và điểm yếu đó mà các nhà quản lý có thể hiểu sâu hơn về khả năngcủa doanh nghiệp Mô hình được xây dựng dựa trên cơ sở giả định rằng mục

Trang 4

tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp là tạo ra giá trị Lượng giá trị ở đây đượctính bằng tổng doanh thu của doanh nghiệp Theo cách phân Chuỗi giá trị, cáchoạt động khác nhau của doanh nghiệp có tác dụng làm tăng thêm giá trị Khi các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì thì họ phải tién hành một loạt các hoạt động, từ hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần đầu ra, bán hàng, dịch vụ khách hàng cho đến các hoạt động hỗ trợ sản phẩm Mỗi hoạt động trong số đó có thể làm tăng giá trị của sản phẩm hay dịch vụ.Các hoạt động của doanh nghiệp để tạo ra giá trị có thể được phân chia thành hai loại cơ bản là các hoạt động cơ sở và các hoạt động hỗ trợ Sau đây là mô hình chuỗi giá trị:

Hình 1.1 : Mô hình Chuỗi giá trị

đầu vào Sản xuất

Hậu cần đầu ra

Marketing

và bán hàng

Dịch vụ

Các hoạt động cơ sở

Các hoạt động cơ sở

Các hoạt động cơ sở đóng góp vào việc tạo nên những công cụ về mặt vật lý của sản phẩm, nghĩa là tạo ra những công dụng, hoạt động bán hàng và vận chuyển đến cho người mua, và dịch sau bán hàng Có năm hoạt động cơ

sở là: Hoạt động hậu cần đầu vào, các hoạt động sản xuất, các hoạt động hậu cần đầu ra, hoạt động Marketing và bán hàng, hoạt động dịch vụ khách hàng

Doanh thu và lợi nhuận

Trang 5

- Các hoạt động hậu cần đầu vào rất quan trọng, nó được thể hiện ở mức

độ chắc chắn và ổn định của việc cung cấp nguồn nguyên liệu và hệ thống kiểm soát dự trữ Hoạt động hậu cần đầu vào là khâu đầu tiên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Có thể nói hoạt động hậu cầnđầu vào của doanh nghiệp có tốt hay không sẽ quyết định hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.Nếu hoạt động hậu cần đầu không được thẹc hiện tốt thì nó sẽ làm gián đoạn quá trình sản xuất của doanh nghiệp,từ đó mà ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanhnghiệp

- Các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp được thể hiện ở việc so sánh năng suất của thiết bị với năng suất của các đối thủ cạnh tranh chủyếu, mức độ tự động hoá của các quá trình sản xuất, hiệu quả của hệ thống điều hành sản xuất trong việc nâng cao chiến lược sản phẩm và giảm giá thành, hiệu quả của mặt bằng sản xuất và bố trí nơi làm

việc.Hoạt động sản xuất rát quan trọng trong việc tạo ra chuỗi giá trị của doanh nghiệp

- Các hoạt động hậu cần đầu ra thể hiện ở tính chính xác và hiệu quả của hoạt động giao hàng và cung ứng dịch vụ, hiệu quả của hoạt động

dự trữ sản phẩm.Hoạt động hậu cần đầu ra có thể làm cho khách hàng được thoả mãn hơn.Nếu hoạt động này được làm tốt thì sẽ tăng thêm giá trị trong chuỗi giá trị mà doanh nghiệp mang lại cho khách hàng

- Các hoạt động Marketing và bán hàng bao gồm các hoạt động nghiên cứu thị trường để xác định khối khách hàng và nhu cầu, hoạt động xúctiến và quảng cáo sản phẩm, hoạt động đánh giá các kênh phân phối, khả năng của đội ngũ bán hàng, việc phát triển thương hiệu cũng như

uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, đánh giá mức độ trung thành

Trang 6

của khách hàng và mức độ chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp là lớn hay nhỏ.

- Hoạt động dịch vụ khách hàng bao gồm các hoạt động thoả mãn tốt hơn nhu càu của khách hàng như đổi mới sản phẩm, tính kịp thời của việc giải quyết các khiếu nại của khách hàng, có các chính sách bảo hành và bảo hiểm, chất lượng của các hoạt động giáo dục và đào tạo khách hàng, khả năng cung cấp các bộ phận thay thế hay dịch vụ sửa chữa

Các hoạt động hỗ trợ

Các hoạt động hỗ trợ có vai trò hỗ trợ cho các hoạt động cơ sở và hỗ trợ lẫn nhau.Các hoạt động hỗ trợ bao gồm hoạt động quản trị nguồn nhân lực, phát triển công nghệ, hoạt động thu mua nguyên liệu và cơ sở hạ tầng

- Hoạt động quản trị nguồn nhân lực là tất cả những hoạt động lien quan đến con người, bao gồm hoạt động tuyển dụng, đào tạo và đề bạt tất cả các loại nhân viên, hệ thống tiền lương, môi trường làm việc, hoạt động của tổ chức công đoàn, việc khuyến khích công nhân và mức độ thoả mãn với công việc

- Việc phát triển công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu và phát triển, mọi quan hệ trong công tác giữa các nhân viên nghiên cứu và phát triển các bộ phận khác, chất lượng của phòng thí

nghiệm và các phương tiện nghiên cứu, trình độ và kinh nghiệm của thợ kỹ thuật và các nhà khoa học, các chính sách khuyến khích sang tạo và đổi mới

- Các hoạt động thu mua nguyên liệu bao gồm việc đa dạng hoá các nguồn cung cấp để tránh việc phụ truộc vào một nhà cung cung cấp duy nhất từ đó gây khó khăn cho doanh nghiệp.Hoạt động thu mua

Trang 7

nguyên vật liệu phải nhanh chóng,đúng hạn, với chi phí thấp nhất

có thể và có chất lượng đảm bảo.Phải tạo mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp đáng tin cậy Hoạt động thu mua nguyên vật liệu

có tốt hay không đóng góp rất nhiều vào chất lượng sản phẩm sau này

- Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp bao gồm khả năng thu hút các nguồn vốn với chi phí thấp để đầu tư và bổ xung vào nguồn vốn lưu động , hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định ngắn hạn và dài hạn, tính kịp thời và chính xác của thông tin quản lý về môi trường cạnh tranh, mối quan hệ với người hoạch định chính sách.Ngoài ra, cơ sở

hạ tầng của doanh nghiệp còn bao gồm khả năng phát hiện ra các cơhội về thị trường sản phẩm mới và các đe doạ tiềm tàng từ môi trường, chất lượng của hệ thống kế hoạch hoá chiến lược để đạt mụctiêu của doanh nghiệp

Mô hình chuỗi giá trị được sử dụng để đánh giá tác động của các yếu tố chủ yếu của môi trường bên trong của doanh nghiệp.Từ đó mà các nhà quản lý có thể hiểu hơn về khả năng của doanh nghiệp

1.2.Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị vào hoạt động xuất khẩu thuỷ sản

Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng đối với các quốcgia trên thế giới Thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho nhân loại, tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người, đặc biệt là những cư dân vùng ven biển.Xuất khẩu thuỷ sản mang lại giá trị kinh tế cao góp phần tăng trưởng cho nền kinh tế quốc dân của quốc gia xuất khẩu

1.2.1 Đối với các hoạt động hỗ trợ

1.2.1.1.Hoạt động hậu cần đầu vào

Trang 8

Hoạt động hậu cần đầu vào của ngành thuỷ sản là việc bảo đamr nguồn thuỷ sản cho sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp Để hoạt động hậu cần được thực hiện tốt thì các doanh nghiệp cần chú ý trong việc lựa chọn nguồn cung cấp thuỷ sản cho sản xuất và xuất khẩu.Nguồn cung cấp có thể là

do nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài, hay do đánh bắt ,hay do nuôi trồng

Do đặc điểm phụ thuộc vào thời tiết rất nhiều nên khi lựa chọn nguồn cung cấp,các doanh nghiệp cần phải đảm bảo được tính ổn định và thuận tiện của nguồn nguyên liệu.Ngày nay thì các doanh nghiệp chú trọng nhiều hơn trong việc nuôi trồng thuỷ sản vì nó thể hiện nhiều tính ưu việt so với nhập khẩu nguyên liệu và đánh bắt Trước hết là có thể giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp và có thể giảm chi phí thu mua.Việc nhập khẩu nguyên liệu thường gây bất lợi cho doanh nghiệp vì chi phí cao, vận chuyển không thuận tiện.Cònđánh bắt thuỷ sản thì độ rủi ro cao, đầu tư lớn cho phương tiện đánh bắt

Trong hoạt động hậu cần đầu vào, các doanh nghiệp còn phải chú ý lựa chọn thuỷ sản có chất lượng tốt Không nên thu mua những thuỷ sản đã chết

vì nó sẽ ảnh hưởng tới chất lượng thuỷ sản xuất khẩu Khi lựa chọn con

giống,phải lựa chọn con giống khoẻ mạnh, đều về kích cỡ Lựa chọn con giống đạt tiêu chuẩn chất lượng coi như là thành công bước đầu của doanh nghiệp.Ngoài ra giá cả nguyên liệu thu mua cũng rất quan trọng Nếu biết cachs, doanh nghiệp có thể mua được nguyên liệu với giá rẻ mà chất lượng thuỷ sản vẫn tốt.Các hoạt động hậu cần phải được đảm bảo kịp thời và chính xác,có như vậy mới đảm bảo được tiến độ sản xuất của doanh nghiệp, phục

vụ cho hoạt động xuất khẩu

1.2.1.2 Hoạt động sản xuất thuỷ sản

Trong hoạt động sản xuất thuỷ sản thì phải chú ý nhất đến khâu chế biến thuỷ sản Chế biến thuỷ sản là quá trình sản xuất thuỷ sản theo nhằm mục đích phục vụ xuất khẩu Ở nước ta,khâu chế biến thuỷ sản vẫn còn kém,

Trang 9

gặp nhiều khó khăn.Chính vì vậy mà chất lượng của thuỷ sản xuất khẩu vẫn chưa cao.Do đó các doanh nghiệp phải chú trọng tăng cường năng lực chế biến phục vụ xuất khẩu Muốn vậy thì doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng mới một số cơ sở chế biến, đổi mới công nghệ, đổi mới trang thiết bị, tạo điều kiệnlàm việc tốt nhất cho nhân viên, nâng công suất chế biến, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng sản phẩm xuất khẩu

Ngoài ra đối với mặt hàng thuỷ sản, đặc biệt là đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp thì vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm là

vô cùng quan trọng.Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người tiêu dung

Vì vậy đối với hàng thuỷ sản thì tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh là rất khắt khe Nhiều nước còn lấy tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm như là rào cản đối với hàng thuỷ sản nhập khẩu vào nước đó Nếu sản phẩm sản xuất ra mà không đúng với tiêu chuẩn thì sản phẩm đó sẽ không được thị trường chấp nhận Đây là khó khăn đối với hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản

Vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản cần chú ý sản xuất đúng với tiêu chuẩn chất lượng mà đối tác yêu cầu

1.2.1.3 Đối với hoạt động hậu cần đầu ra

Trong ngành thuỷ sản thì hoạt động hậu cần đầu ra là rất quan

trọng.Hoạt động hậu cần đầu ra bao gồm các hoạt động đóng gói, bao bì, vận chuyển Vì đặc điểm của hàng thuỷ sản là tươi sống, ko để được trong thời gian dài Vì vậy trong hoạt động này cần chú ý nhất đến công tác bảo quản dựtrữ thuỷ sản Nhất là đối với hoạt động xuát khẩu, khi mà thuỷ sản được xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc gia, thời gian vận chuyển lâu thì hoạt động bảo quản càng quan trọng Do hàng thuỷ sản không thể dự trữ được lâu nên cần phải giao hàng nhanh chóng và kịp thời Ngoài ra việc lựa chọn phương tiện vận chuyển cũng rất quan trọng Phương tiện vận chuyển phải vừa thuận tiện ,vừa nhanh lại vừa có thể bảo quản tốt để hàng thuỷ sản khỏi bị hỏng Lựa

Trang 10

chọn bao bì đóng gói hàng thuỷ sản cũng rất quan trọng.Nó vừa bảo đảm an toàn cho hàng thuỷ sản, vừa phải phù hợp với đặc tính của từng loại hàng Ví

dụ bao bì phải được làm bằng chất chống thấm để sản phẩm không bị nhanh hỏng Nhất là khi các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản thì bao bì đóng gói phải bền, có thể chịu được sức nặng lớn mà không làm ảnh hưởng đến hàng thuỷ sản và có thể bảo quản được hàng thuỷ sản tốt nhất

1.2.1.4 Đối với hoạt động Marketing và bán hàng

Trong hoạt động Marketing và bán hàng thì việc nghiên cứu thị trường

là quan trọng nhất Nhất là đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản thì hoạt động Marketing hướng ra thị trường quốc tế Thị trường quốc tế không giống như thị trường nội địa, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu thật kỹ

về thị trường đó như tiêu chuẩn về chất lượng đối với hàng thuỷ sản, thói quen tiêu dùng của người dân, yếu tố luật pháp, văn hoá… Đặc biệt đối với hàng thuỷ sản khi mà các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm là rất khắt khe, nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của người tiêu dùng Ở mỗi nước tiêu chuẩn này là khác nhau, nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này là khác nhau Hàng thuỷ sản cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố luật pháp và văn hoá Vì vậy, công tác nghiên cứu thị trường là rất quan trọng Tuy nhiên, đối với nhiều doanh nghiệp, công tác này vẫn chưa được chú trọng nhiều Do đó mà khi tham gia xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường quốc tế, những doanh nghiệp này

đã gặp không ít những khó khăn và trở ngại trong việc tiếp cận thị trường Nhiều khi nó còn làm cho doanh nghiệp thất bại

Ngoài ra trong hoạt động Marketting và bán hàng, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản còn cần phải chú ý tạo nên kênh phân phối cho phù hợp với đặc điểm của hàng thuỷ sản.Vì hàng thuỷ sản phải đáp ứng yêu cầu vệ sinh thực phẩm,và hàng thuỷ sản không để được lâu,nên khi lựa chọn kênh phân phối thì phải hạn chế xuất khẩu qua trung gian

Trang 11

1.2.1.5 Đối với hoạt động dịch vụ khách hàng

Hoạt động dịch vụ khách hàng là những hoạt động giao hàng, giải quyết khiếu nại của đối tác khi hàng thuỷ sản không đúng chất lượng hay không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.Do đặc điểm của hàng thuỷ sản là rất dễ hỏng và không để được lâu, vì vậy doanh nghiệp cần giao hàng kịp thời

và nhanh chóng Giao hàng đúng chất lượng mà đối tác yêu cầu, có như vậy mới tạo được uy tín với phía đối tác Đồng thời để cho thuận lợi trong quá trình vận chuyển thì cần phải nâng cấp hệ thống tầu thuyền, có phương pháp bảo quản phù hợp,xây dựng hệ thống cầu cảng đáp ứng được nhu cầu cảu các tầu về chỗ trú đậu, làm cho việc giao hàng được thuận lợi hơn

1.2.2 Đối với các hoạt động hỗ trợ

1.2.2.1.Hoạt động quản trị nguồn nhân lực

Hoạt động quản trị nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động đào tạo trong và ngoài nước cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý và kỹ thuật về công nghệ mới trong sản xuất giống, nuôi cao sản, khai thác, bảo quản sau thuhoạch và về quản lý chuyên ngành, đồng thời tăng cường đào tạo công nhân

kỹ thuật về nuôi, khai thác, bảo quản, chế biến và nhân viên tiếp thị Cũng như các ngành khác, trong ngành thuỷ sản thì hoạt động quản trị nguồn nhân lực là rất quan trọng Con người chính là nhân tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp Vì vậy việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ là việc làm cần thiết và quan trọng

1.2.2.2.Phát triển công nghệ

Đối với hoạt động phát triển công nghệ thì chủ yếu là tập trung nghiên cứu công nghệ cao về di truyền, chọn giống, nhân giống, công nghệ sinh học, công nghệ xử lý môi trường, công nghệ chuẩn đoán phòng trừ dịch bệnh, công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch Ngoài ra doanh nghiệp có thể nhập khẩu các bí quyết công nghệ, công nghệ cao từ các nước phát triển; đầu

Trang 12

tư nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới về nuôi trồng, khai thác và chế biến xuất khẩu Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào ngành thuỷ sản có vai trònâng cao năng suất và chất lượng hàng thuỷ sản.

1.2.2.3 Hoạt động đảm bảo nguyên liệu

Hoạt động đảm bảo nguyên liệu là tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo cho tiến trình sản xuất được diễn ra liên tục.Hoạt động này bao gồm các hoạt động đảm bảo nguyên liệu thuỷ sản, đảm bảo máy móc thiết bị cho quá trình sản xuất Hoạt động này hỗ trợ cho hoạt động hậu cần đầu vào nhằm nâng cao gía trị tạo ra cho khách hàng Trong hoạt động này các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản phải đa chú ý dạng hoá nguồn cung cấp thuỷ sản,không chỉ phụthuộc vào một nhà cung cấp.Có như vậy mới linh hoạt trong hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp còn cần chú ý trong việc lựa chọn con giống, thu mua với giá thấp mà chất lượng thì có thể chấp nhận được Ngoài ra các doanh nghiệp còn phải lo thủ tục để mua sắm máy móc, xây dưng các cơ sở chế biến, việc đưa ra các chỉ tiêu trong việc mua hàng

1.2.2.4.Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp

Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp bao gồm những tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp Tài sản hữu hình đó là nhà kho, bến bãi, các máy mócthiết bị, phương tiện vận chuyển ,dây chuyền sản xuất Cơ sở hạ tần doanh nghiệp là điều kiện cần có để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản Cơ sở hạ tầng nếu được đầu tư thì sẽ nâng cao năng suất chất lượng của sản phẩm, từ đó có thể nâng cao giá trị sản phẩm tạora

1.3 Đặc điểm thuỷ sản Việt Nam và khả năng vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản ở Việt Nam

1.3.1 Đặc điểm thuỷ sản Việt Nam

Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, việc lưu thông, trao đổi hàng hoá là cần thiết và không thể tránh khỏi.Riêng đối với hàng thuỷ sản,do đặc điểm của

Trang 13

hàng thuỷ sản là phục vụ nhu cầu ăn uống của người tiêu dùng, cho nên để đảmbảo sức khoẻ cho người tiêu dùng và bảo vệ môi trường, các nước thường đặt

ra một số quy định có thể gọi chung là hàng rào Thương mại.Thông thường có

bốn loại hàng rào thương mại là: Hàng rào thuế; Hàng rào hạn ngạch QUOT ;

Hàng rào kỹ thuật -TBT ; Hàng rào vệ sinh -SPS

Hàng rào kỹ thuật TBT bao gồm các quy định sau:

- Các chỉ tiêu dinh dưỡng như đạm, mỡ, muối, nước, khoáng chất ? bắt buộc phải đạt theo mức hoặc tỷ lệ nhất định, nhằm đảm bảo dinh dưỡng theo yêu cầu cho người sử dụng hoặc yêu cầu riêng biệt cho một nhóm đốitượng tiêu dùng (như trẻ em, người ăn kiêng ?)

- Các quy định về chủng loại, kích cỡ, khối lượng, cách chế biến,

phương pháp ghi nhãn, kiểu cách bao gói, nhằm thoả mãn yêu cầu sử dụng

và ngăn chặn việc gian lận thương mại

- Việc nuôi trồng, đánh bắt nguyên liệu để chế biến ra sản phẩm đó phải không phương hại đến các loài động vật quý hiếm và không làm phương hại đến môi sinh và môi trường

Còn hàng rào vệ sinh- SPS bao gồm các quy định:

- Gồm những quy định về các loại mầm dịch bệnh không được phép có trong thuỷ sản xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh, nhằm ngăn chặn các dịch bệnh có trong sản phẩm lây lan vào môi trường nuôi của nước nhập khẩu

- Những quy định về ngăn chặn các mối nguy làm cho thực phẩm thuỷ sản không an toàn vệ sinh.Các mối nguy ở đây bao gồm có mối nguy vật lý, mối nguy sinh học, mối nguy hoá học :

Mối nguy vật lý : Bao gồm những vật cứng, sắc, nhọn có thể gây thương

tích cho hệ tiêu hoá của người tiêu dùng

Mối nguy sinh học : Bao gồm các loại ký sinh trùng, các loại virut và các

loại vi sinh vật gây bệnh

Mối nguy hoá học : Là các hoá chất độc hại đến sức khoẻ người tiêu dùng

Trang 14

có sẵn trong môi trường tự nhiên hoặc do con người vô tình hay cố ý làm nhiễm vào thực phẩm

Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển ngành thuỷ sản Hiện nay thuỷ sản đang là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của nước ta.Cùng với khai thác các nguồn lợi cá và hải sản biển, Việt Nam còn cómột tiềm năng phong phú về các nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt và nước lợ đã góp phần không nhỏ trong quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước.Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa đông tương đối lạnh chủ yếu ảnh hưởng đến Vịnh Bắc Bộ, còn mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều Lượng mưa trugn bình hàng năm khoảng 1.500 - 2.000 mm Chế

độ khí hậu, thời tiết, các điều kiện tự nhiên đa dạng tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản đa loài, nhiều loại hình Bờ biển Việt Nam trải dài hơn 3.260 km Trung bình khoảng 20 km chiều dài bờ biển có một cửa sông thông

ra biển Các cửa sông này chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều khá phức tạp Ngoài những con sông chảy trực tiếp vào biển, có một số sông chảy qua các đầm phá lớn như phá Tam Giang, Cầu Hai, Lăng Cô, Ô Loan, Thị Nại Trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 2.860 sông ngòi lớn nhỏ, nhìn chung chảy xiết,

do vậy thường làm xói mòn địa hình Bờ biển của Việt Nam uốn lượn - chỗ nhô ra tạo nên bán đảo nhỏ, chỗ vòng lại hình thành vùng vịnh và cảng lớn Việt Nam có nhiều hồ tự nhiên như Hồ Tây (đại diện cho hồ miền đồng

bằng); Biển Hồ, Hồ Ba Bể, Hồ Lắk (đại diện cho hồ miền núi) Các hồ đó có mực nước quanh năm ổn định, chu trình vật chất khép kín tự có trong hồ là chính Diện tích các hồ tự nhiên ở Việt Nam là 20.000 ha Việt Nam có rất nhiều hồ chứa cỡ trung bình và cỡ nhỏ (hiện chưa kiểm kê hết), một số hồ chứa lớn là Thác Bà, Hoà Bình (ở miền Bắc), Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ, Sông Hinh (ở miền Nam) Diện tích hồ chứa trên 180 nghìn ha Tuy nhiên, với vai trò quan trọng trong công tác thuỷ lợi, thuỷ điện và phân lũ, hiện nay nhiều hồ chứa mới đang tiếp tục được xây dựng

Trang 15

Với những điều kiện thuận lợi như vậy nên ngành thuỷ sản nước ta rất

có tiềm năng để phát triển.Nuôi trồng thuỷ sản ven biển phát triển rất nhanh trong thời gian gần đây : trong các đầm phá; nuôi lồng bè trong các vùng cửa sông và eo vịnh; qua đắp đầm nuôi trên các bãi triều, trên cát và trên các đồnglúa kém hiệu quả Ðến năm 2001, có khoảng trên 400.000 ha diện tích nuôi nước lợ ven biển với tổng sản lượng nuôi đạt trên 500.000 tấn Xu hướng nuôitrồng hiện nay là đẩy mạnh thâm canh, hạn chế mở rộng diện tích, đặc biệt diện tích rừng ngập mặn nhằm bảo vệ và phục hồi nơi cư trú tự nhiên ven biển.Nuôi biển cũng phát triển, tuy chưa mạnh, với hình thức nuôi lồng bè và nuôi quây lưới là phổ biến Một số nơi do mật độ nuôi dầy, thức ăn dư thừa tích lại gây dịch bệnh Tình trạng này đã được khắc phục kịp thời, tuy chưa triệt để

Khai thác thuỷ hải sản vẫn tập trung chủ yếu ở vùng nước nông ven bờ, đến độ sâu 50m Ở đây tập trung rất nhiều tàu thuyền nhỏ hoạt động đánh bắt khiến cho nguồn lợi có biểu hiện suy giảm, mức độ đánh bắt về cơ bản đã vượt ngưỡng cho phép Vì vậy, Chính phủ đã chủ trường đẩy mạnh đánh bắt

xa bờ, tăng cường nuôi trồng thuỷ sản ven biển để giảm nhẹ sức ép vào vùng ven bờ, tạo điều kiện phục hồi nguồn lợi.Ngoài ra, hiện tượng đánh bắt hải sản ở các vùng rạn san hô bằng các phương tiện huỷ diệt vẫn còn tồn tại như dùng mìn, xung điện, hoá chất độc, lưới mắt nhỏ Vì vậy Chính phủ cần có biện pháp mạnh để xử lý tình trạng trên nếu không các rạn san hô sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm Tuy nhiên Việt Nam chưa phát triển nuôi trồng thuỷ sảncông nghiệp nên còn nhiều tiềm năng đất đai để phát triển nuôi trồng Vì vậy

mà chính phủ luôn khuyến khích phát triển nuôi trồng để lấy nuôi trồng bù đắp cho đánh bắt Việc đưa thành công kỹ thuật nuôi hải sản trên các vùng cátven biển đã mở rộng triển vọng mới cho việc phát triển vùng nuôi tôm và các hải sản khác theo phương thức nuôi công nghiệp, nhát là vùng duyên hải dọc theo bờ miền Trung

Trang 16

1.3.2 Vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản

ở Việt Nam

Trong thời gian qua, và cả trong tương lai, ngành thuỷ sản ở Việt Nam vẫn lấy xuất khẩu làm động lực phát triển, coi xuất khẩu thuỷ sản là hướng phát triển mũi nhọn và ưu tiên số một Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam ngoài việc tập trung vào các thị trường truyền thống còn phải đẩy mạnh tìm kiếm thịtrường mới có nhiều tiềm năng nhằm mở rộng thị trường trên toàn thế giới Khi sử dụng mô hình chuỗi giá trị để phân tích thì có thể thhấy hoạt động thuỷ sản bao gồm những hoạt động:

1.3.2.1.Hoạt động hậu cần đầu vào của ngành thuỷ sản

Hoạt động hậu cần đầu vào bao gồm hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản Ở nước ta hiện nay, nguồn thuỷ sản chủ yếu được đảm bảo do đánh bắt, song diện tích nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng được mở rộng

Hoạt động khai thác hải sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên biển và vùng nước lợ Hoạt động khai thác hải sản ở Việt Nam được tiến hành tập trung trong khu vực ngư trường số 71, khu vực Trung – Tây Thái Bình Dương ,theo bản đồ ngư trường thế giới của FAO Nhìn

chung, nghề khai thác hải sản ở Việt Nam là nghề cá nhỏ, hoạt động ven bờ làchủ yếu Nhưng các nguồn lợi ven bờ đang có đấu hiệu bị đe doạ, một số laòi hải sản có giá trị kinh tế cao đã bị khai thác quá mức Do vậy ngành thuỷ sản Việt Nam chủ trương cơ cấu lại nghề khai thác bằng cách khuyến khách khai thác hải sản xa bờ, đồng thời chuyển một bộ phận ngư dân sang những lĩnh vực hoạt động kinh tế khác như nuôi trồng, kinh doanh, cung ứng dịch vụ hậucần nghề cá…

Hoạt động khai thác hải sản xa bờ là hoạt động khai thác hải sản tiến hành ở vùng biển có độ sâu từ 30m trở lên (đối với vùng biển Bắc Bộ , Đông – Tây Nam Bộ, Vịnh Thái Lan ) ,từ 50m trở lên (đối với vùng biển miền Trung )

Trang 17

Khai thác thuỷ sản nội địa là hoạt động khai thác nguồn lợi thuỷ sản trong các song, hồ , đầm phá và các vùng nước ngọt tự nhiên khác Tổng sản lượng thuỷ sản khai thác nội địa hằng năm dao động từ 200 đến 250 nghìn tấn Đây là nguồn cung cấp thực phẩm tại chỗ quan trọng cho dân cư, đồng thời cũng có nhiều sản phẩm quý

1.3.2.2.Hoạt đông sản xuất thuỷ sản

Sản xuất thuỷ sản là chế biến thuỷ sản Chế biến thuỷ sản được hiểu là

chế biến tất cả các loài thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn thu hoạch từhoạt động khai thác thuỷ sản và nuôi trồng thuỷ sản Chế biến thuỷ sản được phân thành hai nhóm sau:

Chế biến phục vụ tiêu dùng nội địa là hoạt động chế biến thuỷ sản nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước Những năm trước đây, do phải nhập dây chuyền đồng bộ từ nước ngoài nên chi phí cho hoạt động chế biến nội địa tương đối cao, giá thành sản phẩm không phù hợp với sức mua của người dân trong nước Gần đây, ngành thuỷ sản đã chủ động phát triển công nghiệp cơ điện lạnh phục vụ thiết bị cho chế biến thuỷ sản nội địa nên tình trạng này đã được khắc phục Mặt khác, do mức thu nhập tăng nên nhu cầu tiêu thụ cũng tăng theo, nhiều sản phẩm thuỷ sản chế biến đã không còn phân biệt ranh giới giữa tiêu dùng nội địa và xuất khẩu

Chế biến sản phẩm xuất khẩu là hoạt động chế biến thuỷ sản nhằm mụctiêu xuất khẩu thu ngoại tệ Hệ thống các nhà máy chế biến xuất khẩu năm

2001 là 272 nhà máy với năng lực thu hút nguyên liệu khoảng 500 nghìn tấn/năm Nhờ Áp dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới như công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ surimi, công nghệ ngủ đông trong vận chuyển thuỷ sản tươi sống, công nghệ đông rời IQF… nên xuất khẩu thuỷ sản

đã tăng nhanh trong những năm qua Đông thời nhờ việc tích cực áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm, đến năm 2003 đã có 273 doanh nghiệp đạt các điều kiện an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam,

Trang 18

153 doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản được công nhận vào danh sách I xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU, 255 cơ sở đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào Thuỵ Sỹ và Ca na đa, 248 đơn vị đạt tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, v.v Việt Nam tạo được thế đứng vững chắc trên thị trường thuỷ sản thế giới

Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản thì phần lớn thuỷ sản sản xuất ra là nhằm mục đích xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Chỉ có một số ít

là để đáo ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa

1.3.2.3 Hoạt động hậu cần đầu ra đối với hàng thuỷ sản

Với địa hình như ở nước ta thì hàng thuỷ sản chủ yếu được vận chuyển bằng đường biển. Ởnước ta thì chủ yếu là hoạt động xuất khẩu thuỷ sản sang các quốc gia khác trên thế giới, gần đây mới bắt đầu nhập khẩu nhưng khối lượng còn hạn chế.Thị trường xuất khẩu thuỷ sản ở nước ta ngày càng được

mở rộng ra nhiều nước và vùng lãnh thổ ở cả 5 châu lục, trong đó Nhật Bản

và Mỹ là hai thị trường dẫn đầu Thị trường Mỹ có tốc độ phát triển nhanh, từ chỗ chỉ chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vàonăm 1998 đã vươn lên đứng đầu vào năm 2001 với tỷ trọng xấp xỉ 30%

Tại thị trường trong nước, tiêu thụ bình quân đầu người năm 2001 mới đạt khoảng 19.4 kg/người, còn thấp so với một số nước Đông Nam Á như Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia, Campuchia Thuỷ sản tiêu thụ nội địa bao gồm phần lớn thuỷ sản nước ngọt và một phần thuỷ sản nước mặn, đa số là sản phẩm giá thấp và trung bình, chủ yếu là hàng tươi sống Tuy nhiên, khi thu nhập tăng lên, đời sống nhân dân ngày càng cao thì nhu cầu về sản phẩm giá trị cao và sản phẩm chế biến đang tăng lên, đặc biệt là ở các thành phố, khu du lịch Người dân đã bắt đầu đòi hỏi hàng thuỷ sản có chất lượng cao, bao bì đóng gói thuận tiện Về bao bì đóng gói thì thuỷ sản ở nước ta vẫn chưa được chú ý nhiều

1.3.2.4.Hoạt động Marketing và bán hàng thuỷ sản

Trang 19

Đối với xuất khẩu thuỷ sản thì công việc Marketing và bán hàng của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu Hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành xuất khẩu mới chỉ chú trọng trong việc tìm bạn hàng, miễn sao là bán được hàng ra nước ngoài Còn việc sản phẩm đến tay người tiêu dùng như thếnào thì không mấy được quan tâm Vì vậy bộ thủy sản đã chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các Bộ Thương mại, Ngoại giao trong công tác xúc tiến thương mại và tăng cường công tác thông tin thị trường tăng cường đào tạo cán bộ thịtrường và tiếp thị chuyên nghiệp ở các doanh nghiệp, để giữ vững và ổn định thị trường truyền thống, đặc biệt là thị trường Nhật Bản, đồng thời mở rộng hơn nữa các mặt hàng Việt Nam có khả năng phát triển để xuất ra các thị trường lớn như : Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ, Trung Quốc ; giảm tỷ trọng các thị trường trung gian, tăng nhanh tỷ trọng các thị trường tiêu thụ trực tiếp.Riêng đối với thị trường lớn như thị trường Nhât bản cần tăng tỷ trọng các mặt hàng thủy sản tinh chế và hàng phối chế đóng gói nhỏ cho siêu thị, tôm sống, cá ngừ tươi và đông và các đặc sản khác, đưa tỷ trọng các mặt hàngthủy sản xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản chiếm từ 38% đến 40% trong tổng sản phẩm xuất khẩu Còn đối với thị trường khối liên minh Châu Âu (EU) và một số thị trường mới khác ngoài các thị trường trên đây, cần nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm đáp ứng theo yêu cầu của các thị trường này nhằm mở rộng thị trường cho hàng thuỷ Việt Nam.

1.3.2.5 Hoạt động dịch vụ khách hàng

Trong nghành xuất khẩu thuỷ sản ở nước ta, hầu như hoạt động dịch vụkhách hàng là chưa có Bởi vì hầu hất các doanh nghiệp xuât khẩu thuỷ sản mới chỉ xuất khẩu qua trung gian, chưa tạo được kênh phân phối trực tiếp trênthị trường nước ngoài.Vì vậy khi vận dụng lý thuyế chuỗi giá trị vào hoạt động xuất khẩu thuỷ sản ở Việt nam, các doanh nghiệp cần phải chú ý hơn

Trang 20

nữa đến hoạt động dịch vụ khách hang Có như vậy mới tăng them giá trị trong chuỗi giá trị tạo ra cho khách hang

1.3.2.6 Đối với các hoạt động hỗ trợ

Đối với hoạt động quản trị nguồn nhân lực thì ngành thuỷ sản ở nước tarất chú trọng phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng Yêu cầukinh tế kỹ thuật ngày càng cao đòi hỏi mỗi người lao động trong ngành thuỷ sản phải cố gắng nâng cao trình độ của mình và phải được bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp Vì vậy mà ngành thuỷ sản không chỉ chú trọng phát triển các cán bộ kỹ thuật ,quản lý mà còn cả những người lao động trực tiếp Các loại hình đào tạo cũng ngày càng phát triển Đối với loại hình đào tạo nghề ngắn hạn trong 3 năm từ 2000 đến 2002 đã tổ chức 1.698 lớp tập huấn về khai thác

và nuôi trồng thuỷ sản cho 98.261 lao động Năm 2002, mở lớp và cấp chứng chỉ cho 13.000 thuyền trưởng, máy trưởng và thuyền viên; tổ chức hàng chục lớp tập huấn cho kiểm dịch viên, thanh tra viên.Năm 1999 mới chỉ đào tạo nghề dài hạn được 1.400 người, sang năm 2003, con số này đã tăng thêm 154%, tương ứng là 3.550 người

Còn với hoạt động phat triển công nghệ trong ngành thuỷ sản ở nước tathì Mấy năm nay, công nghệ chọn tạo, nhân giống thủy sản; các chương trìnhsản xuất giống nhằm khai thác, sử dụng nguồn gen bản địa và giống nhập nộiphục vụ đa dạng hóa sản phẩm nuôi được triển khai tích cực, hiệu quả Thứtrưởng Bộ Thuỷ sản Nguyễn Việt Thắng cho biết, khoa học, công nghệ vềgiống thuỷ sản cùng các chuyên ngành liên quan như thức ăn, dinh dưỡng,quản lý sức khỏe ấu trùng và môi trường nuôi…đã tiếp cận và giải quyết đượcnhững vấn đề thực tiễn đặt ra

Về cơ sỏ hạ tầng đã được các doanh nghiệp đầu tư nhiều Các doanhnghiệp đã tích cực triển khai đầu tư xây dựng hệ thống trạm, trại giống thủysản, mở rộng quản lý lưu giữ những đàn giống gốc chất lượng tốt, cung cấp

Trang 21

đàn hậu bị cho các địa phương, tham gia chuyển giao các tiến bộ KH&CN vềgiống thủy sản Nhiều dự án sản xuất giống khác với các đối tượng nuôi nước

lợ, mặn, ngọt (bằng các nguồn vốn khác nhau), cũng đã và đang được thựchiện tại nhiều địa phương, từ miền biển đến miền núi

Trang 22

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VẬN DỤNG LÝ THUYẾT CHUỖI GIÁ TRỊ VÀO

THUỶ SẢN VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN

2.1.Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

2.1.1Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản trong những năm gần đây

Theo đánh giá của Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, quan hệ thương mại Việt-Nhật đang phát triển với tốc độ cao Nhật luôn duy trì vị trí là một trong 3 thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam sau Mỹ và EU Nếu như kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản năm 2000 đạt 4,52 tỷ USD, thì năm 2005 kim ngạch xuất nhập khẩu 2 nước đã đạt hơn 8,163 tỷ USD, tăng gần 2 lần so với năm 2000 Trong quan hệ thương mại vớiNhật Bản, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây luôn đạt tốc độ phát triển khá cao, tăng trung bình từ 15-20% so với năm trước Trong cán cân thương mại, Việt Nam luôn là nước xuất siêu Các số liệu thống kê cho thấy cả năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 4,56 tỷ USD, tăng 20,3% so với năm 2004 (từ năm 2001đến nay, lần đầu tiên tốc độ tăng trưởng vượt qua con số 20%) Về nhập khẩu năm 2005, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản đạt khoảng 3,6 tỷUSD, tăng 15,3% so với 2004 Xuất siêu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 960 triệu USD, tăng hơn 43% so với năm ngoái Nếu trừ dầu thô Việt Nam vẫn xuất siêu trên 370 triệu USD

Không chỉ có vậy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam không chỉ tăng về kim ngạch đơn thuần mà đang có những bước phát triển tương đối rõ nét về cơ cấu

Trang 23

mặt hàng xuất khẩu Gần đây, Việt Nam đã xuất khẩu được hoa tươi, hàng may mặc cao cấp, thực phẩm chế biến sang thị trường Nhật

Cùng với sự phát triển về mặt hàng xuất khẩu, tỷ lệ gia công nội địa trong sản phẩm xuất khẩu, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu thành phẩm trong tổng kim ngạch xuất khẩu cũng ngày càng được nâng cao (đặc biệt đối với sản phẩm thủy sản,

cơ khí, công nghệ thông tin )

Bảng 2.1 : 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Nhật Bản trong

Nguồn – Trung tâm xúc tiến thương mại Nhật Bản

Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy, kim ngạch xuất khẩu của Việt nam vào thị trường Nhật lớn, đứng thứ hai sau hàng may mặc Kim ngạch xuất khảu thuỷ sản đạt 614 Triệu USD ,tăng 1,9% so với năm 2004 Tuy kim ngạch xuất khẩu lớn thuỷ sản, song tỉ lệ tăng vẫn chưa cao so với năm 2004, và có tỉ lệ tăng thấp nhất trong 10 mặt hàng.Nguyên nhân dẫn đến tình trang này là do

vụ kiện bán phá giá tôm trên thị trường Mỹ trong năm 2004 đã ảnh hưởng đếntình hình xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Việt Nam Hàng may mặcvẫn giư vị trí hàng đầu trong kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản và kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này cũng tăng nhanh so với năm 2004

Trang 24

Trong năm 2004, do giá dầu tăng cao trên thị trường thế giới và sự bất ổn của mặt gang này đã làm cho kim ngạch xuất khẩu dầu thô sang thị trường Nhật Bản tăng đột biến, cụ thể kim ngạch xuất khẩu đạt 585 triệu USD, tăng 58,6

% so với namư 2004 Tuy nhiên nước ta mới chỉ xuất khẩu dầu thô mà chưa qua chế biến, thế nên giá trị vẫn chưa cao.Đây cũng là điều mà nhà nước cầnlưu ý để trong thời gian tới, có những chính sách đầu tư để có thể xuất khẩu dầu đã qua chế biến

Bảng 2.2 - 10 mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn sang thị

trường Nhật Bản trong năm 2005

Nguồn – Trung tâm xúc tiến thương mại Nhật Bản

Nhìn vào bảng trên ta thấy,tốc độ tăng trưởng của các mặt hàng xuất khẩu vàothị trường Nhật Bản ngày càng tăng nhanh Vì vậy mà tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Nhật Bản cũng tăng nhanh

Trong năm 2005, gạo là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tăng

184,3% so với năm 2004 Nguyên nhân là do năm nay thời tiết thuận lợi cho

bà con nông dân, trúng mùa Tuy nhiên kim ngạch xuất khảu gạo vẫn còn thấp, mới chỉ đạt được 27,3 triệu USD

Trang 25

Các linh kiện điện tử trong năm qua cũng đã có nhưng bước tiến vượt bậc trong kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2004 Đây là kết quả đáng mừng đối vỡi xuất khảu Việt Nam Các doanh nghiệp xuất khảu Việt nam đang dần có chõ đứng trên thị trường Nhật Ban và thị trường này đang mở rộng, không chỉ dừng lại ở các mặt hàng truyền thống như gạo hay thuỷ sản… mà còn có những mặt hàng mới như linh kiện điện tử, đồ gia dụng

Trong tương lai cần thúc đẩy hơn nữa xuất khảu hàng hoá vào thị trường Nhật Bản, và Nhật bản vẫn duy trì vị trí số một thị trường xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam

2.1.2.Một số đặc điểm về thị trường Nhật Bản

2.1.2.1.Tình hình kinh tế Nhật Bản trong những năm gần đây

Nhật Bản là quốc gia nằm ở phía Đông Bắc châu Á với diện tích

377.835 km2, gồm bốn đảo chính là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu Dân số là 127 triệu người Nền kinh tế của Nhật Bản đứng thứ hai thế giới Năm 2004, tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Nhật Bản đạt 4, 8 ngàn tỷ đôla.Sau một thập niên bị suy thoái, năm 2004 kinh tế lại bắt đầu tăng trưởng Sau đây là một số số liệu về kinh tế Nhật Bản năm 2004:

Năm 2003, GDP ở Nhật tăng 2,5% và năm 2004 đạt 4,5% Đây là mức tăng trưởng cao nhất của Nhật trong 14 năm gần đây Lượng hàng xuất khẩu sang Trung Quốc mạnh, hàng hóa tiêu dùng trong nước cũng tăng Tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 4,6% vào tháng 5 năm 2004, thấp hơn so với 5,5% đầu năm 2003,tuy nhiên tỉ lệ thất nghiệp vẫn còn ở mức cao.Tổng số nợ trong dân của Chính phủ Nhật chiếm 140% ,khoảng 6500 tỉ USD cao nhất thế giới

Và tổng số nợ xấu khó đòi là 375 tỉ USD Dự trữ ngoại tệ tính đến tháng 3 năm 2004 là 826,6 tỉ USD , nhiều nhất thế giới Tổng kim ngạch xuất khẩu là 544,24 tỉ USD, tổng kim ngạch nhập khẩu là 431,78 tỉ USD tính đến tháng 3

Trang 26

năm 2004 Tỉ trọng các ngành kinh tế chính : Nông nghiệp: 2,1 % ; Giao thông vận tải:6,3% ; Công nghiệp: 26,8% ; Lưu thông : 12,5 % ; Xây

dựng:10,3% ; Các ngành khác:37,9% Sang đến năm 2005, nền kinh tế Nhật Bản tiêp tục tăng trưởng và thoát dần khỏi sự suy thoái.Những số liệu thống

kế mới nhất của Chính phủ Nhật bản cho thấy, nền kinh tế Nhật đang phục hồi vững chắc, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong quý IV/05 tăng mạnh nhờ nhu cầu trong nước tăng

Theo kết quả điều tra 10 nhà kinh tế hàng đầu Nhật Bản, trong quý IV/

2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản ước đạt 1,2% so với quý trước đó

và 5% tính trong cả năm Đây là quý tăng trưởng thứ 4 liên tiếp

Nhà kinh tế cấp cao tại Viện nghiên cứu Daiwa, Junichi Makino, nhận định rằng xuất khẩu, đầu tư cơ bản của các doanh nghiệp (hiện chiếm gần 15% trong nền kinh tế Nhật Bản) và chi tiêu tiêu dùng tăng 1% là các động lực tăng trưởng trong quý IV/2005

Bên cạnh đó, trong tháng 12/05 tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 4,6% của tháng 11/05 xuống còn 4,4% Nhu cầu về hàng hóa Nhật cũng đang trên chiềuhướng tăng Trong tháng 1/06, Chính phủ Nhật Bản đã công bố doanh số bán

lẻ tăng 1,1% trong năm 2005, lần tăng đầu tiên trong 9 năm qua Giới phân tích dự đoán, những dữ liệu trên có thể khiến Ngân hàng Trung ương Nhật Bản sớm thắt chặt chính sách tiền tệ

2.1.2.2 Đặc điểm về thói quen tiêu dùng hàng thuỷ sản ở Nhật Bản

Khi nghiên cứu thị trường thuỷ sản của Nhật Bản thì không thể không quan tâm đến thói quen tiêu dùng hàng thuỷ sản của người dân Nhật Bản Nhật Bản la quốc gia có đông dân số, lại là thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn,nhưng nếu không hiểu được sở thích cũng như thói quen tiêu dùng của người Nhật Bản thì các doanh nghiệp Việt Nam không thể thâm nhập vào thị trường này được Nhật Bản là một trong những thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất

Trang 27

thế giới, có đặc điểm vừa là nước xuất khẩu,vừa là nước nhập khẩu Tuy nhiên ở thị trường Nhật Bản, người tiêu dùng có thói quen sử dụng thuỷ sản

từ lâu đời Nó chiếm tỉ trọng lớn trong bữa ăn gia đình,ngày lễ, tiệc cưới… Khi nói đến món ăn của người Nhật Bản, người ta thường nghĩ ngay đến món shushi, sashimi, tempura và các món ăn có thành phần thuỷ sản khác Theo truyền thống củe người Nhật Bản, các món ăn được yêu thích đó là cá,nhuyễnthể có vỏ, rau và hoa quả đang trong mùa vụ

Nhật là nước công nghiệp, nhịp sống ở đây rất nhanh, cùng với sự phát triển về kinh tế thì người dân Nhật Bản cũng bận rộn hơn với công việc, vì vậy những bữa ăn không còn quá cầu kỳ như trước Trong một ngày, thường thường bữa tối của người dân Nhật Bản có món ăn chính là tôm,cá, mực, thịt…và những sản phẩm này thường được chế biến sẵn Vì vậy mà họ

thường mua hàng thuỷ sản đã được chế biến, đóng gói sẵn trong siêu thị, vừa tiện ích, vừa nhanh chóng.Ngoài ra,Nhật Bản là nước có đời sống cao, ngườidân nước này thường tiêu dùng những mặt hàng đặc sản cao cấp như tôm hùm, cá ngừ, bạch tuộc, cua, cá hồi…Và họ rất chú ý đến việc vệ sinh an toànthực phẩm.Đây là điều mà các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Nhật Bản cần chú ý ,vì nếu thực phẩm không đạt tiêu chuẩn về chất lượng thì rất dễ bị đánh bật ra khỏi thị trường

2.1.2.3 Quy định luật pháp đối với hàng thuỷ sản của Nhât Bản

Do sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nên Chínhphủ Nhật Bản buộc phải đưa ra các chính sách miễn/giảm thuế nhằm thu húthàng thuỷ sản nhập khẩu vào Nhật Bản Thông thường, các mặt hàng thuỷ sảnđược áp dụng mức thuế ưu đãi thì không chịu giới hạn của hạn ngạch Nhưngkhi việc ưu đãi thuế quan này gây ảnh hưởng xấu tới ngành thuỷ sản Nhật Bảnthì một quy định ngoại lệ sẽ được ban hành nhằm hoãn áp dụng chế độ ưu đãithuế quan cho các mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Nhật Bản.Nếu hàng thuỷ

Trang 28

sản nhập khẩu vào Nhật Bản có đủ điều kiện để áp dụng mức thuế ưu đãi thìtrước tiên phải xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ, sau đó làm thủ tục xin hưởng

ưu đãi thuế quan của Nhật Bản Giấy chứng nhận xuất xứ chỉ có giá trị trongvòng một năm kể từ ngày cấp Tuy nhiên, thời hạn hiệu lực có thể kéo dài nếuchứng minh được hoàn cảnh bất khả kháng như gặp phải thiên tai, hoả hoạn…Trường hợp chưa có giấy chứng nhận xuất xứ khi khai báo nhập khẩu, nhànhập khẩu cần trình các tài liệu chứng minh việc đã xin giấy chứng nhận xuất

xứ và nguyên nhân việc xuất trình chậm trễ, sau đó điền vào hai bản “Đơn xinhoãn xuất trình - biểu mẫu A”

Bảng 2.3 - Biểu thuế của một số mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu chủ yếu vào

0306.19 - 010 Các loài tôm khác đông lạnh 4% 2%

0306.29 - 110 Các loài tôm khác sống/ tươi/ ướp lạnh 4% 2%

Trang 29

0302.34 Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) tươi/

Phi lê cá ngừ tươi/ ướp lạnh 5% 3,5%

0304.10 - 199 Phi lê các loài cá khác tươi/ ướp lạnh 5% 3,5%

Nguồn: “Cẩm nang thị trường xuất khẩu- Thị trường Nhật Bản” (Viện Nghiên cứu Thương mại, 2003)

2.1.3.Cơ cấu hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

Nhật bản là thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới.Tại Nhật hơn 80% nhu cầu về tôm phải dựa vào nhập khẩu Việt Nam hiện là một trongnhững nước hang đầu xuất khẩu tôm vào thị trường Nhật Bản Kim ngạch

Trang 30

xuất khẩu hải sản vào Nhật đã đạt trên 700 triệu USD vào năm 2005 Dưới đây là bảng mục xuất khẩu thuỷ sản theo thị trường:

Bảng 2.4 – Cơ cấu xuất khẩu thuỷ sản theo thị trường của Việt Nam

Tổng sản lượng( 1000USD) 1.777.486 2.022.821 2.216694 2.166.600Nhật Bản

Tỉ trọng giá trị ( % )

465.90126,21

537.96826,59

582.90226,30

680.06431,40Mĩ

tỉ trọng giá trị (%)

489.03527,51

655.65532,41

782.23835,29

522.54224,10Trung Quốc

Tỉ trọng giá trị ( % )

316.71917,82

302.26114,94

147.7866,67

116.9745,40EU

tỉ trọng giá trị (%)

106.7166,00

84.4044,17

127.2405,74

214.9789,90ASEAN

Tỉ trọng giá trị ( % )

64.9303,65

79.5293,93

73.0803,30

152.9537,1Các nước khác

Tỉ trọng giá trị ( % )

334.18518,80

363.00417,95

503.44822,71

497.08822,10

Nguồn - Bộ thuỷ sản

Trang 31

26.21 27.51

17.82

6 3.65

18.8 26.59 32.41

14.94

4.17 3.93

17.95 26.3 35.29

6.67 5.74 3.3

ASEAN Các nước khác

Hình 1 - Cơ cấu xuất khẩu thuỷ sản theo thị trường của Việt Nam

Nhìn vào hình 1, ta có thể thấy Nhật Bản là thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớncủa Việt Nam,đứng thứ 2 sau Mĩ Tỉ trọng xuất khảu vào thị trường Nhật Bảntương đối ổn định và tăng qua các năm , từ 26,21% năm 2001 tăng lên 31,4% năm 2004 Trong 3 năm 2001, 2002, 2003 Nhật Bản chỉ đứng vị trí thứ 2, nhưng đến năm 2004 Nhật đã trở thành thị trường lớn nhất, vượt lên trên cả Mĩ

Ngoài Nhật Bản, thì Mĩ cũng là thị trường nhập khẩu thuỷ sản quan trọng của nước ta Tỉ trọng của Mĩ tăng nhanh trong 3 năm 2001,2002, 2003

và luôn giữ vị trí số một Nhưng sang năm 2004, do vụ kiện bán phá giá tôm

mà tình hình xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mĩ chững lại và giảm xuống còn 24,1%

Ngoài 2 thị trường lớn là Mĩ và Nhật thì xuất khẩu thuỷ sản cũng đang dần có chỗ đứng ở thị trường EU Tuy tỉ trọng xuất khẩu chưa cao nhưng cũng đã có chiều hướng tăng, từ 6% năm 2001 lên 9,9% năm 2004

Trang 32

Trên đây là tình hình xuất khẩu thuỷ sản theo thị trường,còn nếu xuất khẩu theo nhóm sản phẩm thì hàng thuỷ sản xuất khẩu vào Nhật Bản thường được chế biến dươí dạng đông lạnh, các sản phẩm đã uớp tẩm và một số sản phẩm

ở dạng đồ hộp Các sản phẩm thuỷ sản được xuất vào thị trường Nhật Bản nhiều nhất là tôm tươi, tôm đông lạnh; cá ngừ tươi, cá ngừ ướp đông, cá ngừ đông lạnh ,nhuyễn thể đông lạnh, hàng khô, nguyên liệi đông lạnh Trong đó tôm các loại, cá ngừ và nhuyễn thể đông lạnh thường chiếm tỉ trọng trên 70% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của nước ta

Bảng 2.5 - Xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật theo nhóm sản phẩm

Giá trị (1000US D)

Khối lượng (Tấn)

Giá trị (1000US D)

Khối lượng (Tấn)

Giá trị (1000US D) Tổng số 76 895.4 465

36 597.6

15 157.6

6 238.9

443 894.4

49 476.1 41.3

296 127.9

66 054.5

32 194.6

91 267.6

14 599.8 631.9

50 937.8

19 014.1

6 084.0

509 575.8

54 393.2

1 895.6

356 277.9

9 232.5

24 669.2

94 737.5

14 028.5 505

52 869.2

17 174.7

10 160.1

564 729.1

52 870.9

1 412.1

397 849.7

4.3 - 4.3

183.4

117.3 66.1

620.9

362 259

Trang 33

1 906.4

13 198.6 378.9

354 875.2 151.3

1 391.4

10 766.5 455.8

3 516.6

1 318.5

2 140.9 57.2

1 318.5

325.4 991.3 1.8

4 416.2

1 069.2

3 339.7 7.3

1 102.6

2.9

1 099.4 0.3

2 744.2

9.6

2 689.2 45.4

Nguồn - Trung tâm Thông tin Khoa học và Kinh tế thủy sản

Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy hàng đông lạnh là được xuất khẩu nhiều nhất Do đặc tính của hàng thuỷ sản là không để được lâu nên hàng tươisống không được chú trọng xuất khẩu.Ngoài ra,các sản phẩm chế biến cũng xuất khẩu rất ít Các sản phẩm thuỷ sản của nước ta xuất khẩu chủ yếu chưa qua chế biến, vì vậy vẫn chưa có được giá trị kinh tế cao Trong thời gian tới, các doanh nghiệp cần chú ý đầu tư để sản xuất các sản phẩm thuỷ sản đã qua chế biến Những mặt hàng được ngươi dân Nhật Bản ưa chuộng nhất đó là Tôm, mực, bạch tuộc Đây cũng là những mặt hàng có giá trị kinh tế cao, thu hút nhiều nhà xuất khẩu thuỷ sản Hàng năm nhu cầu tôm của thị trường Nhật Bản vào khoảng 300.000 – 400.000 tấn tôm hùm và tôm sú Số tôm này thường tập trung ở các nhà hàng sang trọng và ở các hộ gia đình

Bảng 2.6 – Giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường

2653.8956,5

261.92456,2

319.23959,4

350.16460,1Bạch tuộc và mực

Tỉ trọng (%)

127.21445,9

128.08243,5

97.09243,8

97.27640,6

62.62539,9

Trang 34

Nguồn – Báo cáo của Bộ thuỷ sản

51.1 56.5 56.2

59.4 60.1 45.9 43.5 43.8

Hình 2.2 - Giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường

Bên cạnh mặt hàng tôm thì mực và bạch tuộc cũng là những sản phẩm thuỷ sản xuất sang Nhật với khôi lượng lớn Tuy nhiên nếu nhìn vào biểu đồ

ta có thể thấy, tỉ trọng xuất khẩu mực giảm dần qua các năm, tuy là không giảm mạnh Nguyên nhân là do giá xuất khảu mặt hàng này ở nước ta còn thấp so với giá nhập khẩu chung của Nhật Bản.Hàng năm kim ngạch xuất khẩu mực và bạch tuộc chiếm khoảng 37% - 40%

2.1.4.Hình thức xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

Trang 35

Hiện nay, hàng thuỷ sản Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản dưới hai hình thức chính là xuất qua các công ty thương mại hoặc công ty nhập khẩu của Nhật và thứ hai là xuất khẩu qua một số thị trường trung gian Hàng thuỷ sản của Việt nam xuất sang thị trường Nhật Bản mới chỉ dừng lại ở các công ty thương mại và công ty nhập khẩu trong mạng lưới phân phối.Các thị trường trung gian mà hàng thuỷ sản Việt Nam xuất sang là thi trường

Singapore , Trung quốc Hàng năm khoảng 30% hàg thuỷ sản của Việt nam xuất sang thị trường trung gian này Các trung gian này lại sơ chế lại như đống hộp, tẩm gia vị và một số hình thức khác rồi xuất sang Nhật với giá cao hơn

Xu hướng ngày nay của ngành thuỷ sản là nâng cao năng lực chế biến, giảm bớt các thị trường trung gian, đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp Có như vậy thì thuỷ sản của Việt Nam mới có chỗ đứng vững chắc trên thị trường Nhật Bản

2.2.thực trạng vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

2.2.1 Đối với các hoạt động cơ sở

2.2.1.1.Hoạt động hậu cần đầu vào

Hoạt động hậu cần đầu vào của ngành thuỷ sản chủ yếu được đảm bảo bởi nguồn thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng Đánh bắt thuỷ sản là nghề biển truyền thống có thế mạnh của nước ta, với vùng biển có nguồn sinh vật đa dạng, phong phú, trữ lượng hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta khoảng 3,5-4,1 triệu tấn, hàng năm có thể khai thác 1,5-1,67 triệu tấn, đồng thời có diện tích nuôi lớn, khoảng 76 vạn ha, sản lượng khai thác tăng bình quân 5%/năm Đánh bắt hải sản đã tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh

cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá Hệ thống hậu cần nghề cá đã

có những chuyển đáng kể, đặc biệt là hệ thống các cảng cá được xây dựng

Trang 36

suốt dọc bờ biển Đã triển khai các hoạt động nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản như cấp giấy phép khai thác thuỷ sản; kiểm tra theo dõi giám sát các hoạt động nghề cá trên biển; kiểm tra giám sát an toàn cho người

và phương tiện nghề cá trên biển Nghề nuôi trồng hải sản đã có bước phát triển khá, tăng nhanh cả diện tích nuôi trồng lẫn sản lượng, ở cả 3 vùng nước

lợ, mặn, ngọt (sản lượng nuôi trồng đã tăng 16%/năm) Nuôi trồng hải sản đã góp phần đáng kể vào chuyển đổi mạnh trong cớ cấu kinh tế nông thôn ven biển; chất lượng và giá trị của sản phẩm nuôi trong thuỷ sản xuất khẩu ngày càng cao, nhất là tôm, đảm bảo an ninh thực phẩm, đáp ứng nguyên liệu cho chế biến, tạo việc làm góp phần xoá đói giảm nghèo Đến năm 2003, sản lượng nuôi trồng đạt 1,1 triệu tấn, gấp 1,9 lần so với năm 1998

Ngoài những mặt thuận lợi như vậy, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản còn gặp rất nhiều khó khăn Hiện nay, mặc dù nhà nước đã khuyến khích các doanh nghiệp nuôi trồng thuỷ sản để bù đắp cho khai thác, nhưng nuôi trồng vẫn mới chỉ chiếm phần nhỏ, chủ yếu nguồn thuỷ sản vẫn là do khai thác tự nhiên Do đó nguồn cung cấp thuỷ sản của nước ta vẫn còn bấp bênh.Vào mùa vụ chính, nguyên liệu mới chỉ đáp ưng được 80-90% nhu cầu

Bảng 2.7 - Sản lượng thuỷ sản do khai thác và nuôi trồng

844 809.631.9

1 003 095.035.1

Sản lượng thuỷ sản khai thác (Tấn)

Tỉ trọng (%)

1 724 758.170.8

1 802 598.268.1

1 856 105.064.9

Nguồn – Trung thông tin khoa học và kinh tế thuỷ sản

Trang 37

Hình 2.3 - Sản lượng thuỷ sản do khai thác và nuôi trồng

Nhìn vào hình 3 ta có thể thấy tỉ trọng nuôi trồng tăng qua các năm, và tỉ lệ khai thác đã có chiều hướng giảm Nguyên nhân là do trong những năm qua, nhà nước luôn có những chính sách khuyến khích nuôi trồng thuỷ sản, hạn chế khai thác Tuy nhiên tỉ trọng tăng nuôi trồng vẫn chưa đáng kể, nguồn thuỷ sản cung cấp vẫn chủ yếu do đánh bắt mà có Nếu chỉ dựa vào nguồn đánh bắt là chủ yểu thì nguồn cung cấp thuỷ sản sẽ bị hạn chế đi rất nhiều dohiện nay năng lực đánh bắt của ta rất hạn chế, các phương tiện đánh bắt còn thô sơ, không có phương tiện bảo quản tốt Ngoài ra nếu cứ dựa vào đánh bắt

sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành thủy sản Do vậy, về lâu dài thì các doanh nghiệp cần phải mở rộng diẹn tích nuôi trồng để đảm bảo nguồn cung cấp thuỷ sản được ổn định hơn và đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu của các doanh nghiệp

2.2.1.2 Đối với hoạt động sản xuất chế biến thuỷ sản

Công nghiệp chế biến hải sản, đặc biệt chế biến xuất khẩu đã làm tốt vai trò mở đường và cầu nối, tạo thị trường để nuôi trồng khai thác hải sản phát triển Đến nay, đã có 390 nhà máy chế biến thuỷ hải sản, trong đó hàng trăm nhà máy được công nhận đạt tiêu chuẩn, và 60% cơ sở chế biến được công nhận tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của ngành Năm 2003, xuất khẩu hải sản đạt trên 2 tỷ USD; gấp 3,9 lần năm 1998

Trang 38

Năm 2005, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt tại 108 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng nghĩa với việc chất lượng, an toàn vệ sinh sản phẩm thuỷ sản đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường Quốc tế Năm 2005 cũng là năm ngành thuỷ sản triển khai rộng rãi chương trình kiểm soát dư lượng hoá chất độc hại trong nuôi thuỷ sản với việc tiến hành đối với hầu hết các loài thuỷ sản nuôi tập trung Hiện nay, yếu tố quyết định là chất lượng sản phẩm, việc

mở rộng thị trường phải bằng chất lượng, an toàn thực phẩm Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam khuyến cáo các doanh nghiệp thủy sản nên chú trọng tăng cường chất lượng và kiểm tra dư lượng kháng sinh cho các

lô hàng xuất sang Nhật Bản trong thời gian này, để bảo đảm uy tín sản phẩm

và tránh rủi ro bị trả hàng Sau đây là bảng danh mục khống chế dư lượng kháng sinh của một số nước

Bảng 2.8 - Các văn bản quy định dư lượng kháng sinh trong thuỷ sản ở một

10 loại

FAO/

WHO

Khuyến cáo của Hội đồng

chuyên gia đánh giá rủi ro

về ATVS hoá chất, phụ gia

Chloramphenicol và Nitrofurans

Canađ

a

Chloramphenicol và Nitrofurans

Oxytetracylin Oxolinic acid

Trang 39

Nitrofurans Thái

Lan

Chloramphenicol và Nitrofurans

Oxolinic acid Nhóm Sulfa

Nhật

Bản

Chloramphenicol và Nitrofurans

10 loại

Nguồn - Tạp chí KHCN thuỷ sản

Các doanh nghiệp đều biết , thị trường Nhật bản là một trong những thị trường rất khó tính về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm Tuy nhiên, khi tiến hành xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản, nhiều doanh nghiệp đã không tìm hiểu kỹ những văn bản quy định chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, thế nên nhiều lô hàng thuỷ sản đã xuất khẩu đi đã không đáp ững được

về chất lượng Điều này đã ảnh hưởng đến uy tín của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam Mặc dù trong thời gian qua, năng lực chế biến thuỷ sản đã tăng lên rõ rệt do các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư cho công nghệ chế biến , nhờ đó mà đáp ứng được nhu cầu xuất khảu của doanh nghiệp.Tuy vậy, hiện cả nước vẫn còn 209 cơ sở chế biến thuỷ sản chưa đạt tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó hầu hết là các cơ sở đã được xây dựng từ lâu, trang thiết bị lạc hậu, chưa được đầu tư nâng cấp Tình hình bảo vệ môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường của ngành thuỷ sản vẫn chưa thực hiện tốt.Sau đây là biểu đồ thể hiện mức đạt tiêu chuẩn trong bảo vệ môi trường

Trang 40

60%

25%

Khá Trung Bình Kém

Hình 2.4 - Mức đạt tiêu chuẩn trong bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp

Như vậy, không có cơ sở nào đạt mức tốt.Số lượng cơ sở đạt mức trung bình chiếm tỉ trọng khá cao, chiếm 60%, các cơ sở đạt mức khá chỉ chiếm 15 % và 25% cơ sở đạt mức kém Trong số 25% các nhà máy được xếp hạng kém, phần lớn là các cơ sở còn xen lẫn trong khu dân cư chưa được quy hoạch Nhìn vào hình ta có thể thấy được hầu hết các doanh nghiệp Việt nam vẫn chưa chú trọng đến việc bảo vệ môi trường

Bảng 2.9 – Danh sách xếp hạng của các doanh nghiệpthuỷ sản trong vấn đề bảo

vệ môi trường

hạng

1 Công ty chế biến XK Thọ Quang Khá

2 Công ty Thủy sản và thương mại thuận phước Khá

4 Chi nhánh công ty TNHH Đại Thuận Trung bình

5 Công ty Cổ phần thuỷ sản Đà Nẵng Trung bình

6 Công ty Nông thủy sản Hòa Phát Trung bình

Ngày đăng: 10/04/2013, 17:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Mô hình Chuỗi giá trị - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Hình 1.1 Mô hình Chuỗi giá trị (Trang 4)
Bảng 2.1 : 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Nhật  Bản trong năm 2005 - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 2.1 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Nhật Bản trong năm 2005 (Trang 23)
Bảng 2.2  - 10 mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn sang thị  trường Nhật Bản trong năm 2005 - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 2.2 - 10 mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn sang thị trường Nhật Bản trong năm 2005 (Trang 24)
Bảng 2.3 - Biểu thuế của một số mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu chủ yếu vào  Nhật Bản - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 2.3 Biểu thuế của một số mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu chủ yếu vào Nhật Bản (Trang 28)
Bảng 2.4 – Cơ cấu xuất khẩu thuỷ sản theo thị trường của Việt Nam - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 2.4 – Cơ cấu xuất khẩu thuỷ sản theo thị trường của Việt Nam (Trang 30)
Bảng 2.5 - Xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật theo nhóm sản phẩm - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 2.5 Xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật theo nhóm sản phẩm (Trang 32)
Bảng 2.6 – Giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường  Nhật Bản - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 2.6 – Giá trị kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản (Trang 33)
Bảng  2.8 - Các văn bản quy định dư lượng kháng sinh trong thuỷ sản ở một số  nước - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
ng 2.8 - Các văn bản quy định dư lượng kháng sinh trong thuỷ sản ở một số nước (Trang 38)
Hình 2.4 - Mức đạt tiêu chuẩn trong bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Hình 2.4 Mức đạt tiêu chuẩn trong bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp (Trang 40)
Bảng 11 - Số doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản sang các thị trường Thị trường Số DN xuất khẩu thuỷ sản của VN - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 11 Số doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản sang các thị trường Thị trường Số DN xuất khẩu thuỷ sản của VN (Trang 42)
Hình 5 –  kênh phân phối thuỷ sản trên thị trường Nhật Bản - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Hình 5 – kênh phân phối thuỷ sản trên thị trường Nhật Bản (Trang 44)
Bảng 7 - Những nhà sản xuất thức ăn nuôi thuỷ sản hàng đầu ở Việt  Nam - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 7 Những nhà sản xuất thức ăn nuôi thuỷ sản hàng đầu ở Việt Nam (Trang 46)
Bảng 2 – Lao động tham gia khai thác thuỷ sản theo khu vực Năm - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 2 – Lao động tham gia khai thác thuỷ sản theo khu vực Năm (Trang 49)
Bảng 3.1 - Quy định của Nhật Bản về vệ sinh an toàn thực phẩm - Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Bảng 3.1 Quy định của Nhật Bản về vệ sinh an toàn thực phẩm (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w